14/11/05
Comments:
<< Home
Lan Hương: Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế. Từ tháng 10 năm 1954 đến 1962 ông là Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, kiêm Chủ nhiệm báo Thủ Đô Hà Nội. Năm 1962 ông được cử đi học ở trường Đảng cao cấp ở Liên Xô. Do bất đồng những chính sách cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), ông bị khủng bố về tư tưởng nên đã thoát ly khỏi đảng năm 1964, trong khi đó đảng CSVN ra lệnh bắt giam nhiều sĩ quan, cán bộ đảng ở Việt Nam trong cái gọi là “vụ án xét lại chống đảng”. Từ đó ông xin cư trú chính trị ở Nga cho đến hôm nay. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu với các độc giả bài phân tích mới nhất của ông nhân dịp ở trong nước mới xuất hiện bài viết của ông Võ Văn Kiệt.
**
Sau bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, ông Võ Văn Kiệt lại vừa tung ra một tác phẩm mới – bản “Góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới”.
Đây là một sự kiện đáng lưu ý trong đời sống chính trị của Việt Nam. Vì nó là văn bản của một nhân vật đã từng đứng vào hàng cao cấp nhất của Đảng cộng sản (ĐCS) và nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa (VN XHCN) công khai trình bày quan điểm của cá nhân mình nhân dịp chuẩn bị đại hội đảng, đồng thời nói đến những sai lầm của ĐCS – dù là lời nói đó quá muộn màng, sơ sài, và không đầy đủ so với biết bao nhiêu người đã nói hàng chục năm trước đây và còn đang bị đau khổ vì những lời nói thẳng thắn của mình.
Bất kể văn kiện này được tác giả của nó tung ra với động cơ chính trị nào trong tình hình đấu tranh phe phái hiện nay ở VN, nhưng nó cũng mang tính tích cực vì có thể tạo điều kiện cho những ai quan tâm đến số phận của Tổ quốc và dân tộc chịu động não đôi chút để nghĩ đến tiền đồ của đất nước và của thế hệ mai sau, tức là con cháu ruột thịt của mình. Nó cũng tạo dịp tốt để những người dân chủ trong nước khơi dậy những cuộc trao đổi ý kiến rộng rãi trong dân chúng nhằm lắng nghe ý kiến của người dân và truyền bá quan điểm dân chủ về các vấn đề căn bản của đất nước, tạo một dư luận xã hội sôi nổi ngay trước ngày họp đại hội đảng lần thứ X.
Ông Võ Văn Kiệt vốn là nhân vật lãnh đạo số một ở miền Nam VN trước và sau sự kiện tháng 4 năm 1975, sau này ông lại là thủ tướng chính phủ VN XHCN trong nhiều năm. Tên tuổi của ông gắn với biết bao sự kiện đau buồn của đất nước trong 30 năm qua, kể từ năm 1975. Ông “có vai trò lớn” trong việc đàn áp tệ hại các tôn giáo, trả thù hèn mạt những người trong chế độ cũ, bỏ tù nhiều năm trong các “trại cải tạo” hàng loạt công chức, sĩ quan, binh lính, thậm chí cả những trí thức, văn nghệ sĩ, tráo trở gạt bỏ Mặt trân dân tộc giải phóng miền Nam”, vứt bỏ Chính phủ lâm thời miền Nam VN, tổ chức nhiều đợt cải tạo công thương nghiệp, “đánh tư sản mại bản” để cướp đoạt tài sản của người dân, đàn áp những trí thức yêu nước đòi tự do, dân chủ, đàn áp “Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ”, bắt bớ ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng và những người đứng đầu khác của Câu lạc bộ. Ông cũng là người cho tổ chức những đợt “vượt biên bán chính thức” hồi cuối thập niên 70 để vơ vét vàng bạc của người dân trước khi thả họ ra biển cả. Việc ô nhục nhất khi làm thủ tướng là ông đã ký tên vào cái “nghị định” 31/CP mang tính phát xít cho phép công an tuỳ tiệân quản chế bất cứ ai không cần chứng cớ, không cần toà án, làm tăng cường thêm cái chế độ “công an trị” trên đất nước ta. Cho đến bây giờ cái nghị định đó vẫn còn nguyên hiệu lực và biết bao người trí thức dân chủ, những người cách mạng bất đồng chính kiến với ban lãnh đạo Đảng, những vị tu hành của các tôn giáo, như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Tin Lành, Phật giáo Hoà hảo... vẫn còn đang bị “cầm tù tại gia” bởi cái nghị định đó.
Với một con người có nhiều “thành tích” như vậy, ít ai có kỳ vọng ở bản “Góp ý kiến...” của ông ta sẽ mở ra một con đường mới mẽ, thật sự cần thiết cáp bách cho đất nước và dân tộc. Mà thật vậy, đằng sau những từ ngữ rất... “hoành tráng” theo văn phong ưa chuộng của giới lãnh đạo VN, như “trước hết đòi hỏi một sự bứt phá mạnh dạn về tư duy, về đường lối, về tổ chức...”, người ta có thể dễ dàng nhận thấy là ông Võ Văn Kiệt về cơ bản vẫn cứ đứng yên tại chỗ mà không có một chút “bứt phá mạnh dạn” nào.
Tôi muốn nói đến vấn đề mà ông Kiệt quan tâm nhất đặt lên hàng đầu: chủ nghĩa Marx-Lenin. Ông Kiệt viết: “Từ bao nhiêu năm nay, lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng: Chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam. Chưa bao giờ chúng ta chủ trương làm trái chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tại sao chúng ta vẫn mắc nhiều sai lầm? Nếu có một kim chỉ nam trên tay, thì khó có thể lạc hướng. Nhưng tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng”. Rồi ông đi đến kết luận: “Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta không đọc được những mã số của nó. Vậy vấn đề bây giờ không còn là nêu lên những khái niệm chung chung, mà phải xác định rõ nội hàm của những khái niệm đó”. Ở một đoạn khác, ông Kiệt nói thêm: “... lâu nay không có một đảng cộng sản hay công nhân nào nói rằng không đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, không kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin. Nhưng mỗi đảng đi theo một con đường khác nhau, đảng này lại còn phê phán đảng kia là làm sai những nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin. Vậy là có nhiều cách hiểu về chủ nghĩa Marx-Lenin”.
Nói một cách khác, ông Võ Văn Kiệt chủ trương là ĐCS vẫn phải kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin, vẫn phải lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ có điều là phải “đọc được những mã số của nó”, “phải xác định rõ nội hàm của những khái niệm” của chủ nghĩa Marx-Lenin. Cái gọi là “đọc được những mã số của nó” quả thật là một câu bí hiểm đánh đố người đọc, nó vừa huênh hoang, vừa rỗng tuếch, không có nội dung gì thực tế. Còn cái gọi là “nội hàm” (hay nói dễ hiểu hơn, nội dung cơ bản) của chủ nghĩa Marx-Lenin thì phải chăng là không có, mà đến bây giờ cần phải xác định rõ? Thực ra, nó nằm sờ sờ trong các tác phẩm, các văn bản của những người mà giới lãnh đạo cộng sản VN tôn vinh là “những nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin”. Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin bao gồm bốn điểm được coi là bốn trụ cột bất di bất dịch của chủ nghĩa Marx-Lenin, nghĩa là không có chúng thì không còn là chủ nghĩa Marx-Lenin nữa. Thứ nhất, là học thuyết đấu tranh giai cấp; thứ hai, là đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân nhất định phải đi đến chuyên chính vô sản; thứ ba, là ĐCS phải độc quyền lãnh đạo, tuyệt đối không được phân chia quyền lãnh đạo đó cho bất cứ đảng nào; và thứ tư, là chủ nghĩa tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của ĐCS và của hệ thống chính trị do đảng độc tôn thống trị (xin chú ý: chủ nghĩa tập trung dân chủ, chứ không phải chủ nghĩa dân chủ tập trung, vì theo những người lãnh đạo ĐCS, tập trung là chính, là cơ bản). Từ ông Marx đến ông Lenin, ông Stalin, ông Mao Trạch Đông, và các ông lãnh tụ khác đều khẳng định bốn cái cốt lõi đó. Trên 80 năm qua, các ĐCS ở các nước gọi là XHCN đã dựa trên bốn trụ cột đó, tức là đã “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”. Kết quả thì thế nào? Nếu ông Võ Văn Kiệt “xác lập một thái độ trung thực và có trách nhiệm, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” – như ông đã nhắc nhở – thì chắc ông phải thấy rõ ràng rằng ở các nước XHCN mà ĐCS “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”, thì bao nhiêu đầu rơi máu chảy, bao nhiêu đau thương tang tóc, hàng chục triệu người đã chết oan uổng, bao nhiêu lực lượng sản xuất đã bị lãng phí... để cuối cùng xác lập nên một chế độ cực quyền toàn trị độc ác khủng khiếp, không kém gì chế độ của phát xít. Trên thế giới, chưa hề có một nước nào do ĐCS “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin” mà thực hiện được ước mơ tốt đẹp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Như vậy, không phải vì các ĐCS đó chưa “xác định rõ nội hàm” của chủ nghĩa Marx-Lenin” mà phải thẳng thắn nói rõ là thực tiễn đã chứng tỏ rằng chủ nghĩa Marx-Lenin không thể làm “kim chỉ nam” đúng đắn được. Lịch sử thế giới trên 80 năm qua đã chứng minh điều đó. Thế mà đến bây giờ ông Kiệt vẫn nói loanh quanh “phải xác định rõ nội hàm” thì có khác gì hai mươi năm trước, khi bắt đầu đổi mới, nghĩa là khi đã thấy rõ (nếu nói nhẹ một tí)... sự “bất cập”, “bất lực” của chủ nghĩa Marx-Lenin, ban lãnh đạo ĐCS VN đã từng quyết nghị: “cần phải có nhận thức đúng về chủ nghĩa Marx-Lenin” – mà chính ông Kiệt cũng thấy rõ đấy: hai mươi năm sau... ĐCS vẫn chưa thể đưa ra “nhận thức đúng về chủ nghĩa Marx-Lenin” là như thế nào cả! “Phải xác định rõ nội hàm” chỉ là một câu nói nhằm trốn tránh sự thật, để “hoãn binh”, trong lúc thực ra cần phải giải quyết dứt khoát “vấn đề của mọi vấn đề” để đất nước tiến lên.
Nếu đã nói như ông Kiệt “cần phải có một sự bứt phá mạnh dạn về tư duy...” thì phải nói thẳng ra rằng sự bứt phá mạnh dạn đó chính là phải từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin, một chủ nghĩa đã bị thực tiễn lịch sử gạt bỏ. Khác với ông Kiệt, nhiều người dân chủ VN trong và ngoài nước từ lâu đã nói dứt khoát như vậy. Và “nội hàm” của khái niệm từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin cũng đã từng được nêu ra rất cụ thể:
Trước tiên, là phải xoá bỏ điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, tức là xoá bỏ quyền thống trị độc tôn của ĐCS; thứ hai, phải tách ĐCS ra khỏi chính quyền nhà nước, xoá bỏ tình trạng nhập nhằng hiện nay và làm cho chính quyền, quân đội, công an thực sự là của nhân dân, không một đảng phái nào được thao túng; thứ ba, tổ chức đầu phiếu thật sự dân chủ và tự do để cử các cơ quan lập pháp, hành pháp; thứ tư, ban hành và bảo đảm thực thi các quyền tự do dân chủ, trước tiên là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tôn giáo, đồng thời xoá bỏ ngay những đạo luật, cũng như những văn bản dưới luật vi phạm các quyền tự do dân chủ nói trên, trước tiên là bãi bỏ nghị định 31/CPù; thứ năm, các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải phân lập rõ rệt; thứ sáu, xây dựng một xã hội dân sự mạnh mẽ; và thứ bảy, phải xây dựng Hiến pháp mới cho nước Việt Nam mới được thông qua bởi một cuộc bỏ phiếu toàn dân. Đó chính là những việc làm cụ thể để xoá bỏ chế độ cực quyền toàn trị, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ, tự do đích thực, tức là một chế độ dân chủ đa nguyên, tạo điều kiện cho đất nước tiến lên mạnh mẽ, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu.
Vấn đề, theo tôi, đặt ra rõ ràng, cụ thể và dứt khoát như vậy, mà sao ông Kiệt lại tránh né, không dám nói đến? Mà sao ban lãnh đạo ĐCS lại không dám đặt ra để trong toàn ĐCS thảo luận? Sở dĩ như vậy, vì nếu từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin thì giai cấp thống trị quan liêu, tức là giai cấp các “quan cách mạng” hiện nay nhất định sẽ bị tiêu vong, cái ách mà ĐCS đã đặt lên đầu người dân được tô son trát phấn bằng cái khẩu hiệu lừa mị “đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ” nhất định sẽ bị vứt bỏ, nhân dân nhất định sẽ được giải phóng. Chính vì sợ mất quyền mất lợi, mà họ phải nói quanh, nói “bí hiểm”, nói mơ hồ, “nói để mà nói”. Ông Kiệt làm ra vẻ là người “tiến bộ”, nhưng thực chất ông cũng không hơn gì ban lãnh đạo ĐCS hiện nay.
Bây giờ xin bàn đến vấn đề mà ông Kiệt gọi là “phương pháp tư tưởng”, trong đó ông vạch những cái gọi là “phương pháp tư duy “tả khuynh” trong đảng” qua các thời kỳ. Thực ra, trước ông Kiệt rất lâu, nhiều người – kể cả những người trong ĐCS – đã vạch ra những sai lầm đó của ĐCS, đầy đủ, thẳng thắn và sâu sắc hơn ông Kiệt rất nhiều. Chẳng hạn, ta thấy ông Kiệt tránh không nhắc đến “vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm”, “vụ án Xét lại-Chống Đảng”, vụ giải tán Mặt trân giải phóng miền Nam VN và giải tán Chính phủ lâm thời miền Nam VN, vụ đàn áp Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ, v.v... Nhưng thôi, cái đó chưa phải là vấn đề đáng nói ở đây. Vấn đề đáng nói là ông quy những sai lầm đó vào “phương pháp tư tưởng”, hàm ý những sai lầm đó chỉ là do “phương pháp tư duy “tả khuynh”” mà thôi. Cách đặt vấn đề như thế không đúng, vì thật ra những cái mà ông gọi là sai lầm “tả khuynh” đó nằm ngay trong bản chất của chủ nghĩa Marx-Lenin, chúng là biểu hiện của chủ nghĩa Marx-Lenin. Nếu chúng ta bình tĩnh đọc lại “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” hay những tác phẩm của ông Marx viết về Công xã Paris chẳng hạn, thì thấy – so với thực tiễn – có nhiều điều ông Marx nói sai, “tả khuynh” rõ rệt, thậm chí “không tưởng”. Đến thời ông Lenin thì lại càng có nhiều điều “tả khuynh” nữa. Chẳng hạn như, ông Lenin đã thực hiện cái gọi là “chủ nghĩa cộng sản thời chiến”, ông Lenin nhận định chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản giãy chết, là đêm trước của cách mạng vô sản, nên ông vội vã huy động lực lượng giai cấp vô sản gấp rút làm cách mạng thế giới, v.v... và v.v... Đến thời ông Stalin, ông Mao Trạch Đông – hai ông này cũng là những nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin đấy – biết bao nhiêu chủ trương, chính sách của hai ông đều đáng gọi là “đại tả khuynh”. Chính vì “xu hướng tả khuynh” nằm trong bản chất của chủ nghĩa Marx-Lenin, nên khi một cán bộ CS phạm sai lầm “tả khuynh”, thì nói chung họ không hề bị kỷ luật nặng, thậm chí có khi còn được coi là “lập trường giai cấp vững” chỉ có “phương pháp tư tưởng” sai mà thôi. Có thể có người sẽ phản đối tôi bằng cách đưa ra dẫn chứng là trong cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở miền Bắc có bốn ông “trùm sỏ” lãnh đạo CCRĐ (các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng) đã bị thi hành kỷ luật. Đúng, họ có bị “thi hành kỷ luật”, nhưng cái kiểu kỷ luật đó thực tế chỉ là trò “giơ cao đánh khẽ” để xoa dịu nỗi bất bình đang dâng lên hừng hực của dân chúng và đảng viên cán bộ mà thôi. Thi hành kỷ luật cái gì khi cả bốn ông đó đều được chuyển sang những cương vị lãnh đạo vào loại cao nhất ở các cơ quan đảng và chính quyền! Thử hỏi rằng cái gọi là “kỷ luật” đó có cân xứng với việc thảm sát hàng nghìn người dân và đảng viên vô tội, bắt bớ, tù đày hàng chục nghìn người vô can, làm đảo lộn cả nếp sống và đạo đức truyền thống của xóm làng VN hay không? Tóm lại, theo cách nhìn thông thường của giới lãnh đạo ĐCS thì sai lầm gọi là “tả khuynh” chẳng qua chỉ là chứng tỏ người cán bộ đó có “lập trường vững” mà thôi. Họ chỉ sai về “phương pháp tư tưởng” nên đáng được chiếu cố! Còn những người bị ĐCS quy kết cho cái tội gọi là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại (mà lắm khi sự quy kết đó rất sai lầm) thì bị coi như là phản động, bị đảng chì chiết, trù ếm họ, bị thành kiến lâu dài, và “sinh mệnh chính trị” của họ thế là tiêu vong.
Như tôi đã trình bày trên, cái mà ông Kiệt gọi là “phương pháp tư duy “tả khuynh” hay “xu hướng tả khuynh” chính là nằm trong bản chất chủ nghĩa Marx-Lenin. Vì thế, không thể nói vẫn phải tiếp tục “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin” mà chỉ cần thay đổi “phương pháp tư tưởng” thôi. Muốn tránh những cái gọi là “tả khuynh” đó, đã từng gây ra biết bao tai hoạ cho người dân thì rõ ràng chỉ có một cách là từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin.
Nhìn lại lịch sử của ĐCS Liên Xô và các ĐCS khác, ta đều thấy rất rõ cái “lập trường giai cấp” nhất quán của họ. Chẳng hạn, đối với vấn đề “thị trường”. Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì phải triệt tiêu cái gọi là “thị trường tự do” thì mới thực hiện được chủ nghĩa xã hội. Dưới thời Lenin, chính sách triệt tiêu đó đã đưa đất nước đến khủng hoảng trầm trọng, công nhân, nông dân cực kỳ bất mãn, chính quyền Xô-viết có nguy cơ sụp đổ, Lenin phải vội vã đưa ra “chính sách kinh tế mới” nới cho người dân được buôn bán, nên “quy luật thị trường” được phát huy tác dụng, nhờ đó kinh tế được phục hồi. Cái gọi là “mở cửa” của Trung Quốc, “đổi mới” của VN sau này cũng làm theo cách đó của LX. Đến khi kinh tế LX cứng cáp lên được một tí thì Stalin phế bỏ “chính sách kinh tế mới”, lại tiếp tục bóp nghẹt “thị trường tự do” đúng tinh thần triệt tiêu thị trường tự do của Marx. Lại khủng hoảng kinh tế, nên đến thời Khrutshev lại phải nới ra cho “thị trường tự do” được thoi thóp thở, bằng cách cho phép nông dân nông trang được nuôi bò, cừu, dê riêng (tất nhiên, với số lượng rất hạn chế) và cho mở “chợ nông trang” để nông dân đem sản phẩm làm được trên “mảnh ruộng phần trăm” và chăn nuôi gia đình ra bán ở chợ. Kinh tế phục hồi được một chút thì đến thời Brezhnev lại bóp nghẹt “thị trường tự do”, lại khủng hoảng nặng nề, đến thời Gorbachev lại “cải tổ” cố mở rộng “thị trường tự do”, nhưng rồi cuối cùng thì LX sụp đổ, kéo theo sự suy bại của ĐCS. Và bây giờ thìø ở Nga nền kinh tế thị trường mở rộng như ở các nước khác và người dân thấy dễ thở hơn trước.
Hay đối với vấn đề gọi là “đoàn kết dân tộc” cũng thế, khi thế lực của ĐCS còn yếu thì họ cố sức kêu gọi đoàn kết, họ cố lôi kéo cả các giai cấp mà trong lòng họ cho là thù địch, như địa chủ, tư sản, trí thức tư sản, họ làm ra vẻ hiền lành với các đảng phái mà họ chưa diệt được, nhưng khi có lực lượng vững vàng rồi họ lần lượt đấu tố địa chủ, đấu tố tư sản, tước đoạt tài sản của những người này, rồi tiêu diệt các đảng phái chống đối họ, thậm chí giải tán cả những “đảng bạn” đã từng theo họ làm trò “tung hứng” suốt mấy chục năm trường. Đối với cái gọi là “lực lượng thứù ba” cũng thế, khi cần lôi kéo vào “mặt trậân” nầy, “mặt trận” nọ, lập “chính phủ” lâm thời”, còn khi đã đạt được mục tiêu chính trị của mình rồi thì “a-lê, hấp!”, nói thẳng ra là “đá đít”. Những cái ngoắt ngoéo kiểu dích-dắc này chẳng nhẽ gọi đó là “tả khuynh”, là “phương pháp tư tưởng” sai? Phải thẳng thắn nói rõ đó là sách lược, là chiến thuật giai đoạn của những người theo chủ nghĩa Marx-Lenin, là “lập trường giai cấp” của ĐCS.
Bản “Góp ý kiến...” của ông Võ Văn Kiệt nêu ra rất nhiều vấn đề. Để không làm mệt óc bạn đọc, người viết chỉ xin đề cập đến một vấn đề quan trọng nhất mà ông Kiệt đã đưa lên hàng đầu là vấn đề chủ nghĩa Marx-Lenin, và một lần nữa xin nói rõ là: cần phải dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin, vì nó là “nguyên nhân của nguyên nhân” (từ ngữ này của ông Kiệt) của tình trạng độc tài toàn trị, tham nhũng tràn lan và tụt hậu trầm trọng của đất nước, tình trạng vô quyền và khốn khổ của người dân. Từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin chính là sự bứt phá mạnh dạn nhất về tư duy, dẫn đến sự bứt phá về đường lối và tổ chức. Chỉ có một sự bứt phá thật sự như vậy mới tạo tiền đề cho việc xây dựng một đất nước tự do, dân chủ, giàu mạnh, để đất nước vươn lên thoát khỏi tình trạng tụt hậu thê thảm hiện nay.
29/09/2005
Đăng nhận xét
**
Sau bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, ông Võ Văn Kiệt lại vừa tung ra một tác phẩm mới – bản “Góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới”.
Đây là một sự kiện đáng lưu ý trong đời sống chính trị của Việt Nam. Vì nó là văn bản của một nhân vật đã từng đứng vào hàng cao cấp nhất của Đảng cộng sản (ĐCS) và nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa (VN XHCN) công khai trình bày quan điểm của cá nhân mình nhân dịp chuẩn bị đại hội đảng, đồng thời nói đến những sai lầm của ĐCS – dù là lời nói đó quá muộn màng, sơ sài, và không đầy đủ so với biết bao nhiêu người đã nói hàng chục năm trước đây và còn đang bị đau khổ vì những lời nói thẳng thắn của mình.
Bất kể văn kiện này được tác giả của nó tung ra với động cơ chính trị nào trong tình hình đấu tranh phe phái hiện nay ở VN, nhưng nó cũng mang tính tích cực vì có thể tạo điều kiện cho những ai quan tâm đến số phận của Tổ quốc và dân tộc chịu động não đôi chút để nghĩ đến tiền đồ của đất nước và của thế hệ mai sau, tức là con cháu ruột thịt của mình. Nó cũng tạo dịp tốt để những người dân chủ trong nước khơi dậy những cuộc trao đổi ý kiến rộng rãi trong dân chúng nhằm lắng nghe ý kiến của người dân và truyền bá quan điểm dân chủ về các vấn đề căn bản của đất nước, tạo một dư luận xã hội sôi nổi ngay trước ngày họp đại hội đảng lần thứ X.
Ông Võ Văn Kiệt vốn là nhân vật lãnh đạo số một ở miền Nam VN trước và sau sự kiện tháng 4 năm 1975, sau này ông lại là thủ tướng chính phủ VN XHCN trong nhiều năm. Tên tuổi của ông gắn với biết bao sự kiện đau buồn của đất nước trong 30 năm qua, kể từ năm 1975. Ông “có vai trò lớn” trong việc đàn áp tệ hại các tôn giáo, trả thù hèn mạt những người trong chế độ cũ, bỏ tù nhiều năm trong các “trại cải tạo” hàng loạt công chức, sĩ quan, binh lính, thậm chí cả những trí thức, văn nghệ sĩ, tráo trở gạt bỏ Mặt trân dân tộc giải phóng miền Nam”, vứt bỏ Chính phủ lâm thời miền Nam VN, tổ chức nhiều đợt cải tạo công thương nghiệp, “đánh tư sản mại bản” để cướp đoạt tài sản của người dân, đàn áp những trí thức yêu nước đòi tự do, dân chủ, đàn áp “Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ”, bắt bớ ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng và những người đứng đầu khác của Câu lạc bộ. Ông cũng là người cho tổ chức những đợt “vượt biên bán chính thức” hồi cuối thập niên 70 để vơ vét vàng bạc của người dân trước khi thả họ ra biển cả. Việc ô nhục nhất khi làm thủ tướng là ông đã ký tên vào cái “nghị định” 31/CP mang tính phát xít cho phép công an tuỳ tiệân quản chế bất cứ ai không cần chứng cớ, không cần toà án, làm tăng cường thêm cái chế độ “công an trị” trên đất nước ta. Cho đến bây giờ cái nghị định đó vẫn còn nguyên hiệu lực và biết bao người trí thức dân chủ, những người cách mạng bất đồng chính kiến với ban lãnh đạo Đảng, những vị tu hành của các tôn giáo, như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Tin Lành, Phật giáo Hoà hảo... vẫn còn đang bị “cầm tù tại gia” bởi cái nghị định đó.
Với một con người có nhiều “thành tích” như vậy, ít ai có kỳ vọng ở bản “Góp ý kiến...” của ông ta sẽ mở ra một con đường mới mẽ, thật sự cần thiết cáp bách cho đất nước và dân tộc. Mà thật vậy, đằng sau những từ ngữ rất... “hoành tráng” theo văn phong ưa chuộng của giới lãnh đạo VN, như “trước hết đòi hỏi một sự bứt phá mạnh dạn về tư duy, về đường lối, về tổ chức...”, người ta có thể dễ dàng nhận thấy là ông Võ Văn Kiệt về cơ bản vẫn cứ đứng yên tại chỗ mà không có một chút “bứt phá mạnh dạn” nào.
Tôi muốn nói đến vấn đề mà ông Kiệt quan tâm nhất đặt lên hàng đầu: chủ nghĩa Marx-Lenin. Ông Kiệt viết: “Từ bao nhiêu năm nay, lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng: Chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam. Chưa bao giờ chúng ta chủ trương làm trái chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tại sao chúng ta vẫn mắc nhiều sai lầm? Nếu có một kim chỉ nam trên tay, thì khó có thể lạc hướng. Nhưng tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng”. Rồi ông đi đến kết luận: “Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta không đọc được những mã số của nó. Vậy vấn đề bây giờ không còn là nêu lên những khái niệm chung chung, mà phải xác định rõ nội hàm của những khái niệm đó”. Ở một đoạn khác, ông Kiệt nói thêm: “... lâu nay không có một đảng cộng sản hay công nhân nào nói rằng không đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, không kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin. Nhưng mỗi đảng đi theo một con đường khác nhau, đảng này lại còn phê phán đảng kia là làm sai những nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin. Vậy là có nhiều cách hiểu về chủ nghĩa Marx-Lenin”.
Nói một cách khác, ông Võ Văn Kiệt chủ trương là ĐCS vẫn phải kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin, vẫn phải lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ có điều là phải “đọc được những mã số của nó”, “phải xác định rõ nội hàm của những khái niệm” của chủ nghĩa Marx-Lenin. Cái gọi là “đọc được những mã số của nó” quả thật là một câu bí hiểm đánh đố người đọc, nó vừa huênh hoang, vừa rỗng tuếch, không có nội dung gì thực tế. Còn cái gọi là “nội hàm” (hay nói dễ hiểu hơn, nội dung cơ bản) của chủ nghĩa Marx-Lenin thì phải chăng là không có, mà đến bây giờ cần phải xác định rõ? Thực ra, nó nằm sờ sờ trong các tác phẩm, các văn bản của những người mà giới lãnh đạo cộng sản VN tôn vinh là “những nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin”. Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin bao gồm bốn điểm được coi là bốn trụ cột bất di bất dịch của chủ nghĩa Marx-Lenin, nghĩa là không có chúng thì không còn là chủ nghĩa Marx-Lenin nữa. Thứ nhất, là học thuyết đấu tranh giai cấp; thứ hai, là đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân nhất định phải đi đến chuyên chính vô sản; thứ ba, là ĐCS phải độc quyền lãnh đạo, tuyệt đối không được phân chia quyền lãnh đạo đó cho bất cứ đảng nào; và thứ tư, là chủ nghĩa tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của ĐCS và của hệ thống chính trị do đảng độc tôn thống trị (xin chú ý: chủ nghĩa tập trung dân chủ, chứ không phải chủ nghĩa dân chủ tập trung, vì theo những người lãnh đạo ĐCS, tập trung là chính, là cơ bản). Từ ông Marx đến ông Lenin, ông Stalin, ông Mao Trạch Đông, và các ông lãnh tụ khác đều khẳng định bốn cái cốt lõi đó. Trên 80 năm qua, các ĐCS ở các nước gọi là XHCN đã dựa trên bốn trụ cột đó, tức là đã “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”. Kết quả thì thế nào? Nếu ông Võ Văn Kiệt “xác lập một thái độ trung thực và có trách nhiệm, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” – như ông đã nhắc nhở – thì chắc ông phải thấy rõ ràng rằng ở các nước XHCN mà ĐCS “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”, thì bao nhiêu đầu rơi máu chảy, bao nhiêu đau thương tang tóc, hàng chục triệu người đã chết oan uổng, bao nhiêu lực lượng sản xuất đã bị lãng phí... để cuối cùng xác lập nên một chế độ cực quyền toàn trị độc ác khủng khiếp, không kém gì chế độ của phát xít. Trên thế giới, chưa hề có một nước nào do ĐCS “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin” mà thực hiện được ước mơ tốt đẹp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Như vậy, không phải vì các ĐCS đó chưa “xác định rõ nội hàm” của chủ nghĩa Marx-Lenin” mà phải thẳng thắn nói rõ là thực tiễn đã chứng tỏ rằng chủ nghĩa Marx-Lenin không thể làm “kim chỉ nam” đúng đắn được. Lịch sử thế giới trên 80 năm qua đã chứng minh điều đó. Thế mà đến bây giờ ông Kiệt vẫn nói loanh quanh “phải xác định rõ nội hàm” thì có khác gì hai mươi năm trước, khi bắt đầu đổi mới, nghĩa là khi đã thấy rõ (nếu nói nhẹ một tí)... sự “bất cập”, “bất lực” của chủ nghĩa Marx-Lenin, ban lãnh đạo ĐCS VN đã từng quyết nghị: “cần phải có nhận thức đúng về chủ nghĩa Marx-Lenin” – mà chính ông Kiệt cũng thấy rõ đấy: hai mươi năm sau... ĐCS vẫn chưa thể đưa ra “nhận thức đúng về chủ nghĩa Marx-Lenin” là như thế nào cả! “Phải xác định rõ nội hàm” chỉ là một câu nói nhằm trốn tránh sự thật, để “hoãn binh”, trong lúc thực ra cần phải giải quyết dứt khoát “vấn đề của mọi vấn đề” để đất nước tiến lên.
Nếu đã nói như ông Kiệt “cần phải có một sự bứt phá mạnh dạn về tư duy...” thì phải nói thẳng ra rằng sự bứt phá mạnh dạn đó chính là phải từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin, một chủ nghĩa đã bị thực tiễn lịch sử gạt bỏ. Khác với ông Kiệt, nhiều người dân chủ VN trong và ngoài nước từ lâu đã nói dứt khoát như vậy. Và “nội hàm” của khái niệm từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin cũng đã từng được nêu ra rất cụ thể:
Trước tiên, là phải xoá bỏ điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, tức là xoá bỏ quyền thống trị độc tôn của ĐCS; thứ hai, phải tách ĐCS ra khỏi chính quyền nhà nước, xoá bỏ tình trạng nhập nhằng hiện nay và làm cho chính quyền, quân đội, công an thực sự là của nhân dân, không một đảng phái nào được thao túng; thứ ba, tổ chức đầu phiếu thật sự dân chủ và tự do để cử các cơ quan lập pháp, hành pháp; thứ tư, ban hành và bảo đảm thực thi các quyền tự do dân chủ, trước tiên là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tôn giáo, đồng thời xoá bỏ ngay những đạo luật, cũng như những văn bản dưới luật vi phạm các quyền tự do dân chủ nói trên, trước tiên là bãi bỏ nghị định 31/CPù; thứ năm, các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải phân lập rõ rệt; thứ sáu, xây dựng một xã hội dân sự mạnh mẽ; và thứ bảy, phải xây dựng Hiến pháp mới cho nước Việt Nam mới được thông qua bởi một cuộc bỏ phiếu toàn dân. Đó chính là những việc làm cụ thể để xoá bỏ chế độ cực quyền toàn trị, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ, tự do đích thực, tức là một chế độ dân chủ đa nguyên, tạo điều kiện cho đất nước tiến lên mạnh mẽ, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu.
Vấn đề, theo tôi, đặt ra rõ ràng, cụ thể và dứt khoát như vậy, mà sao ông Kiệt lại tránh né, không dám nói đến? Mà sao ban lãnh đạo ĐCS lại không dám đặt ra để trong toàn ĐCS thảo luận? Sở dĩ như vậy, vì nếu từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin thì giai cấp thống trị quan liêu, tức là giai cấp các “quan cách mạng” hiện nay nhất định sẽ bị tiêu vong, cái ách mà ĐCS đã đặt lên đầu người dân được tô son trát phấn bằng cái khẩu hiệu lừa mị “đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ” nhất định sẽ bị vứt bỏ, nhân dân nhất định sẽ được giải phóng. Chính vì sợ mất quyền mất lợi, mà họ phải nói quanh, nói “bí hiểm”, nói mơ hồ, “nói để mà nói”. Ông Kiệt làm ra vẻ là người “tiến bộ”, nhưng thực chất ông cũng không hơn gì ban lãnh đạo ĐCS hiện nay.
Bây giờ xin bàn đến vấn đề mà ông Kiệt gọi là “phương pháp tư tưởng”, trong đó ông vạch những cái gọi là “phương pháp tư duy “tả khuynh” trong đảng” qua các thời kỳ. Thực ra, trước ông Kiệt rất lâu, nhiều người – kể cả những người trong ĐCS – đã vạch ra những sai lầm đó của ĐCS, đầy đủ, thẳng thắn và sâu sắc hơn ông Kiệt rất nhiều. Chẳng hạn, ta thấy ông Kiệt tránh không nhắc đến “vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm”, “vụ án Xét lại-Chống Đảng”, vụ giải tán Mặt trân giải phóng miền Nam VN và giải tán Chính phủ lâm thời miền Nam VN, vụ đàn áp Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ, v.v... Nhưng thôi, cái đó chưa phải là vấn đề đáng nói ở đây. Vấn đề đáng nói là ông quy những sai lầm đó vào “phương pháp tư tưởng”, hàm ý những sai lầm đó chỉ là do “phương pháp tư duy “tả khuynh”” mà thôi. Cách đặt vấn đề như thế không đúng, vì thật ra những cái mà ông gọi là sai lầm “tả khuynh” đó nằm ngay trong bản chất của chủ nghĩa Marx-Lenin, chúng là biểu hiện của chủ nghĩa Marx-Lenin. Nếu chúng ta bình tĩnh đọc lại “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” hay những tác phẩm của ông Marx viết về Công xã Paris chẳng hạn, thì thấy – so với thực tiễn – có nhiều điều ông Marx nói sai, “tả khuynh” rõ rệt, thậm chí “không tưởng”. Đến thời ông Lenin thì lại càng có nhiều điều “tả khuynh” nữa. Chẳng hạn như, ông Lenin đã thực hiện cái gọi là “chủ nghĩa cộng sản thời chiến”, ông Lenin nhận định chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản giãy chết, là đêm trước của cách mạng vô sản, nên ông vội vã huy động lực lượng giai cấp vô sản gấp rút làm cách mạng thế giới, v.v... và v.v... Đến thời ông Stalin, ông Mao Trạch Đông – hai ông này cũng là những nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin đấy – biết bao nhiêu chủ trương, chính sách của hai ông đều đáng gọi là “đại tả khuynh”. Chính vì “xu hướng tả khuynh” nằm trong bản chất của chủ nghĩa Marx-Lenin, nên khi một cán bộ CS phạm sai lầm “tả khuynh”, thì nói chung họ không hề bị kỷ luật nặng, thậm chí có khi còn được coi là “lập trường giai cấp vững” chỉ có “phương pháp tư tưởng” sai mà thôi. Có thể có người sẽ phản đối tôi bằng cách đưa ra dẫn chứng là trong cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở miền Bắc có bốn ông “trùm sỏ” lãnh đạo CCRĐ (các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng) đã bị thi hành kỷ luật. Đúng, họ có bị “thi hành kỷ luật”, nhưng cái kiểu kỷ luật đó thực tế chỉ là trò “giơ cao đánh khẽ” để xoa dịu nỗi bất bình đang dâng lên hừng hực của dân chúng và đảng viên cán bộ mà thôi. Thi hành kỷ luật cái gì khi cả bốn ông đó đều được chuyển sang những cương vị lãnh đạo vào loại cao nhất ở các cơ quan đảng và chính quyền! Thử hỏi rằng cái gọi là “kỷ luật” đó có cân xứng với việc thảm sát hàng nghìn người dân và đảng viên vô tội, bắt bớ, tù đày hàng chục nghìn người vô can, làm đảo lộn cả nếp sống và đạo đức truyền thống của xóm làng VN hay không? Tóm lại, theo cách nhìn thông thường của giới lãnh đạo ĐCS thì sai lầm gọi là “tả khuynh” chẳng qua chỉ là chứng tỏ người cán bộ đó có “lập trường vững” mà thôi. Họ chỉ sai về “phương pháp tư tưởng” nên đáng được chiếu cố! Còn những người bị ĐCS quy kết cho cái tội gọi là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại (mà lắm khi sự quy kết đó rất sai lầm) thì bị coi như là phản động, bị đảng chì chiết, trù ếm họ, bị thành kiến lâu dài, và “sinh mệnh chính trị” của họ thế là tiêu vong.
Như tôi đã trình bày trên, cái mà ông Kiệt gọi là “phương pháp tư duy “tả khuynh” hay “xu hướng tả khuynh” chính là nằm trong bản chất chủ nghĩa Marx-Lenin. Vì thế, không thể nói vẫn phải tiếp tục “kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin” mà chỉ cần thay đổi “phương pháp tư tưởng” thôi. Muốn tránh những cái gọi là “tả khuynh” đó, đã từng gây ra biết bao tai hoạ cho người dân thì rõ ràng chỉ có một cách là từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin.
Nhìn lại lịch sử của ĐCS Liên Xô và các ĐCS khác, ta đều thấy rất rõ cái “lập trường giai cấp” nhất quán của họ. Chẳng hạn, đối với vấn đề “thị trường”. Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì phải triệt tiêu cái gọi là “thị trường tự do” thì mới thực hiện được chủ nghĩa xã hội. Dưới thời Lenin, chính sách triệt tiêu đó đã đưa đất nước đến khủng hoảng trầm trọng, công nhân, nông dân cực kỳ bất mãn, chính quyền Xô-viết có nguy cơ sụp đổ, Lenin phải vội vã đưa ra “chính sách kinh tế mới” nới cho người dân được buôn bán, nên “quy luật thị trường” được phát huy tác dụng, nhờ đó kinh tế được phục hồi. Cái gọi là “mở cửa” của Trung Quốc, “đổi mới” của VN sau này cũng làm theo cách đó của LX. Đến khi kinh tế LX cứng cáp lên được một tí thì Stalin phế bỏ “chính sách kinh tế mới”, lại tiếp tục bóp nghẹt “thị trường tự do” đúng tinh thần triệt tiêu thị trường tự do của Marx. Lại khủng hoảng kinh tế, nên đến thời Khrutshev lại phải nới ra cho “thị trường tự do” được thoi thóp thở, bằng cách cho phép nông dân nông trang được nuôi bò, cừu, dê riêng (tất nhiên, với số lượng rất hạn chế) và cho mở “chợ nông trang” để nông dân đem sản phẩm làm được trên “mảnh ruộng phần trăm” và chăn nuôi gia đình ra bán ở chợ. Kinh tế phục hồi được một chút thì đến thời Brezhnev lại bóp nghẹt “thị trường tự do”, lại khủng hoảng nặng nề, đến thời Gorbachev lại “cải tổ” cố mở rộng “thị trường tự do”, nhưng rồi cuối cùng thì LX sụp đổ, kéo theo sự suy bại của ĐCS. Và bây giờ thìø ở Nga nền kinh tế thị trường mở rộng như ở các nước khác và người dân thấy dễ thở hơn trước.
Hay đối với vấn đề gọi là “đoàn kết dân tộc” cũng thế, khi thế lực của ĐCS còn yếu thì họ cố sức kêu gọi đoàn kết, họ cố lôi kéo cả các giai cấp mà trong lòng họ cho là thù địch, như địa chủ, tư sản, trí thức tư sản, họ làm ra vẻ hiền lành với các đảng phái mà họ chưa diệt được, nhưng khi có lực lượng vững vàng rồi họ lần lượt đấu tố địa chủ, đấu tố tư sản, tước đoạt tài sản của những người này, rồi tiêu diệt các đảng phái chống đối họ, thậm chí giải tán cả những “đảng bạn” đã từng theo họ làm trò “tung hứng” suốt mấy chục năm trường. Đối với cái gọi là “lực lượng thứù ba” cũng thế, khi cần lôi kéo vào “mặt trậân” nầy, “mặt trận” nọ, lập “chính phủ” lâm thời”, còn khi đã đạt được mục tiêu chính trị của mình rồi thì “a-lê, hấp!”, nói thẳng ra là “đá đít”. Những cái ngoắt ngoéo kiểu dích-dắc này chẳng nhẽ gọi đó là “tả khuynh”, là “phương pháp tư tưởng” sai? Phải thẳng thắn nói rõ đó là sách lược, là chiến thuật giai đoạn của những người theo chủ nghĩa Marx-Lenin, là “lập trường giai cấp” của ĐCS.
Bản “Góp ý kiến...” của ông Võ Văn Kiệt nêu ra rất nhiều vấn đề. Để không làm mệt óc bạn đọc, người viết chỉ xin đề cập đến một vấn đề quan trọng nhất mà ông Kiệt đã đưa lên hàng đầu là vấn đề chủ nghĩa Marx-Lenin, và một lần nữa xin nói rõ là: cần phải dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin, vì nó là “nguyên nhân của nguyên nhân” (từ ngữ này của ông Kiệt) của tình trạng độc tài toàn trị, tham nhũng tràn lan và tụt hậu trầm trọng của đất nước, tình trạng vô quyền và khốn khổ của người dân. Từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin chính là sự bứt phá mạnh dạn nhất về tư duy, dẫn đến sự bứt phá về đường lối và tổ chức. Chỉ có một sự bứt phá thật sự như vậy mới tạo tiền đề cho việc xây dựng một đất nước tự do, dân chủ, giàu mạnh, để đất nước vươn lên thoát khỏi tình trạng tụt hậu thê thảm hiện nay.
29/09/2005
<< Home
