18/11/05
CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ CỦA ĐẤT NƯỚC - VIỆT NAM TRƯỚC ĐẠI HỘI X
Comments:
<< Home
Kính gửi : Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
Tôi đã nhận được giấy mời (kèm theo những dự thảo văn kiện) tham dự Hội nghị đóng góp ý kiến cho những văn kiện chuẩn bị cho Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước hết tôi ghi nhận tinh thần cầu thị của Đảng, vai trò đại diện của Mặt trận Tổ quốc. Tôi là người ngoài Đảng, vả lại đã có lần tôi được Viện nghiên cứu của Ban Tổ chức Trung ương mời đến phát biểu ý kiến, nên tôi chỉ xin nói một vài điểm rất ngắn sau khi đọc những dự thảo văn kiện này một cách thẳng thắn để đáp lại thiện tình của Đảng và Mặt trận. Cũng vì đang tham gia Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội nên tôi không phát biểu trực tiếp mà viết thành văn bản để gửi đến các cơ quan có trách nhiệm tổng hợp.
1. Cảm nhận về sự kiên định trước những vấn đề mang tính nguyên tắc như mục tiêu "xây dựng Chủ nghĩa xã hội", "Chủ nghĩa Mác-Lê nin", "Đảng tiên phong của giai cấp công nhân" v.v.... Nhưng tính kiên định (một phẩm chất quan trọng của một chính đảng) chưa đi đôi với tính thuyết phục (cả về thực tiễn và lý luận). Cho nên tôi cảm thấy sự "gồng mình" hơn là một "tín tâm" ("tín tâm" là một khái niệm của Bác Hồ thể hiện lòng tự tin của chủ thể và niềm tin của mọi người vào chủ thể). Ngay văn kiện tổng kết về lý luận đổi mới tuy có tầm khái quát cao nhưng vẫn chưa giải đáp một cách thuyết phục về những vấn đề lý luận cơ bản, mới chỉ tổng kết được những kinh nghiệm thực tiễn của quá trình Đổi mới, được diễn ra như một quá trình sửa chữa sai lầm bằng những giải pháp tình huống mà phần lớn bắt nguồn từ những sáng kiến từ phía nhân dân và cấp dưới, chứ chưa thấy một tầm nhìn "lý luận soi đường". Tôi lấy một ví dụ : tại Đại hội VII ta bắt đầu đề cập tới khái niệm về "tư tưởng Hồ Chí Minh" thì rồi sau đó mới tập trung triển khai nghiên cứu xem "tư tưởng Hồ Chí Minh" là gì ?... Hay ví như khi nói đến "Chủ nghĩa xã hội" hay "định hướng Xã hội chủ nghĩa" giờ đây chỉ bao hàm một nội hàm duy nhất là : "dưới sự lãnh đạo (tuyệt đối, toàn diện) của Đảng Cộng sản Việt Nam". Cách thể hiện từ Đại hội VIII và hoàn thiện hơn ở Đại hội IX khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" mới là những nguyên lý phổ quát của mọi xã hội, chưa phải là lý luận của một hệ tư tưởng chính trị ... Đương nhiên, tôi cho rằng đó là điều dễ hiểu trong bối cảnh khủng hoảng chung của các tư tưởng đã từng một thời mang tính chính thống nhưng cũng rất giáo điều, vào lúc mà trên phạm vi toàn cầu những quốc gia còn gắn bó với định hướng chính trị ấy (Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa Mác-Lê nin) chỉ còn là một thiểu số rất nhỏ. Điều đó dễ mang lại cảm nhận hai chiều : sự kiên định/sự chậm thay đổi (bảo thủ) ? Vấn đề không phải là từ bỏ cái cũ để tiếp nhận cái mới mà vấn đề là ở nền tảng lý luận (khoa học) của sự kiên định chưa đủ tạo ra lòng tin vững chắc. Ở đây sự kiên định còn có dáng dấp của các nhà nho e ngại đụng chạm đến những tín điều đã dấn thân phụng sự và có thể là những lợi ích nhất thời (?)...
2. Một nội dung hết sức quan trọng đối với một chính đảng là định danh bản chất chính trị của mình. Điều lệ của Đảng (cả hiện hành và sửa đổi) đều có nội dung : "Đảng Cộng sản Việt Nam ... là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam". Vậy thì về ngữ nghĩa, giai cấp công nhân có phải là một thành phần của nhân dân lao động hay không và nhân dân lao động có phải là thành phần của dân tộc Việt Nam hay không và lợi ích của các thành phần khác như trí thức hay doanh nghiệp ... là như thế nào? Với vai trò phù hợp với Hiến pháp hiện tại là Đảng giữ địa vị độc quyền lãnh đạo đất nước thì có cần thiết phải đặt thứ tự ưu tiên về tính đại diện cho các thành phần khác nhau như vậy hay không. Vả lại trên thực tế thì dường như vị thế của giai cấp công nhân không phải là như vậy. Khái niệm công nhân giờ đây lại cũng có nhiều thay đổi, nội hàm "người làm thuê" ngày càng phổ biến. Điều lệ Đảng lại còn hướng tới việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, sử dụng người làm thuê thì hiểu tính đại biểu như thế nào. Ngoài xã hội đã có ý kiến phê phán về cách nói quen miệng là "cán bộ và nhân dân", vậy thì cán bộ không phải là nhân dân hay sao, nói như vậy chính là đã tách cán bộ thành một đẳng cấp riêng nằm ngoài nhân dân (?); cũng như vậy giai cấp công nhân có phải là nhân dân lao động và có phải là thành phần của dân tộc hay không?. Phải chăng không nhắc đến giai cấp công nhân thì không còn là Đảng Cộng sản? Tại sao ta không nói thẳng và nói đơn giản : "Đảng ... là đại biểu trung thành cho quyền lợi của dân tộc". Nói như thế vừa thấy quyền lực và trách nhiệm của Đảng với cả dân tộc. Đó là một vinh quang rất nặng nề và Đảng phải phấn đấu để xứng đáng và cáng đáng nổi cái vai trò ấy trước dân tộc và lịch sử.
3. Trong khi trình bày về chiến lược phát triển của Đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn kết với nhau. Sau bao nhiêu năm chiến tranh chúng ta đã và đang có cơ hội hòa bình và hội nhập. Phải khai thác triệt để cơ hội ấy, song hành với ý thức cảnh giác củng cố an ninh quốc phòng đúng với nguyên lý dựng nước đi đôi với giữ nước ... Tôi thấy văn kiện đề cập nhiều tới nguy cơ diễn biến hòa bình song không lưu tâm đến (hình như không có câu chữ nào) đề cập tới nhiệm vụ bảo toàn chủ quyền và lãnh thổ của Đất nước. Đây là một nguy cơ tiềm ẩn và diễn ra hàng ngày hàng giờ nếu chúng ta không cảnh giác và rất dễ mất cảnh giác. Thực tế đang diễn ra cho thấy đang có những nguy cơ bị "gậm nhấm" bằng rất nhiều thủ đoạn thâm hiểm, kiên trì và mưu đồ lâu dài. Không thể không nêu lên nhiệm vụ củng cố toàn diện sức mạnh phát triển và phòng thủ biên cương và hải đảo. Mặt khác, cũng cần đầu tư cho việc nghiên cứu, giáo dục để sẵn sàng ứng phó với những vấn đề có liên quan đến lịch sử hình thành và chủ quyền của dân tộc Việt Nam trên lãnh thổ lịch sử của mình. Đương nhiên đây không phải là nội dung mà văn kiện phải đề cập tới. Nhưng một tinh thần cảnh giác, một ý thức về vấn đề chủ quyền phải là kiên định và thường trực...
4. Khi Đảng nhận trọng trách là người độc quyền lãnh đạo dân tộc thì bên cạnh ý thức về quyền lực cũng tỷ lệ thuận với ý thức về trách nhiệm. Bên cạnh việc tăng cường thiết chế về pháp luật thì rất quan trọng là tính gương mẫu. Cụ Hồ là một biểu tượng. Nhân dân nhìn vào những người đảng viên từ những nhà lãnh đạo bên trên và những đảng viên xung quanh mà gây dựng lòng tin của mình. Đảng đã tỏ ra nghiêm qua một số vụ việc, nhưng chưa đủ. Ví dụ : chống tham nhũng là một nhu cầu đang bức xúc, thì ai cũng biết rằng với người dân thường hay người không có chức vụ thì chỉ có thể làm phương hại đến tài sản công bằng hành vi "ăn cắp". Chỉ có những người có quyền, quan chức mới lợi dụng quyền lực để bòn rút được của công, tức là tham nhũng. Trong cơ chế hiện nay phần lớn (có thể là tuyệt đại đa số) người có quyền (chức vụ) phải là đảng viên. Do vậy tệ nạn tham nhũng trước hết khu trú trong đội ngũ đảng viên, là một vấn nạn trước tiên thuộc về Đảng. Chống tham nhũng cũng chính là bảo vệ Đảng, làm trong sạch cũng là làm tăng thêm sức mạnh của Đảng. Tôi đã phát biểu vấn đề này ở Quốc hội một cách thẳng thắn vì đó là sự thực. Nếu văn kiện Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật ấy và thể hiện quyết tâm "tắm sạch" thì lòng tin nhân dân sẽ được củng cố và Đảng sẽ mạnh. Mặc dù tôi biết rằng đây là một điều không dễ chút nào. Chống tham nhũng trong Đảng hay ngoài xã hội là một công việc cực kỳ khó khăn. Ai cũng biết thế. Nhưng nếu nói rằng việc kê khai tài sản một cách minh bạch như nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành là khó khăn thì theo tôi không hẳn là thế. Bởi vì chưa có sự gương mẫu từ trên cao mà thôi. Nếu chúng ta mạnh dạn làm tốt hai điều : kê khai tài sản minh bạch và cải tiến chế độ lưu thông và thanh toán tiền mặt (điều mà phần đông các quốc gia đã làm) cộng với phát huy sự giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân thì sẽ khắc phục được rất nhiều...
5. "Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm" là khẩu hiệu (cùng với việc cắm Đảng kỳ bên cạnh và ngang bằng với Quốc kỳ) giờ đây gần như đã được quy chuẩn hóa ở mọi nơi trang trọng nhất ở mọi cơ quan, công sở. Việc đặt ở vị trí cao sự tôn vinh Đảng cầm quyền là một chủ trương mà tôi không bình luận. Nhưng tôi rất nhớ đến một câu khẩu hiệu mà Bác Hồ đã nêu lên và được nhân dân hưởng ứng đã mang lại một sức mạnh tinh thần ngay sau khi cách mạng thành công. Đó là khẩu hiệu "Tổ quốc trên hết". Hồi đó ở các cơ quan và cả gia đình, người ta làm "bàn thờ Tổ quốc" và bao giờ cũng có một khẩu hiệu đặt ở vị trí cao nhất là "Tổ quốc trên hết".
Ý thức về "Tổ quốc trên hết" còn góp phần khắc phục tính cục bộ "vùng miền" đang ngày càng trở nên nặng nề. Thống nhất đất nước là một mục tiêu mà dân tộc chúng ta đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để phấn đấu. Đất nước đã thống nhất rồi mà cái nếp hằn lịch sử Trung - Nam - Bắc ngày càng sâu. Lẽ ra phải là phẳng tấm bản đồ thì hình như sự thể lại đang diễn ra ngược lại. Vua Quang Trung hay vua Gia Long lên ngôi (trong hoàn cảnh đương thời) đều đưa Kinh đô vào Phú Xuân để tìm cách cân bằng một quốc gia trải dài từ Bắc xuống Nam. Vua Minh Mạng hạ thấp uy thế của Bắc Thành và Gia Định thành cũng chỉ vì lo nạn cát cứ và ly khai. Vị vua này còn "cấm quần không đáy" với mong muốn thống nhất cả tập quán văn hóa sau mấy thế kỷ Nam Bắc phân tranh... Việc điều chuyển các quan chức như cách làm của ta bây giờ ("luân chuyển cán bộ") được thực hiện rất triệt để nhằm xóa nhòa ranh giới địa phương cục bộ... Những chính sách cụ thể đó đúng hay sai có thể các sử gia còn bình luận, nhưng không ai không nhất trí và đề cao cái mục tiêu thống nhất quốc gia phải là sứ mạng của mọi triều đại, mọi chế độ...
Sau này, ngay lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đâu có thành lập Đảng mà đúng ra là Cụ đã thống nhất 3 tổ chức Cộng sản hình thành từ 3 miền và đang chứa đựng những nhân tố tranh giành quyền lực. Theo tôi thành công lớn của Cụ Hồ là rất sớm nhận ra cái nguy cơ lịch sử tiềm ẩn mang tính chất một di sản tiêu cực của lịch sử ấy để luôn có ý thức khắc phục bằng tinh thần Đoàn kết và Thống nhất, tạo nên sức mạnh của Đảng cũng như của Dân tộc. Đó là một bài học rất lớn.
Mặc dầu Đảng luôn luôn nêu cao tinh thần đã kế thừa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng trên thực tế tôi thấy tình trạng cục bộ dường như vẫn nặng nề và ngày càng nặng nề. Quan tâm đến sự phát triển cũng như đến quyền lợi của mọi vùng miền của đất nước là rất cần thiết. Nó cần được thể hiện trên chiến lược phát triển chung của đất nước nhưng tôi cứ băn khoăn với việc có cần thiết sự phân công các nhà lãnh đạo cứ phải tuân thủ theo cái nếp "chia đều" như vậy không, và như thế thì bao giờ ta có được một vị "nguyên thủ" theo đúng nghĩa về thiết chế quyền lực, điều mà nước nhỏ như Lào, nước lớn như Trung Quốc đều gần gũi ta đã làm được? Liệu có nhất thiết trong cơ quan lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị cũng phải chia đều chằn chặn 5 + 5 + 5, liệu có phải chọn địa điểm xây nhà máy lọc dầu ở Dung Quất mới là quan tâm đến lợi ích miền Trung khi nền kinh tế nước nhà đã thống nhất và Nhà nước hoàn toàn có khả năng điều tiết những lợi ích của quốc gia (?) v.v...
Tôi rất lo từ những vết hằn của lịch sử. Không là phẳng tấm bản đồ Tổ quốc, những vết hằn ấy sẽ thành nếp gấp, rồi không cảnh giác, những nếp gấp ấy sẽ thành nếp gãy thì...đại họa cho Dân tộc. Do thế mà "Tổ quốc trên hết" dù có trưng thành khẩu hiệu hay không thì vẫn phải làm cho nó ăn sâu vào tâm thức của mỗi người Việt Nam trong hay ngoài Đảng...
Tôi biết rằng những ý kiến đóng góp của tôi có thể đụng vào những "vùng nhạy cảm". Nhưng khi Đảng đã tin mà hỏi thì chẳng có lẽ gì mà không trả lời một cách thật tâm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2005
Dương Trung Quốc
Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Đại biểu Quốc hội khóa XI
Đăng nhận xét
Tôi đã nhận được giấy mời (kèm theo những dự thảo văn kiện) tham dự Hội nghị đóng góp ý kiến cho những văn kiện chuẩn bị cho Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước hết tôi ghi nhận tinh thần cầu thị của Đảng, vai trò đại diện của Mặt trận Tổ quốc. Tôi là người ngoài Đảng, vả lại đã có lần tôi được Viện nghiên cứu của Ban Tổ chức Trung ương mời đến phát biểu ý kiến, nên tôi chỉ xin nói một vài điểm rất ngắn sau khi đọc những dự thảo văn kiện này một cách thẳng thắn để đáp lại thiện tình của Đảng và Mặt trận. Cũng vì đang tham gia Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội nên tôi không phát biểu trực tiếp mà viết thành văn bản để gửi đến các cơ quan có trách nhiệm tổng hợp.
1. Cảm nhận về sự kiên định trước những vấn đề mang tính nguyên tắc như mục tiêu "xây dựng Chủ nghĩa xã hội", "Chủ nghĩa Mác-Lê nin", "Đảng tiên phong của giai cấp công nhân" v.v.... Nhưng tính kiên định (một phẩm chất quan trọng của một chính đảng) chưa đi đôi với tính thuyết phục (cả về thực tiễn và lý luận). Cho nên tôi cảm thấy sự "gồng mình" hơn là một "tín tâm" ("tín tâm" là một khái niệm của Bác Hồ thể hiện lòng tự tin của chủ thể và niềm tin của mọi người vào chủ thể). Ngay văn kiện tổng kết về lý luận đổi mới tuy có tầm khái quát cao nhưng vẫn chưa giải đáp một cách thuyết phục về những vấn đề lý luận cơ bản, mới chỉ tổng kết được những kinh nghiệm thực tiễn của quá trình Đổi mới, được diễn ra như một quá trình sửa chữa sai lầm bằng những giải pháp tình huống mà phần lớn bắt nguồn từ những sáng kiến từ phía nhân dân và cấp dưới, chứ chưa thấy một tầm nhìn "lý luận soi đường". Tôi lấy một ví dụ : tại Đại hội VII ta bắt đầu đề cập tới khái niệm về "tư tưởng Hồ Chí Minh" thì rồi sau đó mới tập trung triển khai nghiên cứu xem "tư tưởng Hồ Chí Minh" là gì ?... Hay ví như khi nói đến "Chủ nghĩa xã hội" hay "định hướng Xã hội chủ nghĩa" giờ đây chỉ bao hàm một nội hàm duy nhất là : "dưới sự lãnh đạo (tuyệt đối, toàn diện) của Đảng Cộng sản Việt Nam". Cách thể hiện từ Đại hội VIII và hoàn thiện hơn ở Đại hội IX khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" mới là những nguyên lý phổ quát của mọi xã hội, chưa phải là lý luận của một hệ tư tưởng chính trị ... Đương nhiên, tôi cho rằng đó là điều dễ hiểu trong bối cảnh khủng hoảng chung của các tư tưởng đã từng một thời mang tính chính thống nhưng cũng rất giáo điều, vào lúc mà trên phạm vi toàn cầu những quốc gia còn gắn bó với định hướng chính trị ấy (Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa Mác-Lê nin) chỉ còn là một thiểu số rất nhỏ. Điều đó dễ mang lại cảm nhận hai chiều : sự kiên định/sự chậm thay đổi (bảo thủ) ? Vấn đề không phải là từ bỏ cái cũ để tiếp nhận cái mới mà vấn đề là ở nền tảng lý luận (khoa học) của sự kiên định chưa đủ tạo ra lòng tin vững chắc. Ở đây sự kiên định còn có dáng dấp của các nhà nho e ngại đụng chạm đến những tín điều đã dấn thân phụng sự và có thể là những lợi ích nhất thời (?)...
2. Một nội dung hết sức quan trọng đối với một chính đảng là định danh bản chất chính trị của mình. Điều lệ của Đảng (cả hiện hành và sửa đổi) đều có nội dung : "Đảng Cộng sản Việt Nam ... là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam". Vậy thì về ngữ nghĩa, giai cấp công nhân có phải là một thành phần của nhân dân lao động hay không và nhân dân lao động có phải là thành phần của dân tộc Việt Nam hay không và lợi ích của các thành phần khác như trí thức hay doanh nghiệp ... là như thế nào? Với vai trò phù hợp với Hiến pháp hiện tại là Đảng giữ địa vị độc quyền lãnh đạo đất nước thì có cần thiết phải đặt thứ tự ưu tiên về tính đại diện cho các thành phần khác nhau như vậy hay không. Vả lại trên thực tế thì dường như vị thế của giai cấp công nhân không phải là như vậy. Khái niệm công nhân giờ đây lại cũng có nhiều thay đổi, nội hàm "người làm thuê" ngày càng phổ biến. Điều lệ Đảng lại còn hướng tới việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, sử dụng người làm thuê thì hiểu tính đại biểu như thế nào. Ngoài xã hội đã có ý kiến phê phán về cách nói quen miệng là "cán bộ và nhân dân", vậy thì cán bộ không phải là nhân dân hay sao, nói như vậy chính là đã tách cán bộ thành một đẳng cấp riêng nằm ngoài nhân dân (?); cũng như vậy giai cấp công nhân có phải là nhân dân lao động và có phải là thành phần của dân tộc hay không?. Phải chăng không nhắc đến giai cấp công nhân thì không còn là Đảng Cộng sản? Tại sao ta không nói thẳng và nói đơn giản : "Đảng ... là đại biểu trung thành cho quyền lợi của dân tộc". Nói như thế vừa thấy quyền lực và trách nhiệm của Đảng với cả dân tộc. Đó là một vinh quang rất nặng nề và Đảng phải phấn đấu để xứng đáng và cáng đáng nổi cái vai trò ấy trước dân tộc và lịch sử.
3. Trong khi trình bày về chiến lược phát triển của Đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn kết với nhau. Sau bao nhiêu năm chiến tranh chúng ta đã và đang có cơ hội hòa bình và hội nhập. Phải khai thác triệt để cơ hội ấy, song hành với ý thức cảnh giác củng cố an ninh quốc phòng đúng với nguyên lý dựng nước đi đôi với giữ nước ... Tôi thấy văn kiện đề cập nhiều tới nguy cơ diễn biến hòa bình song không lưu tâm đến (hình như không có câu chữ nào) đề cập tới nhiệm vụ bảo toàn chủ quyền và lãnh thổ của Đất nước. Đây là một nguy cơ tiềm ẩn và diễn ra hàng ngày hàng giờ nếu chúng ta không cảnh giác và rất dễ mất cảnh giác. Thực tế đang diễn ra cho thấy đang có những nguy cơ bị "gậm nhấm" bằng rất nhiều thủ đoạn thâm hiểm, kiên trì và mưu đồ lâu dài. Không thể không nêu lên nhiệm vụ củng cố toàn diện sức mạnh phát triển và phòng thủ biên cương và hải đảo. Mặt khác, cũng cần đầu tư cho việc nghiên cứu, giáo dục để sẵn sàng ứng phó với những vấn đề có liên quan đến lịch sử hình thành và chủ quyền của dân tộc Việt Nam trên lãnh thổ lịch sử của mình. Đương nhiên đây không phải là nội dung mà văn kiện phải đề cập tới. Nhưng một tinh thần cảnh giác, một ý thức về vấn đề chủ quyền phải là kiên định và thường trực...
4. Khi Đảng nhận trọng trách là người độc quyền lãnh đạo dân tộc thì bên cạnh ý thức về quyền lực cũng tỷ lệ thuận với ý thức về trách nhiệm. Bên cạnh việc tăng cường thiết chế về pháp luật thì rất quan trọng là tính gương mẫu. Cụ Hồ là một biểu tượng. Nhân dân nhìn vào những người đảng viên từ những nhà lãnh đạo bên trên và những đảng viên xung quanh mà gây dựng lòng tin của mình. Đảng đã tỏ ra nghiêm qua một số vụ việc, nhưng chưa đủ. Ví dụ : chống tham nhũng là một nhu cầu đang bức xúc, thì ai cũng biết rằng với người dân thường hay người không có chức vụ thì chỉ có thể làm phương hại đến tài sản công bằng hành vi "ăn cắp". Chỉ có những người có quyền, quan chức mới lợi dụng quyền lực để bòn rút được của công, tức là tham nhũng. Trong cơ chế hiện nay phần lớn (có thể là tuyệt đại đa số) người có quyền (chức vụ) phải là đảng viên. Do vậy tệ nạn tham nhũng trước hết khu trú trong đội ngũ đảng viên, là một vấn nạn trước tiên thuộc về Đảng. Chống tham nhũng cũng chính là bảo vệ Đảng, làm trong sạch cũng là làm tăng thêm sức mạnh của Đảng. Tôi đã phát biểu vấn đề này ở Quốc hội một cách thẳng thắn vì đó là sự thực. Nếu văn kiện Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật ấy và thể hiện quyết tâm "tắm sạch" thì lòng tin nhân dân sẽ được củng cố và Đảng sẽ mạnh. Mặc dù tôi biết rằng đây là một điều không dễ chút nào. Chống tham nhũng trong Đảng hay ngoài xã hội là một công việc cực kỳ khó khăn. Ai cũng biết thế. Nhưng nếu nói rằng việc kê khai tài sản một cách minh bạch như nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành là khó khăn thì theo tôi không hẳn là thế. Bởi vì chưa có sự gương mẫu từ trên cao mà thôi. Nếu chúng ta mạnh dạn làm tốt hai điều : kê khai tài sản minh bạch và cải tiến chế độ lưu thông và thanh toán tiền mặt (điều mà phần đông các quốc gia đã làm) cộng với phát huy sự giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân thì sẽ khắc phục được rất nhiều...
5. "Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm" là khẩu hiệu (cùng với việc cắm Đảng kỳ bên cạnh và ngang bằng với Quốc kỳ) giờ đây gần như đã được quy chuẩn hóa ở mọi nơi trang trọng nhất ở mọi cơ quan, công sở. Việc đặt ở vị trí cao sự tôn vinh Đảng cầm quyền là một chủ trương mà tôi không bình luận. Nhưng tôi rất nhớ đến một câu khẩu hiệu mà Bác Hồ đã nêu lên và được nhân dân hưởng ứng đã mang lại một sức mạnh tinh thần ngay sau khi cách mạng thành công. Đó là khẩu hiệu "Tổ quốc trên hết". Hồi đó ở các cơ quan và cả gia đình, người ta làm "bàn thờ Tổ quốc" và bao giờ cũng có một khẩu hiệu đặt ở vị trí cao nhất là "Tổ quốc trên hết".
Ý thức về "Tổ quốc trên hết" còn góp phần khắc phục tính cục bộ "vùng miền" đang ngày càng trở nên nặng nề. Thống nhất đất nước là một mục tiêu mà dân tộc chúng ta đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để phấn đấu. Đất nước đã thống nhất rồi mà cái nếp hằn lịch sử Trung - Nam - Bắc ngày càng sâu. Lẽ ra phải là phẳng tấm bản đồ thì hình như sự thể lại đang diễn ra ngược lại. Vua Quang Trung hay vua Gia Long lên ngôi (trong hoàn cảnh đương thời) đều đưa Kinh đô vào Phú Xuân để tìm cách cân bằng một quốc gia trải dài từ Bắc xuống Nam. Vua Minh Mạng hạ thấp uy thế của Bắc Thành và Gia Định thành cũng chỉ vì lo nạn cát cứ và ly khai. Vị vua này còn "cấm quần không đáy" với mong muốn thống nhất cả tập quán văn hóa sau mấy thế kỷ Nam Bắc phân tranh... Việc điều chuyển các quan chức như cách làm của ta bây giờ ("luân chuyển cán bộ") được thực hiện rất triệt để nhằm xóa nhòa ranh giới địa phương cục bộ... Những chính sách cụ thể đó đúng hay sai có thể các sử gia còn bình luận, nhưng không ai không nhất trí và đề cao cái mục tiêu thống nhất quốc gia phải là sứ mạng của mọi triều đại, mọi chế độ...
Sau này, ngay lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đâu có thành lập Đảng mà đúng ra là Cụ đã thống nhất 3 tổ chức Cộng sản hình thành từ 3 miền và đang chứa đựng những nhân tố tranh giành quyền lực. Theo tôi thành công lớn của Cụ Hồ là rất sớm nhận ra cái nguy cơ lịch sử tiềm ẩn mang tính chất một di sản tiêu cực của lịch sử ấy để luôn có ý thức khắc phục bằng tinh thần Đoàn kết và Thống nhất, tạo nên sức mạnh của Đảng cũng như của Dân tộc. Đó là một bài học rất lớn.
Mặc dầu Đảng luôn luôn nêu cao tinh thần đã kế thừa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng trên thực tế tôi thấy tình trạng cục bộ dường như vẫn nặng nề và ngày càng nặng nề. Quan tâm đến sự phát triển cũng như đến quyền lợi của mọi vùng miền của đất nước là rất cần thiết. Nó cần được thể hiện trên chiến lược phát triển chung của đất nước nhưng tôi cứ băn khoăn với việc có cần thiết sự phân công các nhà lãnh đạo cứ phải tuân thủ theo cái nếp "chia đều" như vậy không, và như thế thì bao giờ ta có được một vị "nguyên thủ" theo đúng nghĩa về thiết chế quyền lực, điều mà nước nhỏ như Lào, nước lớn như Trung Quốc đều gần gũi ta đã làm được? Liệu có nhất thiết trong cơ quan lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị cũng phải chia đều chằn chặn 5 + 5 + 5, liệu có phải chọn địa điểm xây nhà máy lọc dầu ở Dung Quất mới là quan tâm đến lợi ích miền Trung khi nền kinh tế nước nhà đã thống nhất và Nhà nước hoàn toàn có khả năng điều tiết những lợi ích của quốc gia (?) v.v...
Tôi rất lo từ những vết hằn của lịch sử. Không là phẳng tấm bản đồ Tổ quốc, những vết hằn ấy sẽ thành nếp gấp, rồi không cảnh giác, những nếp gấp ấy sẽ thành nếp gãy thì...đại họa cho Dân tộc. Do thế mà "Tổ quốc trên hết" dù có trưng thành khẩu hiệu hay không thì vẫn phải làm cho nó ăn sâu vào tâm thức của mỗi người Việt Nam trong hay ngoài Đảng...
Tôi biết rằng những ý kiến đóng góp của tôi có thể đụng vào những "vùng nhạy cảm". Nhưng khi Đảng đã tin mà hỏi thì chẳng có lẽ gì mà không trả lời một cách thật tâm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2005
Dương Trung Quốc
Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Đại biểu Quốc hội khóa XI
<< Home
