12/11/05
NGUYỄN MINH CẦN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG PHONG TRÀO CỘNG SẢN QUỐC TÊ
Comments:
<< Home
Giới Thiệu Về Tác Giả
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế. Ông tham gia kháng chiến trước tháng 8 năm 1945 khi còn là học sinh ở Huế. Năm 1946, ông là đảng viên Đảng Cộng Sản Đông Dương, và hoạt động ở Thừa Thiên với chức vụ Ủy Viên Thường Vụ Tỉnh Ủy Thừa Thiên.
Sau đó, ông hoạt động bí mật tại Hà Nội từ năm 1951. Từ tháng 10 năm 1954 đến 1962 ông làm Ủy viên thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, chủ nhiệm báo Thủ đô Hà Nội. Năm 1962 ông được đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng CS Việt Nam) cử đi học trường Ðảng Cao cấp tại Liên Xô.
Trong thời gian này, phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ, lúc đó ngả theo đường lối chống Liên Xô của đảng CS Trung Quốc, đã mở một chiến dịch truy bức quy mô nhằm thanh toán những người mà họ cho là có tư tưởng theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô. Nhiều đảng viên và ngay cả những trí thức không dính dáng gì đến đảng Lao động Việt Nam cũng bị hãm hại một cách đê tiện. Trước tình hình đó, ông Nguyễn Minh Cần và một số đảng viên cao cấp khác của đảng Lao động Việt Nam đã quyết định xin tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Mặc dù Liên Xô đã từ chối lời yêu cầu của Việt Nam và không giao trả ông cho Việt Nam nhưng đã bắt ông không được phép hoạt động chính trị nữa và phải đổi cả tên họ (thành tên Nga) để bảo toàn an ninh. Vợ và các con của ông ở Việt Nam bỗng nhiên trở thành nạn nhân của chính sách trả thù hèn hạ của tập đoàn thống trị CS Việt Nam.
Từ năm 1989 ông Nguyễn Minh Cần đã tham gia tích cực vào "Phong trào nước Nga Dân chủ", một phong trào vận động dân chủ lớn tại Nga. Cùng với người vợ Nga, ông Nguyễn Minh Cần đã tham gia vào chiến dịch bảo vệ Tòa Nhà trắng của Phong trào và phá vỡ cuộc đảo chánh của phe nhóm CS tại Nga vào tháng 8 năm 1991. Ông Nguyễn Minh Cần hiện đã về hưu. Phần lớn thời giờ ông dành để nghiên cứu Phật học và viết các bài nghiên cứu chính trị. Ông hiện là một nhân sĩ và là một cây bút quen thuộc và được quí mến ở Mỹ và Âu Châu. Quyển sách "Công lý đòi hỏi" (nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1998) là tập hợp những bài viết của ông từ 1992 đến 1998.
Tác phẩm thứ hai sắp được xuất bản tác giả Nguyễn Minh cần là quyển sách "Ðảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế". Ðiểm đặc biệt là quyển sách được viết dựa trên những nhận thức mới, nhờ tác giả được vào tham khảo tại Kho Lưu trữ của Quốc tế Cộng sản tại Moskva, nay là Trung tâm Lưu trữ Văn kiện Lịch sử Hiện đại (RSKHIDNI).
Ðảng cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế (PTCSQT) là một đề tài khá rộng. Việc nghiên cứu kỹ đề tài này có thể giúp ta hiểu được nhiều vấn đề thuộc về quá khứ không xa, cũng như hiện tại và tương lai của đất nước. Ðể có thể có cái nhìn bao quát giúp cho việc nghiên cứu được sâu, người viết xin trình bày theo trình tự sau đây:
· Ðôi điều về đảng cộng sản (ÐCS) và PTCSQT,
· Ðôi điều về ÐCSVN,
· Những thời kỳ biến động lớn nhất trong lịch sử PTCSQT, ÐCSVN qua những biến động đó.
Những vấn đề này liên quan chặt chẽ với nhau. Có hiểu được thực chất của ÐCS nói chung và PTCSQT thì dễ dàng nắm bắt được những đặc điểm chính của ÐCSVN, và khi biết rõ những đặc điểm đó rồi thì dễ dàng hiểu được thái độ của ÐCSVN trước những biến động lớn trong PTCSQT, và nhất là hiểu được thái độ của ÐCSVN trong tình hình hiện nay trước xu thế chung của thời đại, đồng thời có thể dự đoán phần nào sự chuyển biến tình hình đất nước trong tương lai.
Ðây là một bài có tính chất nghiên cứu, nên người viết chủ yếu dựa trên sự kiện thực tế và trình bày thẳng thắn, không thêm bớt, không thiên vị để bảo đảm tính khách quan.
Nhận thức rằng những điều trình bày dưới đây mới chỉ là nét phác họa chưa đầy đủ, sức của người viết thì có hạn, mà đề tài lại lớn cần có sự nghiên cứu sâu hơn và kỹ hơn của nhiều người, nên mong mỏi và hoan nghênh các nhà nghiên cứu cùng các bạn đọc góp sức, góp ý để vấn đề được sáng tỏ thêm. Người viết sẵn sàng đón nhận với lòng biết ơn mọi ý kiến phê bình xây dựng.
I. ĐÔI ĐIỀU VỀ ÐCS VÀ PTCSQT
Trước hết, cần biết qua quan điểm của các lãnh tụ cộng sản Marx, Engels, Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông về ÐCS, cũng như thực tiễn xây dựng đảng của họ, để dễ hiểu về ÐCSVN, vì xưa nay những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đều coi quan điểm lý luận của các lãnh tụ đó là "kim chỉ nam cho hành động" của họ, còn các Ðảng cộng sản Liên Xô (ÐCSLX), Trung Quốc (ÐCSTQ) là khuôn mẫu để họ rập theo xây dựng ÐCSVN.
A. Quan điểm của Marx-Engels về ÐCS
Khi nghiên cứu xã hội tư bản, Karl Marx và Fredrich Engels cho rằng cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước Âu Mỹ đã sinh ra giai cấp vô sản, lực lượng xã hội chủ yếu tạo ra mọi của cải vật chất của xã hội tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình sản xuất, giai cấp vô sản tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, và giai cấp tư bản ăn bám đã chiếm đoạt thứ giá trị thặng dư này để trở nên giàu có. Toàn bộ quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho giai cấp vô sản, nhất là vô sản công nghiệp, trở thành giai cấp tiên tiến nhất, có tổ chức nhất, cách mạng triệt để nhất, nó là giai cấp lãnh đạo cách mạng vô sản, nó sẽ là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng nên xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Muốn làm được nhiệm vụ lịch sử đó, theo Marx và Engels, thì "phải tổ chức những người vô sản thành giai cấp (ý nói phải tổ chức đảng của vô sản - NMC), lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền" (xem: "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản". NXB Sự Thật, Hà Nội, 1983, tr.66).
Trong bài này, chúng tôi không muốn bàn nhiều đến sai lầm trong luận điểm của Marx và Engels về vai trò của giai cấp vô sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cũng như vai trò lãnh đạo của giai cấp đó trong xã hội, vì đề tài đó thuộc một vấn đề khác rộng hơn. Nhưng vì luận điểm đó là cơ sở đặt nền móng cho toàn bộ học thuyết của hai ông, trong đó có lý luận về đảng của giai cấp vô sản, nên buộc lòng cũng phải nói qua. Luận điểm trên của Marx và Engels về vai trò của giai cấp vô sản là dựa trên sự phân tích xã hội tư bản được trình bày một cách thiên lệch trong bộ "Tư bản" của Marx. Vì tác giả của nó muốn đề cao vai trò của giai cấp vô sản, nên khi trình bày về kinh tế tư bản chủ nghĩa đã cố tình chỉ nhấn mạnh đến đến vai trò lao động, chủ yếu bằng chân tay, của giai cấp vô sản trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nói chung, cũng như trong sự cấu thành giá trị và giá trị thặng dư nói riêng, mà coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến thứ lao động quan trọng nhất, quyết định nhất là lao động bằng trí tuệ của tầng lớp trí thức, nhất là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tức là lớp người tạo nên nền sản xuất với kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, và của tầng lớp quản lý, tức là lớp người điều khiển, vận hành toàn bộ nền sản xuất phức tạp đó, trong việc này có cả phần đóng góp của giai cấp tư bản. Do phương pháp luận không khách quan đó, nên Marx đã rút ra những kết luận sai lầm. Thực tiễn thế giới ngay giữa thế kỷ 20 đã hoàn toàn bác bỏ những kết luận của Marx về vai trò của giai cấp vô sản trong xã hội, bác bỏ những điều khẳng định về những tính chất "tiên tiến nhất, có tổ chức nhất, cách mạng triệt để nhất" của giai cấp này. Còn đến cuối thế kỷ 20, khi nền kinh tế toàn cầu hóa, cuộc cách mạng tin học tiến mạnh, kinh tế tri thức nở rộ thì chẳng còn mấy ai tin vào những kết luận đó nữa. Thế mà, Marx và Engels dựa trên những kết luận sai lầm đó, đã đưa ra trong "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản" (năm 1848) quan niệm về đảng của những người cộng sản và nhiệm vụ xây dựng xã hội cộng sản của giai cấp vô sản.
Công bằng mà nói, trong các tác phẩm của mình, hai ông thường nhấn mạnh: cách mạng vô sản chỉ có thể tiến hành ở các nước công nghiệp phát triển, nghĩa là những nước thực sự có giai cấp vô sản, và ÐCS phải thực sự là "đảng của giai cấp vô sản" mang tính chất vô sản. Sở dĩ phải nhấn mạnh như thế vì hai ông phòng trước: nếu không có điều kiện căn bản đó, ÐCS sẽ là đảng của lớp nghèo không phải vô sản, "lớp đáy" của xã hội, mà Marx gọi là "lumpen-proletariat" (vô sản áo rách, vô sản lưu manh), sẽ mang nặng tính chất của các tầng lớp đó và vì thế sẽ làm sai mục tiêu của cách mạng vô sản. Về sau, Lenin và phe cánh của ông ta tự cho mình phát triển chủ nghĩa Marx thì lại coi nhẹ điều này, ông cho rằng cách mạng vô sản có thể diễn ra ở các nước công nghiệp kém phát triển, nơi đang là khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản. Thậm chí Lenin và phe cánh còn cho rằng những nước chưa qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản cũng có thể làm cách mạng vô sản miễn là họ nhận được sự giúp đỡ của một nước mà ÐCS nắm chuyên chính vô sản.
Nếu nghiên cứu kỹ thì có thể dễ dàng nhận thấy một số quan điểm căn bản về ÐCS của Marx và Engels ghi trong "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản" khác với quan niệm và thực hành của Lenin và những lãnh tụ cộng sản khác trong thế kỷ 20. Có những điều hai ông đã viết ra rất ít được những người theo chủ nghĩa Lenin sau này nhắc tới hoặc đem ra bình luận. Vì thế, xin dẫn ra ở đây vài đoạn đáng chú ý trong "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản":
· "... về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước ..." (Sđd, tr.66) ...
· "Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác" (Sđd, tr.65) ...
· "Họ không đặt ra những nguyên tắc phe phái nhằm khuôn phong trào công nhân theo những nguyên tắc ấy. Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc mà chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào" (Sđd, tr.65).
Qua những điều đó thấy rõ rằng, khi đặt cho đảng của giai cấp vô sản nhiệm vụ làm cách mạng vô sản đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa bằng bạo lực, rồi dùng chuyên chính vô sản để tiêu diệt giai cấp tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản, Marx và Engels quan niệm ÐCS là một tổ chức xã hội, chứ không phải là một hội kín của những kẻ âm mưu. Cứ nhìn các đảng vô sản dưới thời hai ông, chẳng hạn, công đảng, đảng xã hội chủ nghĩa, đảng xã hội đân chủ ... thì thấy rõ điều này. Marx và Engels quan niệm một nền chính trị, trong đó giai cấp vô sản có nhiều đảng, chứ không phải một ÐCS duy nhất. Dĩ nhiên, không thể coi đây đã là nền chính trị đa nguyên, đa đảng theo quan niệm dân chủ hiện thời, vì hai ông chỉ nói đến "các đảng công nhân khác" mà thôi. Hai ông không quan niệm ÐCS là một tổ chức cao nhất đứng trên các đảng vô sản khác, có độc quyền lãnh đạo hay độc tôn thống trị các đảng và các tổ chức vô sản khác, như Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông về sau đã chủ trương. Ðiều đáng chú ý nữa là Marx và Engels luôn luôn đề cao chủ nghĩa quốc tế, hai ông nhấn mạnh trong bất cứ trường hợp nào ÐCS không được lấy quyền lợi dân tộc làm gốc mà phải lấy chủ nghĩa quốc tế làm căn bản. Ðiều này thì càng về sau, các ÐCS hoặc chỉ nói mà không làm, hoặc chỉ lợi dụng chiêu bài chủ nghĩa quốc tế vô sản để che đậy cho quyền lợi tập đoàn của họ ...
Về mặt thực hành quan điểm của hai ông về đảng, Marx và Engels đã lập ra hồi năm 1864 "Liên minh công nhân quốc tế" (sau này được mệnh danh là Ðệ Nhất Quốc tế), với số phân bộ không nhiều, phần lớn ở châu Âu. Trước đó, Marx và Engels cũng lập ra "Liên đoàn những người cộng sản", nhưng trên thực tế cả tổ chức này cũng không có hoạt động gì nổi bật, ngoài việc ra "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản". Do cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng trong nội bộ "Liên minh công nhân quốc tế", tổ chức này dần dần tan rã, và năm 1876 tuyên bố tự giải tán. Ðến năm 1889, cuộc đại hội các đảng xã hội chủ nghĩa (ở Việt Nam thường gọi là đảng xã hội) của nhiều nước châu Âu, của Mỹ và Argentina đã thành lập "Liên minh quốc tế của các đảng xã hội chủ nghĩa" (về sau được mệnh danh là Ðệ Nhị Quốc tế). Sau khi Engels mất (1895), Ðệ Nhị Quốc tế bị Lenin công kích thậm tệ, lên án tổ chức quốc tế này là theo đường lối "xét lại", cải lương, cơ hội chủ nghĩa, thỏa hiệp giai cấp, tay sai của tư sản và phản bội cách mạng. Lenin tuyên bố là trung tâm cách mạng thế giới đã chuyển sang nước Nga và chỉ có ÐCS "bolshevik" Nga mới thật là cách mạng triệt để.
B. Quan điểm và thực hành của Lenin về ÐCS
Lenin tự cho mình là người kế nghiệp chân chính những di sản lý luận của Marx và Engels, còn Karl Kautsky là renégat (các dịch giả Hà Nội chuyển ngữ là: kẻ phản bội), dù về mặt pháp lý Kautsky được di chúc là người thừa kế chính thức các di cảo của Marx và Engels. Trên thực tế rất nhiều vấn đề Lenin đã làm khác, nếu không muốn nói là xuyên tạc, những tư tưởng của Marx và Engels. Làm như thế, Lenin và phe cánh của ông cho rằng họ đã phát triển chủ nghĩa Marx. Chẳng hạn, về lý luận, Lenin cho rằng cách mạng vô sản có thể giành được thắng lợi ở cái khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, khâu đó là nước Nga - một nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, chứ không nhất thiết phải nổ đồng loạt ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển, như Marx và Engels đã dự kiến, mà muốn thế thì phải có một "đảng kiểu mới" khác hẳn với các đảng vô sản đã có trong các Quốc tế dưới thời Marx và Engels. Quan điểm của Lenin về "đảng kiểu mới", dĩ nhiên, khác hẳn quan điểm của Marx và Engels.
Khi phân tích quan điểm này của Lenin, chúng tôi không viện dẫn những câu "nhật tụng" "tung hỏa mù" mà giới lý luận xô-viết thường hay trưng ra (như ÐCS là đội quân tiên tiến nhất, giác ngộ nhất của giai cấp vô sản, ÐCS là đội quân có tổ chức nhất của giai cấp vô sản, v.v... và v.v...) để che đậy quan điểm thật của Lenin về ÐCS, mà chúng tôi dựa vào sách "Làm gì ?" do Lenin viết và xuất bản năm 1902 ở Stutgart. Trong tác phẩm đó, Lenin nói rõ nhất về quan điểm của ông và kế hoạch xây dựng ÐCS "kiểu mới" của những người cách mạng chuyên nghiệp. Ông cho rằng ở nước Nga tuy chủ nghĩa tư bản chưa phát triển cao nhưng vẫn có thể làm cách mạng vô sản thắng lợi được, miễn là những người cộng sản xây dựng được ÐCS "kiểu mới" thật bí mật biết dùng bạo lực để cướp chính quyền, nói một cách khác xây dựng được một hội kín của những kẻ âm mưu. Ngay hồi đầu thế kỷ 20, Lenin đã nói: "Hãy cho tôi một đảng những người cách mạng chuyên nghiệp thì tôi lật ngược cả nước Nga" (còn sau cuộc đảo chính tháng 10.1917, ông mơ ước lật ngược cả thế giới nữa!). Ông cho rằng người muzhich (nông dân) Nga vốn có truyền thống khuất phục, nếu ÐCS cướp được chính quyền rồi thì cả xã hội đều sẽ khuất phục theo và bằng bạo lực của chuyên chính vô sản, ÐCS sẽ xây dựng được chế độ cộng sản. Ðể chuẩn bị cướp chính quyền, Lenin đặc biệt chú ý lập ra các nhóm khủng bố võ trang gồm cả những phần tử tội phạm để làm nhiệm vụ "tước đoạt" (ăn cướp), ám sát, v.v... Chỉ huy các nhóm khủng bố này là ba người (gọi là "troika") rất bí mật trong trung ương Ðảng bolshevik, trong "troika" đó có Lenin và Krasin. Nên nhớ rằng, hồi đó, Ðảng bolshevik là một bộ phận của Ðảng công nhân xã hội - dân chủ Nga, mà Ðảng công nhân xã hội - dân chủ Nga thì cực lực lên án và cấm tuyệt hành động khủng bố, cho nên Lenin và phe cánh phải giữ bí mật tuyệt đối nhóm "troika" và việc ông ta chỉ huy nhóm khủng bố (xem: Edvard Razinsky. "Stalin". Moskva 1997, tiếng Nga, tr.54, 64-69). Thực tế đã chứng tỏ rằng với cái "đảng-hội kín-âm mưu" đó, Lenin và những người bolsheviks Nga có được trong tay một công cụ (instrument) hữu hiệu đã làm đảo chính cướp chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản hồi tháng 10.1917. Ngày nay, giới sử học Nga cũng đã khẳng định sự biến tháng 10.1917 là một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền dân chủ chứ không phải là một cuộc cách mạng, như những người bolsheviks thường nói. Và chính Lenin trong mấy năm đầu sau tháng 10.1917 cũng gọi đó là "đảo chính" (tiếng Nga là "perevorot", các dịch giả Hà Nội cố ý chuyển ngữ bằng một từ rất lờ mờ là "chính biến" - NMC).
Ðể xây dựng ÐCS với thực chất hội kín của những kẻ âm mưu như vậy, Lenin đặc biệt nhấn mạnh vai trò "những người cách mạng chuyên nghiệp". Ông viết: "... tổ chức của những người cách mạng phải bao gồm trước tiên và chủ yếu những người mà nghề nghiệp của họ là hoạt động cách mạng ..." (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t.6, tiếng Nga, tr.112). Sự thật chứng tỏ rằng "những người cách mạng chuyên nghiệp" Nga trước tháng 10.1917, phần lớn là những kẻ vô nghề nghiệp, không lao động, hoặc có nghề nghiệp mà không làm việc gì, ngoài "việc làm" cách mạng; cũng có một số đã có quá khứ tội phạm. Ngay cách làm tài chính cho tổ chức của những người chuyên nghiệp này cũng thấy rõ tính chất hội kín của những kẻ âm mưu: dựa vào hoạt động khủng bố để cướp đoạt làm tiền cho đảng (họ gọi bằng từ ngữ của Marx là tước đoạt). Lenin lý giải thật giản đơn cái quan điểm về "những người cách mạng chuyên nghiệp". Ông viết: "bắt được mười thằng khôn khó hơn bắt một trăm thằng ngốc", và ông nhấn mạnh: "phải hiểu rằng - như tôi đã nhiều lần vạch rõ - chỉ có những người cách mạng chuyên nghiệp (chữ in đậm của Lenin - NMC) mà thôi" (Sđd, tr.124). Nhưng cả "những thằng khôn" lẫn "những thằng ngốc" đó phải đứng vào trong "một tổ chức bí mật hết sức nghiêm ngặt", và tổ chức này phải do "một ủy ban gồm những người cách mạng chuyên nghiệp" (Sđd, tr.122, 125) điều khiển. Rõ ràng là theo quan điểm của Lenin, ÐCS thực ra là một hội kín của những kẻ âm mưu, chứ không phải là một chính đảng với tính cách là tổ chức xã hội của giai cấp vô sản. Bản thân Lenin cũng không giấu giếm điều đó, khi ông nói: "thật vô cùng ngây thơ khi sợ bị buộc tội chúng ta, là những người xã hội đân chủ, lại muốn thành lập một tổ chức âm mưu" (Sđd, tr.136). Ông cho rằng tổ chức đó cần có "một mạng lưới những agents" (từ này trong tiếng Nga có nhiều nghĩa, chúng tôi muốn giữ nguyên dạng từ này, vì nó lột tả thực chất cách đặt vấn đề của Lenin), nhưng - theo ông - "nếu ai đó không thích «cái từ khủng khiếp» này thì có thể thay bằng từ «những nhân viên», có khả năng bảo đảm «sác xuất lớn nhất của thắng lợi trong trường hợp nổi dậy»" (Sđd, tr.178). Cũng vì tính chất hội kín của những kẻ âm mưu, nên Lenin luôn luôn đưa lên hàng đầu đòi hỏi "đảng kiểu mới" phải là một tổ chức "tập trung nhất", "bí mật nhất" và phải "có kỷ luật sắt" cực kỳ nghiêm ngặt. Nền tảng để xây dựng "đảng kiểu mới" với tính cách "công cụ" ngoan ngoãn của một lãnh tụ hoặc một nhóm lãnh tụ là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính nguyên tắc này bảo đảm sự phục tùng tuyệt đối của đại đa số đảng viên đối với một nhóm nhỏ những người lãnh đạo, hay nói theo cách của Lenin "một ủy ban gồm những người cách mạng chuyên nghiệp", và ủy ban ban này - đến lượt nó - phải phục tùng tuyệt đối một hay vài lãnh tụ (chẳng hạn, nhóm ba người gọi là "troika" đã nói trên). Nhóm nhỏ lãnh đạo ÐCS này khi cướp được chính quyền rồi trở thành tập đoàn thống trị nhà nước và xã hội.
Lenin còn đưa ra luận điểm về "sự độc quyền lãnh đạo (hégémonie) của giai cấp vô sản, tức là của ÐCS". Xin chú ý rằng: trong các cụm từ "sự độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản" hay "chuyên chính của giai cấp vô sản", cái vế "của giai cấp vô sản" chỉ là một cách nói đẹp để dụ hoặc người lao động, còn nghĩa thực của nó là của một hoặc vài lãnh tụ, tức là một nhúm nhỏ "những người cách mạng chuyên nghiệp", nói cách khác là một tập đoàn thống trị cộng sản. Ðối với Lenin, cả giai cấp vô sản, hay nói rộng hơn toàn dân tộc, toàn nước Nga chỉ có thể có một đảng duy nhất, đó là ÐCS của những người bolsheviks, đứa con đẻ quan trọng nhất của "chủ nghĩa Lenin", hình mẫu cho các ÐCS trên thế giới.
Ðấy, quan niệm về ÐCS của Lenin là như thế, và chính quan niệm đó là một trong những cơ sở để xây dựng lên chế độ cực quyền toàn trị khi ÐCS đã cướp được chính quyền. Sau cuộc đảo chính tháng 10.1917, ÐCS trở thành một yếu tố chính của nhà nước mới xuất hiện. Những người bolsheviks, thông qua ÐCS, nắm quyền thống trị độc tôn chuyên chế vô hạn đã tiêu diệt hết các đảng và các tổ chức đối lập, tiêu diệt "các giai cấp thù địch" - cụ thể là giai cấp các chủ ruộng đất, giai cấp các nhà công nghiệp, thương nghiệp, giai cấp những người nông dân năng nổ nhất, đắc lực nhất trong nền sản xuất nông nghiệp (tiếng Nga gọi là kulak) , giai cấp các nhà trí thức, tiêu diệt hết mọi mầm mống dân chủ trong xã hội. Quyền chuyên chế vô hạn đó đã được thiết lập ở Nga hồi tháng 10.1917 là do trình độ văn hóa chính trị thấp kém của dân chúng, đặc biệt là của người muzhich ở nông thôn, và truyền thống dân chủ quá non yếu của xã hội Nga. Bằng bạo lực đẵm máu, những người cộng sản-bolshevichs duy trì được quyền đó đã hơn bảy thập niên ở nước Nga cho đến khi ÐCS bị hạ bệ hồi tháng 8.1991. Trong suốt thời gian đó, ÐCS đã biến mình trở thành trung tâm liên kết và hình thành một giai cấp thống trị mới, giai cấp quan liêu đặc quyền đặc lợi gọi là "nomenklatura".
Một điểm quan trọng cần vạch rõ nữa là: sau ngày ÐCS cướp được chính quyền ở Nga, xuất hiện ngay một sự cộng sinh (symbiose) giữa đảng và nhà nước, dựa trên sự kết hợp trước hết giữa đảng và cơ quan công an mật vụ (lúc đầu gọi là Vecheka - ủy ban đặc biệt toàn Nga, hay Cheka - ủy ban đặc biệt). Ðiều đó thể hiện rõ trong nhiều "chỉ thị" của Lenin. Xin dẫn một đoạn trong thư Lenin gửi cho Yakov Ganetsky: "hãy thiết lập mối quan hệ khắng khít nhất giữa các tổ chức đảng với các Cheka ... bắt buộc tất cả các đảng viên có chức vụ phải báo cho các Cheka tất cả những tin tức đến họ bằng con đường riêng tư hay chính thức và có ích cho cuộc đấu tranh chống phản cách mạng và gián điệp. Không chỉ hạn chế trong việc đó mà thôi, họ còn phải giúp đỡ một cách hữu hiệu các Cheka, tham gia việc xét xử ... dự các cuộc hỏi cung, v.v..." (xem: sách Lenin và Vecheka, 1975, tr. 281). Chính Lenin đã từng viết: "một người cộng sản tốt đồng thời phải là một chekist (công an mật vụ) tốt" (Sđd, tr.363). ÐCS cầm quyền thực tế trở thành một đảng-nhà nước. ÐCS giống như con bạch tuộc vươn dài các vòi của nó bám chặt vào mọi cơ cấu của bộ máy nhà nước, xoắn quyện nhau, gắn chặt thành một bộ máy đảng-nhà nước của giai cấp thống trị mới, giai cấp quan liêu (nomenklatura) đông hàng nhiều triệu người. Bộ máy này rất to lớn và cồng kềnh đè nặng lên quảng đại dân chúng, trước nhất là các giai cấp mà đảng coi là thành phần cơ bản của xã hội (công nhân và nông dân lao động), cũng như lên quần chúng đảng viên. Bằng bạo lực chuyên chế đẵm máu, bộ máy này nghiền nát chẳng những mọi phản kháng, mọi ý đồ đối lập, mà còn đè bẹp, triệt tiêu cả mọi tư tưởng độc lập, mọi ý hướng dân chủ, mọi tư tưởng khác biệt trong đảng và ngoài xã hội.
Vô hình trung trong cả đất nước rộng lớn bao la chiếm đến một phần sáu địa cầu đã hình thành nên một kim tự tháp xã hội mà kẻ đứng trên đỉnh tháp là "lãnh tụ tối cao" của đảng với quyền lực cá nhân không hạn chế được tôn vinh là "lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới" (Lenin) hoặc "người cha của các dân tộc" (Stalin), thực chất là một Nga hoàng đỏ, một tên độc tài đỏ. Trong kim tự tháp lớn lại có nhiều kim tự tháp nhỏ, trên đỉnh mỗi kim tự tháp nhỏ là một bí thư đảng bộ cộng sản địa phương, tức là một "lãnh tụ con", một lãnh chúa phong kiến đỏ. Còn ở đáy kim tự tháp là quảng đại dân chúng, bao gồm chủ yếu là những thành phần gọi là cơ bản của đảng - công nông binh, đảng viên thường. Trong số này một số không ít được giai cấp quan liêu tuyển chọn làm cán bộ để dần dần bổ sung vào giai cấp quan liêu cầm quyền, hoặc làm tay sai cho giai cấp đó.
Ðấy, từ quan niệm của Lenin về ÐCS đã tạo nên chế độ cực quyền toàn trị như thế. Ðó là hình mẫu chung cho tất cả các nước gọi là "xã hội chủ nghĩa".
C. Dựng lên một ÐCS thế giới
Sau khi cướp được chính quyền bằng một cuộc đảo chính khá dễ dàng (1917), Lenin càng say sưa với những kết luận của mình, đã nêu ra trong sách "Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" (viết năm 1916) mà những kẻ tán dương Lenin gọi là "phát kiến vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới". Những kết luận đó là: "chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn chủ nghĩa tư bản giãy chết" ... "là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản" ... "là đêm trước của cách mạng vô sản thế giới". Ðể kịp đón cái "đêm trước của cách mạng vô sản thế giới", để làm "cách mạng vô sản thế giới" và thiết lập "chuyên chính vô sản thế giới", Lenin và đảng bolshevik thực tế bắt tay chuẩn bị thành lập một "đảng-hội kín-âm mưu" thế giới, tức là một "ÐCS thế giới", bao gồm nhiều ÐCS theo hình mẫu "ÐCS bolshevik Nga" ở các nước trên thế giới. Ðây chính là thực chất của cái gọi là PTCSQT.
Về việc thành lập "ÐCS thế giới" ấy, nhà sử học D. Volkogonov (viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học, tiến sĩ triết học, tiến sĩ sử học, trung tướng của quân đội xô-viết, vốn là một đảng viên cộng sản chính thống về sau đã tỉnh thức và trở thành nhà dân chủ triệt để) đã kể lại như sau: để chuẩn bị thành lập tổ chức quốc tế đó, Lenin và đảng bolshevik phái những agents của công an mật vụ Nga (Vecheka) đến một số đảng xã hội chủ nghĩa để phân hóa, chia rẽ, lôi kéo, tuyển mộ tay chân, cung cấp tài chính, v.v... nhằm tạo ra "phe tả" làm "hạt nhân" đầu tiên của tổ chức "Quốc tế" mới (xem: D.Volkogonov. Lenin. Chân dung chính trị. Hai tập. 1994, t. 1. Trong sách này, ở tr. 272-273, 289-290. Volkogonov đưa ra nhiều tài liệu cụ thể về vai trò của công an mật vụ Nga trong việc thành lập và hoạt động của Quốc tế cộng sản, những tài liệu này dẫn từ kho lưu trữ của QTCS, nay là RSKHIDNI - Trung tâm lưu trữ văn kiện lịch sử hiện đại). Hồi năm 1918, ngoài ÐCS bolshevik Nga, ở châu Âu chỉ có một ÐCS Ðức nữa mà thôi, còn các nơi khác mới chỉ đang thời kỳ "thai nghén" "phe tả" trong các đảng xã hội chủ nghĩa. Theo lệnh của Lenin, Bộ trưởng ngoại giao Chicherin ra lời kêu gọi trên đài phát thanh gửi tới tất cả những người cộng sản châu Âu và châu Á mời họ đến Moskva tham dự hội nghị. Không có tiếng vang đáp lại, vì chẳng ai để ý đến lời kêu gọi đó cả. Cuối cùng, chỉ phủ dụ được một số tù binh nước ngoài đang ở Nga tham gia cuộc họp, cộng thêm Eberlain từ Ðức đến với một vài người ngẫu nhiên nào đấy nữa. Gần một tuần lễ, cái nhúm người đó, chưa đầy ba chục mống, giống như một bọn âm mưu, bàn cãi nhau: nên lấy danh xưng cho cuộc họp như thế nào? Thế là nhúm người đó quyết định: cuộc họp là "Hội nghị cộng sản quốc tế để thành lập Ðệ Tam Quốc tế". Tuyên ngôn ký tên 17 (!?) cái gọi là "đoàn đại biểu", phần lớn là những kẻ vô danh tiểu tốt, và những người ngẫu nhiên nào đấy. Còn "Ðại bách khoa toàn thư xô-viết" thì phịa thêm là đại hội thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS - Komintern) hồi tháng 3.1919 tại Moskva "có mặt đại biểu của các ÐCS và các nhóm xã hội chủ nghĩa tả phái của 30 (!?) nước" ! Lenin đặt nhiệm vụ chủ yếu cho QTCS là "đấu tranh giành chuyên chính vô sản thế giới". Tại "đại hội" đó, mọi vấn đề đưa ra đều do Lenin và bộ chính trị (BCT) ÐCS bolshevik Nga quyết định trước cả. Lenin đã tự tay viết ra "21 điều kiện gia nhập QTCS" nhằm chọn lọc các đảng cho vào Quốc tế mới. Thâm ý của ông là muốn tạo cho QTCS một hình thức tổ chức chặt chẽ mà ông và ÐCS của ông có thể nắm chắc được ngay từ đầu. Do đó, những người lãnh đạo chủ chốt QTCS từ trước đến sau phần lớn đều là cán bộ của ÐCS bolshevik Nga hoặc là những tay chân trung thành với họ. Chủ tịch đầu tiên của Ban chấp hành QTCS (từ năm 1919) là Zinoviev, ủy viên BCT của ÐCS Nga, đến năm 1926 Zinoviev bị Stalin phế truất, và về sau bị hành quyết. Còn từ năm 1926 đến năm 1929, chủ tịch kế nhiệm là Bukharin, cũng là ủy viên BCT của ÐCS Nga, đến năm 1929 Bukharin cũng bị Stalin phế truất, và về sau cũng bị hành quyết. Nguyên tắc tổ chức của QTCS là tập trung dân chủ. Như vậy, mỗi ÐCS là một phân bộ (section) của QTCS, phải phục tùng nghiêm ngặt theo hệ thống dọc đến cấp cao nhất là Ban chấp hành QTCS, mà ban này thật ra chỉ là cái dù che đậy sự lũng đoạn của tập đoàn thống trị ÐCS Nga trong QTCS. Hơn nữa, tổ chức quốc tế này bị phụ thuộc hoàn toàn về mặt tài chính, cán bộ ... vào TƯ ÐCS bolshevik Nga làm cho nó trở thành một công cụ hoàn toàn ngoan ngoãn để thực hiện những ý đồ của họ ...
D.Volkogonov viết: "Ban lãnh đạo bolshevik tin tưởng một cách cuồng tín rằng chỉ cần đốt lên ngọn đuốc cách mạng thế giới ở Nga thì tòa nhà cũ kỹ rệu rã của nền văn minh nhân loại giống như túp lều gỗ mục nát sẽ nhanh chóng bắt lửa và cháy bùng lên. Khi đọc diễn văn nhân dịp kỷ niệm năm thứ nhất thành lập Ðệ Tam Quốc tế tại phiên họp long trọng của Xô-viết Moskva ngày 6.3.1920, Lenin đã tuyên bố: "phải đoan chắc (chữ in nghiêng của D.V.) rằng thắng lợi của cách mạng cộng sản là không thể nào tránh khỏi". Lãnh tụ những người bolsheviks kết thúc bài diễn văn của ông ta bằng những lời sau đây trong tiếng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt: "... thắng lợi của QTCS trên toàn thế giới, và trong một thời hạn không xa lắm - thắng lợi đó đã được bảo đảm" (xem: Lenin V.I. Toàn tập, t. 40, tiếng Nga, tr. 209, 211). Phải có một tầm mắt cận thị và vô trách nhiệm đến kỳ lạ mới có thể tung ra những lời tuyên bố kêu vang mà rỗng tuếch đến thế" (xem: D.Volkogonov. Lenin. Chân dung chính trị. Hai tập. 1994, t. 2, tr. 271).
Ðể gây đám cháy "cách mạng" ở các nước, Lenin và những người bolsheviks đã tung tiền của, vàng bạc cho các đảng tay chân ở các nước, đồng thời phái những nhóm "agents" (hoạt động viên) của mình đem vũ khí, tài liệu tuyên truyền đến các nước đang có sự sục sôi trong dân chúng (Hungarie, Ðức, Italia, Ba Tư (Persia), ẤÂn Ðộ, Trung Quốc ...), rồi tổ chức các nhóm khủng bố để khích động phong trào, hòng lật đổ các chế độ hiện tồn và thiết lập chuyên chính vô sản, hay nói theo từ ngữ thời thượng của họ hồi đó là "xô-viết hóa các nước". Họ đặc biệt chú ý hai nước láng giềng Hungarie và Ðức đang có biến động. Và đến tháng 3.1919, nước Cộng hòa xô-viết Hungarie ra đời do lãnh tụ cộng sản Bela Kun đứng đầu. Lenin và những người bolsheviks Nga hân hoan cực độ. Lenin gửi điện nhân danh đại hội 8 ÐCS bolshevik Nga chào mừng với những câu như sau: "Ðại hội đảng chúng tôi tin tưởng rằng chẳng bao lâu nữa chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi trên toàn thế giới. Giai cấp công nhân Nga sẽ dốc toàn lực vội vã giúp đỡ các bạn ... Nước cộng hòa cộng sản quốc tế muôn năm !" . Ông còn gửi điện mật cho Bela Kun: "Hãy cứng rắn. Nếu trong số bọn xã hội chủ nghĩa hay bọn tiểu tư sản, mới theo các đồng chí ngày hôm qua, mà tỏ ra giao động đối với chuyên chính vô sản thì hãy đàn áp ngay không thương tiếc. Bị xử bắn - đó là số phận đúng luật của tên hèn nhát trong chiến tranh". (Sđd, tr. 276, 278)
Chưa đầy một tháng sau ở Bavaria (Ðức), một chính phủ do người cộng sản Evgheni Levine đứng đầu lên nắm quyền. Chính phủ này gấp rút tiến hành những nhiệm vụ cấp bách của chuyên chính vô sản: quốc hữu hóa các ngân hàng, thành lập Hồng quân, quy định ngày làm việc 8 tiếng, võ trang giai cấp vô sản, cô lập giai cấp tư sản. Lenin cũng vội vàng gửi điện ngay với một loạt chỉ thị như sau: "... đã võ trang công nhân chưa, đã tước võ khí của giai cấp tư sản chưa, đã tăng gấp đôi, gấp ba tiền công cho bần nông và lao công chưa, đã tịch thu toàn bộ giấy in và tất cả các nhà in chưa ... đã dồn nhà ở của giai cấp tư sản ở Munich để cho công nhân dọn đến ở các nhà giàu chưa ... đã bắt con tin của giai cấp tư sản chưa ... đã động viên toàn thể công nhân để phòng thủ và để tuyên truyền tư tưởng cho các vùng nông thôn lân cận chưả" (Sđd, tr. 277). Lenin gửi những phái viên của ông mang theo chỉ thị và những va li vàng đến ngay những nơi đang "xô-viết hóa" đó. Ông tin tưởng là cách mạng đã bắt đầu ở châu Âu, và cho rằng ngọn lửa cách mạng đang bùng cháy ở Ðức. Ông đã bí mật chuẩn bị một đội quân do Toukhachevsky chỉ huy để thấm nhập vào Ðức, nhưng quân chưa kịp vào thì cuộc biến động ở Bavaria đã bị dẹp yên. Ðiều mong ước về cách mạng bùng lên ở Ðức đã được Trotsky bộc tuệch nói ra: "... nước Ðức xô-viết thống nhất với nước Nga xô-viết thì ngay lập tức sẽ mạnh hơn tất cả các nước tư bản gộp lại!". Trong óc của các lãnh tụ cộng sản Nga hiện lên giấc mơ rõ nét về một "Liên bang xô-viết Âu châu", rồi một "Liên bang cộng sản Thế giới" mà họ sẽ làm chủ. Chính tay Lenin đã ghi vào lời mở đầu của "Hiến pháp Liên Xô" (được công bố năm 1924) câu sau: "Nhà nước mới xô-viết là ... một bước quyết định mới trên con đường thống nhất những người lao động tất cả các nước vào Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết Thế giới". Xin nhắc lại một lần nữa: thực chất của PTCSQT là thế đó!
Thế nhưng, cả ở Hungarie lẫn ở Bavaria, chính quyền xô-viết đã sụp đổ, và châu Aâu, châu Mỹ - nơi thực tế có giai cấp vô sản - thì yên ổn, các lãnh tụ Moskva bèn hướng về phương Ðông: Ấn Ðộ , Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên... Nhưng sau sự kiện Hungarie và Bavaria thì "cuộc cách mạng thế giới" mà Lenin đã tiên đoán "rất thiên tài" cứ tàn lụi dần. May thay cho nhân loại, cái mộng tưởng của Lenin và những người bolsheviks Nga đốt lên đám cháy cách mạng thế giới, thành lập "Liên bang xô-viết Âu châu", "Liên bang cộng sản Thế giới" chỉ là ảo mộng còn nằm lại trên những bài báo, những chỉ thị của họ mà thời gian đã phủ lên một lớp bụi dày. Trong lúc đó, đã xảy ra chuyện oái ăm của lịch sử: "Liên hiệp Âu châu" với đủ mọi cơ cấu, kể cả nghị viện, tòa án, đồng Euro ... đang hoạt động hữu hiệu mà lại không do những người cộng sản bolsheviks Nga lập ra và không có chuyên chính của giai cấp vô sản!
D. Stalin đối với ÐCS và QTCS
Ở đây, người viết sẽ chỉ nói một vài sự kiện cụ thể làm nổi bật thái độ và hành động của kẻ độc tài với ÐCS và QTCS, mà không nhắc đến những quan điểm thường được tán tụng trên sách báo chính thức của ÐCSLX (vì thật ra Stalin chỉ lặp lại những điều Lenin nói).
Ðối với ÐCS:
Khi Lenin còn sống, Stalin đã thấy rất rõ toàn bộ tính chất lợi hại của bộ máy đảng-nhà nước xô-viết với tính cách một công cụ sắc bén, ngoan ngoãn trong tay một nhúm người để thống trị đất nước và xã hội. Cho nên khát vọng mãnh liệt nhất của ông là nắm bằng được bộ máy ấy để thu tóm được toàn bộ quyền lực tối thượng trong nước và xã hội. Trên thực tế, Stalin không đưa ra một quan điểm "lý luận" nào khác những điều ông đã thừa kế của Lenin về ÐCS và về chế độ cực quyền xô-viết mà Lenin đã đặt cơ sở, còn ông thì "hoàn thiện" chúng đến cao độ khi trị vì trên một đế quốc rộng lớn nhất thế giới.
Ðể nói về quan điểm "lý luận" riêng của Stalin về ÐCS, người ta thường nhắc tới lời tuyên bố sau đây của ông: "ÐCS cũng là một loại như giáo đoàn những chevaliers de lordre des Porte-Glaive" (xem: "Stalin Toàn tập", t.5, tiếng Nga, tr.71, các bản dịch ra tiếng Việt đều ghi là "đoàn kỵ sĩ mang kiếm", không rõ nghĩa lắm, nên xin phép dùng nguyên tiếng Pháp với vài lời giới thiệu. - NMC). Xin nói qua vài nét lịch sử. Giáo đoàn này gồm những hiệp sĩ Ðức được thành lập năm 1202 để xâm chiếm vùng Ðông Baltic và sau đó tiến công vào lãnh thổ Nga. Tên như thế là do phù hiệu của họ trên mũ giáp là một thanh kiếm và thánh giá. Ðến năm 1236, giáo đoàn bị đánh bại nặng nề và năm 1237 tàn quân nhập vào một giáo đoàn khác. Vì thế sự ví von này của Stalin lộ rõ ý đồ "quân sự hóa đảng" để thực hiện âm mưu bành trướng. Ðiều này thể hiện rõ nét nhất từ những năm 30 dưới thời Stalin - đảng cộng sản đã là một "tổ chức quân sự hóa" đến cao độ và hoàn toàn mất hết những dấu vết dân chủ ít ỏi còn sót lại trước đây. Tại hội nghị trung ương đảng hồi tháng 2.1937, tức là trong thời kỳ đại khủng bố ác liệt nhất, Stalin tuyên bố: "Trong đảng ta, có 3-4 ngàn người lãnh đạo cao cấp, có thể nói đó là hàng tướng lĩnh của đảng. Sau đó, là 30-40 ngàn người lãnh đạo trung cấp, đó là hàng sĩ quan của đảng. Rồi đến khoảng 100-150 ngàn cán bộ chỉ huy cấp dưới. Có thể nói đó là những hạ sĩ quan của đảng" (xem: RSKHIDNI. F.17. Op.12. D.612. Vyp. III. L.35). Cố nhiên, tổng tư lệnh tối cao "đạo quân" đó là Stalin.
Một lời tuyên bố khác của Stalin nữa cũng rất đáng được chú ý vì nó lộ rõ tư tưởng thật của kẻ độc tài: "ÐCS là công cụ của chuyên chính vô sản" (xem: Stalin I. "Những vấn đề của chủ nghĩa Lenin", M.1945, tiếng Nga, tr. 71). Công cụ như thế nào, sau này lịch sử đã chứng tỏ. Và quan điểm của Stalin về "chuyên chính vô sản" như thế nào thì xin bạn đọc hãy suy xét qua câu nói sau đây của ông ta mà Boris Bazhanov, cựu thư ký riêng của Stalin (từ 9.8.1923 đến 1.1.1928), đã kể lại trong hồi ký: ngày 17.6.1924, tức là sau đại hội 12, Stalin đọc báo cáo ở lớp huấn luyện các bí thư huyện ủy, ông ta đã nói thẳng rằng: "hiện nay chuyên chính vô sản về thực chất được thay thế bởi chuyên chính của đảng" (xem: "Hồi ký của cựu thư ký của Stalin", xuất bản ở Pháp 1980, ở Nga 1992, tr. 129). Nếu nói trắng ra thì chuyên chính của đảng có nghĩa là chuyên chính của một người: Stalin. Vì thế, ông ta phải chiến đấu để giành quyền chuyên chính đó.
Sau đây, chỉ xin nói đến mấy việc:
a. Giành cho bằng được vị thế chính thống để "nối ngôi" và nắm lấy ÐCS.
Ðọc tiểu sử Stalin, ta thường gặp những nhóm từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần -"Stalin là người bạn chiến đấu gần gũi nhất của Lenin", "người học trò kiệt xuất của Lenin", "người kế tục sự nghiệp của Lenin", hoặc thường được nghe kể nhiều về "tình bạn vĩ đại giữa hai lãnh tụ" trước cuộc đảo chính tháng 10.1917. Những điều đó là sự xuyên tạc lịch sử có dụng ý.
"Tình bạn vĩ đại" như thế nào ? Sự thật là trước tháng 10.1917, đối với Lenin thì Dzhugashvili-Stalin chỉ là một người nào đấy trong đám "những người cách mạng chuyên nghiệp" mà thôi. Tháng 12.1905, Stalin đi họp hội nghị đảng ở Tammerfors và ở đấy có Lenin đến dự họp. Trước tháng 10.1917, cũng có vài lần Stalin được đi dự đại hội đảng và có gặp Lenin, nhưng Lenin cũng chẳng để ý. Thế mà sau này (1931), Stalin lại "phịa" là: "Bao giờ cũng vậy, mỗi lần tôi đi ra nước ngoài để gặp Lenin - hồi năm 1906, 1907, 1912, 1913..." (xem: Stalin ỊV. "Tác phẩm", t.13, tr.121). Hồi năm 1915, Lenin cũng chỉù nhớ mang máng ai đó có bí danh là "Koba" ở trong nhóm khủng bố của đảng bolshevik vùng Caucase. Ông nhớ vì có một việc "động trời" hồi năm 1907 ở thành phố Tiflis (sau này là Tbilisi), Koba (tức là Dzhugashvili-Stalin) đã tham gia cùng Kamo một vụ ăn cướp tiền lớn (những người bolsheviks gọi những cuộc ăn cướp này là "tước đoạt" - dựa theo khẩu hiệu của Marx "tước đoạt kẻ đi tước đoạt") đến 350 ngàn rúp để "làm tài chính" cho đảng bolshevik. Hồi đó, những người bolsheviks ở Gruzia (còn gọi là Georgia) nhiều lần đã làm việc "tước đoạt" như thế, nhưng vụ năm 1907 là lớn nhất. Ðể hiểu rõ hơn sự thật về "tình bạn vĩ đại" giữa Lenin và Stalin, xin trích dẫn một bức thư của Lenin gửi Zinoviev hồi năm 1915 đăng trong tập 49 bộ Lenin Toàn tập, trong thư Lenin hỏi Zinoviev: "Anh có nhớ họ của Koba không?". Zinoviev viết thư trả lời là không biết. Lúc đó Lenin mới viết thư cho Karspinsky để hỏi về điều đó: "Tôi thiết tha yêu cầu anh tìm hiểu (có thể hỏi qua Stepko hay Mikha và v.v...) họ của "Koba" (Iosip Dz... ?? Chúng tôi quên mất)..." (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t. 49, tiếng Nga, tr. 101 và 161). Tài liệu lịch sử đó cho thấy "tình bạn vĩ đại giữa hai lãnh tụ" ûtrước tháng 10.1917 chỉ là huyền thoại, dù rằng giữa hai người sau đó thỉnh thoảng cũng có trao đổi thư từ với nhaụ
Cả sau khi những người bolsheviks đã cướp được chính quyền, "tình bạn vĩ đại" đó giữa hai "lãnh tụ" cũng không có. Ðây là một sự việc nữa mà ban lãnh đạo cộng sản Liên Xô cứ giấu kín mãi cho đến ngày khai mạc đại hội 20 (1956). Khi Lenin bị ốm nặng, Stalin cho tay chân theo dõi sát "người thầy vĩ đại" của mình, thậm chí đưa cả vợ là Nadezhda Allilueva đến làm thư ký riêng cho Lenin. Biết Lenin hồi đó đang viết "cái gì đấy" có lẽ là không có lợi cho mình, Stalin lấy cớ Lenin ốm nặng, đưa ra BCT thông qua nghị quyết hạn chế việc thông báo tình hình chính trị cho Lenin, hạn chế việc ghi chép giúp Lenin những điều do ông đọc ra... Có một lần, ngày 21.12.1922, Lenin muốn viết thư cho Trotsky, ông mới nhờ vợ là Krupskaya ghi bức thư ngắn do ông đọc. Bà vợ đã cẩn thận xin phép bác sĩ của Lenin rồi mới làm việc này. Ðến khi Stalin biết được, Stalin đã mắng Krupskaya một trận cực kỳ thô bỉ, lại còn dọa trừng trị bằng kỷ luật đảng. Ngày 23.12.1922, Krupskaya viết thư cho Kamenev và Zinoviev - theo lời bà - "là những người bạn gần gũi nhất của Ilich" (tức là Lenin - NMC) để cầu cứu sự bảo vệ. Hai tháng rưỡi sau, Lenin biết được chuyện này, ngày 5.3.1923, ông đã viết thư cho Stalin một bức thư với lời lẽ như sau: "... Tôi không thể dễ dàng quên được việc đó, và chẳng cần nói gì thì đồng chí cũng phải hiểu là những gì chống lại vợ tôi, tôi cũng coi như chống lại tôi. Vì thế, tôi yêu cầu đồng chí cân nhắc xem đồng chí có sẵn sàng rút lui những lời đã nói và xin lỗi vợ tôi hay là muốn đoạn tuyệt mọi quan hệ giữa chúng ta" (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t. 54, tiếng Nga, tr. 330).
Không phải là "bạn" của Lenin, cũng không phải là một trong những lãnh tụ nổi bật nhất của đảng bolshevik, thế thì tại sao "quyền trượng" lại "lọt" vào tay Stalin sau khi Lenin qua đời? Ðây là một vấn đề lịch sử với nhiều tình tiết. Nhưng trong phạm vi bài này chỉ xin đề cập tới những vấn đề liên quan đến phương diện tổ chức của ÐCS mà thôị
Hồi còn sống, Lenin không có chức vụ gì khác trong đảng, ngoài chức vụ ủy viên BCT, còn về mặt chính quyền ông là chủ tịch Hội đồng dân ủy. Nhưng ông là cha đẻ của ÐCS bolshevik, nên về mặt tinh thần ông có vị trí cao nhất trong đảng và ông cứ mặc nhiên sử dụng cái vị thế đó. Lãnh tụ đứng thứ hai sau Lenin hồi đó là Trotsky. Kamenev và Zinoviev cũng là những lãnh tụ được Lenin đánh giá cao, Kamenev là ủy viên BCT, phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng dân ủy, Zinoviev là ủy viên BCT, chủ tịch Ban chấp hành (BCH) QTCS. Còn Stalin, vào cuối đời Lenin, đã được bầu làm tổng bí thư TƯ đảng vào ngày 3.4.1922. Nhưng hồi đó chức vụ tổng bí thư chỉ có chức năng tổng hợp các vấn đề để đưa ra BCT giải quyết và điều khiển bộ máy hành chính, văn phòng của TƯ. Lenin cần một người tổ chức công việc của bộ máy TƯ đảng. Vì quan niệm chức năng của tổng bí thư như thế, nên chính Kamenev và Zinoviev đã nhường cho Stalin chức vụ đó. Nhưng khi Stalin đã là tổng bí thư trung ương đảng rồi thì ít lâu sau, Lenin lại thấy rất lo ngại, ông muốn đại hội 13 đưa Stalin ra khỏi chức vụ tổng bí thư, thay bằng một người khác. Dù đang bị ốm nặng, hồi tháng 12.1922, đã Lenin đọc cho thư ký viết một bức thư gửi đại hội đảng và yêu cầu chỉ được bóc ra sau khi ông chết, vì thế sau này người ta gọi nó là "di chúc chính trị của Lenin". Trong thư có đoạn viết: "Stalin là người thô lỗ quá đáng, và nhược điểm này - hoàn toàn có thể chịu đựng được giữa chúng ta với nhau và trong quan hệ giữa những người cộng sản - nhưng không thể chấp nhận được trong cương vị tổng bí thư đảng. Vì thế, tôi đề nghị các đồng chí hãy suy nghĩ để chuyển Stalin ra khỏi trọng trách ấy. Hãy cử vào vị trí của Stalin một đồng chí khác, có tính nết tốt hơn Stalin: kiên nhẫn hơn, trung thựïc hơn, lịch sự hơn và chu đáo hơn đối với các đồng chí, tính khí ít thất thường hơn, v.v..." (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t. 45, tiếng Nga, tr. 346).
Khi Lenin qua đời, chức vụ tổng bí thư đã ở trong tay Stalin, nên việc đầu tiên ông ta phải làm là làm sao giành được vị thế "chính thống" để được "nối ngôi". Muốn thế phải gạt cho được nhân vật thứ hai sau Lenin ra khỏi việc tổ chức và tiến hành tang lễ của Lenin. May cho Stalin là khi Lenin chết, Trotsky đang còn bận công tác ở miền Nam nước Nga. Stalin ra lệnh điện cho Trotsky báo sai ngày cử hành tang lễ cốt để Trotsky về Moskva sau khi tang lễ đã xong. Stalin quyết định làm những nghi lễ vô cùng trọng thể và ông giành được việc đọc diễn văn trong tang lễ để xác nhận trước toàn đảng, toàn dân sự thừa kế chính thức ngôi vị của Lenin. Trong việc kế vị này, Stalin tỏ rõ là người hiểu biết trình độ văn hóa thấp kém và tâm lý sùng bái lãnh tụ của đảng viên và dân chúng Nga. Trong bài diễn văn trước thi hài Lenin, Stalin lặp đi lặp lại đếùn bảy lời thề theo một lối rất "tôn giáo" gây xúc động cho nhiều người (chắc nhiều người còn nhớ, năm 1969, Lê Duẩn cũng bắt chước Stalin đọc năm lời thề với văn phong y hệt như vậy trước quan tài Hồ Chí Minh), nên trước mắt dân chúng và toàn đảng, ai cũng mặc nhiên thấy ngay chính Stalin là người có tư cách "chính thống" duy nhất để nhận lãnh "quyền trượng" và "ngai vàng" trên đất nước Nga. Ðến khi Trotsky trở lại Moskva thì mọi việc đều đã an bài đâu vào đấy rồi: Stalin đã thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay mình.
Cố nhiên, Stalin còn phải đối phó với bức thư của Lenin gửi đại hội 13 của đảng. Trước đây, Lenin đã phòng trước sự theo dõi của Stalin, nhưng ông không ngờ là người nữ thư ký L.Fiotieva của ông lại là tay chân của Stalin. Lenin đã dặn dò bà ấy và Krupskaya phải tuyệt đối giữ bí mật bức thư, chỉ bóc nó và đưa ra khi đại hội đảng khai mạc. Nhưng Fiotieva đã kịp báo ngay cho Stalin về nội dung bức thư. Thế là với sự "lèo lái" khéo léo của Stalin, hội nghị TƯ đảng dưới sự chủ tọa của ông, họp ngày 22.5.1924 đã quyết định không đưa "thư gửi đại hội" ra thảo luận ở đại hội 13 nữa. Trước đó, Stalin còn "đóng kịch" vờ vĩnh xin từ chức tổng bí thư đề mọi người nài kéo ông ta ở lại.
Khi đã nắm toàn bộ quyền lực rồi, Stalin tìm mọi cách làm cho dư luận trong và ngoài đảng đều coi ông là người bạn chiến đấu gần gũi nhất của Lenin từ những năm đầu tiên xây dựng đảng và là người duy nhất hợp pháp để kế tục sự nghiệp của Lenin, đồng thời tìm mọi cách thanh trừng các địch thủ của ông, thậm chí tiêu diệt họ cả về thể xác và đưa tay chân của mình vào cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng.
b. Biến ÐCS thành công cụ hoàn toàn ngoan ngoãn trong tay Stalin
Có một số người cộng sản nghĩ rằng giá như sau khi Lenin qua đời, quyền bính lọt vào tay người khác thì chế độ xô-viết đã không phải là chế độ chuyên chế cực quyền đảng trị khủng khiếp như vừa qua, và lịch sử nước Nga đã không ghi tên kẻ độc tài đẵm máu StalinĐzhugashvili. Không phải thế! Với một ÐCS dựa trên một ý thức hệ như thế, tổ chức theo những nguyên tắc như thế, với mục tiêu và phương pháp hành động như thế thì không thể nào không đẻ ra chế độ độc tài toàn trị, không thể nào không đẻ ra những tên độc tài đẵm máu. Nếu không có một StalinĐzhugashvili thì sẽ có một "stalin" khác, có thể không khát máu bằng StalinĐzhugashvili, nhưng vẫn là một kẻ độc tài chính cống. Vả lại, cũng cần nói thẳng rằng chính Lenin cũng là một kẻ độc tài độc ác đầu tiên đã đặt nền móng cho chế độ cực quyền toàn trị cộng sản để Stalin thừa kế.
Sau khi chính thức kế thừa ngôi vị của Lenin, việc đầu tiên Stalin làm là nắm chắc ngay bộ máy đảng và bộ máy công an mật vụ (hồi đó vẫn gọi là Vecheka, về sau mới đổi tên nhiều lần). Rồi Stalin dựa vào bộ máy công an mật vụ đó để vu khống, bao vây, đàn áp, triệt hạ dần các cán bộ cốt cán của ÐCS dưới thời Lenin, đồng thời là những địch thủ của ông trong đảng. Stalin dùng chiến thuật liên kết với một số người để cô lập và đánh đổ từng đối tượng, rồi đưa tay chân mình vào thay thế chỗ trống, sau đó quay lại hạ uy thế những người vừa mới liên kết, rồi đánh đổ họ, cứ như thế đến khi bộ máy đảng-nhà nước thật sự trở thành "công cụ" riêng của ông. Ðối với các địch thủ, Stalin không chỉ đánh đổ họ về mặt chính trị, mà thường tìm cách tiêu diệt cả về thể xác để trừ hậu họa. Trong thời kỳ³ đầu, TƯ đảng, cũng như đại hội đảng họp tương đối đều đặn vì Stalin cần dựa vào danh nghĩa đảng, dùng sức mạnh toàn đảng để triệt hạ địch thủ của mình.
Hỏa lực đại pháo trước tiên tập trung vào nhân vật đứng thứ hai sau Lenin, tức là Trotsky, "đại công thần" đã từng gánh vác những việc nặng nề nhất để dựng lên chế độ xô-viết.Trotsky từng làm bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng quốc phòng và hải quân, chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng, người thành lập Hồng quân. Mấy kỳ đại hội liền kể từ đại hội 13 (5.1924), 14 (12.1925), 15 (12.1927) Stalin đều nhằm triệt hạ Trotsky - đến năm 1926 Trotsky đã bị khai trừ khỏi đảng, năm 1928 - bị trục xuất khỏi Liên Xô. Ðể đánh Trotsky, Stalin lúc đầu liên kết với Kamenev và Zinoviev, hai ủy viên BCT. Khi Trotsky đã bị đánh bại về chính trị rồi, thì ngay trong năm 1926, đến lượt Zinoviev, lúc bấy giờ là ủy viên BCT, chủ tịch đầu tiên của BCH QTCS: Zinoviev bị ghép chung vào khối với Trotsky để đánh tại đại hội 15 (1927). Triệt hạ xong Zinoviev, Stalin lại quay ra đánh Kamenev. Ðến năm 1926, ba ủy viên BCT dưới thời Lenin, là Trotsky, Kamenev và Zinoviev, đã vĩnh viễn rời khỏi võ đài chính trị. Cũng năm đó Dzherzhinsky qua đời. Còn lạïi Bukharin, người được Lenin gọi là "con cưng của đảng". Khi vị thế của Stalin vững vàng rồi thì đến lượt Bukharin, ủy viên BCT, chủ tịch BCH QTCS (thay thế Zinoviev từ năm 1926) bị đánh. Về sau cả ba "đại công thần" nữa là Kamenev, Zinoviev và Bukharin đều bị hành quyết trong cuộc đại khủng bố, còn Trotsky thì Stalin phái tay sai ám sát tại Mexico hồi năm 1940. Stalin đưa vây cánh của mình hết lớp này đến lớp khác vào các cơ quan lãnh đạo của bộ máy đảng-nhà nước. Cứ thế, những cán bộ bolsheviks của đảng Lenin, những "đại công thần" đã dựng lên bộ máy đảng-nhà nước và chế độ cực quyền xô-viết chưa hoàn toàn chịu khuất phục hoặc không chiếm được lòng tin của vị chúa tể mới, thì cứ lần lượt hết lớp này đến lớp khác đều bị triệt hạ. Cố nhiên, có phản ứng chống lại. Nhưng vì nguyên tắc tập trung dân chủ của đảng-nhà nước loại trừ mọi tính chất dân chủ, nên bất cứ sự phản ứng nào của những người trung thực cũng đều bị vu khống, bị quy kết vào những tội danh "chết người" và bị đàn áp khủng bố vô cùng ác liệt. Bộ máy công an mật vụ được "bật đèn xanh" để vu khống, tra tấn, đánh lừa, dựng lên những hồ sơ giả mạo, rồi bày ra những vụ án khủng khiếp trong "cuộc đại khủng bố" hồi những năm 1937-1938 và hành quyết nhiều ủy viên BCT, nhiều cán bộ đảng viên là "đại công thần" của chế độ xô-viết.
Cần nói thêm về sự kiện này, vì nó là nguyên cớ cho trận đại khủng bố nói trên. Tại đại hội 17 của đảng (tháng 1-2.1934), một số cán bộ kỳ cựu của đảng Lenin đã cố làm một hành động, mà nhiều nhà sử học coi như là trận đánh quyết định chống Stalin và phe cánh: một nhóm đại biểu trong đại hội, do B.Sheboldaev và I.Vareikis thay mặt, đã đề nghị S.Kirov ra ứng cử vào chức vụ bí thư TƯ đảng, họ đề nghị bỏ chức vụ tổng bí thư và chuyển Stalin vào chức vụ chủ tịch Hội đồng dân ủy. Theo lời của A.Mikoyan kể lại tại đại hội 20 (1956), Kirov đã thẳng thắn báo trước chuyện đó cho Stalin, mặc dù vậy Stalin càng thêm nghi ngờ Kirov. Tại đại hội 17, Stalin và phe cánh đã dùng OGPU (tên của cơ quan công an mật vụ thời đó - NMC) để theo dõi đại hội đảng. Ðến khi bầu các cơ quan lãnh đạo thì Stalin là người bị phiếu chống nhiều nhất. Cũng theo lời Mikoyan, khi kiểm phiếu thấy thế, chủ tịch ban kiểm phiếu là Zatonsky lo lắng, đến báo cáo ngay với Kaganovich, ủy viên BCT là tay chân của Stalin. Kaganovich cương quyết ra lệnh chỉ được ghi ba phiếu chống Stalin mà thôi. Theo lời của Mikoyan và Shatunovskaya, một phần số phiếu đã bị Kaganovich lấy mất, không còn trong hồ sơ đại hội nữa. Sau đại hội 20, ủy ban điều tra của BCT báo cáo là trong hồ sơ đại hội thiếu mất 166 phiếu, như vậy chứng tỏ là có kẻ muốn phi tang việc gian lận phiếu bầu. Một số đại biểu hồi đó còn sống sót khai rằng đại hội đã dành sự tín nhiệm cao nhất cho Kirov. Rõ ràng đây là sự gian lận trắng trợn nhất trong lịch sử các ÐCS, chứng tỏ tên độc tài đã coi ý chí của đại hội - cơ quan cao nhất của đảng - chẳng ra cái gì cả!
Một vấn đề cấp bách đặt ra cho kẻ độc tài - muốn nắm giữ quyền lực thì phải trừ ngay kẻ cạnh tranh. Ngày 1.12.1934, Kirov bị ám sát ở Leningrad. Kẻ sát nhân trực tiếp bắn vào Kirov là Leonid Nikolaev bị bắt và xử tử. Vợ, anh em, bạn bè của y cũng bị giết sạch. Kẻ thủ mưu vụ này thì... không ai biết được! Vụ này mãi mãi vẫn còn là một "mảng tối" của lịch sử. Tuy nhiên, điều rõ ràng là Stalin đã lợi dụng ngay vụ ám sát này để dựng lên một loạt "vụ án" chính trị, đem xử công khai hàng loạt ủy viên BCT, ủy viên TƯ và cán bộ cao cấp dưới thời Lenin, dựa trên những hồ sơ và bằng chứng giả mạo. Stalin cho phép tra tấn để lấy khẩu cung, lập hồ sơ, rồi tự mình phê duyệt án tử hình đối với các ủy viên BCT, như Zinoviev, Kamenev, Radek, Piatakov, Bukharin, Rykov, Tomsky (ông này đã tự tử trước), v.v..., hai chủ tịch và nhiều ủy viên BCH QTCS, nhiều "đại công thần" của chế độ xô-viết, nhiều tướng lĩnh (ba nguyên soái là Toukhachevsky, Blucher, Egorov, nhiều đại tướng, như Alknis, Bielov, Kachirin, Kork, Ouborevitch, Eideman, Feldman, Primakov, Putna, v.v... nhiều đô đốc hải quân, như Orlov, Viktorov, Sivkov, v.v...) và nhiều cán bộ cấp cao khác của đảng-nhà nước và quân đội. Họ đều bị ghép tội "phản cách mạng", thậm chí "gián điệp", "tay sai của nước ngoài". Hàng triệu cán bộ, đảng viên, những nhà trí thức, nhân sĩ, nhiều sĩ quan cao cấp, các quân nhân, những người bình thường đã bị bắt bớ, bắn giết hoặc bị quẳng vào các trại tập trung giăng khắp Liên bang xô-viết, gọi là GULAG. Ðấy, Stalin đã trả thù việc đại hội 17 định phế truất ông ta như vậy đó.
Trong bản báo cáo bí mật tại đại hội 20, Khrutshev đã cho biết: "Cuộc điều tra cho thấy: 98 người trong số 139 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết do đại hội 17 bầu ra, tức là 70%, đã bị bắt và bị xử bắn (phần lớn vào những năm 1937-38)"... và: "Không những các ủy viên TƯ, mà đa số đại biểu dự đại hội 17 của đảng cũng chịu chung số phận. Trong số 1961 đại biểu chính thức và dự bị thì 1108 người bị bắt và ghép tội phản cách mạng, tức là hơn một nửa số đại biểu đại hội (tính chính xác là 56,5% - NMC). Sự kiện này tự nó vạch rõ tính chất kỳ quái và ngược đời của những lời buộc tội "phản cách mạng" gán cho đa số đại biểu đại hội". Khrutshev đã cho biết là 80% đại biểu đại hội 17 đã vào đảng trong thời kỳ bí mật, trước tháng 10 năm 1917, đã tham gia nội chiến, nghĩa là trước năm 1921, còn về nguồn gốc xã hội thì 60% là công nhân, lao động. Trên thực tế, Stalin đã tiêu diệt ÐCS của Lenin và dựng lên ÐCS của mình.
Sau cuộc "đại khủng bố" 1937-1938, ÐCS đã hoàn toàn trở thành một công cụ ngoan ngoãn trong tay của Stalin. Từ đó, chúng ta càng thấy rõ thái độ trịch thượng, coi thường của kẻ độc tài đối với ÐCS. Nếu trước đây, Stalin thấy cần thiết họp đại hội, họp TƯ đảng hay BCT tương đối đều kỳ chẳng qua chỉ để dựa thế vào cái "cơ chế dân chủ trong nội bộ đảng" nhằm đè bẹp và tiêu diệt những địch thủ của mình, còn bây giờ cái gọi là "sinh hoạt dân chủ" của ÐCS không còn cần thiết cho ông ta nữa: ông đã là chủ của ÐCS rồi. Ðây là một ví dụ rất dễ thấy. Khoảng cách giữa đại hội 14 và 15 là 2 năm (1925-1927), giữa đại hội 15 và 16 là 3 năm (1927-!930), giữa đại hội 16 và 17 là 4 năm (1930-1934), giữa đại hội 17 và 18 là 5 năm (1934-1939), giữa đại hội 18 và 19, đại hội cuối đời của Stalin, là 13 năm (1939-1952). Và hội nghị TƯ đảng thì rất ít họp, đặc biệt từ hội nghị TƯ tháng 2.1947 bàn về nông nghiệp mãi đến 5 năm sau, tháng 8.1952 mới có hội nghị TƯ tiếp theo để bàn về đại hội 19 của đảng (xem: D.Volkogonnov. "Stalin", t.2, tr. 614). Còn BCT thì hầu như không khi nào họp đủ thành phần. Những quyết nghị của BCT được thực hiện chủ yếu bằng cách lấy chữ ký các ủy viên dưới văn bản dự thảo do Stalin sai người chuẩn bị sẵn. "Dân chủ" kiểu này thì ai mà dám không "tán thành" ý kiến của "lãnh tụ"!
Ðấy, ÐCS theo quan niệm của Marx cuối cùng đã biến hóa (metamorphose) thành "công cụ", "kẻ đầu sai" trong tay tên độc tài thực tế đã ngồi chồm hổm trên đầu ÐCS. Còn chế độ cộng sản mà Marx và Engels mô tả và Lenin khẳng định là "một triệu lần dân chủ hơn các chế độ dân chủ tư sản" thì hóa ra là một chế độ độc tài chuyên chế nhất trong lịch sử mang nặng tàn dư phong kiến, chế độ nông nô, thậm chí chế độ chiếm hữu nô lệ! Người viết không nói ngoa tí nào. Xin các bạn cứ nghĩ xem, việc ướp xác lãnh tụ để tôn thờ, có phải là thứ văn hóa pharaon thời cổ đại không? Việc bắt hàng 5 triệu người, có năm lên đến 7 triệu (ở đây, người viết dẫn số liệu "thận trọng nhất" của các sử gia Nga, còn các nhà nghiên cứu nước ngoài thì cho số liệu cao hơn, thấp nhất là 8 triệu, cao nhất là 15 triệu, còn theo báo cáo của chính phủ Anh tại Hội đồng Kinh tế và Xã hội của LHQ ngày 15.8.1950 thì 10 triệu - xem: M.Geller và A.Nekrich. "Lịch sử nước Ngă1917-1995)", t.2, tr.54) nhốt vào các trại tập trung để khai thác triệt để lao động không công của những tù nhân này, có phải là hình thức bóc lột của chế độ chiếm hữu nô lệ không? Việc tổ chức các tòa án chính trị hồi những năm 30, có phải là áp dụng mẫu mực của các tòa án giáo hội (inquisition) thời Trung cổ không? Việc Stalin không cho nông dân được có giấy thông hành (tiếng Nga là passport) để buộc chân nông dân, không cho rời khỏi nông thôn có phải là chế độ nông nô không? Cái kiểu tôn ty trật tự trong ÐCS và chế độ xô-viết với những đặc quyền đặc lợi quái gỡ nhất, có phải là tàn dư của văn hóa phong kiến hay không ?
Hồi đầu thế kỷ 20, Plekhanov đã từng cảnh báo những người cách mạng Nga rằng trong điều kiện nước Nga còn lạc hậu, nền công nghiệp chưa phát triển cao, giai cấp vô sản công nghiệp chưa trưởng thành mà đòi làm cách mạng vô sản thì nhất định không tránh khỏi đưa đến một chế độ độc tài không hạn chế. Lời cảnh báo linh nghiệm biết bao đã bị Lenin và những người bolsheviks gạt bỏ!
Ðối với QTCS và PTCSQT:
Càng ngày Stalin càng thấy rõ "tiên đoán thiên tài" của Lenin về cách mạng vô sản thế giới sắp bùng nổ là chuyện vớ vẩn, viễn vông. Nhưng ông ta cũng còn cần mạng lưới tay sai ở các nước, cho nên vẫn gắng gượng duy trì QTCS trong chừng mực cần thiết cho đường lối chính trị của ông. Vì thế, tiền, vàng, châu báu đổ ra để cấp cho tổ chức này tuy vẫn tiếp tục như trước, nhưng khối lượng ngày càng giảm bớt. Hơn nữa, Stalin e ngại tổ chức này có thể là "hang ổ" cho những lực lượng đối lập chống lại ông, vì hai chủ tịch BCH QTCS là Zinoviev (1919-1926) và Bukharin (1926-1929) và nhiều cán bộ QTCS đã bị ông hành quyết, nên ông cũng muốn sớm kết liễu tổ chức này. Không phải Stalin không còn ý định chinh phục thế giới nữa, nhưng ông tính làm việc đó bằng cách khác, thông qua cơ quan công an mật vụ, mạng lưới gián điệp, cùng với sự liên hệ trực tiếp với các nhóm khủng bố, các ÐCS đã hình thành trên các nước và được Liên Xô nuôi dưỡng, đào luyện. Chính Dimitrov, chủ tịch cuối cùng của BCH QTCS cũng cảm thấy thái độ lạnh nhạt của Stalin đối với tổ chức mà ôngï đang phụ trách, nên cũng "tự nguyện" đề nghị giảm bớt "chức năng" của QTCS đi. Ðến năm 1943, Stalin vin cớ cần làm yên lòng các nước đồng minh để mở rộng mặt trận chống phát xít, đã tự ý tuyên bố giải tán QTCS mà chẳng thấy cần phải tuân theo "nghi thức dân chủ" của một tổ chức quốc tế "độc lập". Còn Dimitrov, chủ tịch BCH QTCS, thì được chuyển sang làm trưởng ban đầu tiên của Ban quốc tế của TƯ ÐCSLX (xem: "Sự tan rã. Nó đã chín muồi như thế nào trong "hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới", tác giả V. Medvedev, nguyên ủy viên BCT, bí thư TƯ ÐCSLX thời Gorbachev, M.1994, tr.19). Trong cung cách Stalin giải tán QTCS, ta thấy rõ toàn bộ tính chất bù nhìn, bung xung, đầu sai của tổ chức này.
Ðến năm 1947, Stalin thấy cần có một tổ chức quốc tế để phối hợp lực lượng cộng sản thế giới dưới sự chỉ huy của ÐCSLX, hơn nữa ông ta muốn các ÐCS cầm quyền, nhất là ở Ðông Âu, đều thống nhất (unification) chế độ của mình theo một mẫu mực chung, nên mùa thu năm ấy một tổ chức bao gồm 9 ÐCS Âu châu (Liên Xô, Nam Tư, Bulgaria, Rumanie, Hungaria, Ba Lan, Tiệp Khắc, Pháp và Ý) gọi là "Cục thông tin quốc tế" (Kominform) đã được lập ra. Có thể nói, Kominform có tham vọng trong chừng mực nào đó kế tục sự nghiệp của QTCS (Komintern).
Cái mẫu mực chung mà Stalin muốn phổ biến cho các nước dưới quyền cai trị của các ÐCS cố nhiên là mô hình xô-viết. Nhưng Tito và một số lãnh tụ ÐCS ở Ðông Âu ngay từ đầu đã cảm thấy không thể rập khuôn theo mô hình chế độ xô-viết được. Gomulka hồi đó đã nói đến "con đường Ba Lan" tiến tới chủ nghĩa xã hội; những người cộng sản Bulgaria cũng nói khéo nước họ là "cộng hòa nhân dân" chứ không phải là "cộng hòa xô-viết"; nhà hoạt động Hungarie Rivai nói: ở Hungarie mà tính chuyện thành lập nông trang tập thể (kolkhoz), tức là "việc làm của bọn khiêu khích và phá hoại"... Một điều nên nhắc lại là sau thế chiến thứ hai, uy tín của Tito và ÐCS Nam Tư (tên chính thức là Liên minh những người cộng sản Nam Tư)ø rất lớn, chỉ đứng sau Stalin và ÐCSLX mà thôi. Vì ÐCSNT dưới sự lãnh đạo của Tito đã kiên cường "đơn thương độc mã" chiến đấu chống quân phát xít Ðức-Ý và tự mình giải phóng đất nước. Cho nên lúc đầu trong Kominform ảnh hưởng của ÐCSNT khá lớn. Ðiều đó, cố nhiên, không làm Stalin thích thú. Hơn nữa, Stalin muốn ép Nam Tư rập khuôn theo mẫu mực xô-viết của mình và gặp phải sự chống đối của Nam Tư. Ðó là nguồn gốc sâu xa của những xung đột giữa Stalin và Tito, giữa hai ÐCS và hai nước Liên Xô và Nam Tư. Tháng 6.1948, dưới sự đạo diễn của Stalin, Kominform đã họp ở Bucarest gồm đại biểu 8 ÐCS (Nam Tư không đến họp) để buộc tội những người lãnh đạo ÐCSNT là theo "chủ nghĩa dân tộc" và khai trừ ÐCSNT ra khỏi Kominform. Về sau Stalin còn mở một chiến dịch lớn bôi nhọ "bè lũ xét lại Nam Tư đứng đầu là Tito", thậm chí vu khống Tito là "gián điệp", "tay sai của đế quốc". Hầu hết các ÐCS trên thế giới đã hùa theo Stalin và Kominform để chống Tito và cô lập Nam Tư. Thế nhưng, Nam Tư vẫn tồn tại, còn Kominform, một tổ chức bị bại liệt bẩm sinh, không có sức sống, nên lần hồi đã lặng lẽ chết không kèn không trống (xem: "Lịch sử Liên Xô" của sử gia người Ý nổi tiếng Giuseppe Boffa, t.2, bản tiếng Nga, tr. 361-363).
Dù QTCS không còn nữa mà Kominform thì èo uột, nhưng Stalin vẫn dựa vào uy lực cá nhân của mình cũng như sức mạnh quân sự của Liên Xô để điều khiển các ÐCS "đàn em" và cố sức mở rộng phạm vi ảnh hưởng của đế quốc cộng sản. "Bàn tay Moskva" đã can thiệp vào việc nội bộ và nhen nhóm các cuộc nội chiến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, v.v... đã dựng lên cái gọi là "chế độ dân chủ mới" với những chính phủ bù nhìn ở Ðông Âu, Bắc Triều Tiên, đã giúp chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Trung Quốc, Việt Nam, v.v...
Cũng nên nhắc đến mưu đồ của Stalin và Mao Trạch Ðông gây ra chiến tranh Triều Tiên hồi năm 1950 với mưu đồ thôn tính Nam Triều tiên đã gieo rắc biết bao tang tóc, xương máu cho người dân. Ðó là chưa nói đến việc Stalin hồi đầu thập niên 50 đã có một kế hoạch chuẩn bị tấn công "giải phóng" châu Âu mà nhà sử học Tiệp Khắc Karel Kaplan đã phát giác trong sách "Dans les Archives du Comité Central. Trente ans de secret du Bloc soviétique" (tr.165-167). Cuối những năm 40, Stalin nhận định tình hình thế giới và đi đến kết luận: nửa đầu thập niên 50 sẽ là thời điểm thuận lợi nhất để giáng một đòn quyết định vào châu Âu tư bản chủ nghĩa và thiết lập ở đấy chế độ xã hội chủ nghĩa. Ðể thực hiện âm mưu này, cần phải kiềm chế được Hoa Kỳ, và Liên Xô ra sức chạy đua võ trang trong lĩnh vực nguyên tử, đến năm 1949 Liên Xô đã có được bom nguyên tử. Theo tài liệu bí mật lưu trữ ở ÐCS Tiệp Khắc mà Kaplan công bố thì hồi tháng 1.1951, Stalin, Molotov đã họp bí mật với lãnh tụ và chỉ huy quân sự cao cấp những nước cùng phe ở Ðông Âu bàn về việc chuẩn bị trong vòng 3-4 năm thực hiện kế hoạch tấn công "giải phóng" châu Âu (xem: M.Geller và A.Nekrich. "Lịch sử nước Nga (1917-1995)", t.2, tr.67, 68). Về điều phát giác của Kaplan thì kẻ viết bài này không đủ điều kiện để xác minh, nhưng cũng xin nói rõ là: căn cứ theo tài liệu lịch sử thì đúng là hồi tháng 1.1951, đã một cuộc hội nghị quan trọng có mặt các tổng tham mưu trưởng và bộ trưởng quốc phòng các nước "dân chủ nhân dân" Âu châu mà Stalin đã tự thân tham dự để kiểm điểm tình trạng sẵn sàng chuẩn bị của lực lượng võ trang các nước này, và tại hội nghị đó Stalin đã khẳng định là chỉ có thể có được một thời kỳ "tạm nghỉ" 3-4 năm mà thôi để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới, vì ông cho rằng cuộc chiến tranh Triều Tiên mới chỉ là cuộc thử sức đầu tiên của hai địch thủ. Trước khi kết thúc hội nghị, người ta đã ký một hiệp định bí mật, theo đó khi xảy ra chiến tranh, các đồng minh của Liên Xô có trách nhiệm phải chuyển giao quân đội của mình dưới quyền chỉ huy trực tiếp của bộ chỉ huy xô-viết. Ðồng thời, người ta cũng đã duyệt lại một cách căn bản các kế hoạch kinh tế của các nước "dân chủ nhân dân" nhằm tăng cường phát triển hơn nữa công nghiệp nặng và công nghiệp quân sự (chính việc này đã gây ra sự mất cân đối trầm trọng sau này trong nền kinh tế của các nước này, nhất là đối với nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng). Công việc đang khai triển thì đến tháng 3.1953, Stalin chết, nếu không thì những kế hoạch phiêu lưu của kẻ độc tài sẽ còn gây thêm biết bao núi xương và sông máu nữa cho nhân loại để thực hiện mục tiêu cuối cùng của PTCSQT.
E. "Cống hiến" của Mao Trạch Ðông vào việc xây dựng ÐCS
Sau những trận tranh quyền quyết liệt trong nội bộ ban lãnh đạo, cuối cùng Mao Trạch Ðông đã giành được quyền lực trong ÐCS hồi năm 1935. Việc đầu tiên họ Mao nghĩ đến là làm sao nắm chắc được "công cụ đảng" trong tay mình. Sống trong hoàn cảnh một nước Á châu không có chút truyền thống dân chủ nào mà mang nặng văn hóa phong kiến, Khổng giáo, Mao và phe cánh hiểu được sự cần thiết phải khai thác triệt để đầu óc sùng bái và tuân phục của thần dân đối với "thiên tử", cho nên đã đặc biệt coi trọng việc "tẩy não" và "nhồi sọ" trong đảng, quân đội và trong dân chúng. Ðiều đó họ gọi là "công tác tư tưởng", với mục tiêu làm cho mỗi đảng viên cộng sản, cũng như mỗi thần dân trong chế độ "xã hội chủ nghĩa" mất hết cá tính, mất hết năng lực và thói quen tư duy độc lập, làm cho toàn ÐCS, toàn dân Trung Quốc sùng bái, thần thánh hóa đến độ cuồng tín để biến trên 600 triệu người sẽ trở thành một "công cụ" dễ bảo, một cái "đinh ốc bé tí" trong tay họ Mao và ÐCS. Ðể đạt được cái mục tiêu đó, Mao và phe cánh đưa ra một phương pháp gọi là "chỉnh phong". Qua quá trình "chỉnh phong", đảng (và cả công an mật vụ) nắm được "tư tưởng" của đảng viên, đoàn viên, cán bộ, quân nhân... để tiến hành "đấu tranh tư tưởng" và "cải tạo tư tưởng" cho những người bất đồng chính kiến. Thông thường những cuộc chỉnh phong đều kèm theo những cuộc đấu đá, xỉ vả, lăng nhục, đày ải cán bộ, trí thức về nông thôn để "lao động cải tạo" hay thậm chí bắt bớ, tù đày cán bộ, trí thức trong các "trại lao cải", một kiểu GULAG made in China. Chỉnh phong là "cống hiến" độc đáo nhất của họ Mao vào "kho tàng chủ nghĩa Marx-Lenin" mà nhiều ÐCS châu Âu, châu Mỹ không thể nào hiểu nổi và học nổi!
Họ Mao còn có một "sáng kiến" nữa là khi cần đấu tranh giành và giữ quyền lực, ông ta không ngần ngại huy động quần chúng cuồng tín chống lại ÐCS: khi phátđộng làm "đại cách mạng văn hóa" ông đã cho "hồng vệ binh" "tạo phản" nã súng bắn vàođảng mà ông ta gọi là "bộ tham mưu xét lại, hữu khuynh". Về thực chất cũng như hậu quả, cuộc "đại cách mạng văn hóa" của Mao không khác mấy cuộc "đại khủng bố" 1937-1938 của Stalin.
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế. Ông tham gia kháng chiến trước tháng 8 năm 1945 khi còn là học sinh ở Huế. Năm 1946, ông là đảng viên Đảng Cộng Sản Đông Dương, và hoạt động ở Thừa Thiên với chức vụ Ủy Viên Thường Vụ Tỉnh Ủy Thừa Thiên.
Sau đó, ông hoạt động bí mật tại Hà Nội từ năm 1951. Từ tháng 10 năm 1954 đến 1962 ông làm Ủy viên thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, chủ nhiệm báo Thủ đô Hà Nội. Năm 1962 ông được đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng CS Việt Nam) cử đi học trường Ðảng Cao cấp tại Liên Xô.
Trong thời gian này, phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ, lúc đó ngả theo đường lối chống Liên Xô của đảng CS Trung Quốc, đã mở một chiến dịch truy bức quy mô nhằm thanh toán những người mà họ cho là có tư tưởng theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô. Nhiều đảng viên và ngay cả những trí thức không dính dáng gì đến đảng Lao động Việt Nam cũng bị hãm hại một cách đê tiện. Trước tình hình đó, ông Nguyễn Minh Cần và một số đảng viên cao cấp khác của đảng Lao động Việt Nam đã quyết định xin tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Mặc dù Liên Xô đã từ chối lời yêu cầu của Việt Nam và không giao trả ông cho Việt Nam nhưng đã bắt ông không được phép hoạt động chính trị nữa và phải đổi cả tên họ (thành tên Nga) để bảo toàn an ninh. Vợ và các con của ông ở Việt Nam bỗng nhiên trở thành nạn nhân của chính sách trả thù hèn hạ của tập đoàn thống trị CS Việt Nam.
Từ năm 1989 ông Nguyễn Minh Cần đã tham gia tích cực vào "Phong trào nước Nga Dân chủ", một phong trào vận động dân chủ lớn tại Nga. Cùng với người vợ Nga, ông Nguyễn Minh Cần đã tham gia vào chiến dịch bảo vệ Tòa Nhà trắng của Phong trào và phá vỡ cuộc đảo chánh của phe nhóm CS tại Nga vào tháng 8 năm 1991. Ông Nguyễn Minh Cần hiện đã về hưu. Phần lớn thời giờ ông dành để nghiên cứu Phật học và viết các bài nghiên cứu chính trị. Ông hiện là một nhân sĩ và là một cây bút quen thuộc và được quí mến ở Mỹ và Âu Châu. Quyển sách "Công lý đòi hỏi" (nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1998) là tập hợp những bài viết của ông từ 1992 đến 1998.
Tác phẩm thứ hai sắp được xuất bản tác giả Nguyễn Minh cần là quyển sách "Ðảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế". Ðiểm đặc biệt là quyển sách được viết dựa trên những nhận thức mới, nhờ tác giả được vào tham khảo tại Kho Lưu trữ của Quốc tế Cộng sản tại Moskva, nay là Trung tâm Lưu trữ Văn kiện Lịch sử Hiện đại (RSKHIDNI).
Ðảng cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế (PTCSQT) là một đề tài khá rộng. Việc nghiên cứu kỹ đề tài này có thể giúp ta hiểu được nhiều vấn đề thuộc về quá khứ không xa, cũng như hiện tại và tương lai của đất nước. Ðể có thể có cái nhìn bao quát giúp cho việc nghiên cứu được sâu, người viết xin trình bày theo trình tự sau đây:
· Ðôi điều về đảng cộng sản (ÐCS) và PTCSQT,
· Ðôi điều về ÐCSVN,
· Những thời kỳ biến động lớn nhất trong lịch sử PTCSQT, ÐCSVN qua những biến động đó.
Những vấn đề này liên quan chặt chẽ với nhau. Có hiểu được thực chất của ÐCS nói chung và PTCSQT thì dễ dàng nắm bắt được những đặc điểm chính của ÐCSVN, và khi biết rõ những đặc điểm đó rồi thì dễ dàng hiểu được thái độ của ÐCSVN trước những biến động lớn trong PTCSQT, và nhất là hiểu được thái độ của ÐCSVN trong tình hình hiện nay trước xu thế chung của thời đại, đồng thời có thể dự đoán phần nào sự chuyển biến tình hình đất nước trong tương lai.
Ðây là một bài có tính chất nghiên cứu, nên người viết chủ yếu dựa trên sự kiện thực tế và trình bày thẳng thắn, không thêm bớt, không thiên vị để bảo đảm tính khách quan.
Nhận thức rằng những điều trình bày dưới đây mới chỉ là nét phác họa chưa đầy đủ, sức của người viết thì có hạn, mà đề tài lại lớn cần có sự nghiên cứu sâu hơn và kỹ hơn của nhiều người, nên mong mỏi và hoan nghênh các nhà nghiên cứu cùng các bạn đọc góp sức, góp ý để vấn đề được sáng tỏ thêm. Người viết sẵn sàng đón nhận với lòng biết ơn mọi ý kiến phê bình xây dựng.
I. ĐÔI ĐIỀU VỀ ÐCS VÀ PTCSQT
Trước hết, cần biết qua quan điểm của các lãnh tụ cộng sản Marx, Engels, Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông về ÐCS, cũng như thực tiễn xây dựng đảng của họ, để dễ hiểu về ÐCSVN, vì xưa nay những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đều coi quan điểm lý luận của các lãnh tụ đó là "kim chỉ nam cho hành động" của họ, còn các Ðảng cộng sản Liên Xô (ÐCSLX), Trung Quốc (ÐCSTQ) là khuôn mẫu để họ rập theo xây dựng ÐCSVN.
A. Quan điểm của Marx-Engels về ÐCS
Khi nghiên cứu xã hội tư bản, Karl Marx và Fredrich Engels cho rằng cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước Âu Mỹ đã sinh ra giai cấp vô sản, lực lượng xã hội chủ yếu tạo ra mọi của cải vật chất của xã hội tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình sản xuất, giai cấp vô sản tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, và giai cấp tư bản ăn bám đã chiếm đoạt thứ giá trị thặng dư này để trở nên giàu có. Toàn bộ quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho giai cấp vô sản, nhất là vô sản công nghiệp, trở thành giai cấp tiên tiến nhất, có tổ chức nhất, cách mạng triệt để nhất, nó là giai cấp lãnh đạo cách mạng vô sản, nó sẽ là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng nên xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Muốn làm được nhiệm vụ lịch sử đó, theo Marx và Engels, thì "phải tổ chức những người vô sản thành giai cấp (ý nói phải tổ chức đảng của vô sản - NMC), lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền" (xem: "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản". NXB Sự Thật, Hà Nội, 1983, tr.66).
Trong bài này, chúng tôi không muốn bàn nhiều đến sai lầm trong luận điểm của Marx và Engels về vai trò của giai cấp vô sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cũng như vai trò lãnh đạo của giai cấp đó trong xã hội, vì đề tài đó thuộc một vấn đề khác rộng hơn. Nhưng vì luận điểm đó là cơ sở đặt nền móng cho toàn bộ học thuyết của hai ông, trong đó có lý luận về đảng của giai cấp vô sản, nên buộc lòng cũng phải nói qua. Luận điểm trên của Marx và Engels về vai trò của giai cấp vô sản là dựa trên sự phân tích xã hội tư bản được trình bày một cách thiên lệch trong bộ "Tư bản" của Marx. Vì tác giả của nó muốn đề cao vai trò của giai cấp vô sản, nên khi trình bày về kinh tế tư bản chủ nghĩa đã cố tình chỉ nhấn mạnh đến đến vai trò lao động, chủ yếu bằng chân tay, của giai cấp vô sản trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nói chung, cũng như trong sự cấu thành giá trị và giá trị thặng dư nói riêng, mà coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến thứ lao động quan trọng nhất, quyết định nhất là lao động bằng trí tuệ của tầng lớp trí thức, nhất là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tức là lớp người tạo nên nền sản xuất với kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, và của tầng lớp quản lý, tức là lớp người điều khiển, vận hành toàn bộ nền sản xuất phức tạp đó, trong việc này có cả phần đóng góp của giai cấp tư bản. Do phương pháp luận không khách quan đó, nên Marx đã rút ra những kết luận sai lầm. Thực tiễn thế giới ngay giữa thế kỷ 20 đã hoàn toàn bác bỏ những kết luận của Marx về vai trò của giai cấp vô sản trong xã hội, bác bỏ những điều khẳng định về những tính chất "tiên tiến nhất, có tổ chức nhất, cách mạng triệt để nhất" của giai cấp này. Còn đến cuối thế kỷ 20, khi nền kinh tế toàn cầu hóa, cuộc cách mạng tin học tiến mạnh, kinh tế tri thức nở rộ thì chẳng còn mấy ai tin vào những kết luận đó nữa. Thế mà, Marx và Engels dựa trên những kết luận sai lầm đó, đã đưa ra trong "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản" (năm 1848) quan niệm về đảng của những người cộng sản và nhiệm vụ xây dựng xã hội cộng sản của giai cấp vô sản.
Công bằng mà nói, trong các tác phẩm của mình, hai ông thường nhấn mạnh: cách mạng vô sản chỉ có thể tiến hành ở các nước công nghiệp phát triển, nghĩa là những nước thực sự có giai cấp vô sản, và ÐCS phải thực sự là "đảng của giai cấp vô sản" mang tính chất vô sản. Sở dĩ phải nhấn mạnh như thế vì hai ông phòng trước: nếu không có điều kiện căn bản đó, ÐCS sẽ là đảng của lớp nghèo không phải vô sản, "lớp đáy" của xã hội, mà Marx gọi là "lumpen-proletariat" (vô sản áo rách, vô sản lưu manh), sẽ mang nặng tính chất của các tầng lớp đó và vì thế sẽ làm sai mục tiêu của cách mạng vô sản. Về sau, Lenin và phe cánh của ông ta tự cho mình phát triển chủ nghĩa Marx thì lại coi nhẹ điều này, ông cho rằng cách mạng vô sản có thể diễn ra ở các nước công nghiệp kém phát triển, nơi đang là khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản. Thậm chí Lenin và phe cánh còn cho rằng những nước chưa qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản cũng có thể làm cách mạng vô sản miễn là họ nhận được sự giúp đỡ của một nước mà ÐCS nắm chuyên chính vô sản.
Nếu nghiên cứu kỹ thì có thể dễ dàng nhận thấy một số quan điểm căn bản về ÐCS của Marx và Engels ghi trong "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản" khác với quan niệm và thực hành của Lenin và những lãnh tụ cộng sản khác trong thế kỷ 20. Có những điều hai ông đã viết ra rất ít được những người theo chủ nghĩa Lenin sau này nhắc tới hoặc đem ra bình luận. Vì thế, xin dẫn ra ở đây vài đoạn đáng chú ý trong "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản":
· "... về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước ..." (Sđd, tr.66) ...
· "Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác" (Sđd, tr.65) ...
· "Họ không đặt ra những nguyên tắc phe phái nhằm khuôn phong trào công nhân theo những nguyên tắc ấy. Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc mà chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào" (Sđd, tr.65).
Qua những điều đó thấy rõ rằng, khi đặt cho đảng của giai cấp vô sản nhiệm vụ làm cách mạng vô sản đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa bằng bạo lực, rồi dùng chuyên chính vô sản để tiêu diệt giai cấp tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản, Marx và Engels quan niệm ÐCS là một tổ chức xã hội, chứ không phải là một hội kín của những kẻ âm mưu. Cứ nhìn các đảng vô sản dưới thời hai ông, chẳng hạn, công đảng, đảng xã hội chủ nghĩa, đảng xã hội đân chủ ... thì thấy rõ điều này. Marx và Engels quan niệm một nền chính trị, trong đó giai cấp vô sản có nhiều đảng, chứ không phải một ÐCS duy nhất. Dĩ nhiên, không thể coi đây đã là nền chính trị đa nguyên, đa đảng theo quan niệm dân chủ hiện thời, vì hai ông chỉ nói đến "các đảng công nhân khác" mà thôi. Hai ông không quan niệm ÐCS là một tổ chức cao nhất đứng trên các đảng vô sản khác, có độc quyền lãnh đạo hay độc tôn thống trị các đảng và các tổ chức vô sản khác, như Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông về sau đã chủ trương. Ðiều đáng chú ý nữa là Marx và Engels luôn luôn đề cao chủ nghĩa quốc tế, hai ông nhấn mạnh trong bất cứ trường hợp nào ÐCS không được lấy quyền lợi dân tộc làm gốc mà phải lấy chủ nghĩa quốc tế làm căn bản. Ðiều này thì càng về sau, các ÐCS hoặc chỉ nói mà không làm, hoặc chỉ lợi dụng chiêu bài chủ nghĩa quốc tế vô sản để che đậy cho quyền lợi tập đoàn của họ ...
Về mặt thực hành quan điểm của hai ông về đảng, Marx và Engels đã lập ra hồi năm 1864 "Liên minh công nhân quốc tế" (sau này được mệnh danh là Ðệ Nhất Quốc tế), với số phân bộ không nhiều, phần lớn ở châu Âu. Trước đó, Marx và Engels cũng lập ra "Liên đoàn những người cộng sản", nhưng trên thực tế cả tổ chức này cũng không có hoạt động gì nổi bật, ngoài việc ra "Tuyên ngôn của Ðảng cộng sản". Do cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng trong nội bộ "Liên minh công nhân quốc tế", tổ chức này dần dần tan rã, và năm 1876 tuyên bố tự giải tán. Ðến năm 1889, cuộc đại hội các đảng xã hội chủ nghĩa (ở Việt Nam thường gọi là đảng xã hội) của nhiều nước châu Âu, của Mỹ và Argentina đã thành lập "Liên minh quốc tế của các đảng xã hội chủ nghĩa" (về sau được mệnh danh là Ðệ Nhị Quốc tế). Sau khi Engels mất (1895), Ðệ Nhị Quốc tế bị Lenin công kích thậm tệ, lên án tổ chức quốc tế này là theo đường lối "xét lại", cải lương, cơ hội chủ nghĩa, thỏa hiệp giai cấp, tay sai của tư sản và phản bội cách mạng. Lenin tuyên bố là trung tâm cách mạng thế giới đã chuyển sang nước Nga và chỉ có ÐCS "bolshevik" Nga mới thật là cách mạng triệt để.
B. Quan điểm và thực hành của Lenin về ÐCS
Lenin tự cho mình là người kế nghiệp chân chính những di sản lý luận của Marx và Engels, còn Karl Kautsky là renégat (các dịch giả Hà Nội chuyển ngữ là: kẻ phản bội), dù về mặt pháp lý Kautsky được di chúc là người thừa kế chính thức các di cảo của Marx và Engels. Trên thực tế rất nhiều vấn đề Lenin đã làm khác, nếu không muốn nói là xuyên tạc, những tư tưởng của Marx và Engels. Làm như thế, Lenin và phe cánh của ông cho rằng họ đã phát triển chủ nghĩa Marx. Chẳng hạn, về lý luận, Lenin cho rằng cách mạng vô sản có thể giành được thắng lợi ở cái khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, khâu đó là nước Nga - một nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, chứ không nhất thiết phải nổ đồng loạt ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển, như Marx và Engels đã dự kiến, mà muốn thế thì phải có một "đảng kiểu mới" khác hẳn với các đảng vô sản đã có trong các Quốc tế dưới thời Marx và Engels. Quan điểm của Lenin về "đảng kiểu mới", dĩ nhiên, khác hẳn quan điểm của Marx và Engels.
Khi phân tích quan điểm này của Lenin, chúng tôi không viện dẫn những câu "nhật tụng" "tung hỏa mù" mà giới lý luận xô-viết thường hay trưng ra (như ÐCS là đội quân tiên tiến nhất, giác ngộ nhất của giai cấp vô sản, ÐCS là đội quân có tổ chức nhất của giai cấp vô sản, v.v... và v.v...) để che đậy quan điểm thật của Lenin về ÐCS, mà chúng tôi dựa vào sách "Làm gì ?" do Lenin viết và xuất bản năm 1902 ở Stutgart. Trong tác phẩm đó, Lenin nói rõ nhất về quan điểm của ông và kế hoạch xây dựng ÐCS "kiểu mới" của những người cách mạng chuyên nghiệp. Ông cho rằng ở nước Nga tuy chủ nghĩa tư bản chưa phát triển cao nhưng vẫn có thể làm cách mạng vô sản thắng lợi được, miễn là những người cộng sản xây dựng được ÐCS "kiểu mới" thật bí mật biết dùng bạo lực để cướp chính quyền, nói một cách khác xây dựng được một hội kín của những kẻ âm mưu. Ngay hồi đầu thế kỷ 20, Lenin đã nói: "Hãy cho tôi một đảng những người cách mạng chuyên nghiệp thì tôi lật ngược cả nước Nga" (còn sau cuộc đảo chính tháng 10.1917, ông mơ ước lật ngược cả thế giới nữa!). Ông cho rằng người muzhich (nông dân) Nga vốn có truyền thống khuất phục, nếu ÐCS cướp được chính quyền rồi thì cả xã hội đều sẽ khuất phục theo và bằng bạo lực của chuyên chính vô sản, ÐCS sẽ xây dựng được chế độ cộng sản. Ðể chuẩn bị cướp chính quyền, Lenin đặc biệt chú ý lập ra các nhóm khủng bố võ trang gồm cả những phần tử tội phạm để làm nhiệm vụ "tước đoạt" (ăn cướp), ám sát, v.v... Chỉ huy các nhóm khủng bố này là ba người (gọi là "troika") rất bí mật trong trung ương Ðảng bolshevik, trong "troika" đó có Lenin và Krasin. Nên nhớ rằng, hồi đó, Ðảng bolshevik là một bộ phận của Ðảng công nhân xã hội - dân chủ Nga, mà Ðảng công nhân xã hội - dân chủ Nga thì cực lực lên án và cấm tuyệt hành động khủng bố, cho nên Lenin và phe cánh phải giữ bí mật tuyệt đối nhóm "troika" và việc ông ta chỉ huy nhóm khủng bố (xem: Edvard Razinsky. "Stalin". Moskva 1997, tiếng Nga, tr.54, 64-69). Thực tế đã chứng tỏ rằng với cái "đảng-hội kín-âm mưu" đó, Lenin và những người bolsheviks Nga có được trong tay một công cụ (instrument) hữu hiệu đã làm đảo chính cướp chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản hồi tháng 10.1917. Ngày nay, giới sử học Nga cũng đã khẳng định sự biến tháng 10.1917 là một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền dân chủ chứ không phải là một cuộc cách mạng, như những người bolsheviks thường nói. Và chính Lenin trong mấy năm đầu sau tháng 10.1917 cũng gọi đó là "đảo chính" (tiếng Nga là "perevorot", các dịch giả Hà Nội cố ý chuyển ngữ bằng một từ rất lờ mờ là "chính biến" - NMC).
Ðể xây dựng ÐCS với thực chất hội kín của những kẻ âm mưu như vậy, Lenin đặc biệt nhấn mạnh vai trò "những người cách mạng chuyên nghiệp". Ông viết: "... tổ chức của những người cách mạng phải bao gồm trước tiên và chủ yếu những người mà nghề nghiệp của họ là hoạt động cách mạng ..." (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t.6, tiếng Nga, tr.112). Sự thật chứng tỏ rằng "những người cách mạng chuyên nghiệp" Nga trước tháng 10.1917, phần lớn là những kẻ vô nghề nghiệp, không lao động, hoặc có nghề nghiệp mà không làm việc gì, ngoài "việc làm" cách mạng; cũng có một số đã có quá khứ tội phạm. Ngay cách làm tài chính cho tổ chức của những người chuyên nghiệp này cũng thấy rõ tính chất hội kín của những kẻ âm mưu: dựa vào hoạt động khủng bố để cướp đoạt làm tiền cho đảng (họ gọi bằng từ ngữ của Marx là tước đoạt). Lenin lý giải thật giản đơn cái quan điểm về "những người cách mạng chuyên nghiệp". Ông viết: "bắt được mười thằng khôn khó hơn bắt một trăm thằng ngốc", và ông nhấn mạnh: "phải hiểu rằng - như tôi đã nhiều lần vạch rõ - chỉ có những người cách mạng chuyên nghiệp (chữ in đậm của Lenin - NMC) mà thôi" (Sđd, tr.124). Nhưng cả "những thằng khôn" lẫn "những thằng ngốc" đó phải đứng vào trong "một tổ chức bí mật hết sức nghiêm ngặt", và tổ chức này phải do "một ủy ban gồm những người cách mạng chuyên nghiệp" (Sđd, tr.122, 125) điều khiển. Rõ ràng là theo quan điểm của Lenin, ÐCS thực ra là một hội kín của những kẻ âm mưu, chứ không phải là một chính đảng với tính cách là tổ chức xã hội của giai cấp vô sản. Bản thân Lenin cũng không giấu giếm điều đó, khi ông nói: "thật vô cùng ngây thơ khi sợ bị buộc tội chúng ta, là những người xã hội đân chủ, lại muốn thành lập một tổ chức âm mưu" (Sđd, tr.136). Ông cho rằng tổ chức đó cần có "một mạng lưới những agents" (từ này trong tiếng Nga có nhiều nghĩa, chúng tôi muốn giữ nguyên dạng từ này, vì nó lột tả thực chất cách đặt vấn đề của Lenin), nhưng - theo ông - "nếu ai đó không thích «cái từ khủng khiếp» này thì có thể thay bằng từ «những nhân viên», có khả năng bảo đảm «sác xuất lớn nhất của thắng lợi trong trường hợp nổi dậy»" (Sđd, tr.178). Cũng vì tính chất hội kín của những kẻ âm mưu, nên Lenin luôn luôn đưa lên hàng đầu đòi hỏi "đảng kiểu mới" phải là một tổ chức "tập trung nhất", "bí mật nhất" và phải "có kỷ luật sắt" cực kỳ nghiêm ngặt. Nền tảng để xây dựng "đảng kiểu mới" với tính cách "công cụ" ngoan ngoãn của một lãnh tụ hoặc một nhóm lãnh tụ là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính nguyên tắc này bảo đảm sự phục tùng tuyệt đối của đại đa số đảng viên đối với một nhóm nhỏ những người lãnh đạo, hay nói theo cách của Lenin "một ủy ban gồm những người cách mạng chuyên nghiệp", và ủy ban ban này - đến lượt nó - phải phục tùng tuyệt đối một hay vài lãnh tụ (chẳng hạn, nhóm ba người gọi là "troika" đã nói trên). Nhóm nhỏ lãnh đạo ÐCS này khi cướp được chính quyền rồi trở thành tập đoàn thống trị nhà nước và xã hội.
Lenin còn đưa ra luận điểm về "sự độc quyền lãnh đạo (hégémonie) của giai cấp vô sản, tức là của ÐCS". Xin chú ý rằng: trong các cụm từ "sự độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản" hay "chuyên chính của giai cấp vô sản", cái vế "của giai cấp vô sản" chỉ là một cách nói đẹp để dụ hoặc người lao động, còn nghĩa thực của nó là của một hoặc vài lãnh tụ, tức là một nhúm nhỏ "những người cách mạng chuyên nghiệp", nói cách khác là một tập đoàn thống trị cộng sản. Ðối với Lenin, cả giai cấp vô sản, hay nói rộng hơn toàn dân tộc, toàn nước Nga chỉ có thể có một đảng duy nhất, đó là ÐCS của những người bolsheviks, đứa con đẻ quan trọng nhất của "chủ nghĩa Lenin", hình mẫu cho các ÐCS trên thế giới.
Ðấy, quan niệm về ÐCS của Lenin là như thế, và chính quan niệm đó là một trong những cơ sở để xây dựng lên chế độ cực quyền toàn trị khi ÐCS đã cướp được chính quyền. Sau cuộc đảo chính tháng 10.1917, ÐCS trở thành một yếu tố chính của nhà nước mới xuất hiện. Những người bolsheviks, thông qua ÐCS, nắm quyền thống trị độc tôn chuyên chế vô hạn đã tiêu diệt hết các đảng và các tổ chức đối lập, tiêu diệt "các giai cấp thù địch" - cụ thể là giai cấp các chủ ruộng đất, giai cấp các nhà công nghiệp, thương nghiệp, giai cấp những người nông dân năng nổ nhất, đắc lực nhất trong nền sản xuất nông nghiệp (tiếng Nga gọi là kulak) , giai cấp các nhà trí thức, tiêu diệt hết mọi mầm mống dân chủ trong xã hội. Quyền chuyên chế vô hạn đó đã được thiết lập ở Nga hồi tháng 10.1917 là do trình độ văn hóa chính trị thấp kém của dân chúng, đặc biệt là của người muzhich ở nông thôn, và truyền thống dân chủ quá non yếu của xã hội Nga. Bằng bạo lực đẵm máu, những người cộng sản-bolshevichs duy trì được quyền đó đã hơn bảy thập niên ở nước Nga cho đến khi ÐCS bị hạ bệ hồi tháng 8.1991. Trong suốt thời gian đó, ÐCS đã biến mình trở thành trung tâm liên kết và hình thành một giai cấp thống trị mới, giai cấp quan liêu đặc quyền đặc lợi gọi là "nomenklatura".
Một điểm quan trọng cần vạch rõ nữa là: sau ngày ÐCS cướp được chính quyền ở Nga, xuất hiện ngay một sự cộng sinh (symbiose) giữa đảng và nhà nước, dựa trên sự kết hợp trước hết giữa đảng và cơ quan công an mật vụ (lúc đầu gọi là Vecheka - ủy ban đặc biệt toàn Nga, hay Cheka - ủy ban đặc biệt). Ðiều đó thể hiện rõ trong nhiều "chỉ thị" của Lenin. Xin dẫn một đoạn trong thư Lenin gửi cho Yakov Ganetsky: "hãy thiết lập mối quan hệ khắng khít nhất giữa các tổ chức đảng với các Cheka ... bắt buộc tất cả các đảng viên có chức vụ phải báo cho các Cheka tất cả những tin tức đến họ bằng con đường riêng tư hay chính thức và có ích cho cuộc đấu tranh chống phản cách mạng và gián điệp. Không chỉ hạn chế trong việc đó mà thôi, họ còn phải giúp đỡ một cách hữu hiệu các Cheka, tham gia việc xét xử ... dự các cuộc hỏi cung, v.v..." (xem: sách Lenin và Vecheka, 1975, tr. 281). Chính Lenin đã từng viết: "một người cộng sản tốt đồng thời phải là một chekist (công an mật vụ) tốt" (Sđd, tr.363). ÐCS cầm quyền thực tế trở thành một đảng-nhà nước. ÐCS giống như con bạch tuộc vươn dài các vòi của nó bám chặt vào mọi cơ cấu của bộ máy nhà nước, xoắn quyện nhau, gắn chặt thành một bộ máy đảng-nhà nước của giai cấp thống trị mới, giai cấp quan liêu (nomenklatura) đông hàng nhiều triệu người. Bộ máy này rất to lớn và cồng kềnh đè nặng lên quảng đại dân chúng, trước nhất là các giai cấp mà đảng coi là thành phần cơ bản của xã hội (công nhân và nông dân lao động), cũng như lên quần chúng đảng viên. Bằng bạo lực chuyên chế đẵm máu, bộ máy này nghiền nát chẳng những mọi phản kháng, mọi ý đồ đối lập, mà còn đè bẹp, triệt tiêu cả mọi tư tưởng độc lập, mọi ý hướng dân chủ, mọi tư tưởng khác biệt trong đảng và ngoài xã hội.
Vô hình trung trong cả đất nước rộng lớn bao la chiếm đến một phần sáu địa cầu đã hình thành nên một kim tự tháp xã hội mà kẻ đứng trên đỉnh tháp là "lãnh tụ tối cao" của đảng với quyền lực cá nhân không hạn chế được tôn vinh là "lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới" (Lenin) hoặc "người cha của các dân tộc" (Stalin), thực chất là một Nga hoàng đỏ, một tên độc tài đỏ. Trong kim tự tháp lớn lại có nhiều kim tự tháp nhỏ, trên đỉnh mỗi kim tự tháp nhỏ là một bí thư đảng bộ cộng sản địa phương, tức là một "lãnh tụ con", một lãnh chúa phong kiến đỏ. Còn ở đáy kim tự tháp là quảng đại dân chúng, bao gồm chủ yếu là những thành phần gọi là cơ bản của đảng - công nông binh, đảng viên thường. Trong số này một số không ít được giai cấp quan liêu tuyển chọn làm cán bộ để dần dần bổ sung vào giai cấp quan liêu cầm quyền, hoặc làm tay sai cho giai cấp đó.
Ðấy, từ quan niệm của Lenin về ÐCS đã tạo nên chế độ cực quyền toàn trị như thế. Ðó là hình mẫu chung cho tất cả các nước gọi là "xã hội chủ nghĩa".
C. Dựng lên một ÐCS thế giới
Sau khi cướp được chính quyền bằng một cuộc đảo chính khá dễ dàng (1917), Lenin càng say sưa với những kết luận của mình, đã nêu ra trong sách "Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" (viết năm 1916) mà những kẻ tán dương Lenin gọi là "phát kiến vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới". Những kết luận đó là: "chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn chủ nghĩa tư bản giãy chết" ... "là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản" ... "là đêm trước của cách mạng vô sản thế giới". Ðể kịp đón cái "đêm trước của cách mạng vô sản thế giới", để làm "cách mạng vô sản thế giới" và thiết lập "chuyên chính vô sản thế giới", Lenin và đảng bolshevik thực tế bắt tay chuẩn bị thành lập một "đảng-hội kín-âm mưu" thế giới, tức là một "ÐCS thế giới", bao gồm nhiều ÐCS theo hình mẫu "ÐCS bolshevik Nga" ở các nước trên thế giới. Ðây chính là thực chất của cái gọi là PTCSQT.
Về việc thành lập "ÐCS thế giới" ấy, nhà sử học D. Volkogonov (viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học, tiến sĩ triết học, tiến sĩ sử học, trung tướng của quân đội xô-viết, vốn là một đảng viên cộng sản chính thống về sau đã tỉnh thức và trở thành nhà dân chủ triệt để) đã kể lại như sau: để chuẩn bị thành lập tổ chức quốc tế đó, Lenin và đảng bolshevik phái những agents của công an mật vụ Nga (Vecheka) đến một số đảng xã hội chủ nghĩa để phân hóa, chia rẽ, lôi kéo, tuyển mộ tay chân, cung cấp tài chính, v.v... nhằm tạo ra "phe tả" làm "hạt nhân" đầu tiên của tổ chức "Quốc tế" mới (xem: D.Volkogonov. Lenin. Chân dung chính trị. Hai tập. 1994, t. 1. Trong sách này, ở tr. 272-273, 289-290. Volkogonov đưa ra nhiều tài liệu cụ thể về vai trò của công an mật vụ Nga trong việc thành lập và hoạt động của Quốc tế cộng sản, những tài liệu này dẫn từ kho lưu trữ của QTCS, nay là RSKHIDNI - Trung tâm lưu trữ văn kiện lịch sử hiện đại). Hồi năm 1918, ngoài ÐCS bolshevik Nga, ở châu Âu chỉ có một ÐCS Ðức nữa mà thôi, còn các nơi khác mới chỉ đang thời kỳ "thai nghén" "phe tả" trong các đảng xã hội chủ nghĩa. Theo lệnh của Lenin, Bộ trưởng ngoại giao Chicherin ra lời kêu gọi trên đài phát thanh gửi tới tất cả những người cộng sản châu Âu và châu Á mời họ đến Moskva tham dự hội nghị. Không có tiếng vang đáp lại, vì chẳng ai để ý đến lời kêu gọi đó cả. Cuối cùng, chỉ phủ dụ được một số tù binh nước ngoài đang ở Nga tham gia cuộc họp, cộng thêm Eberlain từ Ðức đến với một vài người ngẫu nhiên nào đấy nữa. Gần một tuần lễ, cái nhúm người đó, chưa đầy ba chục mống, giống như một bọn âm mưu, bàn cãi nhau: nên lấy danh xưng cho cuộc họp như thế nào? Thế là nhúm người đó quyết định: cuộc họp là "Hội nghị cộng sản quốc tế để thành lập Ðệ Tam Quốc tế". Tuyên ngôn ký tên 17 (!?) cái gọi là "đoàn đại biểu", phần lớn là những kẻ vô danh tiểu tốt, và những người ngẫu nhiên nào đấy. Còn "Ðại bách khoa toàn thư xô-viết" thì phịa thêm là đại hội thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS - Komintern) hồi tháng 3.1919 tại Moskva "có mặt đại biểu của các ÐCS và các nhóm xã hội chủ nghĩa tả phái của 30 (!?) nước" ! Lenin đặt nhiệm vụ chủ yếu cho QTCS là "đấu tranh giành chuyên chính vô sản thế giới". Tại "đại hội" đó, mọi vấn đề đưa ra đều do Lenin và bộ chính trị (BCT) ÐCS bolshevik Nga quyết định trước cả. Lenin đã tự tay viết ra "21 điều kiện gia nhập QTCS" nhằm chọn lọc các đảng cho vào Quốc tế mới. Thâm ý của ông là muốn tạo cho QTCS một hình thức tổ chức chặt chẽ mà ông và ÐCS của ông có thể nắm chắc được ngay từ đầu. Do đó, những người lãnh đạo chủ chốt QTCS từ trước đến sau phần lớn đều là cán bộ của ÐCS bolshevik Nga hoặc là những tay chân trung thành với họ. Chủ tịch đầu tiên của Ban chấp hành QTCS (từ năm 1919) là Zinoviev, ủy viên BCT của ÐCS Nga, đến năm 1926 Zinoviev bị Stalin phế truất, và về sau bị hành quyết. Còn từ năm 1926 đến năm 1929, chủ tịch kế nhiệm là Bukharin, cũng là ủy viên BCT của ÐCS Nga, đến năm 1929 Bukharin cũng bị Stalin phế truất, và về sau cũng bị hành quyết. Nguyên tắc tổ chức của QTCS là tập trung dân chủ. Như vậy, mỗi ÐCS là một phân bộ (section) của QTCS, phải phục tùng nghiêm ngặt theo hệ thống dọc đến cấp cao nhất là Ban chấp hành QTCS, mà ban này thật ra chỉ là cái dù che đậy sự lũng đoạn của tập đoàn thống trị ÐCS Nga trong QTCS. Hơn nữa, tổ chức quốc tế này bị phụ thuộc hoàn toàn về mặt tài chính, cán bộ ... vào TƯ ÐCS bolshevik Nga làm cho nó trở thành một công cụ hoàn toàn ngoan ngoãn để thực hiện những ý đồ của họ ...
D.Volkogonov viết: "Ban lãnh đạo bolshevik tin tưởng một cách cuồng tín rằng chỉ cần đốt lên ngọn đuốc cách mạng thế giới ở Nga thì tòa nhà cũ kỹ rệu rã của nền văn minh nhân loại giống như túp lều gỗ mục nát sẽ nhanh chóng bắt lửa và cháy bùng lên. Khi đọc diễn văn nhân dịp kỷ niệm năm thứ nhất thành lập Ðệ Tam Quốc tế tại phiên họp long trọng của Xô-viết Moskva ngày 6.3.1920, Lenin đã tuyên bố: "phải đoan chắc (chữ in nghiêng của D.V.) rằng thắng lợi của cách mạng cộng sản là không thể nào tránh khỏi". Lãnh tụ những người bolsheviks kết thúc bài diễn văn của ông ta bằng những lời sau đây trong tiếng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt: "... thắng lợi của QTCS trên toàn thế giới, và trong một thời hạn không xa lắm - thắng lợi đó đã được bảo đảm" (xem: Lenin V.I. Toàn tập, t. 40, tiếng Nga, tr. 209, 211). Phải có một tầm mắt cận thị và vô trách nhiệm đến kỳ lạ mới có thể tung ra những lời tuyên bố kêu vang mà rỗng tuếch đến thế" (xem: D.Volkogonov. Lenin. Chân dung chính trị. Hai tập. 1994, t. 2, tr. 271).
Ðể gây đám cháy "cách mạng" ở các nước, Lenin và những người bolsheviks đã tung tiền của, vàng bạc cho các đảng tay chân ở các nước, đồng thời phái những nhóm "agents" (hoạt động viên) của mình đem vũ khí, tài liệu tuyên truyền đến các nước đang có sự sục sôi trong dân chúng (Hungarie, Ðức, Italia, Ba Tư (Persia), ẤÂn Ðộ, Trung Quốc ...), rồi tổ chức các nhóm khủng bố để khích động phong trào, hòng lật đổ các chế độ hiện tồn và thiết lập chuyên chính vô sản, hay nói theo từ ngữ thời thượng của họ hồi đó là "xô-viết hóa các nước". Họ đặc biệt chú ý hai nước láng giềng Hungarie và Ðức đang có biến động. Và đến tháng 3.1919, nước Cộng hòa xô-viết Hungarie ra đời do lãnh tụ cộng sản Bela Kun đứng đầu. Lenin và những người bolsheviks Nga hân hoan cực độ. Lenin gửi điện nhân danh đại hội 8 ÐCS bolshevik Nga chào mừng với những câu như sau: "Ðại hội đảng chúng tôi tin tưởng rằng chẳng bao lâu nữa chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi trên toàn thế giới. Giai cấp công nhân Nga sẽ dốc toàn lực vội vã giúp đỡ các bạn ... Nước cộng hòa cộng sản quốc tế muôn năm !" . Ông còn gửi điện mật cho Bela Kun: "Hãy cứng rắn. Nếu trong số bọn xã hội chủ nghĩa hay bọn tiểu tư sản, mới theo các đồng chí ngày hôm qua, mà tỏ ra giao động đối với chuyên chính vô sản thì hãy đàn áp ngay không thương tiếc. Bị xử bắn - đó là số phận đúng luật của tên hèn nhát trong chiến tranh". (Sđd, tr. 276, 278)
Chưa đầy một tháng sau ở Bavaria (Ðức), một chính phủ do người cộng sản Evgheni Levine đứng đầu lên nắm quyền. Chính phủ này gấp rút tiến hành những nhiệm vụ cấp bách của chuyên chính vô sản: quốc hữu hóa các ngân hàng, thành lập Hồng quân, quy định ngày làm việc 8 tiếng, võ trang giai cấp vô sản, cô lập giai cấp tư sản. Lenin cũng vội vàng gửi điện ngay với một loạt chỉ thị như sau: "... đã võ trang công nhân chưa, đã tước võ khí của giai cấp tư sản chưa, đã tăng gấp đôi, gấp ba tiền công cho bần nông và lao công chưa, đã tịch thu toàn bộ giấy in và tất cả các nhà in chưa ... đã dồn nhà ở của giai cấp tư sản ở Munich để cho công nhân dọn đến ở các nhà giàu chưa ... đã bắt con tin của giai cấp tư sản chưa ... đã động viên toàn thể công nhân để phòng thủ và để tuyên truyền tư tưởng cho các vùng nông thôn lân cận chưả" (Sđd, tr. 277). Lenin gửi những phái viên của ông mang theo chỉ thị và những va li vàng đến ngay những nơi đang "xô-viết hóa" đó. Ông tin tưởng là cách mạng đã bắt đầu ở châu Âu, và cho rằng ngọn lửa cách mạng đang bùng cháy ở Ðức. Ông đã bí mật chuẩn bị một đội quân do Toukhachevsky chỉ huy để thấm nhập vào Ðức, nhưng quân chưa kịp vào thì cuộc biến động ở Bavaria đã bị dẹp yên. Ðiều mong ước về cách mạng bùng lên ở Ðức đã được Trotsky bộc tuệch nói ra: "... nước Ðức xô-viết thống nhất với nước Nga xô-viết thì ngay lập tức sẽ mạnh hơn tất cả các nước tư bản gộp lại!". Trong óc của các lãnh tụ cộng sản Nga hiện lên giấc mơ rõ nét về một "Liên bang xô-viết Âu châu", rồi một "Liên bang cộng sản Thế giới" mà họ sẽ làm chủ. Chính tay Lenin đã ghi vào lời mở đầu của "Hiến pháp Liên Xô" (được công bố năm 1924) câu sau: "Nhà nước mới xô-viết là ... một bước quyết định mới trên con đường thống nhất những người lao động tất cả các nước vào Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết Thế giới". Xin nhắc lại một lần nữa: thực chất của PTCSQT là thế đó!
Thế nhưng, cả ở Hungarie lẫn ở Bavaria, chính quyền xô-viết đã sụp đổ, và châu Aâu, châu Mỹ - nơi thực tế có giai cấp vô sản - thì yên ổn, các lãnh tụ Moskva bèn hướng về phương Ðông: Ấn Ðộ , Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên... Nhưng sau sự kiện Hungarie và Bavaria thì "cuộc cách mạng thế giới" mà Lenin đã tiên đoán "rất thiên tài" cứ tàn lụi dần. May thay cho nhân loại, cái mộng tưởng của Lenin và những người bolsheviks Nga đốt lên đám cháy cách mạng thế giới, thành lập "Liên bang xô-viết Âu châu", "Liên bang cộng sản Thế giới" chỉ là ảo mộng còn nằm lại trên những bài báo, những chỉ thị của họ mà thời gian đã phủ lên một lớp bụi dày. Trong lúc đó, đã xảy ra chuyện oái ăm của lịch sử: "Liên hiệp Âu châu" với đủ mọi cơ cấu, kể cả nghị viện, tòa án, đồng Euro ... đang hoạt động hữu hiệu mà lại không do những người cộng sản bolsheviks Nga lập ra và không có chuyên chính của giai cấp vô sản!
D. Stalin đối với ÐCS và QTCS
Ở đây, người viết sẽ chỉ nói một vài sự kiện cụ thể làm nổi bật thái độ và hành động của kẻ độc tài với ÐCS và QTCS, mà không nhắc đến những quan điểm thường được tán tụng trên sách báo chính thức của ÐCSLX (vì thật ra Stalin chỉ lặp lại những điều Lenin nói).
Ðối với ÐCS:
Khi Lenin còn sống, Stalin đã thấy rất rõ toàn bộ tính chất lợi hại của bộ máy đảng-nhà nước xô-viết với tính cách một công cụ sắc bén, ngoan ngoãn trong tay một nhúm người để thống trị đất nước và xã hội. Cho nên khát vọng mãnh liệt nhất của ông là nắm bằng được bộ máy ấy để thu tóm được toàn bộ quyền lực tối thượng trong nước và xã hội. Trên thực tế, Stalin không đưa ra một quan điểm "lý luận" nào khác những điều ông đã thừa kế của Lenin về ÐCS và về chế độ cực quyền xô-viết mà Lenin đã đặt cơ sở, còn ông thì "hoàn thiện" chúng đến cao độ khi trị vì trên một đế quốc rộng lớn nhất thế giới.
Ðể nói về quan điểm "lý luận" riêng của Stalin về ÐCS, người ta thường nhắc tới lời tuyên bố sau đây của ông: "ÐCS cũng là một loại như giáo đoàn những chevaliers de lordre des Porte-Glaive" (xem: "Stalin Toàn tập", t.5, tiếng Nga, tr.71, các bản dịch ra tiếng Việt đều ghi là "đoàn kỵ sĩ mang kiếm", không rõ nghĩa lắm, nên xin phép dùng nguyên tiếng Pháp với vài lời giới thiệu. - NMC). Xin nói qua vài nét lịch sử. Giáo đoàn này gồm những hiệp sĩ Ðức được thành lập năm 1202 để xâm chiếm vùng Ðông Baltic và sau đó tiến công vào lãnh thổ Nga. Tên như thế là do phù hiệu của họ trên mũ giáp là một thanh kiếm và thánh giá. Ðến năm 1236, giáo đoàn bị đánh bại nặng nề và năm 1237 tàn quân nhập vào một giáo đoàn khác. Vì thế sự ví von này của Stalin lộ rõ ý đồ "quân sự hóa đảng" để thực hiện âm mưu bành trướng. Ðiều này thể hiện rõ nét nhất từ những năm 30 dưới thời Stalin - đảng cộng sản đã là một "tổ chức quân sự hóa" đến cao độ và hoàn toàn mất hết những dấu vết dân chủ ít ỏi còn sót lại trước đây. Tại hội nghị trung ương đảng hồi tháng 2.1937, tức là trong thời kỳ đại khủng bố ác liệt nhất, Stalin tuyên bố: "Trong đảng ta, có 3-4 ngàn người lãnh đạo cao cấp, có thể nói đó là hàng tướng lĩnh của đảng. Sau đó, là 30-40 ngàn người lãnh đạo trung cấp, đó là hàng sĩ quan của đảng. Rồi đến khoảng 100-150 ngàn cán bộ chỉ huy cấp dưới. Có thể nói đó là những hạ sĩ quan của đảng" (xem: RSKHIDNI. F.17. Op.12. D.612. Vyp. III. L.35). Cố nhiên, tổng tư lệnh tối cao "đạo quân" đó là Stalin.
Một lời tuyên bố khác của Stalin nữa cũng rất đáng được chú ý vì nó lộ rõ tư tưởng thật của kẻ độc tài: "ÐCS là công cụ của chuyên chính vô sản" (xem: Stalin I. "Những vấn đề của chủ nghĩa Lenin", M.1945, tiếng Nga, tr. 71). Công cụ như thế nào, sau này lịch sử đã chứng tỏ. Và quan điểm của Stalin về "chuyên chính vô sản" như thế nào thì xin bạn đọc hãy suy xét qua câu nói sau đây của ông ta mà Boris Bazhanov, cựu thư ký riêng của Stalin (từ 9.8.1923 đến 1.1.1928), đã kể lại trong hồi ký: ngày 17.6.1924, tức là sau đại hội 12, Stalin đọc báo cáo ở lớp huấn luyện các bí thư huyện ủy, ông ta đã nói thẳng rằng: "hiện nay chuyên chính vô sản về thực chất được thay thế bởi chuyên chính của đảng" (xem: "Hồi ký của cựu thư ký của Stalin", xuất bản ở Pháp 1980, ở Nga 1992, tr. 129). Nếu nói trắng ra thì chuyên chính của đảng có nghĩa là chuyên chính của một người: Stalin. Vì thế, ông ta phải chiến đấu để giành quyền chuyên chính đó.
Sau đây, chỉ xin nói đến mấy việc:
a. Giành cho bằng được vị thế chính thống để "nối ngôi" và nắm lấy ÐCS.
Ðọc tiểu sử Stalin, ta thường gặp những nhóm từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần -"Stalin là người bạn chiến đấu gần gũi nhất của Lenin", "người học trò kiệt xuất của Lenin", "người kế tục sự nghiệp của Lenin", hoặc thường được nghe kể nhiều về "tình bạn vĩ đại giữa hai lãnh tụ" trước cuộc đảo chính tháng 10.1917. Những điều đó là sự xuyên tạc lịch sử có dụng ý.
"Tình bạn vĩ đại" như thế nào ? Sự thật là trước tháng 10.1917, đối với Lenin thì Dzhugashvili-Stalin chỉ là một người nào đấy trong đám "những người cách mạng chuyên nghiệp" mà thôi. Tháng 12.1905, Stalin đi họp hội nghị đảng ở Tammerfors và ở đấy có Lenin đến dự họp. Trước tháng 10.1917, cũng có vài lần Stalin được đi dự đại hội đảng và có gặp Lenin, nhưng Lenin cũng chẳng để ý. Thế mà sau này (1931), Stalin lại "phịa" là: "Bao giờ cũng vậy, mỗi lần tôi đi ra nước ngoài để gặp Lenin - hồi năm 1906, 1907, 1912, 1913..." (xem: Stalin ỊV. "Tác phẩm", t.13, tr.121). Hồi năm 1915, Lenin cũng chỉù nhớ mang máng ai đó có bí danh là "Koba" ở trong nhóm khủng bố của đảng bolshevik vùng Caucase. Ông nhớ vì có một việc "động trời" hồi năm 1907 ở thành phố Tiflis (sau này là Tbilisi), Koba (tức là Dzhugashvili-Stalin) đã tham gia cùng Kamo một vụ ăn cướp tiền lớn (những người bolsheviks gọi những cuộc ăn cướp này là "tước đoạt" - dựa theo khẩu hiệu của Marx "tước đoạt kẻ đi tước đoạt") đến 350 ngàn rúp để "làm tài chính" cho đảng bolshevik. Hồi đó, những người bolsheviks ở Gruzia (còn gọi là Georgia) nhiều lần đã làm việc "tước đoạt" như thế, nhưng vụ năm 1907 là lớn nhất. Ðể hiểu rõ hơn sự thật về "tình bạn vĩ đại" giữa Lenin và Stalin, xin trích dẫn một bức thư của Lenin gửi Zinoviev hồi năm 1915 đăng trong tập 49 bộ Lenin Toàn tập, trong thư Lenin hỏi Zinoviev: "Anh có nhớ họ của Koba không?". Zinoviev viết thư trả lời là không biết. Lúc đó Lenin mới viết thư cho Karspinsky để hỏi về điều đó: "Tôi thiết tha yêu cầu anh tìm hiểu (có thể hỏi qua Stepko hay Mikha và v.v...) họ của "Koba" (Iosip Dz... ?? Chúng tôi quên mất)..." (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t. 49, tiếng Nga, tr. 101 và 161). Tài liệu lịch sử đó cho thấy "tình bạn vĩ đại giữa hai lãnh tụ" ûtrước tháng 10.1917 chỉ là huyền thoại, dù rằng giữa hai người sau đó thỉnh thoảng cũng có trao đổi thư từ với nhaụ
Cả sau khi những người bolsheviks đã cướp được chính quyền, "tình bạn vĩ đại" đó giữa hai "lãnh tụ" cũng không có. Ðây là một sự việc nữa mà ban lãnh đạo cộng sản Liên Xô cứ giấu kín mãi cho đến ngày khai mạc đại hội 20 (1956). Khi Lenin bị ốm nặng, Stalin cho tay chân theo dõi sát "người thầy vĩ đại" của mình, thậm chí đưa cả vợ là Nadezhda Allilueva đến làm thư ký riêng cho Lenin. Biết Lenin hồi đó đang viết "cái gì đấy" có lẽ là không có lợi cho mình, Stalin lấy cớ Lenin ốm nặng, đưa ra BCT thông qua nghị quyết hạn chế việc thông báo tình hình chính trị cho Lenin, hạn chế việc ghi chép giúp Lenin những điều do ông đọc ra... Có một lần, ngày 21.12.1922, Lenin muốn viết thư cho Trotsky, ông mới nhờ vợ là Krupskaya ghi bức thư ngắn do ông đọc. Bà vợ đã cẩn thận xin phép bác sĩ của Lenin rồi mới làm việc này. Ðến khi Stalin biết được, Stalin đã mắng Krupskaya một trận cực kỳ thô bỉ, lại còn dọa trừng trị bằng kỷ luật đảng. Ngày 23.12.1922, Krupskaya viết thư cho Kamenev và Zinoviev - theo lời bà - "là những người bạn gần gũi nhất của Ilich" (tức là Lenin - NMC) để cầu cứu sự bảo vệ. Hai tháng rưỡi sau, Lenin biết được chuyện này, ngày 5.3.1923, ông đã viết thư cho Stalin một bức thư với lời lẽ như sau: "... Tôi không thể dễ dàng quên được việc đó, và chẳng cần nói gì thì đồng chí cũng phải hiểu là những gì chống lại vợ tôi, tôi cũng coi như chống lại tôi. Vì thế, tôi yêu cầu đồng chí cân nhắc xem đồng chí có sẵn sàng rút lui những lời đã nói và xin lỗi vợ tôi hay là muốn đoạn tuyệt mọi quan hệ giữa chúng ta" (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t. 54, tiếng Nga, tr. 330).
Không phải là "bạn" của Lenin, cũng không phải là một trong những lãnh tụ nổi bật nhất của đảng bolshevik, thế thì tại sao "quyền trượng" lại "lọt" vào tay Stalin sau khi Lenin qua đời? Ðây là một vấn đề lịch sử với nhiều tình tiết. Nhưng trong phạm vi bài này chỉ xin đề cập tới những vấn đề liên quan đến phương diện tổ chức của ÐCS mà thôị
Hồi còn sống, Lenin không có chức vụ gì khác trong đảng, ngoài chức vụ ủy viên BCT, còn về mặt chính quyền ông là chủ tịch Hội đồng dân ủy. Nhưng ông là cha đẻ của ÐCS bolshevik, nên về mặt tinh thần ông có vị trí cao nhất trong đảng và ông cứ mặc nhiên sử dụng cái vị thế đó. Lãnh tụ đứng thứ hai sau Lenin hồi đó là Trotsky. Kamenev và Zinoviev cũng là những lãnh tụ được Lenin đánh giá cao, Kamenev là ủy viên BCT, phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng dân ủy, Zinoviev là ủy viên BCT, chủ tịch Ban chấp hành (BCH) QTCS. Còn Stalin, vào cuối đời Lenin, đã được bầu làm tổng bí thư TƯ đảng vào ngày 3.4.1922. Nhưng hồi đó chức vụ tổng bí thư chỉ có chức năng tổng hợp các vấn đề để đưa ra BCT giải quyết và điều khiển bộ máy hành chính, văn phòng của TƯ. Lenin cần một người tổ chức công việc của bộ máy TƯ đảng. Vì quan niệm chức năng của tổng bí thư như thế, nên chính Kamenev và Zinoviev đã nhường cho Stalin chức vụ đó. Nhưng khi Stalin đã là tổng bí thư trung ương đảng rồi thì ít lâu sau, Lenin lại thấy rất lo ngại, ông muốn đại hội 13 đưa Stalin ra khỏi chức vụ tổng bí thư, thay bằng một người khác. Dù đang bị ốm nặng, hồi tháng 12.1922, đã Lenin đọc cho thư ký viết một bức thư gửi đại hội đảng và yêu cầu chỉ được bóc ra sau khi ông chết, vì thế sau này người ta gọi nó là "di chúc chính trị của Lenin". Trong thư có đoạn viết: "Stalin là người thô lỗ quá đáng, và nhược điểm này - hoàn toàn có thể chịu đựng được giữa chúng ta với nhau và trong quan hệ giữa những người cộng sản - nhưng không thể chấp nhận được trong cương vị tổng bí thư đảng. Vì thế, tôi đề nghị các đồng chí hãy suy nghĩ để chuyển Stalin ra khỏi trọng trách ấy. Hãy cử vào vị trí của Stalin một đồng chí khác, có tính nết tốt hơn Stalin: kiên nhẫn hơn, trung thựïc hơn, lịch sự hơn và chu đáo hơn đối với các đồng chí, tính khí ít thất thường hơn, v.v..." (xem: Lenin V.I. "Toàn tập", t. 45, tiếng Nga, tr. 346).
Khi Lenin qua đời, chức vụ tổng bí thư đã ở trong tay Stalin, nên việc đầu tiên ông ta phải làm là làm sao giành được vị thế "chính thống" để được "nối ngôi". Muốn thế phải gạt cho được nhân vật thứ hai sau Lenin ra khỏi việc tổ chức và tiến hành tang lễ của Lenin. May cho Stalin là khi Lenin chết, Trotsky đang còn bận công tác ở miền Nam nước Nga. Stalin ra lệnh điện cho Trotsky báo sai ngày cử hành tang lễ cốt để Trotsky về Moskva sau khi tang lễ đã xong. Stalin quyết định làm những nghi lễ vô cùng trọng thể và ông giành được việc đọc diễn văn trong tang lễ để xác nhận trước toàn đảng, toàn dân sự thừa kế chính thức ngôi vị của Lenin. Trong việc kế vị này, Stalin tỏ rõ là người hiểu biết trình độ văn hóa thấp kém và tâm lý sùng bái lãnh tụ của đảng viên và dân chúng Nga. Trong bài diễn văn trước thi hài Lenin, Stalin lặp đi lặp lại đếùn bảy lời thề theo một lối rất "tôn giáo" gây xúc động cho nhiều người (chắc nhiều người còn nhớ, năm 1969, Lê Duẩn cũng bắt chước Stalin đọc năm lời thề với văn phong y hệt như vậy trước quan tài Hồ Chí Minh), nên trước mắt dân chúng và toàn đảng, ai cũng mặc nhiên thấy ngay chính Stalin là người có tư cách "chính thống" duy nhất để nhận lãnh "quyền trượng" và "ngai vàng" trên đất nước Nga. Ðến khi Trotsky trở lại Moskva thì mọi việc đều đã an bài đâu vào đấy rồi: Stalin đã thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay mình.
Cố nhiên, Stalin còn phải đối phó với bức thư của Lenin gửi đại hội 13 của đảng. Trước đây, Lenin đã phòng trước sự theo dõi của Stalin, nhưng ông không ngờ là người nữ thư ký L.Fiotieva của ông lại là tay chân của Stalin. Lenin đã dặn dò bà ấy và Krupskaya phải tuyệt đối giữ bí mật bức thư, chỉ bóc nó và đưa ra khi đại hội đảng khai mạc. Nhưng Fiotieva đã kịp báo ngay cho Stalin về nội dung bức thư. Thế là với sự "lèo lái" khéo léo của Stalin, hội nghị TƯ đảng dưới sự chủ tọa của ông, họp ngày 22.5.1924 đã quyết định không đưa "thư gửi đại hội" ra thảo luận ở đại hội 13 nữa. Trước đó, Stalin còn "đóng kịch" vờ vĩnh xin từ chức tổng bí thư đề mọi người nài kéo ông ta ở lại.
Khi đã nắm toàn bộ quyền lực rồi, Stalin tìm mọi cách làm cho dư luận trong và ngoài đảng đều coi ông là người bạn chiến đấu gần gũi nhất của Lenin từ những năm đầu tiên xây dựng đảng và là người duy nhất hợp pháp để kế tục sự nghiệp của Lenin, đồng thời tìm mọi cách thanh trừng các địch thủ của ông, thậm chí tiêu diệt họ cả về thể xác và đưa tay chân của mình vào cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng.
b. Biến ÐCS thành công cụ hoàn toàn ngoan ngoãn trong tay Stalin
Có một số người cộng sản nghĩ rằng giá như sau khi Lenin qua đời, quyền bính lọt vào tay người khác thì chế độ xô-viết đã không phải là chế độ chuyên chế cực quyền đảng trị khủng khiếp như vừa qua, và lịch sử nước Nga đã không ghi tên kẻ độc tài đẵm máu StalinĐzhugashvili. Không phải thế! Với một ÐCS dựa trên một ý thức hệ như thế, tổ chức theo những nguyên tắc như thế, với mục tiêu và phương pháp hành động như thế thì không thể nào không đẻ ra chế độ độc tài toàn trị, không thể nào không đẻ ra những tên độc tài đẵm máu. Nếu không có một StalinĐzhugashvili thì sẽ có một "stalin" khác, có thể không khát máu bằng StalinĐzhugashvili, nhưng vẫn là một kẻ độc tài chính cống. Vả lại, cũng cần nói thẳng rằng chính Lenin cũng là một kẻ độc tài độc ác đầu tiên đã đặt nền móng cho chế độ cực quyền toàn trị cộng sản để Stalin thừa kế.
Sau khi chính thức kế thừa ngôi vị của Lenin, việc đầu tiên Stalin làm là nắm chắc ngay bộ máy đảng và bộ máy công an mật vụ (hồi đó vẫn gọi là Vecheka, về sau mới đổi tên nhiều lần). Rồi Stalin dựa vào bộ máy công an mật vụ đó để vu khống, bao vây, đàn áp, triệt hạ dần các cán bộ cốt cán của ÐCS dưới thời Lenin, đồng thời là những địch thủ của ông trong đảng. Stalin dùng chiến thuật liên kết với một số người để cô lập và đánh đổ từng đối tượng, rồi đưa tay chân mình vào thay thế chỗ trống, sau đó quay lại hạ uy thế những người vừa mới liên kết, rồi đánh đổ họ, cứ như thế đến khi bộ máy đảng-nhà nước thật sự trở thành "công cụ" riêng của ông. Ðối với các địch thủ, Stalin không chỉ đánh đổ họ về mặt chính trị, mà thường tìm cách tiêu diệt cả về thể xác để trừ hậu họa. Trong thời kỳ³ đầu, TƯ đảng, cũng như đại hội đảng họp tương đối đều đặn vì Stalin cần dựa vào danh nghĩa đảng, dùng sức mạnh toàn đảng để triệt hạ địch thủ của mình.
Hỏa lực đại pháo trước tiên tập trung vào nhân vật đứng thứ hai sau Lenin, tức là Trotsky, "đại công thần" đã từng gánh vác những việc nặng nề nhất để dựng lên chế độ xô-viết.Trotsky từng làm bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng quốc phòng và hải quân, chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng, người thành lập Hồng quân. Mấy kỳ đại hội liền kể từ đại hội 13 (5.1924), 14 (12.1925), 15 (12.1927) Stalin đều nhằm triệt hạ Trotsky - đến năm 1926 Trotsky đã bị khai trừ khỏi đảng, năm 1928 - bị trục xuất khỏi Liên Xô. Ðể đánh Trotsky, Stalin lúc đầu liên kết với Kamenev và Zinoviev, hai ủy viên BCT. Khi Trotsky đã bị đánh bại về chính trị rồi, thì ngay trong năm 1926, đến lượt Zinoviev, lúc bấy giờ là ủy viên BCT, chủ tịch đầu tiên của BCH QTCS: Zinoviev bị ghép chung vào khối với Trotsky để đánh tại đại hội 15 (1927). Triệt hạ xong Zinoviev, Stalin lại quay ra đánh Kamenev. Ðến năm 1926, ba ủy viên BCT dưới thời Lenin, là Trotsky, Kamenev và Zinoviev, đã vĩnh viễn rời khỏi võ đài chính trị. Cũng năm đó Dzherzhinsky qua đời. Còn lạïi Bukharin, người được Lenin gọi là "con cưng của đảng". Khi vị thế của Stalin vững vàng rồi thì đến lượt Bukharin, ủy viên BCT, chủ tịch BCH QTCS (thay thế Zinoviev từ năm 1926) bị đánh. Về sau cả ba "đại công thần" nữa là Kamenev, Zinoviev và Bukharin đều bị hành quyết trong cuộc đại khủng bố, còn Trotsky thì Stalin phái tay sai ám sát tại Mexico hồi năm 1940. Stalin đưa vây cánh của mình hết lớp này đến lớp khác vào các cơ quan lãnh đạo của bộ máy đảng-nhà nước. Cứ thế, những cán bộ bolsheviks của đảng Lenin, những "đại công thần" đã dựng lên bộ máy đảng-nhà nước và chế độ cực quyền xô-viết chưa hoàn toàn chịu khuất phục hoặc không chiếm được lòng tin của vị chúa tể mới, thì cứ lần lượt hết lớp này đến lớp khác đều bị triệt hạ. Cố nhiên, có phản ứng chống lại. Nhưng vì nguyên tắc tập trung dân chủ của đảng-nhà nước loại trừ mọi tính chất dân chủ, nên bất cứ sự phản ứng nào của những người trung thực cũng đều bị vu khống, bị quy kết vào những tội danh "chết người" và bị đàn áp khủng bố vô cùng ác liệt. Bộ máy công an mật vụ được "bật đèn xanh" để vu khống, tra tấn, đánh lừa, dựng lên những hồ sơ giả mạo, rồi bày ra những vụ án khủng khiếp trong "cuộc đại khủng bố" hồi những năm 1937-1938 và hành quyết nhiều ủy viên BCT, nhiều cán bộ đảng viên là "đại công thần" của chế độ xô-viết.
Cần nói thêm về sự kiện này, vì nó là nguyên cớ cho trận đại khủng bố nói trên. Tại đại hội 17 của đảng (tháng 1-2.1934), một số cán bộ kỳ cựu của đảng Lenin đã cố làm một hành động, mà nhiều nhà sử học coi như là trận đánh quyết định chống Stalin và phe cánh: một nhóm đại biểu trong đại hội, do B.Sheboldaev và I.Vareikis thay mặt, đã đề nghị S.Kirov ra ứng cử vào chức vụ bí thư TƯ đảng, họ đề nghị bỏ chức vụ tổng bí thư và chuyển Stalin vào chức vụ chủ tịch Hội đồng dân ủy. Theo lời của A.Mikoyan kể lại tại đại hội 20 (1956), Kirov đã thẳng thắn báo trước chuyện đó cho Stalin, mặc dù vậy Stalin càng thêm nghi ngờ Kirov. Tại đại hội 17, Stalin và phe cánh đã dùng OGPU (tên của cơ quan công an mật vụ thời đó - NMC) để theo dõi đại hội đảng. Ðến khi bầu các cơ quan lãnh đạo thì Stalin là người bị phiếu chống nhiều nhất. Cũng theo lời Mikoyan, khi kiểm phiếu thấy thế, chủ tịch ban kiểm phiếu là Zatonsky lo lắng, đến báo cáo ngay với Kaganovich, ủy viên BCT là tay chân của Stalin. Kaganovich cương quyết ra lệnh chỉ được ghi ba phiếu chống Stalin mà thôi. Theo lời của Mikoyan và Shatunovskaya, một phần số phiếu đã bị Kaganovich lấy mất, không còn trong hồ sơ đại hội nữa. Sau đại hội 20, ủy ban điều tra của BCT báo cáo là trong hồ sơ đại hội thiếu mất 166 phiếu, như vậy chứng tỏ là có kẻ muốn phi tang việc gian lận phiếu bầu. Một số đại biểu hồi đó còn sống sót khai rằng đại hội đã dành sự tín nhiệm cao nhất cho Kirov. Rõ ràng đây là sự gian lận trắng trợn nhất trong lịch sử các ÐCS, chứng tỏ tên độc tài đã coi ý chí của đại hội - cơ quan cao nhất của đảng - chẳng ra cái gì cả!
Một vấn đề cấp bách đặt ra cho kẻ độc tài - muốn nắm giữ quyền lực thì phải trừ ngay kẻ cạnh tranh. Ngày 1.12.1934, Kirov bị ám sát ở Leningrad. Kẻ sát nhân trực tiếp bắn vào Kirov là Leonid Nikolaev bị bắt và xử tử. Vợ, anh em, bạn bè của y cũng bị giết sạch. Kẻ thủ mưu vụ này thì... không ai biết được! Vụ này mãi mãi vẫn còn là một "mảng tối" của lịch sử. Tuy nhiên, điều rõ ràng là Stalin đã lợi dụng ngay vụ ám sát này để dựng lên một loạt "vụ án" chính trị, đem xử công khai hàng loạt ủy viên BCT, ủy viên TƯ và cán bộ cao cấp dưới thời Lenin, dựa trên những hồ sơ và bằng chứng giả mạo. Stalin cho phép tra tấn để lấy khẩu cung, lập hồ sơ, rồi tự mình phê duyệt án tử hình đối với các ủy viên BCT, như Zinoviev, Kamenev, Radek, Piatakov, Bukharin, Rykov, Tomsky (ông này đã tự tử trước), v.v..., hai chủ tịch và nhiều ủy viên BCH QTCS, nhiều "đại công thần" của chế độ xô-viết, nhiều tướng lĩnh (ba nguyên soái là Toukhachevsky, Blucher, Egorov, nhiều đại tướng, như Alknis, Bielov, Kachirin, Kork, Ouborevitch, Eideman, Feldman, Primakov, Putna, v.v... nhiều đô đốc hải quân, như Orlov, Viktorov, Sivkov, v.v...) và nhiều cán bộ cấp cao khác của đảng-nhà nước và quân đội. Họ đều bị ghép tội "phản cách mạng", thậm chí "gián điệp", "tay sai của nước ngoài". Hàng triệu cán bộ, đảng viên, những nhà trí thức, nhân sĩ, nhiều sĩ quan cao cấp, các quân nhân, những người bình thường đã bị bắt bớ, bắn giết hoặc bị quẳng vào các trại tập trung giăng khắp Liên bang xô-viết, gọi là GULAG. Ðấy, Stalin đã trả thù việc đại hội 17 định phế truất ông ta như vậy đó.
Trong bản báo cáo bí mật tại đại hội 20, Khrutshev đã cho biết: "Cuộc điều tra cho thấy: 98 người trong số 139 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết do đại hội 17 bầu ra, tức là 70%, đã bị bắt và bị xử bắn (phần lớn vào những năm 1937-38)"... và: "Không những các ủy viên TƯ, mà đa số đại biểu dự đại hội 17 của đảng cũng chịu chung số phận. Trong số 1961 đại biểu chính thức và dự bị thì 1108 người bị bắt và ghép tội phản cách mạng, tức là hơn một nửa số đại biểu đại hội (tính chính xác là 56,5% - NMC). Sự kiện này tự nó vạch rõ tính chất kỳ quái và ngược đời của những lời buộc tội "phản cách mạng" gán cho đa số đại biểu đại hội". Khrutshev đã cho biết là 80% đại biểu đại hội 17 đã vào đảng trong thời kỳ bí mật, trước tháng 10 năm 1917, đã tham gia nội chiến, nghĩa là trước năm 1921, còn về nguồn gốc xã hội thì 60% là công nhân, lao động. Trên thực tế, Stalin đã tiêu diệt ÐCS của Lenin và dựng lên ÐCS của mình.
Sau cuộc "đại khủng bố" 1937-1938, ÐCS đã hoàn toàn trở thành một công cụ ngoan ngoãn trong tay của Stalin. Từ đó, chúng ta càng thấy rõ thái độ trịch thượng, coi thường của kẻ độc tài đối với ÐCS. Nếu trước đây, Stalin thấy cần thiết họp đại hội, họp TƯ đảng hay BCT tương đối đều kỳ chẳng qua chỉ để dựa thế vào cái "cơ chế dân chủ trong nội bộ đảng" nhằm đè bẹp và tiêu diệt những địch thủ của mình, còn bây giờ cái gọi là "sinh hoạt dân chủ" của ÐCS không còn cần thiết cho ông ta nữa: ông đã là chủ của ÐCS rồi. Ðây là một ví dụ rất dễ thấy. Khoảng cách giữa đại hội 14 và 15 là 2 năm (1925-1927), giữa đại hội 15 và 16 là 3 năm (1927-!930), giữa đại hội 16 và 17 là 4 năm (1930-1934), giữa đại hội 17 và 18 là 5 năm (1934-1939), giữa đại hội 18 và 19, đại hội cuối đời của Stalin, là 13 năm (1939-1952). Và hội nghị TƯ đảng thì rất ít họp, đặc biệt từ hội nghị TƯ tháng 2.1947 bàn về nông nghiệp mãi đến 5 năm sau, tháng 8.1952 mới có hội nghị TƯ tiếp theo để bàn về đại hội 19 của đảng (xem: D.Volkogonnov. "Stalin", t.2, tr. 614). Còn BCT thì hầu như không khi nào họp đủ thành phần. Những quyết nghị của BCT được thực hiện chủ yếu bằng cách lấy chữ ký các ủy viên dưới văn bản dự thảo do Stalin sai người chuẩn bị sẵn. "Dân chủ" kiểu này thì ai mà dám không "tán thành" ý kiến của "lãnh tụ"!
Ðấy, ÐCS theo quan niệm của Marx cuối cùng đã biến hóa (metamorphose) thành "công cụ", "kẻ đầu sai" trong tay tên độc tài thực tế đã ngồi chồm hổm trên đầu ÐCS. Còn chế độ cộng sản mà Marx và Engels mô tả và Lenin khẳng định là "một triệu lần dân chủ hơn các chế độ dân chủ tư sản" thì hóa ra là một chế độ độc tài chuyên chế nhất trong lịch sử mang nặng tàn dư phong kiến, chế độ nông nô, thậm chí chế độ chiếm hữu nô lệ! Người viết không nói ngoa tí nào. Xin các bạn cứ nghĩ xem, việc ướp xác lãnh tụ để tôn thờ, có phải là thứ văn hóa pharaon thời cổ đại không? Việc bắt hàng 5 triệu người, có năm lên đến 7 triệu (ở đây, người viết dẫn số liệu "thận trọng nhất" của các sử gia Nga, còn các nhà nghiên cứu nước ngoài thì cho số liệu cao hơn, thấp nhất là 8 triệu, cao nhất là 15 triệu, còn theo báo cáo của chính phủ Anh tại Hội đồng Kinh tế và Xã hội của LHQ ngày 15.8.1950 thì 10 triệu - xem: M.Geller và A.Nekrich. "Lịch sử nước Ngă1917-1995)", t.2, tr.54) nhốt vào các trại tập trung để khai thác triệt để lao động không công của những tù nhân này, có phải là hình thức bóc lột của chế độ chiếm hữu nô lệ không? Việc tổ chức các tòa án chính trị hồi những năm 30, có phải là áp dụng mẫu mực của các tòa án giáo hội (inquisition) thời Trung cổ không? Việc Stalin không cho nông dân được có giấy thông hành (tiếng Nga là passport) để buộc chân nông dân, không cho rời khỏi nông thôn có phải là chế độ nông nô không? Cái kiểu tôn ty trật tự trong ÐCS và chế độ xô-viết với những đặc quyền đặc lợi quái gỡ nhất, có phải là tàn dư của văn hóa phong kiến hay không ?
Hồi đầu thế kỷ 20, Plekhanov đã từng cảnh báo những người cách mạng Nga rằng trong điều kiện nước Nga còn lạc hậu, nền công nghiệp chưa phát triển cao, giai cấp vô sản công nghiệp chưa trưởng thành mà đòi làm cách mạng vô sản thì nhất định không tránh khỏi đưa đến một chế độ độc tài không hạn chế. Lời cảnh báo linh nghiệm biết bao đã bị Lenin và những người bolsheviks gạt bỏ!
Ðối với QTCS và PTCSQT:
Càng ngày Stalin càng thấy rõ "tiên đoán thiên tài" của Lenin về cách mạng vô sản thế giới sắp bùng nổ là chuyện vớ vẩn, viễn vông. Nhưng ông ta cũng còn cần mạng lưới tay sai ở các nước, cho nên vẫn gắng gượng duy trì QTCS trong chừng mực cần thiết cho đường lối chính trị của ông. Vì thế, tiền, vàng, châu báu đổ ra để cấp cho tổ chức này tuy vẫn tiếp tục như trước, nhưng khối lượng ngày càng giảm bớt. Hơn nữa, Stalin e ngại tổ chức này có thể là "hang ổ" cho những lực lượng đối lập chống lại ông, vì hai chủ tịch BCH QTCS là Zinoviev (1919-1926) và Bukharin (1926-1929) và nhiều cán bộ QTCS đã bị ông hành quyết, nên ông cũng muốn sớm kết liễu tổ chức này. Không phải Stalin không còn ý định chinh phục thế giới nữa, nhưng ông tính làm việc đó bằng cách khác, thông qua cơ quan công an mật vụ, mạng lưới gián điệp, cùng với sự liên hệ trực tiếp với các nhóm khủng bố, các ÐCS đã hình thành trên các nước và được Liên Xô nuôi dưỡng, đào luyện. Chính Dimitrov, chủ tịch cuối cùng của BCH QTCS cũng cảm thấy thái độ lạnh nhạt của Stalin đối với tổ chức mà ôngï đang phụ trách, nên cũng "tự nguyện" đề nghị giảm bớt "chức năng" của QTCS đi. Ðến năm 1943, Stalin vin cớ cần làm yên lòng các nước đồng minh để mở rộng mặt trận chống phát xít, đã tự ý tuyên bố giải tán QTCS mà chẳng thấy cần phải tuân theo "nghi thức dân chủ" của một tổ chức quốc tế "độc lập". Còn Dimitrov, chủ tịch BCH QTCS, thì được chuyển sang làm trưởng ban đầu tiên của Ban quốc tế của TƯ ÐCSLX (xem: "Sự tan rã. Nó đã chín muồi như thế nào trong "hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới", tác giả V. Medvedev, nguyên ủy viên BCT, bí thư TƯ ÐCSLX thời Gorbachev, M.1994, tr.19). Trong cung cách Stalin giải tán QTCS, ta thấy rõ toàn bộ tính chất bù nhìn, bung xung, đầu sai của tổ chức này.
Ðến năm 1947, Stalin thấy cần có một tổ chức quốc tế để phối hợp lực lượng cộng sản thế giới dưới sự chỉ huy của ÐCSLX, hơn nữa ông ta muốn các ÐCS cầm quyền, nhất là ở Ðông Âu, đều thống nhất (unification) chế độ của mình theo một mẫu mực chung, nên mùa thu năm ấy một tổ chức bao gồm 9 ÐCS Âu châu (Liên Xô, Nam Tư, Bulgaria, Rumanie, Hungaria, Ba Lan, Tiệp Khắc, Pháp và Ý) gọi là "Cục thông tin quốc tế" (Kominform) đã được lập ra. Có thể nói, Kominform có tham vọng trong chừng mực nào đó kế tục sự nghiệp của QTCS (Komintern).
Cái mẫu mực chung mà Stalin muốn phổ biến cho các nước dưới quyền cai trị của các ÐCS cố nhiên là mô hình xô-viết. Nhưng Tito và một số lãnh tụ ÐCS ở Ðông Âu ngay từ đầu đã cảm thấy không thể rập khuôn theo mô hình chế độ xô-viết được. Gomulka hồi đó đã nói đến "con đường Ba Lan" tiến tới chủ nghĩa xã hội; những người cộng sản Bulgaria cũng nói khéo nước họ là "cộng hòa nhân dân" chứ không phải là "cộng hòa xô-viết"; nhà hoạt động Hungarie Rivai nói: ở Hungarie mà tính chuyện thành lập nông trang tập thể (kolkhoz), tức là "việc làm của bọn khiêu khích và phá hoại"... Một điều nên nhắc lại là sau thế chiến thứ hai, uy tín của Tito và ÐCS Nam Tư (tên chính thức là Liên minh những người cộng sản Nam Tư)ø rất lớn, chỉ đứng sau Stalin và ÐCSLX mà thôi. Vì ÐCSNT dưới sự lãnh đạo của Tito đã kiên cường "đơn thương độc mã" chiến đấu chống quân phát xít Ðức-Ý và tự mình giải phóng đất nước. Cho nên lúc đầu trong Kominform ảnh hưởng của ÐCSNT khá lớn. Ðiều đó, cố nhiên, không làm Stalin thích thú. Hơn nữa, Stalin muốn ép Nam Tư rập khuôn theo mẫu mực xô-viết của mình và gặp phải sự chống đối của Nam Tư. Ðó là nguồn gốc sâu xa của những xung đột giữa Stalin và Tito, giữa hai ÐCS và hai nước Liên Xô và Nam Tư. Tháng 6.1948, dưới sự đạo diễn của Stalin, Kominform đã họp ở Bucarest gồm đại biểu 8 ÐCS (Nam Tư không đến họp) để buộc tội những người lãnh đạo ÐCSNT là theo "chủ nghĩa dân tộc" và khai trừ ÐCSNT ra khỏi Kominform. Về sau Stalin còn mở một chiến dịch lớn bôi nhọ "bè lũ xét lại Nam Tư đứng đầu là Tito", thậm chí vu khống Tito là "gián điệp", "tay sai của đế quốc". Hầu hết các ÐCS trên thế giới đã hùa theo Stalin và Kominform để chống Tito và cô lập Nam Tư. Thế nhưng, Nam Tư vẫn tồn tại, còn Kominform, một tổ chức bị bại liệt bẩm sinh, không có sức sống, nên lần hồi đã lặng lẽ chết không kèn không trống (xem: "Lịch sử Liên Xô" của sử gia người Ý nổi tiếng Giuseppe Boffa, t.2, bản tiếng Nga, tr. 361-363).
Dù QTCS không còn nữa mà Kominform thì èo uột, nhưng Stalin vẫn dựa vào uy lực cá nhân của mình cũng như sức mạnh quân sự của Liên Xô để điều khiển các ÐCS "đàn em" và cố sức mở rộng phạm vi ảnh hưởng của đế quốc cộng sản. "Bàn tay Moskva" đã can thiệp vào việc nội bộ và nhen nhóm các cuộc nội chiến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, v.v... đã dựng lên cái gọi là "chế độ dân chủ mới" với những chính phủ bù nhìn ở Ðông Âu, Bắc Triều Tiên, đã giúp chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Trung Quốc, Việt Nam, v.v...
Cũng nên nhắc đến mưu đồ của Stalin và Mao Trạch Ðông gây ra chiến tranh Triều Tiên hồi năm 1950 với mưu đồ thôn tính Nam Triều tiên đã gieo rắc biết bao tang tóc, xương máu cho người dân. Ðó là chưa nói đến việc Stalin hồi đầu thập niên 50 đã có một kế hoạch chuẩn bị tấn công "giải phóng" châu Âu mà nhà sử học Tiệp Khắc Karel Kaplan đã phát giác trong sách "Dans les Archives du Comité Central. Trente ans de secret du Bloc soviétique" (tr.165-167). Cuối những năm 40, Stalin nhận định tình hình thế giới và đi đến kết luận: nửa đầu thập niên 50 sẽ là thời điểm thuận lợi nhất để giáng một đòn quyết định vào châu Âu tư bản chủ nghĩa và thiết lập ở đấy chế độ xã hội chủ nghĩa. Ðể thực hiện âm mưu này, cần phải kiềm chế được Hoa Kỳ, và Liên Xô ra sức chạy đua võ trang trong lĩnh vực nguyên tử, đến năm 1949 Liên Xô đã có được bom nguyên tử. Theo tài liệu bí mật lưu trữ ở ÐCS Tiệp Khắc mà Kaplan công bố thì hồi tháng 1.1951, Stalin, Molotov đã họp bí mật với lãnh tụ và chỉ huy quân sự cao cấp những nước cùng phe ở Ðông Âu bàn về việc chuẩn bị trong vòng 3-4 năm thực hiện kế hoạch tấn công "giải phóng" châu Âu (xem: M.Geller và A.Nekrich. "Lịch sử nước Nga (1917-1995)", t.2, tr.67, 68). Về điều phát giác của Kaplan thì kẻ viết bài này không đủ điều kiện để xác minh, nhưng cũng xin nói rõ là: căn cứ theo tài liệu lịch sử thì đúng là hồi tháng 1.1951, đã một cuộc hội nghị quan trọng có mặt các tổng tham mưu trưởng và bộ trưởng quốc phòng các nước "dân chủ nhân dân" Âu châu mà Stalin đã tự thân tham dự để kiểm điểm tình trạng sẵn sàng chuẩn bị của lực lượng võ trang các nước này, và tại hội nghị đó Stalin đã khẳng định là chỉ có thể có được một thời kỳ "tạm nghỉ" 3-4 năm mà thôi để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới, vì ông cho rằng cuộc chiến tranh Triều Tiên mới chỉ là cuộc thử sức đầu tiên của hai địch thủ. Trước khi kết thúc hội nghị, người ta đã ký một hiệp định bí mật, theo đó khi xảy ra chiến tranh, các đồng minh của Liên Xô có trách nhiệm phải chuyển giao quân đội của mình dưới quyền chỉ huy trực tiếp của bộ chỉ huy xô-viết. Ðồng thời, người ta cũng đã duyệt lại một cách căn bản các kế hoạch kinh tế của các nước "dân chủ nhân dân" nhằm tăng cường phát triển hơn nữa công nghiệp nặng và công nghiệp quân sự (chính việc này đã gây ra sự mất cân đối trầm trọng sau này trong nền kinh tế của các nước này, nhất là đối với nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng). Công việc đang khai triển thì đến tháng 3.1953, Stalin chết, nếu không thì những kế hoạch phiêu lưu của kẻ độc tài sẽ còn gây thêm biết bao núi xương và sông máu nữa cho nhân loại để thực hiện mục tiêu cuối cùng của PTCSQT.
E. "Cống hiến" của Mao Trạch Ðông vào việc xây dựng ÐCS
Sau những trận tranh quyền quyết liệt trong nội bộ ban lãnh đạo, cuối cùng Mao Trạch Ðông đã giành được quyền lực trong ÐCS hồi năm 1935. Việc đầu tiên họ Mao nghĩ đến là làm sao nắm chắc được "công cụ đảng" trong tay mình. Sống trong hoàn cảnh một nước Á châu không có chút truyền thống dân chủ nào mà mang nặng văn hóa phong kiến, Khổng giáo, Mao và phe cánh hiểu được sự cần thiết phải khai thác triệt để đầu óc sùng bái và tuân phục của thần dân đối với "thiên tử", cho nên đã đặc biệt coi trọng việc "tẩy não" và "nhồi sọ" trong đảng, quân đội và trong dân chúng. Ðiều đó họ gọi là "công tác tư tưởng", với mục tiêu làm cho mỗi đảng viên cộng sản, cũng như mỗi thần dân trong chế độ "xã hội chủ nghĩa" mất hết cá tính, mất hết năng lực và thói quen tư duy độc lập, làm cho toàn ÐCS, toàn dân Trung Quốc sùng bái, thần thánh hóa đến độ cuồng tín để biến trên 600 triệu người sẽ trở thành một "công cụ" dễ bảo, một cái "đinh ốc bé tí" trong tay họ Mao và ÐCS. Ðể đạt được cái mục tiêu đó, Mao và phe cánh đưa ra một phương pháp gọi là "chỉnh phong". Qua quá trình "chỉnh phong", đảng (và cả công an mật vụ) nắm được "tư tưởng" của đảng viên, đoàn viên, cán bộ, quân nhân... để tiến hành "đấu tranh tư tưởng" và "cải tạo tư tưởng" cho những người bất đồng chính kiến. Thông thường những cuộc chỉnh phong đều kèm theo những cuộc đấu đá, xỉ vả, lăng nhục, đày ải cán bộ, trí thức về nông thôn để "lao động cải tạo" hay thậm chí bắt bớ, tù đày cán bộ, trí thức trong các "trại lao cải", một kiểu GULAG made in China. Chỉnh phong là "cống hiến" độc đáo nhất của họ Mao vào "kho tàng chủ nghĩa Marx-Lenin" mà nhiều ÐCS châu Âu, châu Mỹ không thể nào hiểu nổi và học nổi!
Họ Mao còn có một "sáng kiến" nữa là khi cần đấu tranh giành và giữ quyền lực, ông ta không ngần ngại huy động quần chúng cuồng tín chống lại ÐCS: khi phátđộng làm "đại cách mạng văn hóa" ông đã cho "hồng vệ binh" "tạo phản" nã súng bắn vàođảng mà ông ta gọi là "bộ tham mưu xét lại, hữu khuynh". Về thực chất cũng như hậu quả, cuộc "đại cách mạng văn hóa" của Mao không khác mấy cuộc "đại khủng bố" 1937-1938 của Stalin.
***
II. ÐÔI ĐIỀU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (ÐCSVN)
Ở đây, chúng tôi không trình bày lịch sử ÐCSVN, mà chỉ phác qua đôi điều nhận xét về ÐCSVN.
1. Khách quan mà xét, trong sự xuất hiện của Ðảng cộng sản Việt Nam/Ðảng cộng sản Ðông Dương (xin viết gọn là ÐCSVN) trên sân khấu chính trị nước ta, những yếu tố bên ngoài đóng vai trò chính yếu. Cố nhiên, không có những yếu tố trong nước - tình hình kinh tế, xã hội, đấu tranh của dân chúng - thì không thể xuất hiện được đảng, nhưng phải nói thẳng rằng khi lập ÐCSVN và trong buổi đầu tồn tại của đảng, những yếu tố bên ngoài thực tế đã đóng vai trò chủ yếu. Cả ý thức hệ, tức là tư tưởng, chủ nghĩa, cả đường lối cụ thể, tức là chiến lược, sách lược, cả các quan điểm về ÐCS ... đều du nhập từ nước ngoài. Các chỉ thị cụ thể về xây dựng đảng đều được đề ra bởi người nước ngoài. Tiền tài, phương tiện vật chất ... đều do nước ngoài cung cấp. Thậm chí cán bộ cũng do nước ngoài tuyển lựa, nuôi dưỡng, đào tạo rồi đưa về Việt Nam. Ðó là một thực tế kéo dài trong nhiều năm tồn tại của ÐCSVN. Ðể minh họa điều vừa nói, xin nêu vài tài liệu cụ thể. Trong tác phẩm "Việc đào tạo những nhà cách mạng Việt Nam trong các trường đại học của nước Nga xô-viết trong những năm 20-30" của nhà Việt học A. Sokolov, có đưa ra con số 67 người Việt Nam đã được nước Nga xô-viết đào tạo từ năm 1925 đến khoảng năm 1936 (trong bài của A. Sokolov tính đến năm 1938, đó là trường hợp của Lin, hay Linov, tức là Nguyễn Aùi Quốc, nhưng điều đó chỉ là trên giấy tờ mà thôi, thực tế hồi đó, Lin, hay Linov không còn học ở Moskva nữa). Con số này tác giả đã sưu tập rất công phu khi nghiên cứu ở kho lưu trữ của Cộng Sản Quốc Tế, cộng số học viên Việt Nam đến học ở Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Ðông (tiếng Nga viết tắt là KUTV), Trường quốc tế Lenin (MLSH) và Học viện nghiên cứu khoa học các vấn đề dân tộc và thuộc địa (NIINKP). Con số này chắc chắn là chưa đầy đủ, vì tác giả không thể biết hết các bí danh học viên Việt Nam đã dùng, không biết được số học viên các trường đặc biệt rất bí mật của ngành quân sự và mật vụ, cũng như có một số người Ðông Dương do ĐCS Pháp cử đến học ở các trường nói trên lại mang tên Pháp nên không thể đoán được (xem sách: "Nước Việt Nam truyền thống", Quyển 2, Moskva, 1996, tr. 143-177).
Còn để bạn đọc biết rõ phần nào nguồn tài chính QTCS đã chi ra cho việc chuẩn bị thành lập ÐCSVN, chúng tôi chỉ xin dẫn một trong nhiều tài liệu về vấn đề này còn lưu trữ tại RSKHIDNI. Ðó là biên bản cuộc họp ngày 3.3.1927 tại Canton (Quảng Châu) của ba người là Doriot, Voline (đại diện cho Phân bộ) và Lee (ghi theo biên bản, có lẽ đọc là Lý, hồi đó Lý, hay Lý Thụy, làm việc cho Borodin - trong văn bản tiếng Nga có chú thêm: Nguyễn Aùi Quấc) để bàn về vấn đề: chính trị, tổ chức và ngân sách. Biên bản có ghi rõ: "giao cho Doriot viết tuyên ngôn gửi thanh niên Ðông Dương, còn Lee làm dự chi để gửi lên QTCS (Cộng Sản Quốc Tế)". Ðồng thời ở đây cũng kèm luôn "tờ trình" (RSKHIDNI, Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 555, tr. 5) về các dự chi trong năm:
a/ đưa đến Canton 100 tuyên truyền viên: 200 $ X 100 người = 20 000 $ (đô la Trung Quốc);
b/ tối thiểu 10 tuyên truyền viên tự do (chúng tôi không hiểu chữ "tự do" ở đây nghĩa là gì - NMC): 150 $ X 10 = 1 500 $;
c/ nhà in, giấy, việc in ấn = 1 500 $;
d/ chi phí về tổ chức = 7000 $;
e/ đưa 100 người đến học viện quân sự Wampoa (Hoàng Phố) = 5 000 $;
f/ chi phí bất thường = 5 000 $; tổng cộng = 40 000 $ (đô la Trung Quốc).
Chắc cái dự chi này về sau không được thực hiện tất cả, vì phái bộ Borodin quá lợi dụng sự thân thiện của Quốc Dân Ðảng Trung Quốc đã mở rộng hoạt động mạnh mẽ để gieo cấy các tổ chức cộng sản và gián điệp xô-viết vào các nước châu Á và ngay cả ở Trung Quốc, nên cuối cùng cả phái bộ đã bị chính phủ Trung Hoa Dân quốc trục xuất hồi cuối năm 1927.
Cố nhiên, ngày nay, ban lãnh đạo ÐCSVN không thích nói đến những điều này, họ muốn "đề cao" tính chất "độc lập" của đảng. Nhưng "độc lập" như thế nào được, khi chính Nguyễn Ái Quốc đã nói trong bài giảng cho cán bộ hồi năm 1926: "... Ðệ Tam Quốc tế là một ÐCS thế giới. Các đảng các nước như là chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Ðệ Tam Quốc tế thì các đảng không được làm" (xem: Hồ Chí Minh. T.1) ? Việc ra đời của ÐCSVN hồi năm 1930 cũng là theo chỉ thị QTCS. Sau khi đại hội "Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội" (1929) xin gia nhập QTCS, BCH QTCS có gửi thư trả lời, phê phán những sai lầm hay thiếu sót trong đường lối cũng như trong điều lệ và chỉ thị cụ thể về cách thức xây dựng ÐCS. Sau đó, QTCS còn ra một chỉ thị nữa vào ngày 27.10.1929 "về việc thành lập một ÐCS Ðông Dương" với những hướng dẫn cụ thể về nhiều mặt. Những chỉ thị này kèm theo những sự giúp đỡ về vật chất và cán bộ đã tạo điều kiện cho sự ra đời của ÐCS trên bán đảo Ðông Dương hoàn toàn theo đúng tiêu chuẩn của QTCS.
Không thể phủ nhận rằng nhiều người Việt Nam đã đến với QTCS vì lòng yêu nước. Nhưng khi họ đã tiếp thụ say mê chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin thì chủ nghĩa quốc tế vô sản (cụ thể là giành chuyên chính vô sản trên phạm vi thế giới) đã trở thành mục tiêu tối thượng của họ, và họ theo sách lược của Lenin-Stalin khéo léo lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc để cướp chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản trên đất nước mình nhằm tiến tới mục tiêu tối thượng của họ và QTCS. Cho nên việc theo "mệnh lệnh và kế hoạch của Ðệ Tam Quốc tế" là điều dĩ nhiên đối với họ. Nói chung, những người cộng sản trên thế giới đều coi việc giành chuyên chính vô sản ở nước mình, cũng như mở rộng chuyên chính đó ra các nước khác đều là "làm nghĩa vụ quốc tế".
2. ÐCSVN ra đời hồi năm 1930 đúng vào lúc chủ nghĩa Stalin đã hoàn toàn thống trị ở Liên Xô và trong toàn bộ PTCSQT, do đó từ thời ấu thơ đã tiếp thụ sâu đậm lý luận và thực hành chẳng những của chủ nghĩa Lenin, mà cả của chủ nghĩa Stalin. Chủ nghĩa Lenin mà ÐCSVN tiếp thụ từ đầu là qua sự lý giải, diễn dịch của Stalin, qua các sách của Stalin, như "Nguyên lý chủ nghĩa Lenin" (1924), "Những vấn đề của chủ nghĩa Lenin" (1926). Vì thế có thể nói không sai rằng ÐCSVN tiếp thụ chủ yếu là chủ nghĩa Stalin. Theo quyết định của QTCS, trong thời gian đầu khá dài, hai ÐCS Trung Quốc và Pháp được giao nhiệm vụ "đỡ đầu" ÐCSVN. Vì vậy, ÐCSVN còn chịu thêm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của chủ nghĩa Mao. Việc Nguyễn Ái Quốc vốn là đảng viên của ÐCSTQ, từng phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc, và việc Stalin thỏa thuận với Mao Trạch Ðông hồi năm 1950 giao cho Trung Quốc phụ trách Việt Nam càng làm sâu đậm thêm ảnh hưởng chủ nghĩa Mao đối với Việt Nam.
Cái tinh thần sùng bái Stalin và Mao Trạch Ðông trong ÐCSVN đã có một thời gian dài rất nặng, chủ yếu là do các lãnh tụ và bộ máy tuyên truyền của đảng gieo rắc cho cán bộ, đảng viên, rồi truyền ra dân chúng. Chính kẻ viết bài này đã nhiều lần chứng kiến hiện tượng đó. Chẳng hạn, hồi năm 1950, lúc còn làm ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Thừa Thiên, đã được TƯ ÐCS (lúc bấy giờ là ÐCS Ðông Dương) triệu tập ra chiến khu Việt Bắc dự hội nghị cán bộ để chuẩn bị cho đại hội 2 của đảng vào năm sau. Tại hội nghị đó, Hồ Chí Minh đã giải thích về chủ trương đổi tên ÐCS Ðông Dương thành Ðảng lao động Việt Nam. Sau khi giải thích lợi ích của việc đổi tên đảng là để đảng dễ dàng gần gũi, lôi kéo nhiều tầng lớp dân chúng, nhất là các tầng lớp trên, cả miền Bắc lẫn miền Nam đang còn nghi ngại đảng, ông giơ cao nắp hộp thuốc lá thơm Craven "A" của ông lên về phía có nhãn hiệu thuốc và nói: "Ðây là Ðảng cộng sản", rồi ông quay phía trong nắp không có nhãn hiệu và nói: "Còn đây là Ðảng lao động". Ông lại lớn tiếng hỏi: "Thế thì các cô, các chú thấy có khác gì nhau không?" Cả hội trường đồng thanh đáp vang: "Dạ không ạ!". Ông nghiêm nghị nói: "Các cô, các chú nên biết rằng việc đổi tên đảng ta, Bác đã xin ý kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Ðông rồi (chúng tôi được biết hồi đó ông vừa đi Moskva về), các đồng chí đã đồng ý. Các cô, các chú nên biết rằng: ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được". Cả hội trường vỗ tay rầm rầm. Tại đại hội 2 của đảng (1951), Hồ Chí Minh cũng đã có những lời tuyên bố tương tự. "Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được". Bạn đọc có thấy không, cái đó là cái gì, nếu không phải là sự sùng bái Stalin và Mao Trạch Ðông đến độ mù quáng? Ðây là một chuyện thật 100%, những người cùng thời với chúng tôi đều biết rõ và nhớ kỹ những chuyện như thế, tiếc rằng không mấy ai chịu viết sự thật lên giấy trắng mực đen!
Ðể chứng minh bằng "giấy trắng mực đen" là Hồ Chí Minh đã hết sức đề cao Stalin và Mao Trạch Ðông như thế nào, chúng tôi đành phải dẫn ra vài câu trong "Tuyển Tập Hồ Chí Minh" xuất bản bằng tiếng Pháp hồi năm 1962 (chúng tôi dùng chữ "đành phải" vì lần xuất bản này xảy ra sáu năm sau đại hội 20 ÐCSLX, là đại hội đã vạch trần những tội ác của Stalin, nên nhiều câu ông Hồ ca ngợi Stalin có thể đã bị xóa bỏ từ lâu rồi): "La révolution vietnamienne doit apprendre et a beaucoup appris de l’expérience de la révolution chinoise. L’expérience de la révolution chinoise et la pensée de Mao Tsé Toung nous a permis de mieux comprendre la doctrine de Marx-Engels-Lénine-Staline. Les révolutionnaires vietnamiens doivent en garder le souvenir et se montrer reconnaissants" - Cách mạng Việt Nam phải học và đã học nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc. Kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Ðông đã giúp cho chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết của Marx-Engels-Lenin-Stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Ðông về sự cống hiến to lớn đó (xem: Hồ Chí Minh. Oeuvres Choisies, t.2, Ele, Hanoi, 1962, p. 221-222). Như vậy là những người cộng sản Việt Nam lĩnh hội chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin qua sự lý giải và thực hành của Mao Trạch Ðông, qua tư tưởng Mao Trạch Ðông. Tại đại hội 2 ÐCSVN (2.1951), đại hội đã quyết định rằng cơ sở tư tưởng của Ðảng lao động Việt Nam (tức là ÐCSVN) là chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Ðông. Cũng xin nói thêm, đến năm 1986, khi xuất bản "Toàn Tập Hồ Chí Minh" bằng tiếng Việt - tức là sau khi ÐCSVN và ÐCSTQ đã mâu thuẫn nhau cao độ, thậm chí đem quân đánh nhau dữ dội ở biên giới Viê.t-Trung - thì trong bài này "người ta" đã cố tình cắt bỏ một đoạn, trong đó có những câu vừa nói trên (xem: Hồ Chí Minh. Toàn Tập. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t.6, tr. 12)! Và đây chẳng phải là trường hợp duy nhất của lối làm việc không trung thực khi xuất bản "Toàn Tập Hồ Chí Minh".
Trong "văn học nghệ thuật cung đình" Việt Nam, một thời gian dài đã vang lên bao nhiêu bài thơ, bài ca tôn vinh Stalin, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh như những bậc thánh sống. Tố Hữu, người cai quản văn nghệ "xã hội chủ nghĩa" một thời, là nhà thơ chuyên làm những bài tụng ca các vị thánh sống đó:
... "Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Stalin bên cạnh nhi đồng
Áo Ông trắng giữa mây hồng
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười" ...
... "Hoan hô Stalin!
Ðời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hòa bình
Ðứng đầu sóng ngọn gió!
Hoan hô Hồ Chí Minh!
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến!" ...
... ”Stalin! Stalin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ông đã ... làm sao, mất rồi!
Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!
Hởi ơi, Ông mất! Ðất trời có không ?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương Ông thương mười
Yêu con, yêu nước, yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!"...
Còn Ðỗ Nhuận, tổng thư ký Hội âm nhạc, hết lời ca tụng các "lãnh tụ" kính yêu trong ca khúc của mình:
... "Việt Nam Trung Hoa,
Núi liền núi, sông liền sông,
Chung một biển Ðông,
Mối tình hữu nghị sáng như vừng Ðông.
Anh ở bên ấy, tôi ở bên đây,
Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy rộn,
....
Chung một ý, chung một lòng,
Ðường cách mạng thắm màu cờ hồng
A! A ...
Nhân dân ta ca muôn năm
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông!" ...
Tóm lại, trong một thời gian rất dài, trong thời kỳ bí mật cũng như sau khi cướp được chính quyền, Stalin và Mao Trạch Ðông là những mặt trời, những ngôi sao, những ngọn cờ vẫy gọi ÐCSVN, còn ÐCSLX và ÐCSTQ thật sự là mẫu mực cho ÐCSVN rập khuôn cả về tư tưởng, cả về lề lối sinh hoạt lẫn về kiểu cách tổ chức bộ máy đảng-nhà nước ...
3. ÐCSVN vốn là một phân bộ của QTCS, một bộ phận của PTCSQT. Mà QTCS xây dựng trên những nguyên tắc tập trung dân chủ, cho nên ÐCSVN, cũng như tất cả các ÐCS khác, phải tuyệt đối phục tùng một trung tâm, trung tâm đó về hình thức là BCH QTCS, về thực chất là tập đoàn thống trị ÐCSLX. Ðúng như Nguyễn Ái Quốc đã nói: "Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Ðệ Tam Quốc tế thì các đảng không được làm". Ðiều này nói lên sự lệ thuộc chặt chẽ của ÐCSVN vào tập đoàn thống trị ÐCSLX (và ÐCSTQ) trong một thời gian dài. Trong thời gian đó, sự sùng bái cá nhân Stalin và Mao Trạch Ðông trong ÐCSVN làm cho sự lệ thuộc này càng trầm trọng thêm.
4. Các lãnh tụ cộng sản Việt Nam thường quả quyết rằng với sự ra đời của ÐCSVN, từ năm 1930, "quyền lãnh đạo (cách mạng Việt Nam - NMC) hoàn toàn về giai cấp vô sản" (xem: Lê Duẩn. "Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam". Hà Nội. 1956), vì giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất như Marx đã nói. Cứ cho rằng "phát kiến" của Marx là một định đề (postulat) không cần phải chứng minh nữa (dù trên thực tế, "phát kiến" đó đã bị thực tế bác bỏ), thì thử hỏi: khi ra đời, ÐCSVN có phải là đảng của giai cấp vô sản không? Hồi đó, ở Việt Nam/Ðông Dương đã trải qua cách mạng công nghiệp chưa? Ðã có giai cấp vô sản chưa? Nếu không có thì làm sao có thể coi ÐCSVN là đảng của giai cấp vô sản được? Và nếu nó không có tính chất vô sản thì nó mang tính chất gì? Giải đáp những câu hỏi này rất cần thiết, vì xây dựng đảng cũng giống như xây cất một ngôi nhà, cái nền móng giai cấp đầu tiên vô cùng quan trọng - trong những giai đoạn sau, khó mà thay đổi bản chất của nó được.
Theo những tài liệu công bố của nhà nghiên cứu mác-xít Trần Văn Giàu, vào năm 1929, ở Ðông Dương có 220 ngàn công nhân, trong đó đông nhất là công nhân và viên chức trong các ngành công nghiệp và thương nghiệp 86 ngàn người (39%) , công nhân đồn điền 81 ngàn người (độ 36,8%), công nhân mỏ 53 ngàn người (24%). Trần Văn Giàu lưu ý người đọc rằng đó chưa kể thợ may, thợ cạo, thợ giặt, chèo thuyền, đánh xe ngựa, kéo xe tay, bồi bếp, v.v... rất đông, lại chưa kể thầy giáo trường công, trường tư, trường đạo (xem: Trần Văn Giàu. "Giai cấp công nhân Việt Nam". Hà Nội 1958, tr.169). Chẳng riêng gì Trần Văn Giàu, nói chung giới "học giả mác-xít" của Hà Nội đều có khuynh hướng cố vơ vào giai cấp vô sản nhiều lớp người khác để chứng minh là ở Việt Nam/Ðông Dương đã có một giai cấp vô sản "đàng hoàng" trước khi thành lập ÐCS, từ đó chứng minh "quyền lãnh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản" đã được xác lập vững chắc. Họ thường cố ghép bừa các lớp người không thuộc về giai cấp vô sản vào một chữ chung chung là "công nhân", mà lờ đi khái niệm rõ ràng của Marx và Engels về giai cấp vô sản "là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, do cách mạng công nghiệp đẻ ra". Phải nói rằng về mặt này, tiếng Việt trước đây đã khá chính xác: trước năm 1945, trong từ vựng của dân tộc đã phân rõ các lớp người trong xã hội bằng những từ "thợ", "phu" và "thầy".... Người ta nói "thợ", "thợ máy", "thợ thủ công", v.v... (từ tập hợp là"thợ thuyền"), "phu", "phu đồn điền", "phu mỏ", "phu khuân vác", v.v... (từ tập hợp là "phu phen"), "thầy", "thầy ký", "thầy thông", "thầy giáo", v.v... một cách rất bình thường, hoàn toàn không có tinh thần kỳ thị. Nhưng sau tháng 8 năm 1945, những người cộng sản chỉ cho dùng một chữ "công nhân" cốt làm cho sự phân biệt đó bị xóa nhòa, làm tăng số lượng "giai cấp công nhân".
Xét về bản chất giai cấp vô sản theo đòi hỏi của Marx, thì phải nhận thấy rằng ngay cả thợ thuyền trong nhà máy ở Ðông Dương hồi những năm 20, 30 phần đông vẫn còn quan hệ kinh tế chặt chẽ với nông thôn, nhiều người có ruộng đất ở làng quê, như thế theo Marx, Lenin, là có sở hữu tư nhân. Thợ thuyền, phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân vác... hồi đó, phần đông xuất thân từ nông dân, lớp nghèo thành thị và lớp "đáy" xã hội mà Marx gọi là "lumpen-prolétariat" (vô sản lưu manh), điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, tâm lý, não trạng của cái gọi là "giai cấp vô sản" Việt Nam/Ðông Dương. Với chất liệu xã hội như thế để xây dựng đảng, thì làm sao ÐCS mang được tính chất vô sản? làm sao có thể gọi ÐCSVN là đảng vô sản được? Ðiều này càng về sau càng đẻ ra hậu quả cho dân tộc và cả cho cái gọi là sự nghiệp "vô sản" nữa.
Dù cho cứ gọi chung tất cả khối người đó là công nhân, như các nhà nghiên cứu của đảng đã quyết đoán "lấy được", và cứ giả dụ họ là một "giai cấp vô sản" thật, "sinh ra từ cuộc cách mạng công nghiệp" thật (dù cuộc cách mạng đó không có ở Ðông Dương và Việt Nam!), theo đúng tiêu chuẩn của Marx thật, thì cái tỉ lệ 1,1% công nhân (mà tuyệt đại đa số là mù chữ, không có học vấn hoặc có cũng rất thấp) so với dân số Việt Nam hồi đó (220 ngàn so với khoảng 20 triệu người; theo tài liệu của QTCS thì thống kê dân số toàn Ðông Dương hồi năm 1928 có 20 413 504 người, trong đó người Âu, không kể quân đội, là 20 528 người, dân nhập cư người Á, phần lớn Hoa kiều, là 688 317 người, "người An Nam" 19 700 695 người) thì làm sao có thể khẳng định cái tỉ lệ rất bé nhỏ đó lại nhất định phải có "quyền lãnh đạo hoàn toàn" đối với đại khối dân chúng gồm 98,9% dân số? làm sao có thể khẳng định được rằng ÐCSVN là của giai cấp vô sản và nhất định đảng ấy phải nắm độc quyền lãnh đạo đất nước? Thật ra, ngay cả những "nhà lãnh đạo" của ÐCSVN không mấy ai hồi đó đã đọc nổi các tác phẩm chủ yếu của các vị tổ sư của chủ nghĩa cộng sản, nhiều người may lắm là được biết vài nét sơ lược, thế thì làm sao dám quả quyết là "quyền lãnh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản" được? Hơn nữa, các "nhà lãnh đạo" đó phải chăng là vô sản? Trong một tài liệu của QTCS bằng tiếng Pháp, nhan đề "Questions intérieurs du Parti et les fautes opportunistes dans le Parti. Tâches imédiates" (Những vấn đề nội bộ của Ðảng và những sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong Ðảng. Những nhiệm vụ trước mắt), bài nói ngày 21.9.1931 (RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 561, tr.1-5) có nhận xét như sau: "những sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong ÐCSVN là do nguồn gốc xã hội của đảng"... "thành phần xã hội của đảng rất xấu, đa số là trí thức"... "tiểu tư sản thống trị", nên trong đảng có nhiều phần tử cơ hội. Ðó là cách nhìn của QTCS đối với ÐCSVN, chúng tôi muốn giới thiệu mà không bình luận để bạn đọc rộng đường suy nghĩ.
Vì thế không lấy làm lạ khi thấy những thành phần không vô sản hoặc thuộc tầng lớp vô sản lưu manh giữ vai vế trọng yếu trong ÐCSVN - tổng bí thư xuất thân là hoạn lợn, ủy viên BCT kiêm chủ tịch nước vốn là cai phu đồn điền từng đánh đập phu phen, ủy viên BCT xuất thân một tên móc túi lại vỗ ngực là công nhân, v.v... Biết bao hiện tượng đáng buồn chỉ làm tủi hổ giai-cấp-vô-sản-lý-tưởng của Marx, như có những ủy viên BCT luôn miệng răn dạy đảng viên về lòng trung thành thì hóa ra là đã từng khai báo phản bội hay thậm chí làm tay sai cho địch, kẻ chết rồi mới phát hiện ra, người bị vỡ lở khi còn tại chức... Nhưng, có lẽ, đáng buồn hơn cả là sự lây lan tính chất lumpen (lưu manh) từ lãnh đạo ra đảng viên, trong ÐCS ra ngoài dân chúng và đã tạo nên sự sa đọa rất trầm trọng về đạo đức, nhân cách và tinh thần trong đảng và ngoài xã hội. Mà hậu quả của tình trạng này không dễ dàng gì giải quyết trong một vài thế hệ dưới chế độ dân chủ. Quá trình lumpenization (lưu manh hóa) vừa nói thì không riêng gì ÐCSVN bị mà là một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các đảng cầm quyền. ÐCS càng hô khẩu hiệu "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa" bao nhiêu thì kết quả thu được càng ngược lại điều họ nói bấy nhiêu. Các bạn đọc đã từng sống dưới những chế độ khác nhau thì dễ dàng so sánh và thấy rõ điều này.
5. Ngay từ đầu, ÐCSVN được xây dựng theo đúng "lý luận" và mẫu mực của đảng Lenin và Stalin, nghĩa là một hội kín của những kẻ âm mưu, gồm phần lớn là "những người cách mạng chuyên nghiệp" được nuôi dưỡng, đào tạo và chỉ huy từ bên ngoài. Cái "tính chất âm mưu", "hành động khủng bố" thể hiện rõ trong hoạt động của đảng, thậm chí cả về sau này khi đảng đã nắm quyền rồi. Ngay cái nguồn tài chính của đảng suốt mấy chục năm hoạt động bí mật và kháng chiến dựa vào việc buôn lậu thuốc phiện cũng đủ nói rõ cái tính chất của đảng. Lúc mới thành lập, ÐCSVN nhắm mục tiêu trước mắt quan trọng nhất là cướp chính quyền bằng bạo lực, dưới sự chỉ huy của "những người cách mạng chuyên nghiệp". Cứ tỉnh táo nhìn vào thành phần xuất thân, trình độ học vấn, v.v.... của "những người cách mạng chuyên nghiệp" đó, thì dễ dàng nhận thấy họ là hạng người chỉ có khả năng tổ chức những cuộc âm mưu, khủng bố, đập phá, đàn áp, cưỡng bức, v.v... chứ không có khả năng làm công việc có tính xây dựng. Vì thế, trong suốt quá trình tồn tại, đầu óc sùng bái bạo lực của ÐCS rất nặng. Trường Chinh đã viết: "Từ ngày ra đời, luôn luôn trung thành với tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Marx-Lenin, ... đảng ta đã xác định con đường cách mạng bạo lực là con đường duy nhất đúng đắn để đánh đổ kẻ thù giai cấp và của dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân (đúng hơn là về tay một nhúm chóp bu trong đảng - NMC), bảo vệ chính quyền cách mạng, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi ..." (xem: Trường Chinh. "Ðời đời nhớ ơn Các Mác và đi con đường Các Mác đã vạch ra". Hà Nội, 1969, tr.47-49). Trường Chinh nói những lời này trong dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của K.Marx (1968), ngay sau vụ bắt bớ, giam cầm hàng loạt cán bộ đảng viên bất đồng với đường lối Mao-ít của hội nghị lần thứ 9 TƯ ÐCSVN. Bài nói của ông nói nhằm biểu thị thái độ của TƯ ÐCSVN chống đường lối của ÐCSLX và tỏ tình đoàn kết với phe Mao-ít trong ÐCSTQ, trước ngày Lưu Thiếu Kỳ đặt chân đến Hà Nội để mưu đồ tạo thế liên kết Trung - Việt chống Liên Xô. Những lời lẽ đó phản ánh đúng thực chất tư tưởng của các lãnh tụ cộng sản Việt Nam - đầu óc sùng bái bạo lực rất nặng, không chỉ khi cướp chính quyền và giữ chính quyền, mà cả khi xây dựng "xã hội mới".
Ðể hiểu rõ hơn thực chất của ÐCS là "một hội kín của những kẻ âm mưu", xin hãy nhìn lại lịch sử ngay từ thời kỳ thành lập đảng. Hồi năm 1929, ở Việt Nam đã có những tổ chức cộng sản xin gia nhập QTCS, đó là Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội và Tân Việt. Nhưng QTCS cho rằng những tổ chức đó chưa đủ tiêu chuẩn ÐCS và đã chỉ thị cho những tổ chức đó phải làm thế nào để trở thành ÐCS. Sau đó, cũng trong năm 1929, từ các tổ chức nói trên đã xuất hiện ba ÐCS - Ðông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng và Ðông Dương cộng sản liên đoàn. Cả ba tổ chức đó đều tự xưng là cộng sản nhưng lại kình chống nhau kịch liệt. QTCS bèn chỉ thị cho ba ÐCS đó phải thống nhất lại. Ngày 6 tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa phái viên của QTCS mời đại biểu ba đảng đến Hồng Kông họp để thống nhất. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng, các đại biểu giả vờ là khán giả xem bóng đá để họp. Có ba người đến họp: Trịnh Ðịnh Cửu, đại biểu cho Ðông Dương cộng sản đảng, Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm, đại biểu cho An Nam cộng sản đảng (xem: Trần Văn Giàu. "Giai cấp công nhân Việt Nam". Hà Nội, 1958, tr. 487). Như vậy là không có mặt Ðông Dương cộng sản liên đoàn. Hội nghị quyết định thống nhất ba đảng, kể cả đảng bộ cộng sản của Hoa kiều, thành một đảng, lấy tên là Ðảng cộng sản Việt Nam, chỉ định trung ương đảng chín người. Từ đó, TƯ ÐCSVN coi ngày 6 tháng 1 là ngày thành lập ÐCSVN. Trong suốt 30 năm, hàng năm vẫn lấy ngày 6 tháng 1 để kỷ niệm thành lập đảng thì đùng một cái, đến đại hội 3 của ÐCSVN (1960), BCT TƯ đề nghị đại hội thông qua quyết định thay đổi lại ngày thành lập ÐCSVN là ngày 3.2.1930, lấy lý do "các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô". Tại đại hội, một đại biểu (Lê Minh) lên phản bác đề nghị thay đổi ngày thành lập đảng, thì Hồ Chí Minh ngồi trên chủ tịch đoàn gạt phăng, không cho thảo luận. Thế là đại hội thông qua việc thay đổi lại ngày sinh của ÐCSVN.
Nhân thể xin nói thêm. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng ở Hồng Kông được nói đi nói lại nhiều lần trong ba bốn thập niên ròng cứ mỗi dịp kỷ niệm thành lập đảng. Thế nhưng, đến những năm 80, chắc thấy cuộc họp trên sân bóng có vẻ lén lút như cuộc gặp mặt của những kẻ âm mưu, nên người ta đã "viết lại" sử đảng: "Sau 5 ngày làm việc hết sức khẩn trương (từ 3 đến 7 tháng 2) trong hoàn cảnh bí mật, hội nghị đã nhất trí tán thành thống nhất các đảng cộng sản..." (xem: "Lịch sử Ðảng cộng sản Việt Nam". NXB Sự thật, 1985, tr.27).
Những chuyện đại loại như thế có nhiều trong lịch sử ÐCSVN làm nổi bật tính chất "lèm nhèm", không đàng hoàng của một hội kín của những kẻ âm mưu.
6. Xin nói thêm một chuyện "lèm nhèm" tương tự nữa: cái gọi là phong trào Xô-viết Nghê.-Tĩnh. Nếu nói đúng sự thật thì trong cuộc nổi dậy mạnh mẽ và dũng cảm của nông dân hồi tháng 8 - 9 năm 1930, không một nơi nào ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã lập ra xô-viết cả. Hồi đó, ở một số vùng nông dân nổi dậy, hào lý sợ hãi bỏ chạy, dân làng cử vài người đứng ra lo một vài việc ở xã thôn, và tùy nơi gọi đó là "xã bộ", "xã bộ nông", "thôn bộ", "thôn bộ nông" hoặc không gọi tên gì cả. Thế nhưng khi được tin nông dân nổi dậy ở Nghê.-Tĩnh, Nguyễn Ái Quốc đã vội vã báo cáo hồi tháng 11 năm đó cho QTCS và Quốc tế Nông dân (một tổ chức quần chúng "hữu danh vô thực" của QTCS) là: "Hiện nay ở một số làng đỏ, Xô-viết nông dân đã được thành lập". Từ đó, cái tên Xô-viết Nghê.-Tĩnh được tung ra và trở thành "lịch sử": sau này, ban lãnh đạo ÐCSVN cố nói lấy được là ở Nghê.-Tĩnh đã có các xô-viết, đã có phong trào Xô-viết Nghê.-Tĩnh. Trong lúc đó, chính những người viết sử của đảng đã phải thừa nhận trên giấy trắng mực đen như sau: "về chủ trương thành lập chính quyền Xô-viết thì hồi đó không đồng chí nào nhận được chỉ thị hoặc nghe phổ biến" và "khi xã bộ nông đã nắm quyền hành ở nông thôn mà vẫn chưa có quan niệm rõ là ta đã giành được chính quyền". Ðiều đó nói lên gì? Một là, ngay ở Nghê.-Tĩnh không đâu có chủ trương hay ý định lập chính quyền, chứ nói gì đến chính quyền xô-viết; hai là, chính ÐCSVN cũng không có chủ trương lập chính quyền xô-viết; và ba là, đảng viên và dân chúng ở các địa phương đó không hề có ai biết "xô-viết" là cái gì cả. Thế mà... úm ba la... lại "có" các "xô-viết"! Lại "có" phong trào "Xô-viết Nghê.-Tĩnh"! Những người viết sử đảng buộc phải xác nhận những điều thực tế nói trên trong sách "Xô-viết Nghê.-Tĩnh", lại cố gượng gạo giải thích: "Ðảng đã xác nhận rằng ở Nghê.-Tĩnh đã có chính quyền Xô-viết là căn cứ vào sự hoạt động và những chức năng của chính quyền ấy" (những câu trong ngoặc kép của cả đoạn này đều trích từ sách: "Xô-viết Nghê.-Tĩnh". Hà Nội, 1962, tr. 11, 92-93). Ðó là kiểu ngụy biện, nói lấy được muôn thuở của những người cộng sản. Thử hỏi: thế thì vì sao sau này chính quyền do ÐCS lập ra cũng có "sự hoạt động và những chức năng" đúng như vậy lại không gọi là xô-viết?
Trong việc này có thể có hai khả năng. Hoặc là hồi đó, thấy QTCS đang đề ra nhiệm vụ trước mắt cho các ÐCS là "xô-viết hóa các nước", nên Nguyễn Ái Quốc báo cáo như thế để làm đẹp lòng cấp trên. Hoặc là cán bộ QTCS gợi ý cho Nguyễn Ái Quốc báo cáo như thế để cổ động các nước khác theo gương lập ra các xô-viết. Khả năng đầu nhiều hơn, nhưng dù khả năng nào đi nữa thì đó cũng là sự lừa dối lịch sử.
Trong cuộc nổi dậy của nông dân Nghê.-Tĩnh, lần đầu tiên trong lịch sử, những người cộng sản Việt Nam ở vùng này đã hé ra cho mọi người thấy rõ bộ mặt thật của "chuyên chính vô sản" qua những chính sách và hành động ác liệt của họ, như "Trí, Phú, Ðịa, Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" ... Ðối tượng hàng đầu bị "đánh" là trí thức, mà trí thức ở làng xã Nghệ Tĩnh hồi đó là những ai thì độc giả có thể hình dung được, thiết tưởng không cần phải kể ra.
Nói cho công bằng, khởi đầu chỉ có vài cuộc đấu tranh tự phát, sau đó một vài người trong Kỳ bộ Trung Kỳ, chứ không phải cả Kỳ bộ, mới chủ trương phát động cuộc nổi dậy phiêu lưu này. Thường vụ Trung ương ÐCSVN ở trong nước do Trần Phú làm tổng bí thư thì hoàn toàn không hay biết gì hết về chủ trương này. Thường vụ Trung ương bị đặt trước "việc đã rồi", rất bị động, đã phê phán mạnh mẽ tính chất manh động, tả khuynh của phong trào Nghê.-Tĩnh và rất bực mình vì sự báo cáo vội vã của Nguyễn Ái Quốc với QTCS. Ðây là một trong nhiều việc khác thúc đẩy Trung ương ÐCS ở trong nước, một thời gian sau đó, đã gửi thư lên BCH QTCS nói lên sự bất bình của mình đối với Nguyễn Ái Quốc. Người viết bài này đã được đọc nguyên văn bức thư đó tại kho lưu trữ của QTCS (nay là RSKHIDNI). Ðây là nội dung một đoạn: ... "Liên lạc. Xin các đồng chí hãy viết trực tiếp cho chúng tôi, vì rằng khi Quốc (tức là Nguyễn Ái Quốc - NMC) truyền đạt thì anh ta nói quá vắn tắt và đôi khi anh ta đưa ý kiến riêng của cá nhân vào mà không xin ý kiến các đồng chí, và cũng không báo cho các đồng chí biết, dù anh ta chỉ là liên lạc viên thôi. Chúng tôi cũng viết trực tiếp cho các đồng chí. Vì sao Quốc lại cứ liên lạc với TƯ và Bắc Kỳ bộ, ở đâu anh ta cũng ra mệnh lệnh, ở đâu anh ta cũng đòi báo cáo. Tình trạng như thế làm cho chúng tôi cực kỳ khó khăn (trong nguyên văn là "khó khăn khủng khiếp" - NMC). Thậm chí các đồng chí ở các Kỳ bộ hỏi chúng tôi: "Ai lãnh đạo chúng tôi, TƯ hay là Quốc?" Chúng tôi hy vọng rằng từ nay về sau, về các vấn đề có liên quan đến đảng chúng tôi, các đồng chí sẽ liên lạc trực tiếp với TƯ và các đồng chí sẽ giải thích cho Quốc rằng tình trạng đã xảy ra vừa qua là không bình thường. Nếu Kỳ bộ phải làm báo cáo cho khắp nơi và nhận mệnh lệnh và chỉ thị từ khắp nơi, thì như vậy chúng tôi sẽ rất khó khăn trong việc cung cấp tình hình chính xác cho các đồng chí và điều đó đặc biệt gây ra nhiều khó khăn cho sự lãnh đạo của TƯ đối với toàn thể bộ máy của mình. Chúng tôi yêu cầu các đồng chí giải thích ngay cho Quốc trách nhiệm của anh ta là ở việc gì, và đòi anh ta phải chuyển giao cho các đồng chí tất cả những gì anh ta nhận từ chúng tôi (báo, truyền đơn, thông tri, v.v...). Từ nay trở đi, chúng tôi sẽ gửi trực tiếp đến các đồng chí những báo cáo và thư từ bằng tiếng Pháp, còn Quốc thì chỉ có nhiệm vụ chuyển lại các đồng chí mà không cần phải giữ lại ở chỗ anh ta và tự mình nghiên cứu" ... Ðể bạn đọc thấy rõ vấn đề, người viết cố ý trích dịch từ nguyên bản đoạn có liên quan đến Nguyễn Ái Quốc trong thư của TƯ ÐCS Ðông Dương đề ngày 2.7.1931, viết bằng tiếng Nga và tiếng Pháp, có ghi chữ Tối mật, hiện lưu giữ tại RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 463, toàn văn bức thư ở trang 147-156, riêng đoạn đã dẫn trên đây do chúng tôi dịch ở trang 156. Có thể tin chắc rằng hồi đó, Trung ương ÐCSVN ở trong nước đã nắm được "tính cách" Nguyễn Ái Quốc cũng như "động cơ" của việc ông Nguyễn vội vã báo cáo với QTCS về các "xô-viết" tưởng tượng.
7. Với thực chất đảng-hội kín của những kẻ âm mưu, ÐCSVN đặt ra một thứ kỷ luật sắt vô cùng nghiêm ngặt theo đúng tinh thần của Stalin. Nhiều người mới vào ÐCS thường không hiểu được vì sao lại gọi là "kỷ luật sắt"? Hồi năm1929, đại hội Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội (sau này xin viết tắt là Ðồng chí hội), tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam tự đặt cho mình nhiệm vụ "chỉ huy cách mạng Việt Nam... lập vô sản chuyên chính, làm cho cách mạng thế giới chóng thành", đã quy định hình thức "kỷ luật sắt" xử tử đối với các đảng viên phạm một trong những tội như: theo địch, làm hại đến an toàn của đồng chí, cố ý làm sai chỉ thị, mưu phá hoại hội, cố ý làm lộ bí mật (xem: "Lịch sử cận đại Việt Nam". Hà Nội 1963, t.4, tr.204). Ðiều đó chắc ít đảng viên cộng sản ngày nay được biết, cũng như không mấy ai được biết về những vụ xử án tử hình của tổ chức cộng sản đầu tiên ấy ở Việt Nam. Chẳng hạn, "vụ giết người ở đường Barbier, Sài Gòn" (nay là đường Lý Trần Quán, thuộc phường Tân Ðịnh, quận 1) hồi năm 1929 mà nạn nhân là một người lãnh đạo Kỳ bộ Nam Kỳ của Ðồng chí hội bí danh là Lang đã bị Kỳ bộ xử bí mật tuyên án tử hình vì tội "đã cưỡng ép nữ đồng chí Trần Thị Nhất bí danh là Lê Oanh 18 tuổi". Các tội phạm trong vụ giết người này là Tôn Ðức Thắng, Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Duy Trinh, v.v... đã bị Tòa án đại hình Sài Gòn kết án nặng ngày18.7.1930 (tài liệu sưu tầm của nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến). Hồi tháng 4.1994, người viết cũng đã được đọc về vụ án này trên một tài liệu gửi đến QTCS nhan đề "Từ bản cáo trạng của Tổng công tố Sài Gòn chống những bị cáo của vụ án ở đường Barbier" tại RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 564, trang 62-72, trong đó có đưa ra một chi tiết đáng nói ở đây: người bị giết tên là Tan Ðức Toang (vì phiên âm từ tiếng Nga nên chúng tôi không rõ họ Trần hay Tân và tên Toáng hay gì khác), người này đã đánh Tôn Ðức Thắng, nên bị đuổi ra khỏi đảng, sau đó anh ta lập ra tổ chức biệt phái Nam Kỳ Công hội (nếu dịch theo sát tiếng Nga là Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Kỳ). Ðó là lý do bị giết. Cũng trên tài liệu này có ghi dòng chữ khó hiểu này: "có chú thích của M (?) - chúng tôi cho rằng cải chính điều bịa đặt của ông công tố về việc phân liệt là thừa". Dù nhìn dưới khía cạnh nào thì vụ án giết người này cũng đã xảy ra thật và những người phạm tội cũng là những con người có thật.
Nói cho công bằng thì QTCS đã gửi thư phê phán hình thức kỷ luật tử hình (thành văn) ấy trong điều lệ của Ðồng chí hội. Phê phán thì phê phán, nhưng thật ra, ngay trong ÐCS bolshevik Nga/Liên Xô thậm chí khi đã nắm quyền rồi mà hình thức kỷ luật tử hình (bất thành văn) ấy vẫn còn được áp dụng: hàng nhiều thập niên dưới thời Stalin, hàng triệu cán bộ, đảng viên đã bị hành quyết chỉ vì cái "tội" bất đồng chính kiến hoặc phê bình "lãnh tụ" hoặc chẳng có tội gì cả! Thế thì sự phê phán đó của QTCS còn có nghĩa lý gì? Chính vì thế, ở Việt Nam, trong thời kỳ ÐCS còn hoạt động bí mật đã có nhiều đảng viên chỉ vì bị lãnh đạo nghi ngờ mà bị đảng thủ tiêu. Còn trong thời kỳ ÐCS đã nắm chính quyền thì những đảng viên bất đồng chính kiến với lãnh đạo đều bị lãnh đạo "chấm dứt sinh mệnh chính trị", còn vợ con, anh em, bà con, bè bạn đều bị vạ lây. Ðó là chưa nói đến sự bắt bớ, giam cầm, tra tấn, hành hạ, quản chế, tù tội, có người chết trong tù ngục, có người chết khi bị tù tại gia. Ngoại trừ đảng phát xít và ÐCS, không một chính đảng nào với tư cách là một tổ chức xã hội trong thế giới văn minh này mà có một thứ "kỷ luật sắt" như thế. Kỷ luật sắt đó là một lưỡi gươm Damocles lơ lửng treo trên đầu mọi người bắt họ phải tuyệt đối phục tùng kẻ thống trị ...
8. Là một "hội kín của những kẻ âm mưu" hoạt động trong điều kiện cực kỳ khó khăn dưới chế độ thực dân, cố nhiên, ÐCS phải coi trọng nguyên tắc bí mật để bảo vệ mình và thực hiện được ý đồ cướp chính quyền. Ðó là điều đương nhiên. Thế nhưng, khi đảng đã cướp được chính quyền rồi, nguyên tắc bí mật chẳng những không giảm bớt mà lại càng tăng cường thêm, phạm vi giữ bí mật càng rộng thêm, đối tượng giữ bí mật càng nhiều lên, các đề tài giữ bí mật được liệt kê ngày một dài ra. Ngay trong ÐCS, một chế độ giữ bí mật được "quy chế hóa" rất chặt chẽ, cực kỳ tinh vi đến nỗi chẳng những dân chúng mà cả cán bộ đảng viên cũng bị tước mất quyền được thông tin khách quan và chính xác. Có thể nói, nguyên tắc giữ bí mật trong ÐCS được thực hiện theo "chế độ khoanh vòng". Vấn đề này chỉ có vài người trong BCT được biết (vòng 1), vấn đề kia chỉ BCT được biết (vòng 2), vấn đề nọ không phổ biến ra ngoài TƯ (vòng 3). Vấn đề nào chỉ phổ biến đến bí thư tỉnh và thành phố (vòng 4) thì các ban thường vụ tỉnh và thành phố không được biết (vòng 5), vấn đề nào chỉ phổ biến đến thường vụ tỉnh ủy, thành ủy thì các tỉnh ủy viên, thành ủy viên không được biết (vòng 6), v.v... cứ thế đi xuống tận cơ sở. Khi đến đảng viên và người dân thì sự thật bị bóp méo đến chục lần rồi và trở thành điều dối trá trắng trợn! Mà thật ra những điều gọi là "bí mật" có phải là bí mật gì ghê gớm cho cam, lắm lúc đó chỉ là những thông tin mà ở các nước dân chủ đăng đầy trên các báo, ai cũng có thể đọc được! Giữ bí mật để độc quyền thông tin, độc quyền bưng bít và xuyên tạc sự thật là một trong những nền tảng của chế độ độc tài toàn trị. Và đó cũng là một đặc quyền của các đẳng cấp thống trị!
9. ÐCSVN theo nguyên tắc tập trung dân chủ, điều đó có nghĩa là: tập trung là căn bản, còn dân chủ chỉ là hình thức. Nguyên tắc này bảo đảm sự tồn tại mãi mãi của một kẻ độc tài hay một nhóm độc tài toàn quyền thao túng công việc đảng và nhà nước, độc tôn thống trị toàn xã hội. Cứ nhìn lề lối sinh hoạt nội bộ ÐCSVN cũng đủ thấy được điều đó. Chẳng hạn, nói về đại hội toàn đảng và đại hội các cấp. Vấn đề không chỉ là phải họp đều kỳ (thực ra trước đây TƯ thường lấy nê hoàn cảnh khó khăn để kéo dài khoảng cách giữa các đại hội), mà còn - quan trọng hơn - cách tổ chức thế nào để bảo đảm được chế độ dân chủ trong đảng. Khốn thay, điều quan tâm nhất của tập đoàn thống trị lại không phải là bảo đảm được chế độ dân chủ trong đảng, mà là bảo đảm địa vị thống trị lâu dài, mãi mãi của họ trong đảng-nhà nước. Thông thường khi chuẩn bị đại hội toàn quốc, BCT TƯ đưa ra một đề cương về đường lối, chủ trương, hay kế hoạch kinh tế xã hội (thường dưới dạng dự thảo báo cáo của TƯ) cho đại hội các cấp dưới thảo luận và bầu đại biểu dự đại hội. Ðề cương này được coi là chân lý, nghĩa là đại hội các cấp chỉ có thể thảo luận theo sự hướng dẫn của cấp trên để "quán triệt", "thấm nhuần", hoặc "thêm râu ria, mắm muối", chứ không thể phản bác, không thể có ý kiến khác biệt hoặc trái ngược, càng không thể đưa ra đề cương khác để cùng thảo luận, tranh luận cho ra lẽ. Những đại biểu nào ở cấp dưới tỏ ra "thông suốt", "nhất trí cao" với đề cương của TƯ thì mới được cử đi dự đại hội cấp trên. Theo lệnh của BCT TƯ, ban tổ chức TƯ phải có nhiệm vụ hướng dẫn các cấp dưới bầu đại biểu đi dự đại hội toàn quốc "đúng yêu cầu của TƯ". Làm như vậy, thì chắc chắn bảo đảm trăm phần trăm đường lối cũng như thành phần nhân sự ban lãnh đạo mới mà tập đoàn thống trị muốn sẽ được thông qua. Thậm chí, để chắc chắn đạt được yêu cầu của cấp trên, có khi tại đại hội đảng người ta còn tổ chức bầu cử thử ban chấp hành, nếu không đúng ý lãnh đạo thì lại tiếp tục "đả thông"! Ðấy, bằng cái gọi là "tập trung dân chủ" và "dân chủ có lãnh đạo" như thế, tập đoàn thống trị duy trì lâu dài quyền lực của mình trong đảng, trong nhà nước và xã hội.
10. Do những nguyên tắc sinh hoạt như trên, trong ÐCS và trong xã hội "xã hội chủ nghĩa", hình thành rõ rệt một chế độ đẳng cấp có tính chất phong kiến, chủ yếu dựa trên mức độ được cấp trên tin cậy và do đó được hưởng thụ vật chất với mức độ khác nhau trong hàng ngũ cán bộ. Người ta gọi đó là "chế độ đãi ngộ cán bộ", nhưng thật ra đó là một chế độ đặc quyền đặc lợi với những quy định cực kỳ phức tạp và phong kiến. Thậm chí khi đã chết rồi, những cán bộ cộng sản cũng "được" phân biệt đối xử theo chế độ đặc quyền đặc lợi đó: từ việc cáo phó được đăng báo hay không, vị trí trên tờ báo - trang nhất hay trang cuối, kèm ảnh hay không kèm ảnh, khổ ảnh to nhỏ, rộng hẹp, cho đến việc chôn cất như thế nào, lễ nghi ra sao, ai được chôn ở đâu, rộng hẹp mấy thước, v.v... Ðấy, người cộng sản vô thần, "chí công vô tư" coi trọng cái chết của họ như thế đấy. Còn những thứ khác liên quan đến sự sống vật chất thì khỏi phải nói! Tất cả mọi thứ, từ cái ăn, cái mặc, cái ở, việc chữa bệnh, an dưỡng, nghỉ ngơi, thậm chí đến việc học hành của con cái đều phân biệt đối xử chi li theo đẳng cấp, tôn ti trật tự. Ngày nay, giai cấp cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục duy trì chế độ đẳng cấp để dựa vào các tổ chức chính quyền, các công ty quốc doanh ăn của đút, ức hiếp dân thường, mánh mung làm ăn bất hợp pháp, che đậy cho thân thuộc đứng đầu các công ty gọi là "tư nhân" vơ vét tài sản nhà nước, làm giàu bất chính. Chính vì thế, từ lâu rồi trong ÐCSVN đã hình thành một lớp "nịnh thần" - lớp người do khéo bợ đỡ, xu nịnh, a dua cấp trên mà được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo, có đủ mọi đặc quyền đặc lợi, mà trước tiên là "đặc lợi" tham nhũng. Lớp "nịnh thần" này là nòng cốt của giai cấp mới thống trị trong xã hội "xã hội chủ nghĩa" Việt Nam, là chỗ dựa của ÐCSVN.
Ngày nay, trong văn chương bình dân dưới thời "xã hội chủ nghĩa" vẫn còn truyền tụng câu ca dao châm biếm cái chế độ phân phối thực phẩm theo đẳng cấp phong kiến đó của "đảng ta":
Tôn Ðản (cửa hàng ở phố Tôn Ðản bán hàng tốt và rẻ cho cán bộ cao cấp) là chợ vua quan,
Nhà Thờ (cửa hàng ở phố Nhà Thờ bán cho cán bộ trung cấp) là chợ trung gian nịnh thần,
Ðồng Xuân là chợ thương nhân, Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.
11. ÐCSVN ngoài miệng thường tuyên bố là họ đấu tranh cho một xã hội không có giai cấp, đấu tranh cho công bằng xã hội, v.v... nhưng khi đã cầm quyền rồi thì chính họ lại đẻ ra một giai cấp xã hội mới - giai cấp quan liêu nomenklatura, và ngay trong giai cấp đó lại chia ra nhiều đẳng cấp rõ rệt, tạo nên sự bất bình đẳng xã hội trầm trọng nhất. Vì thế đầu óc đẳng cấp "xôi thịt", nạn "mua quan bán chức" nặng nề làm cho số ít người có nhân cách trong đảng thấy xấu hổ, nhưng một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên thì như đàn ruồi lao vào "đĩa mật" đặc quyền đặc lợi, đua nhau còng lưng cúi gối, luồn lọt nịnh bợ cấp trên, cốt để leo lên địa vị cao hơn. Lên địa vị cao hơn thì lại muốn cao hơn nữa và quay lại đè nén cấp dưới, hoạnh họe làm tiền để bù vào "chi phí sản xuất" khi phải đút lót cấp trên. Ngày nay, nhiều người vào ÐCS là để kiếm lợi, để vươn lên giai cấp cầm quyền, chứ không phải để đấu tranh cho xã hội công bằng tốt đẹp. Vì thế ở nông thôn Việt Nam nghèo khổ, tối tăm, người nông dân vẫn bị đám "cường hào mới", chủ yếu là cán bộ của đảng, đè nén, áp bức, bóc lột không khác gì dưới thời Pháp thuộc, có khi còn nặng nề hơn vì bộ máy cai trị ở nông thôn ngày nay đông hơn thời Pháp gấp bội (theo thống kê của Trần Văn Giàu, số cán bộ nhân viên nhà nước chỉ trong một tỉnh Thanh Hóa đã đông hơn số công chức toàn Ðông Dương dưới thời Pháp). Còn ở thành thị thì nạn tham nhũng tràn lan, các "quan cán bộ" tha hồ nhận "phong bì" hầu như bán công khai. Thậm chí tổng bí thư ÐCS cũng nhận "phong bao" của công ty nước ngoài hàng triệu đô la, những ủy viên BCT TƯ hay ủy viên TƯ, thủ tướng, phó thủ tướng, thống đốc Ngân hàng nhà nước đút túi riêng bạc triệu bị cán bộ đảng viên trung thực tố cáo, khiếu nại bao lần thì vẫn nguyên vị (mới đây một phó thủ tướng và một thống đốc Ngân hàng bị "xử lý nội bộ" theo kiểu "giơ cao đánh khẽ"!), còn những cán bộ đảng viên thật lòng muốn giúp lãnh đạo làm trong sạch bộ máy đảng- nhà nước thì lại bị đàn áp, sách nhiễu, hành hạ "đến sống dở chết dở" (xem: thư của cựu chiến binh Trần Dũng Tiến gửi tổng bí thư Lê Khả Phiêu tố cáo tình cảnh 11 cụ đảng viên bị đàn áp vì đã dám vạch trần tội tham nhũng của các cán bộ cao cấp). Cái gọi là tính chất "tiên phong" của ÐCSVN ngày nay quả thật là sự mỉa mai chua chát.
12. Chính do sự sa đọa đạo đức của cán bộ đảng viên, sự biến chất khủng khiếp của ÐCSVN như vậy, nên hiện nay trong ÐCSVN tình trạng chia bè, lập khối rất trầm trọng và phổ biến dựa trên "nguyên tắc" giành và giữ lợi ích kinh tế và địa vị trong đảng-nhà nước. Các cấp càng cao thì sự đấu đá nhau càng dữ dội và thâm độc để giành và giữ quyền lực. Còn ở nông thôn tình trạng năm bè bảy bối thật trầm trọng, các chi bộ đảng ở nhiều nơi dựa theo "nguyên tắc" tộc phái, họ hàng (clan), họ nọ chống họ kia. Cái gọi là "tình đồng chí", "tình giai cấp" chỉ là sự mỉa mai! Tình trạng chia rẽ, bè phái này cũng như nạn tham nhũng là những chứng bệnh nan trị kinh niên của ÐCS kể từ năm 1945, khi đảng bắt đầu cầm quyền. Các "vị" lãnh đạo đảng đều hô hào chống những tệ nạn đó nhưng nào có ăn thua gì vì chính bản thân họ cũng ngập ngụa trong những tệ nạn đó, cho nên mọi cuộc "chỉnh đảng" xưa nay đều chỉ là hình thức.
13. Từ khi ÐCSVN ra đời, ở Việt Nam đã diễn ra cuộc đấu tranh ác liệt, không ngừng giữa chủ nghĩa quốc tế (internationalisme) và chủ nghĩa quốc gia (nationalisme). ÐCSVN theo chủ nghĩa quốc tế vô sản, đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong phạm trù cách mạng vô sản thế giới, nhằm mục tiêu giành chuyên chính cho giai cấp vô sản quốc tế để xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Như thế có nghĩa là ÐCS đặt cách mạng Việt Nam phụ thuộc trực tiếp vào QTCS, chịu sự chi phối của tập đoàn thống trị ÐCSLX. Còn chủ nghĩa quốc gia (sau này, những người cộng sản Việt Nam thường dùng từ "chủ nghĩa dân tộc" để dịch chữ nationalisme) thì hướng tới việc giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ nước ngoài và xây dựng đất nước độc lập, hùng cường mà không muốn gắn số phận đất nước và dân tộc vào chủ nghĩa cộng sản, nên tích cực chống lại chủ nghĩa quốc tế. Cố nhiên, chủ nghĩa quốc gia gắn nền kinh tế đất nước vào hệ thống kinh tế tư bản thế giới. Vì thế ÐCSVN coi chủ nghĩa quốc gia là khuynh hướng chính trị của giai cấp tư sản, là khuynh hướng đối lập, thù địch với mình nên luôn luôn chống chủ nghĩa quốc gia và những người theo chủ nghĩa quốc gia một cách vô cùng ác liệt. Ðã thế mà vẫn còn bị QTCS nghiêm khắc phê bình. Sau đây, chúng tôi xin trích dẫn một đoạn trong Thư của QTCS gửi ÐCS Ðông Dương hồi năm 1931: "Có nhiều chứng cớ chỉ rằng đảng không hiểu rõ cái nguy hiểm của chủ nghĩa quốc gia cải lương, đảng không kịch liệt tranh đấu, không giải thích rõ cho quần chúng hiểu rõ tính chất phản dân, phản quần chúng của bọn quốc gia cải lương. Dù cái vai tuồng của chúng không lấy gì làm lớn... ... Ảnh hưởng của tư tưởng quốc gia cải lương vẫn có ở trong đảng...". (RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 567, trang 8-9, bản tiếng Việt, nên chúng tôi chép lại nguyên văn). Sau khi cướp được chính quyền, việc đầu tiên những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam quan tâm là tiêu diệt các lãnh tụ và các đảng quốc gia để thực hiện nền chuyên chính độc tôn của họ. Suy cho cùng, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa quốc gia về thực chất chỉ là cuộc đấu tranh quyền lực mà thôi. Chính vì thế, ngay với những người quốc tế, như Ðệ tứ quốc tế, thì vì đấu tranh quyền lực, những người cộng sản quốc tế cũng sẵn sàng vu khống họ là "gián điệp", "tay sai đế quốc, phát xít" ... để thẳng tay tiêu diệt họ ...
14. ÐCSVN là một phân bộ của QTCS, phải thực hiện những nghĩa vụ đối với QTCS, mà các lãnh tụ QTCS, thật ra là tay chân của tập đoàn thống trị ÐCSLX, thì chỉ quan tâm đến ý đồ "quốc tế" của họ. Ðó là sự thật. Tuy nhiên, cũng có một sự thật khác là: nghe nói QTCS quan tâm đến việc giải phóng các nước thuộc địa, nghe nói ÐCSVN đấu tranh giành độc lập dân tộc thì nhiều người Việt Nam, nhất là thanh niên trí thức vừa có lòng yêu nước vừa có khát vọng dân chủ, đã hồ hởi đi theo ÐCS với lòng mong ước đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, chứ lúc đầu họ không biết rõ về chủ nghĩa cộng sản, về chủ nghĩa quốc tế, về chuyên chính vô sản (cũng có khi ÐCS giấu không nói những điều đó với họ từ đầu). Nhưng khi đã vào ÐCS rồi, cũng như "cá đã vào lờ", với sự giáo dục, với kỷ luật sắt và mọi cơ chế kìm chế khác của đảng, dù muốn dù không, cuối cùng họ cũng phải chấp nhận những thứ đó. Càng về sau, khi chế độ cực quyền đã thiết lập rồi thì một số đảng viên có tinh thần dân tộc và ý thức dân chủ càng nhận thấy ban lãnh đạo ÐCS thực tế đã trở thành những kẻ thống trị dân tộc, phản bội những lời hứa hẹn tốt đẹp về dân chủ tự do, về công bằng xã hội, thì họ lên tiếng phản đối. Ðó chính là nguồn gốc của trào lưu bất đồng chính kiến (dissidence) trong đảng.
15. Có điều đáng nói là lúc mới đầu, trong thập niên 30, ÐCSVN lệ thuộc rất chặt vào QTCS, những người lãnh đạo đảng luôn luôn cố tỏ ra đắc lực với QTCS, họ thi hành triệt để mọi mệnh lệnh của QTCS, nên cái tệ giáo điều cứng nhắc trong lãnh đạo của đảng rất nặng nề. Từ đầu và giữa thập niên 40, do bị đứt liên lạc với QTCS, lại gặp rất nhiều khó khăn, nên thời kỳ này ÐCSVN phải gượng nhẹ với các tầng lớp trong dân tộc, hoạt động ít nhiều có tính tự lập hơn, dù về căn bản vẫn tuân theo đường lối chung của QTCS. Trong những năm này, ÐCSVN có quan tâm hơn đến những vấn đề của dân tộc, nhờ đó đã tập hợp được đại đa số dân chúng làm cách mạng giải phóng đất nước và tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính trong thời gian này, đường lối phân biệt giai cấp của đảng chưa được nhấn mạnh, khối đoàn kết dân tộc tuy đã bị sứt mẻ do việc thanh trừng các đảng phái đối lập, nhưng còn chưa quá trầm trọng, dân chúng còn tập hợp quanh tổ chức Việt Minh (ÐCS đã nấp dưới chiêu bài này để che giấu thực chất cộng sản của mình). Trong ký ức nhiều người theo ÐCS trong cách mạng và kháng chiến còn ghi lại nhiều kỷ niệm tốt của thời gian này. Nhưng từ cuối thập niên 40đdầu thập niên 50, sau khi ÐCSTQ chiếm được toàn bộ Hoa lục, ÐCSVN nối lại liên lạc đã với ÐCSTQ và ÐCSLX và lại tiếp tục bị lệ thuộc về mọi mặt vào hai đảng "đàn anh" thì tình hình lại đổi khác, không khí hồ hởi biến mất, nhường chỗ cho sự sợ hãi và thù hận. Do tinh thần phục tùng nô lệ các thần tượng Stalin và Mao Trạch Ðông, do đầu óc giáo điều, rập khuôn máy móc các mô hình của Liên Xô và Trung Quốc, trong thời gian này ÐCSVN đã kỳ thị các giai cấp không vô sản, siết chặt "chuyên chính vô sản" (bắt chước Trung Quốc gọi là chuyên chính dân chủ nhân dân) và đã phạm nhiều bạo hành nghiêm trọng gây ra biết bao tai họa cho dân tộc - đặc biệt là trong cuộc "cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức", "hợp tác hóa nông nghiệp", "cải tạo tư sản", "cải tạo công thương nghiệp tư doanh", "vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm", "vụ án Xét lại - chống Ðảng", v.v... Trong thời gian này, ÐCSVN hăm hở "làm nhiệm vụ quốc tế", tích cực "đấu tranh giai cấp", hăng hái "tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội" để biến "Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Ðông Nam Á", v.v... nên dân tộc ta đã phải trả giá cao nhất bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt và tự do của mình.
16. Càng về sau, nhất là từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa và PTCSQT bị sụp đổ, ÐCSVN đã biến chất rõ rệt, không còn thực chất "cộng sản" nữa. Ðối với tập đoàn thống trị, những cái gọi là chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa quốc tế vô sản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, v.v... ngày nay không còn là niềm tin hay lý tưởng như xưa, mà chỉ là những chiêu bài để che đậy âm mưu giữ vững quyền lực cũng như quyền lợi của họ và của giai cấp quan liêu cầm quyền đất nước, là giai cấp thực tế đang thống trị và bóc lột dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, ÐCSVN trên thực tế đã chia ra thành hai "đảng vô sản" đối lập nhau rõ rệt - một "đảng vô sản thống trị" và một "đảng vô sản bị trị", nói cụ thể hơn là một "đảng vô sản" nắm quyền với những đảng viên "vô sản" giàu có, nhà lầu, xe hơi, biệt thự, sống xa hoa phè phỡn, chủ nhân những công ty "quốc doanh" trá hình, thậm chí một số là chủ nhân những tài khoản hàng triệu, hàng chục triệu đô la ở các nhà băng ngoại quốc, chuyên ngồi trên các "ghế " cao để ra lệnh cho toàn đảng, và một "đảng vô sản" của những đảng viên thường, những cựu chiến binh, những người nghỉ hưu nghèo khổ, thật sự vừa "vô sản" lại vô quyền,ăn bữa nay lo bữa mai và chỉ biết cắmđầu cắm cổ chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Giữa hai "đảng vô sản" đó hầu như không có cái gì chung, ngoài những khẩu hiệu "vô sản" rỗng tuếch: muôn năm chủ nghĩa Marx-Lenin, muôn năm tư tưởng Hồ Chí Minh, muôn năm chủ nghĩa xã hội ...
II. ÐÔI ĐIỀU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (ÐCSVN)
Ở đây, chúng tôi không trình bày lịch sử ÐCSVN, mà chỉ phác qua đôi điều nhận xét về ÐCSVN.
1. Khách quan mà xét, trong sự xuất hiện của Ðảng cộng sản Việt Nam/Ðảng cộng sản Ðông Dương (xin viết gọn là ÐCSVN) trên sân khấu chính trị nước ta, những yếu tố bên ngoài đóng vai trò chính yếu. Cố nhiên, không có những yếu tố trong nước - tình hình kinh tế, xã hội, đấu tranh của dân chúng - thì không thể xuất hiện được đảng, nhưng phải nói thẳng rằng khi lập ÐCSVN và trong buổi đầu tồn tại của đảng, những yếu tố bên ngoài thực tế đã đóng vai trò chủ yếu. Cả ý thức hệ, tức là tư tưởng, chủ nghĩa, cả đường lối cụ thể, tức là chiến lược, sách lược, cả các quan điểm về ÐCS ... đều du nhập từ nước ngoài. Các chỉ thị cụ thể về xây dựng đảng đều được đề ra bởi người nước ngoài. Tiền tài, phương tiện vật chất ... đều do nước ngoài cung cấp. Thậm chí cán bộ cũng do nước ngoài tuyển lựa, nuôi dưỡng, đào tạo rồi đưa về Việt Nam. Ðó là một thực tế kéo dài trong nhiều năm tồn tại của ÐCSVN. Ðể minh họa điều vừa nói, xin nêu vài tài liệu cụ thể. Trong tác phẩm "Việc đào tạo những nhà cách mạng Việt Nam trong các trường đại học của nước Nga xô-viết trong những năm 20-30" của nhà Việt học A. Sokolov, có đưa ra con số 67 người Việt Nam đã được nước Nga xô-viết đào tạo từ năm 1925 đến khoảng năm 1936 (trong bài của A. Sokolov tính đến năm 1938, đó là trường hợp của Lin, hay Linov, tức là Nguyễn Aùi Quốc, nhưng điều đó chỉ là trên giấy tờ mà thôi, thực tế hồi đó, Lin, hay Linov không còn học ở Moskva nữa). Con số này tác giả đã sưu tập rất công phu khi nghiên cứu ở kho lưu trữ của Cộng Sản Quốc Tế, cộng số học viên Việt Nam đến học ở Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Ðông (tiếng Nga viết tắt là KUTV), Trường quốc tế Lenin (MLSH) và Học viện nghiên cứu khoa học các vấn đề dân tộc và thuộc địa (NIINKP). Con số này chắc chắn là chưa đầy đủ, vì tác giả không thể biết hết các bí danh học viên Việt Nam đã dùng, không biết được số học viên các trường đặc biệt rất bí mật của ngành quân sự và mật vụ, cũng như có một số người Ðông Dương do ĐCS Pháp cử đến học ở các trường nói trên lại mang tên Pháp nên không thể đoán được (xem sách: "Nước Việt Nam truyền thống", Quyển 2, Moskva, 1996, tr. 143-177).
Còn để bạn đọc biết rõ phần nào nguồn tài chính QTCS đã chi ra cho việc chuẩn bị thành lập ÐCSVN, chúng tôi chỉ xin dẫn một trong nhiều tài liệu về vấn đề này còn lưu trữ tại RSKHIDNI. Ðó là biên bản cuộc họp ngày 3.3.1927 tại Canton (Quảng Châu) của ba người là Doriot, Voline (đại diện cho Phân bộ) và Lee (ghi theo biên bản, có lẽ đọc là Lý, hồi đó Lý, hay Lý Thụy, làm việc cho Borodin - trong văn bản tiếng Nga có chú thêm: Nguyễn Aùi Quấc) để bàn về vấn đề: chính trị, tổ chức và ngân sách. Biên bản có ghi rõ: "giao cho Doriot viết tuyên ngôn gửi thanh niên Ðông Dương, còn Lee làm dự chi để gửi lên QTCS (Cộng Sản Quốc Tế)". Ðồng thời ở đây cũng kèm luôn "tờ trình" (RSKHIDNI, Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 555, tr. 5) về các dự chi trong năm:
a/ đưa đến Canton 100 tuyên truyền viên: 200 $ X 100 người = 20 000 $ (đô la Trung Quốc);
b/ tối thiểu 10 tuyên truyền viên tự do (chúng tôi không hiểu chữ "tự do" ở đây nghĩa là gì - NMC): 150 $ X 10 = 1 500 $;
c/ nhà in, giấy, việc in ấn = 1 500 $;
d/ chi phí về tổ chức = 7000 $;
e/ đưa 100 người đến học viện quân sự Wampoa (Hoàng Phố) = 5 000 $;
f/ chi phí bất thường = 5 000 $; tổng cộng = 40 000 $ (đô la Trung Quốc).
Chắc cái dự chi này về sau không được thực hiện tất cả, vì phái bộ Borodin quá lợi dụng sự thân thiện của Quốc Dân Ðảng Trung Quốc đã mở rộng hoạt động mạnh mẽ để gieo cấy các tổ chức cộng sản và gián điệp xô-viết vào các nước châu Á và ngay cả ở Trung Quốc, nên cuối cùng cả phái bộ đã bị chính phủ Trung Hoa Dân quốc trục xuất hồi cuối năm 1927.
Cố nhiên, ngày nay, ban lãnh đạo ÐCSVN không thích nói đến những điều này, họ muốn "đề cao" tính chất "độc lập" của đảng. Nhưng "độc lập" như thế nào được, khi chính Nguyễn Ái Quốc đã nói trong bài giảng cho cán bộ hồi năm 1926: "... Ðệ Tam Quốc tế là một ÐCS thế giới. Các đảng các nước như là chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Ðệ Tam Quốc tế thì các đảng không được làm" (xem: Hồ Chí Minh. T.1) ? Việc ra đời của ÐCSVN hồi năm 1930 cũng là theo chỉ thị QTCS. Sau khi đại hội "Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội" (1929) xin gia nhập QTCS, BCH QTCS có gửi thư trả lời, phê phán những sai lầm hay thiếu sót trong đường lối cũng như trong điều lệ và chỉ thị cụ thể về cách thức xây dựng ÐCS. Sau đó, QTCS còn ra một chỉ thị nữa vào ngày 27.10.1929 "về việc thành lập một ÐCS Ðông Dương" với những hướng dẫn cụ thể về nhiều mặt. Những chỉ thị này kèm theo những sự giúp đỡ về vật chất và cán bộ đã tạo điều kiện cho sự ra đời của ÐCS trên bán đảo Ðông Dương hoàn toàn theo đúng tiêu chuẩn của QTCS.
Không thể phủ nhận rằng nhiều người Việt Nam đã đến với QTCS vì lòng yêu nước. Nhưng khi họ đã tiếp thụ say mê chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin thì chủ nghĩa quốc tế vô sản (cụ thể là giành chuyên chính vô sản trên phạm vi thế giới) đã trở thành mục tiêu tối thượng của họ, và họ theo sách lược của Lenin-Stalin khéo léo lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc để cướp chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản trên đất nước mình nhằm tiến tới mục tiêu tối thượng của họ và QTCS. Cho nên việc theo "mệnh lệnh và kế hoạch của Ðệ Tam Quốc tế" là điều dĩ nhiên đối với họ. Nói chung, những người cộng sản trên thế giới đều coi việc giành chuyên chính vô sản ở nước mình, cũng như mở rộng chuyên chính đó ra các nước khác đều là "làm nghĩa vụ quốc tế".
2. ÐCSVN ra đời hồi năm 1930 đúng vào lúc chủ nghĩa Stalin đã hoàn toàn thống trị ở Liên Xô và trong toàn bộ PTCSQT, do đó từ thời ấu thơ đã tiếp thụ sâu đậm lý luận và thực hành chẳng những của chủ nghĩa Lenin, mà cả của chủ nghĩa Stalin. Chủ nghĩa Lenin mà ÐCSVN tiếp thụ từ đầu là qua sự lý giải, diễn dịch của Stalin, qua các sách của Stalin, như "Nguyên lý chủ nghĩa Lenin" (1924), "Những vấn đề của chủ nghĩa Lenin" (1926). Vì thế có thể nói không sai rằng ÐCSVN tiếp thụ chủ yếu là chủ nghĩa Stalin. Theo quyết định của QTCS, trong thời gian đầu khá dài, hai ÐCS Trung Quốc và Pháp được giao nhiệm vụ "đỡ đầu" ÐCSVN. Vì vậy, ÐCSVN còn chịu thêm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của chủ nghĩa Mao. Việc Nguyễn Ái Quốc vốn là đảng viên của ÐCSTQ, từng phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc, và việc Stalin thỏa thuận với Mao Trạch Ðông hồi năm 1950 giao cho Trung Quốc phụ trách Việt Nam càng làm sâu đậm thêm ảnh hưởng chủ nghĩa Mao đối với Việt Nam.
Cái tinh thần sùng bái Stalin và Mao Trạch Ðông trong ÐCSVN đã có một thời gian dài rất nặng, chủ yếu là do các lãnh tụ và bộ máy tuyên truyền của đảng gieo rắc cho cán bộ, đảng viên, rồi truyền ra dân chúng. Chính kẻ viết bài này đã nhiều lần chứng kiến hiện tượng đó. Chẳng hạn, hồi năm 1950, lúc còn làm ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Thừa Thiên, đã được TƯ ÐCS (lúc bấy giờ là ÐCS Ðông Dương) triệu tập ra chiến khu Việt Bắc dự hội nghị cán bộ để chuẩn bị cho đại hội 2 của đảng vào năm sau. Tại hội nghị đó, Hồ Chí Minh đã giải thích về chủ trương đổi tên ÐCS Ðông Dương thành Ðảng lao động Việt Nam. Sau khi giải thích lợi ích của việc đổi tên đảng là để đảng dễ dàng gần gũi, lôi kéo nhiều tầng lớp dân chúng, nhất là các tầng lớp trên, cả miền Bắc lẫn miền Nam đang còn nghi ngại đảng, ông giơ cao nắp hộp thuốc lá thơm Craven "A" của ông lên về phía có nhãn hiệu thuốc và nói: "Ðây là Ðảng cộng sản", rồi ông quay phía trong nắp không có nhãn hiệu và nói: "Còn đây là Ðảng lao động". Ông lại lớn tiếng hỏi: "Thế thì các cô, các chú thấy có khác gì nhau không?" Cả hội trường đồng thanh đáp vang: "Dạ không ạ!". Ông nghiêm nghị nói: "Các cô, các chú nên biết rằng việc đổi tên đảng ta, Bác đã xin ý kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Ðông rồi (chúng tôi được biết hồi đó ông vừa đi Moskva về), các đồng chí đã đồng ý. Các cô, các chú nên biết rằng: ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được". Cả hội trường vỗ tay rầm rầm. Tại đại hội 2 của đảng (1951), Hồ Chí Minh cũng đã có những lời tuyên bố tương tự. "Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được". Bạn đọc có thấy không, cái đó là cái gì, nếu không phải là sự sùng bái Stalin và Mao Trạch Ðông đến độ mù quáng? Ðây là một chuyện thật 100%, những người cùng thời với chúng tôi đều biết rõ và nhớ kỹ những chuyện như thế, tiếc rằng không mấy ai chịu viết sự thật lên giấy trắng mực đen!
Ðể chứng minh bằng "giấy trắng mực đen" là Hồ Chí Minh đã hết sức đề cao Stalin và Mao Trạch Ðông như thế nào, chúng tôi đành phải dẫn ra vài câu trong "Tuyển Tập Hồ Chí Minh" xuất bản bằng tiếng Pháp hồi năm 1962 (chúng tôi dùng chữ "đành phải" vì lần xuất bản này xảy ra sáu năm sau đại hội 20 ÐCSLX, là đại hội đã vạch trần những tội ác của Stalin, nên nhiều câu ông Hồ ca ngợi Stalin có thể đã bị xóa bỏ từ lâu rồi): "La révolution vietnamienne doit apprendre et a beaucoup appris de l’expérience de la révolution chinoise. L’expérience de la révolution chinoise et la pensée de Mao Tsé Toung nous a permis de mieux comprendre la doctrine de Marx-Engels-Lénine-Staline. Les révolutionnaires vietnamiens doivent en garder le souvenir et se montrer reconnaissants" - Cách mạng Việt Nam phải học và đã học nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc. Kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Ðông đã giúp cho chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết của Marx-Engels-Lenin-Stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Ðông về sự cống hiến to lớn đó (xem: Hồ Chí Minh. Oeuvres Choisies, t.2, Ele, Hanoi, 1962, p. 221-222). Như vậy là những người cộng sản Việt Nam lĩnh hội chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin qua sự lý giải và thực hành của Mao Trạch Ðông, qua tư tưởng Mao Trạch Ðông. Tại đại hội 2 ÐCSVN (2.1951), đại hội đã quyết định rằng cơ sở tư tưởng của Ðảng lao động Việt Nam (tức là ÐCSVN) là chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Ðông. Cũng xin nói thêm, đến năm 1986, khi xuất bản "Toàn Tập Hồ Chí Minh" bằng tiếng Việt - tức là sau khi ÐCSVN và ÐCSTQ đã mâu thuẫn nhau cao độ, thậm chí đem quân đánh nhau dữ dội ở biên giới Viê.t-Trung - thì trong bài này "người ta" đã cố tình cắt bỏ một đoạn, trong đó có những câu vừa nói trên (xem: Hồ Chí Minh. Toàn Tập. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t.6, tr. 12)! Và đây chẳng phải là trường hợp duy nhất của lối làm việc không trung thực khi xuất bản "Toàn Tập Hồ Chí Minh".
Trong "văn học nghệ thuật cung đình" Việt Nam, một thời gian dài đã vang lên bao nhiêu bài thơ, bài ca tôn vinh Stalin, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh như những bậc thánh sống. Tố Hữu, người cai quản văn nghệ "xã hội chủ nghĩa" một thời, là nhà thơ chuyên làm những bài tụng ca các vị thánh sống đó:
... "Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Stalin bên cạnh nhi đồng
Áo Ông trắng giữa mây hồng
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười" ...
... "Hoan hô Stalin!
Ðời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hòa bình
Ðứng đầu sóng ngọn gió!
Hoan hô Hồ Chí Minh!
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến!" ...
... ”Stalin! Stalin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ông đã ... làm sao, mất rồi!
Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!
Hởi ơi, Ông mất! Ðất trời có không ?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương Ông thương mười
Yêu con, yêu nước, yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!"...
Còn Ðỗ Nhuận, tổng thư ký Hội âm nhạc, hết lời ca tụng các "lãnh tụ" kính yêu trong ca khúc của mình:
... "Việt Nam Trung Hoa,
Núi liền núi, sông liền sông,
Chung một biển Ðông,
Mối tình hữu nghị sáng như vừng Ðông.
Anh ở bên ấy, tôi ở bên đây,
Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy rộn,
....
Chung một ý, chung một lòng,
Ðường cách mạng thắm màu cờ hồng
A! A ...
Nhân dân ta ca muôn năm
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông!" ...
Tóm lại, trong một thời gian rất dài, trong thời kỳ bí mật cũng như sau khi cướp được chính quyền, Stalin và Mao Trạch Ðông là những mặt trời, những ngôi sao, những ngọn cờ vẫy gọi ÐCSVN, còn ÐCSLX và ÐCSTQ thật sự là mẫu mực cho ÐCSVN rập khuôn cả về tư tưởng, cả về lề lối sinh hoạt lẫn về kiểu cách tổ chức bộ máy đảng-nhà nước ...
3. ÐCSVN vốn là một phân bộ của QTCS, một bộ phận của PTCSQT. Mà QTCS xây dựng trên những nguyên tắc tập trung dân chủ, cho nên ÐCSVN, cũng như tất cả các ÐCS khác, phải tuyệt đối phục tùng một trung tâm, trung tâm đó về hình thức là BCH QTCS, về thực chất là tập đoàn thống trị ÐCSLX. Ðúng như Nguyễn Ái Quốc đã nói: "Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Ðệ Tam Quốc tế thì các đảng không được làm". Ðiều này nói lên sự lệ thuộc chặt chẽ của ÐCSVN vào tập đoàn thống trị ÐCSLX (và ÐCSTQ) trong một thời gian dài. Trong thời gian đó, sự sùng bái cá nhân Stalin và Mao Trạch Ðông trong ÐCSVN làm cho sự lệ thuộc này càng trầm trọng thêm.
4. Các lãnh tụ cộng sản Việt Nam thường quả quyết rằng với sự ra đời của ÐCSVN, từ năm 1930, "quyền lãnh đạo (cách mạng Việt Nam - NMC) hoàn toàn về giai cấp vô sản" (xem: Lê Duẩn. "Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam". Hà Nội. 1956), vì giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất như Marx đã nói. Cứ cho rằng "phát kiến" của Marx là một định đề (postulat) không cần phải chứng minh nữa (dù trên thực tế, "phát kiến" đó đã bị thực tế bác bỏ), thì thử hỏi: khi ra đời, ÐCSVN có phải là đảng của giai cấp vô sản không? Hồi đó, ở Việt Nam/Ðông Dương đã trải qua cách mạng công nghiệp chưa? Ðã có giai cấp vô sản chưa? Nếu không có thì làm sao có thể coi ÐCSVN là đảng của giai cấp vô sản được? Và nếu nó không có tính chất vô sản thì nó mang tính chất gì? Giải đáp những câu hỏi này rất cần thiết, vì xây dựng đảng cũng giống như xây cất một ngôi nhà, cái nền móng giai cấp đầu tiên vô cùng quan trọng - trong những giai đoạn sau, khó mà thay đổi bản chất của nó được.
Theo những tài liệu công bố của nhà nghiên cứu mác-xít Trần Văn Giàu, vào năm 1929, ở Ðông Dương có 220 ngàn công nhân, trong đó đông nhất là công nhân và viên chức trong các ngành công nghiệp và thương nghiệp 86 ngàn người (39%) , công nhân đồn điền 81 ngàn người (độ 36,8%), công nhân mỏ 53 ngàn người (24%). Trần Văn Giàu lưu ý người đọc rằng đó chưa kể thợ may, thợ cạo, thợ giặt, chèo thuyền, đánh xe ngựa, kéo xe tay, bồi bếp, v.v... rất đông, lại chưa kể thầy giáo trường công, trường tư, trường đạo (xem: Trần Văn Giàu. "Giai cấp công nhân Việt Nam". Hà Nội 1958, tr.169). Chẳng riêng gì Trần Văn Giàu, nói chung giới "học giả mác-xít" của Hà Nội đều có khuynh hướng cố vơ vào giai cấp vô sản nhiều lớp người khác để chứng minh là ở Việt Nam/Ðông Dương đã có một giai cấp vô sản "đàng hoàng" trước khi thành lập ÐCS, từ đó chứng minh "quyền lãnh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản" đã được xác lập vững chắc. Họ thường cố ghép bừa các lớp người không thuộc về giai cấp vô sản vào một chữ chung chung là "công nhân", mà lờ đi khái niệm rõ ràng của Marx và Engels về giai cấp vô sản "là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, do cách mạng công nghiệp đẻ ra". Phải nói rằng về mặt này, tiếng Việt trước đây đã khá chính xác: trước năm 1945, trong từ vựng của dân tộc đã phân rõ các lớp người trong xã hội bằng những từ "thợ", "phu" và "thầy".... Người ta nói "thợ", "thợ máy", "thợ thủ công", v.v... (từ tập hợp là"thợ thuyền"), "phu", "phu đồn điền", "phu mỏ", "phu khuân vác", v.v... (từ tập hợp là "phu phen"), "thầy", "thầy ký", "thầy thông", "thầy giáo", v.v... một cách rất bình thường, hoàn toàn không có tinh thần kỳ thị. Nhưng sau tháng 8 năm 1945, những người cộng sản chỉ cho dùng một chữ "công nhân" cốt làm cho sự phân biệt đó bị xóa nhòa, làm tăng số lượng "giai cấp công nhân".
Xét về bản chất giai cấp vô sản theo đòi hỏi của Marx, thì phải nhận thấy rằng ngay cả thợ thuyền trong nhà máy ở Ðông Dương hồi những năm 20, 30 phần đông vẫn còn quan hệ kinh tế chặt chẽ với nông thôn, nhiều người có ruộng đất ở làng quê, như thế theo Marx, Lenin, là có sở hữu tư nhân. Thợ thuyền, phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân vác... hồi đó, phần đông xuất thân từ nông dân, lớp nghèo thành thị và lớp "đáy" xã hội mà Marx gọi là "lumpen-prolétariat" (vô sản lưu manh), điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, tâm lý, não trạng của cái gọi là "giai cấp vô sản" Việt Nam/Ðông Dương. Với chất liệu xã hội như thế để xây dựng đảng, thì làm sao ÐCS mang được tính chất vô sản? làm sao có thể gọi ÐCSVN là đảng vô sản được? Ðiều này càng về sau càng đẻ ra hậu quả cho dân tộc và cả cho cái gọi là sự nghiệp "vô sản" nữa.
Dù cho cứ gọi chung tất cả khối người đó là công nhân, như các nhà nghiên cứu của đảng đã quyết đoán "lấy được", và cứ giả dụ họ là một "giai cấp vô sản" thật, "sinh ra từ cuộc cách mạng công nghiệp" thật (dù cuộc cách mạng đó không có ở Ðông Dương và Việt Nam!), theo đúng tiêu chuẩn của Marx thật, thì cái tỉ lệ 1,1% công nhân (mà tuyệt đại đa số là mù chữ, không có học vấn hoặc có cũng rất thấp) so với dân số Việt Nam hồi đó (220 ngàn so với khoảng 20 triệu người; theo tài liệu của QTCS thì thống kê dân số toàn Ðông Dương hồi năm 1928 có 20 413 504 người, trong đó người Âu, không kể quân đội, là 20 528 người, dân nhập cư người Á, phần lớn Hoa kiều, là 688 317 người, "người An Nam" 19 700 695 người) thì làm sao có thể khẳng định cái tỉ lệ rất bé nhỏ đó lại nhất định phải có "quyền lãnh đạo hoàn toàn" đối với đại khối dân chúng gồm 98,9% dân số? làm sao có thể khẳng định được rằng ÐCSVN là của giai cấp vô sản và nhất định đảng ấy phải nắm độc quyền lãnh đạo đất nước? Thật ra, ngay cả những "nhà lãnh đạo" của ÐCSVN không mấy ai hồi đó đã đọc nổi các tác phẩm chủ yếu của các vị tổ sư của chủ nghĩa cộng sản, nhiều người may lắm là được biết vài nét sơ lược, thế thì làm sao dám quả quyết là "quyền lãnh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản" được? Hơn nữa, các "nhà lãnh đạo" đó phải chăng là vô sản? Trong một tài liệu của QTCS bằng tiếng Pháp, nhan đề "Questions intérieurs du Parti et les fautes opportunistes dans le Parti. Tâches imédiates" (Những vấn đề nội bộ của Ðảng và những sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong Ðảng. Những nhiệm vụ trước mắt), bài nói ngày 21.9.1931 (RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 561, tr.1-5) có nhận xét như sau: "những sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong ÐCSVN là do nguồn gốc xã hội của đảng"... "thành phần xã hội của đảng rất xấu, đa số là trí thức"... "tiểu tư sản thống trị", nên trong đảng có nhiều phần tử cơ hội. Ðó là cách nhìn của QTCS đối với ÐCSVN, chúng tôi muốn giới thiệu mà không bình luận để bạn đọc rộng đường suy nghĩ.
Vì thế không lấy làm lạ khi thấy những thành phần không vô sản hoặc thuộc tầng lớp vô sản lưu manh giữ vai vế trọng yếu trong ÐCSVN - tổng bí thư xuất thân là hoạn lợn, ủy viên BCT kiêm chủ tịch nước vốn là cai phu đồn điền từng đánh đập phu phen, ủy viên BCT xuất thân một tên móc túi lại vỗ ngực là công nhân, v.v... Biết bao hiện tượng đáng buồn chỉ làm tủi hổ giai-cấp-vô-sản-lý-tưởng của Marx, như có những ủy viên BCT luôn miệng răn dạy đảng viên về lòng trung thành thì hóa ra là đã từng khai báo phản bội hay thậm chí làm tay sai cho địch, kẻ chết rồi mới phát hiện ra, người bị vỡ lở khi còn tại chức... Nhưng, có lẽ, đáng buồn hơn cả là sự lây lan tính chất lumpen (lưu manh) từ lãnh đạo ra đảng viên, trong ÐCS ra ngoài dân chúng và đã tạo nên sự sa đọa rất trầm trọng về đạo đức, nhân cách và tinh thần trong đảng và ngoài xã hội. Mà hậu quả của tình trạng này không dễ dàng gì giải quyết trong một vài thế hệ dưới chế độ dân chủ. Quá trình lumpenization (lưu manh hóa) vừa nói thì không riêng gì ÐCSVN bị mà là một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các đảng cầm quyền. ÐCS càng hô khẩu hiệu "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa" bao nhiêu thì kết quả thu được càng ngược lại điều họ nói bấy nhiêu. Các bạn đọc đã từng sống dưới những chế độ khác nhau thì dễ dàng so sánh và thấy rõ điều này.
5. Ngay từ đầu, ÐCSVN được xây dựng theo đúng "lý luận" và mẫu mực của đảng Lenin và Stalin, nghĩa là một hội kín của những kẻ âm mưu, gồm phần lớn là "những người cách mạng chuyên nghiệp" được nuôi dưỡng, đào tạo và chỉ huy từ bên ngoài. Cái "tính chất âm mưu", "hành động khủng bố" thể hiện rõ trong hoạt động của đảng, thậm chí cả về sau này khi đảng đã nắm quyền rồi. Ngay cái nguồn tài chính của đảng suốt mấy chục năm hoạt động bí mật và kháng chiến dựa vào việc buôn lậu thuốc phiện cũng đủ nói rõ cái tính chất của đảng. Lúc mới thành lập, ÐCSVN nhắm mục tiêu trước mắt quan trọng nhất là cướp chính quyền bằng bạo lực, dưới sự chỉ huy của "những người cách mạng chuyên nghiệp". Cứ tỉnh táo nhìn vào thành phần xuất thân, trình độ học vấn, v.v.... của "những người cách mạng chuyên nghiệp" đó, thì dễ dàng nhận thấy họ là hạng người chỉ có khả năng tổ chức những cuộc âm mưu, khủng bố, đập phá, đàn áp, cưỡng bức, v.v... chứ không có khả năng làm công việc có tính xây dựng. Vì thế, trong suốt quá trình tồn tại, đầu óc sùng bái bạo lực của ÐCS rất nặng. Trường Chinh đã viết: "Từ ngày ra đời, luôn luôn trung thành với tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Marx-Lenin, ... đảng ta đã xác định con đường cách mạng bạo lực là con đường duy nhất đúng đắn để đánh đổ kẻ thù giai cấp và của dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân (đúng hơn là về tay một nhúm chóp bu trong đảng - NMC), bảo vệ chính quyền cách mạng, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi ..." (xem: Trường Chinh. "Ðời đời nhớ ơn Các Mác và đi con đường Các Mác đã vạch ra". Hà Nội, 1969, tr.47-49). Trường Chinh nói những lời này trong dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của K.Marx (1968), ngay sau vụ bắt bớ, giam cầm hàng loạt cán bộ đảng viên bất đồng với đường lối Mao-ít của hội nghị lần thứ 9 TƯ ÐCSVN. Bài nói của ông nói nhằm biểu thị thái độ của TƯ ÐCSVN chống đường lối của ÐCSLX và tỏ tình đoàn kết với phe Mao-ít trong ÐCSTQ, trước ngày Lưu Thiếu Kỳ đặt chân đến Hà Nội để mưu đồ tạo thế liên kết Trung - Việt chống Liên Xô. Những lời lẽ đó phản ánh đúng thực chất tư tưởng của các lãnh tụ cộng sản Việt Nam - đầu óc sùng bái bạo lực rất nặng, không chỉ khi cướp chính quyền và giữ chính quyền, mà cả khi xây dựng "xã hội mới".
Ðể hiểu rõ hơn thực chất của ÐCS là "một hội kín của những kẻ âm mưu", xin hãy nhìn lại lịch sử ngay từ thời kỳ thành lập đảng. Hồi năm 1929, ở Việt Nam đã có những tổ chức cộng sản xin gia nhập QTCS, đó là Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội và Tân Việt. Nhưng QTCS cho rằng những tổ chức đó chưa đủ tiêu chuẩn ÐCS và đã chỉ thị cho những tổ chức đó phải làm thế nào để trở thành ÐCS. Sau đó, cũng trong năm 1929, từ các tổ chức nói trên đã xuất hiện ba ÐCS - Ðông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng và Ðông Dương cộng sản liên đoàn. Cả ba tổ chức đó đều tự xưng là cộng sản nhưng lại kình chống nhau kịch liệt. QTCS bèn chỉ thị cho ba ÐCS đó phải thống nhất lại. Ngày 6 tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa phái viên của QTCS mời đại biểu ba đảng đến Hồng Kông họp để thống nhất. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng, các đại biểu giả vờ là khán giả xem bóng đá để họp. Có ba người đến họp: Trịnh Ðịnh Cửu, đại biểu cho Ðông Dương cộng sản đảng, Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm, đại biểu cho An Nam cộng sản đảng (xem: Trần Văn Giàu. "Giai cấp công nhân Việt Nam". Hà Nội, 1958, tr. 487). Như vậy là không có mặt Ðông Dương cộng sản liên đoàn. Hội nghị quyết định thống nhất ba đảng, kể cả đảng bộ cộng sản của Hoa kiều, thành một đảng, lấy tên là Ðảng cộng sản Việt Nam, chỉ định trung ương đảng chín người. Từ đó, TƯ ÐCSVN coi ngày 6 tháng 1 là ngày thành lập ÐCSVN. Trong suốt 30 năm, hàng năm vẫn lấy ngày 6 tháng 1 để kỷ niệm thành lập đảng thì đùng một cái, đến đại hội 3 của ÐCSVN (1960), BCT TƯ đề nghị đại hội thông qua quyết định thay đổi lại ngày thành lập ÐCSVN là ngày 3.2.1930, lấy lý do "các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô". Tại đại hội, một đại biểu (Lê Minh) lên phản bác đề nghị thay đổi ngày thành lập đảng, thì Hồ Chí Minh ngồi trên chủ tịch đoàn gạt phăng, không cho thảo luận. Thế là đại hội thông qua việc thay đổi lại ngày sinh của ÐCSVN.
Nhân thể xin nói thêm. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng ở Hồng Kông được nói đi nói lại nhiều lần trong ba bốn thập niên ròng cứ mỗi dịp kỷ niệm thành lập đảng. Thế nhưng, đến những năm 80, chắc thấy cuộc họp trên sân bóng có vẻ lén lút như cuộc gặp mặt của những kẻ âm mưu, nên người ta đã "viết lại" sử đảng: "Sau 5 ngày làm việc hết sức khẩn trương (từ 3 đến 7 tháng 2) trong hoàn cảnh bí mật, hội nghị đã nhất trí tán thành thống nhất các đảng cộng sản..." (xem: "Lịch sử Ðảng cộng sản Việt Nam". NXB Sự thật, 1985, tr.27).
Những chuyện đại loại như thế có nhiều trong lịch sử ÐCSVN làm nổi bật tính chất "lèm nhèm", không đàng hoàng của một hội kín của những kẻ âm mưu.
6. Xin nói thêm một chuyện "lèm nhèm" tương tự nữa: cái gọi là phong trào Xô-viết Nghê.-Tĩnh. Nếu nói đúng sự thật thì trong cuộc nổi dậy mạnh mẽ và dũng cảm của nông dân hồi tháng 8 - 9 năm 1930, không một nơi nào ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã lập ra xô-viết cả. Hồi đó, ở một số vùng nông dân nổi dậy, hào lý sợ hãi bỏ chạy, dân làng cử vài người đứng ra lo một vài việc ở xã thôn, và tùy nơi gọi đó là "xã bộ", "xã bộ nông", "thôn bộ", "thôn bộ nông" hoặc không gọi tên gì cả. Thế nhưng khi được tin nông dân nổi dậy ở Nghê.-Tĩnh, Nguyễn Ái Quốc đã vội vã báo cáo hồi tháng 11 năm đó cho QTCS và Quốc tế Nông dân (một tổ chức quần chúng "hữu danh vô thực" của QTCS) là: "Hiện nay ở một số làng đỏ, Xô-viết nông dân đã được thành lập". Từ đó, cái tên Xô-viết Nghê.-Tĩnh được tung ra và trở thành "lịch sử": sau này, ban lãnh đạo ÐCSVN cố nói lấy được là ở Nghê.-Tĩnh đã có các xô-viết, đã có phong trào Xô-viết Nghê.-Tĩnh. Trong lúc đó, chính những người viết sử của đảng đã phải thừa nhận trên giấy trắng mực đen như sau: "về chủ trương thành lập chính quyền Xô-viết thì hồi đó không đồng chí nào nhận được chỉ thị hoặc nghe phổ biến" và "khi xã bộ nông đã nắm quyền hành ở nông thôn mà vẫn chưa có quan niệm rõ là ta đã giành được chính quyền". Ðiều đó nói lên gì? Một là, ngay ở Nghê.-Tĩnh không đâu có chủ trương hay ý định lập chính quyền, chứ nói gì đến chính quyền xô-viết; hai là, chính ÐCSVN cũng không có chủ trương lập chính quyền xô-viết; và ba là, đảng viên và dân chúng ở các địa phương đó không hề có ai biết "xô-viết" là cái gì cả. Thế mà... úm ba la... lại "có" các "xô-viết"! Lại "có" phong trào "Xô-viết Nghê.-Tĩnh"! Những người viết sử đảng buộc phải xác nhận những điều thực tế nói trên trong sách "Xô-viết Nghê.-Tĩnh", lại cố gượng gạo giải thích: "Ðảng đã xác nhận rằng ở Nghê.-Tĩnh đã có chính quyền Xô-viết là căn cứ vào sự hoạt động và những chức năng của chính quyền ấy" (những câu trong ngoặc kép của cả đoạn này đều trích từ sách: "Xô-viết Nghê.-Tĩnh". Hà Nội, 1962, tr. 11, 92-93). Ðó là kiểu ngụy biện, nói lấy được muôn thuở của những người cộng sản. Thử hỏi: thế thì vì sao sau này chính quyền do ÐCS lập ra cũng có "sự hoạt động và những chức năng" đúng như vậy lại không gọi là xô-viết?
Trong việc này có thể có hai khả năng. Hoặc là hồi đó, thấy QTCS đang đề ra nhiệm vụ trước mắt cho các ÐCS là "xô-viết hóa các nước", nên Nguyễn Ái Quốc báo cáo như thế để làm đẹp lòng cấp trên. Hoặc là cán bộ QTCS gợi ý cho Nguyễn Ái Quốc báo cáo như thế để cổ động các nước khác theo gương lập ra các xô-viết. Khả năng đầu nhiều hơn, nhưng dù khả năng nào đi nữa thì đó cũng là sự lừa dối lịch sử.
Trong cuộc nổi dậy của nông dân Nghê.-Tĩnh, lần đầu tiên trong lịch sử, những người cộng sản Việt Nam ở vùng này đã hé ra cho mọi người thấy rõ bộ mặt thật của "chuyên chính vô sản" qua những chính sách và hành động ác liệt của họ, như "Trí, Phú, Ðịa, Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" ... Ðối tượng hàng đầu bị "đánh" là trí thức, mà trí thức ở làng xã Nghệ Tĩnh hồi đó là những ai thì độc giả có thể hình dung được, thiết tưởng không cần phải kể ra.
Nói cho công bằng, khởi đầu chỉ có vài cuộc đấu tranh tự phát, sau đó một vài người trong Kỳ bộ Trung Kỳ, chứ không phải cả Kỳ bộ, mới chủ trương phát động cuộc nổi dậy phiêu lưu này. Thường vụ Trung ương ÐCSVN ở trong nước do Trần Phú làm tổng bí thư thì hoàn toàn không hay biết gì hết về chủ trương này. Thường vụ Trung ương bị đặt trước "việc đã rồi", rất bị động, đã phê phán mạnh mẽ tính chất manh động, tả khuynh của phong trào Nghê.-Tĩnh và rất bực mình vì sự báo cáo vội vã của Nguyễn Ái Quốc với QTCS. Ðây là một trong nhiều việc khác thúc đẩy Trung ương ÐCS ở trong nước, một thời gian sau đó, đã gửi thư lên BCH QTCS nói lên sự bất bình của mình đối với Nguyễn Ái Quốc. Người viết bài này đã được đọc nguyên văn bức thư đó tại kho lưu trữ của QTCS (nay là RSKHIDNI). Ðây là nội dung một đoạn: ... "Liên lạc. Xin các đồng chí hãy viết trực tiếp cho chúng tôi, vì rằng khi Quốc (tức là Nguyễn Ái Quốc - NMC) truyền đạt thì anh ta nói quá vắn tắt và đôi khi anh ta đưa ý kiến riêng của cá nhân vào mà không xin ý kiến các đồng chí, và cũng không báo cho các đồng chí biết, dù anh ta chỉ là liên lạc viên thôi. Chúng tôi cũng viết trực tiếp cho các đồng chí. Vì sao Quốc lại cứ liên lạc với TƯ và Bắc Kỳ bộ, ở đâu anh ta cũng ra mệnh lệnh, ở đâu anh ta cũng đòi báo cáo. Tình trạng như thế làm cho chúng tôi cực kỳ khó khăn (trong nguyên văn là "khó khăn khủng khiếp" - NMC). Thậm chí các đồng chí ở các Kỳ bộ hỏi chúng tôi: "Ai lãnh đạo chúng tôi, TƯ hay là Quốc?" Chúng tôi hy vọng rằng từ nay về sau, về các vấn đề có liên quan đến đảng chúng tôi, các đồng chí sẽ liên lạc trực tiếp với TƯ và các đồng chí sẽ giải thích cho Quốc rằng tình trạng đã xảy ra vừa qua là không bình thường. Nếu Kỳ bộ phải làm báo cáo cho khắp nơi và nhận mệnh lệnh và chỉ thị từ khắp nơi, thì như vậy chúng tôi sẽ rất khó khăn trong việc cung cấp tình hình chính xác cho các đồng chí và điều đó đặc biệt gây ra nhiều khó khăn cho sự lãnh đạo của TƯ đối với toàn thể bộ máy của mình. Chúng tôi yêu cầu các đồng chí giải thích ngay cho Quốc trách nhiệm của anh ta là ở việc gì, và đòi anh ta phải chuyển giao cho các đồng chí tất cả những gì anh ta nhận từ chúng tôi (báo, truyền đơn, thông tri, v.v...). Từ nay trở đi, chúng tôi sẽ gửi trực tiếp đến các đồng chí những báo cáo và thư từ bằng tiếng Pháp, còn Quốc thì chỉ có nhiệm vụ chuyển lại các đồng chí mà không cần phải giữ lại ở chỗ anh ta và tự mình nghiên cứu" ... Ðể bạn đọc thấy rõ vấn đề, người viết cố ý trích dịch từ nguyên bản đoạn có liên quan đến Nguyễn Ái Quốc trong thư của TƯ ÐCS Ðông Dương đề ngày 2.7.1931, viết bằng tiếng Nga và tiếng Pháp, có ghi chữ Tối mật, hiện lưu giữ tại RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 463, toàn văn bức thư ở trang 147-156, riêng đoạn đã dẫn trên đây do chúng tôi dịch ở trang 156. Có thể tin chắc rằng hồi đó, Trung ương ÐCSVN ở trong nước đã nắm được "tính cách" Nguyễn Ái Quốc cũng như "động cơ" của việc ông Nguyễn vội vã báo cáo với QTCS về các "xô-viết" tưởng tượng.
7. Với thực chất đảng-hội kín của những kẻ âm mưu, ÐCSVN đặt ra một thứ kỷ luật sắt vô cùng nghiêm ngặt theo đúng tinh thần của Stalin. Nhiều người mới vào ÐCS thường không hiểu được vì sao lại gọi là "kỷ luật sắt"? Hồi năm1929, đại hội Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội (sau này xin viết tắt là Ðồng chí hội), tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam tự đặt cho mình nhiệm vụ "chỉ huy cách mạng Việt Nam... lập vô sản chuyên chính, làm cho cách mạng thế giới chóng thành", đã quy định hình thức "kỷ luật sắt" xử tử đối với các đảng viên phạm một trong những tội như: theo địch, làm hại đến an toàn của đồng chí, cố ý làm sai chỉ thị, mưu phá hoại hội, cố ý làm lộ bí mật (xem: "Lịch sử cận đại Việt Nam". Hà Nội 1963, t.4, tr.204). Ðiều đó chắc ít đảng viên cộng sản ngày nay được biết, cũng như không mấy ai được biết về những vụ xử án tử hình của tổ chức cộng sản đầu tiên ấy ở Việt Nam. Chẳng hạn, "vụ giết người ở đường Barbier, Sài Gòn" (nay là đường Lý Trần Quán, thuộc phường Tân Ðịnh, quận 1) hồi năm 1929 mà nạn nhân là một người lãnh đạo Kỳ bộ Nam Kỳ của Ðồng chí hội bí danh là Lang đã bị Kỳ bộ xử bí mật tuyên án tử hình vì tội "đã cưỡng ép nữ đồng chí Trần Thị Nhất bí danh là Lê Oanh 18 tuổi". Các tội phạm trong vụ giết người này là Tôn Ðức Thắng, Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Duy Trinh, v.v... đã bị Tòa án đại hình Sài Gòn kết án nặng ngày18.7.1930 (tài liệu sưu tầm của nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến). Hồi tháng 4.1994, người viết cũng đã được đọc về vụ án này trên một tài liệu gửi đến QTCS nhan đề "Từ bản cáo trạng của Tổng công tố Sài Gòn chống những bị cáo của vụ án ở đường Barbier" tại RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 564, trang 62-72, trong đó có đưa ra một chi tiết đáng nói ở đây: người bị giết tên là Tan Ðức Toang (vì phiên âm từ tiếng Nga nên chúng tôi không rõ họ Trần hay Tân và tên Toáng hay gì khác), người này đã đánh Tôn Ðức Thắng, nên bị đuổi ra khỏi đảng, sau đó anh ta lập ra tổ chức biệt phái Nam Kỳ Công hội (nếu dịch theo sát tiếng Nga là Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Kỳ). Ðó là lý do bị giết. Cũng trên tài liệu này có ghi dòng chữ khó hiểu này: "có chú thích của M (?) - chúng tôi cho rằng cải chính điều bịa đặt của ông công tố về việc phân liệt là thừa". Dù nhìn dưới khía cạnh nào thì vụ án giết người này cũng đã xảy ra thật và những người phạm tội cũng là những con người có thật.
Nói cho công bằng thì QTCS đã gửi thư phê phán hình thức kỷ luật tử hình (thành văn) ấy trong điều lệ của Ðồng chí hội. Phê phán thì phê phán, nhưng thật ra, ngay trong ÐCS bolshevik Nga/Liên Xô thậm chí khi đã nắm quyền rồi mà hình thức kỷ luật tử hình (bất thành văn) ấy vẫn còn được áp dụng: hàng nhiều thập niên dưới thời Stalin, hàng triệu cán bộ, đảng viên đã bị hành quyết chỉ vì cái "tội" bất đồng chính kiến hoặc phê bình "lãnh tụ" hoặc chẳng có tội gì cả! Thế thì sự phê phán đó của QTCS còn có nghĩa lý gì? Chính vì thế, ở Việt Nam, trong thời kỳ ÐCS còn hoạt động bí mật đã có nhiều đảng viên chỉ vì bị lãnh đạo nghi ngờ mà bị đảng thủ tiêu. Còn trong thời kỳ ÐCS đã nắm chính quyền thì những đảng viên bất đồng chính kiến với lãnh đạo đều bị lãnh đạo "chấm dứt sinh mệnh chính trị", còn vợ con, anh em, bà con, bè bạn đều bị vạ lây. Ðó là chưa nói đến sự bắt bớ, giam cầm, tra tấn, hành hạ, quản chế, tù tội, có người chết trong tù ngục, có người chết khi bị tù tại gia. Ngoại trừ đảng phát xít và ÐCS, không một chính đảng nào với tư cách là một tổ chức xã hội trong thế giới văn minh này mà có một thứ "kỷ luật sắt" như thế. Kỷ luật sắt đó là một lưỡi gươm Damocles lơ lửng treo trên đầu mọi người bắt họ phải tuyệt đối phục tùng kẻ thống trị ...
8. Là một "hội kín của những kẻ âm mưu" hoạt động trong điều kiện cực kỳ khó khăn dưới chế độ thực dân, cố nhiên, ÐCS phải coi trọng nguyên tắc bí mật để bảo vệ mình và thực hiện được ý đồ cướp chính quyền. Ðó là điều đương nhiên. Thế nhưng, khi đảng đã cướp được chính quyền rồi, nguyên tắc bí mật chẳng những không giảm bớt mà lại càng tăng cường thêm, phạm vi giữ bí mật càng rộng thêm, đối tượng giữ bí mật càng nhiều lên, các đề tài giữ bí mật được liệt kê ngày một dài ra. Ngay trong ÐCS, một chế độ giữ bí mật được "quy chế hóa" rất chặt chẽ, cực kỳ tinh vi đến nỗi chẳng những dân chúng mà cả cán bộ đảng viên cũng bị tước mất quyền được thông tin khách quan và chính xác. Có thể nói, nguyên tắc giữ bí mật trong ÐCS được thực hiện theo "chế độ khoanh vòng". Vấn đề này chỉ có vài người trong BCT được biết (vòng 1), vấn đề kia chỉ BCT được biết (vòng 2), vấn đề nọ không phổ biến ra ngoài TƯ (vòng 3). Vấn đề nào chỉ phổ biến đến bí thư tỉnh và thành phố (vòng 4) thì các ban thường vụ tỉnh và thành phố không được biết (vòng 5), vấn đề nào chỉ phổ biến đến thường vụ tỉnh ủy, thành ủy thì các tỉnh ủy viên, thành ủy viên không được biết (vòng 6), v.v... cứ thế đi xuống tận cơ sở. Khi đến đảng viên và người dân thì sự thật bị bóp méo đến chục lần rồi và trở thành điều dối trá trắng trợn! Mà thật ra những điều gọi là "bí mật" có phải là bí mật gì ghê gớm cho cam, lắm lúc đó chỉ là những thông tin mà ở các nước dân chủ đăng đầy trên các báo, ai cũng có thể đọc được! Giữ bí mật để độc quyền thông tin, độc quyền bưng bít và xuyên tạc sự thật là một trong những nền tảng của chế độ độc tài toàn trị. Và đó cũng là một đặc quyền của các đẳng cấp thống trị!
9. ÐCSVN theo nguyên tắc tập trung dân chủ, điều đó có nghĩa là: tập trung là căn bản, còn dân chủ chỉ là hình thức. Nguyên tắc này bảo đảm sự tồn tại mãi mãi của một kẻ độc tài hay một nhóm độc tài toàn quyền thao túng công việc đảng và nhà nước, độc tôn thống trị toàn xã hội. Cứ nhìn lề lối sinh hoạt nội bộ ÐCSVN cũng đủ thấy được điều đó. Chẳng hạn, nói về đại hội toàn đảng và đại hội các cấp. Vấn đề không chỉ là phải họp đều kỳ (thực ra trước đây TƯ thường lấy nê hoàn cảnh khó khăn để kéo dài khoảng cách giữa các đại hội), mà còn - quan trọng hơn - cách tổ chức thế nào để bảo đảm được chế độ dân chủ trong đảng. Khốn thay, điều quan tâm nhất của tập đoàn thống trị lại không phải là bảo đảm được chế độ dân chủ trong đảng, mà là bảo đảm địa vị thống trị lâu dài, mãi mãi của họ trong đảng-nhà nước. Thông thường khi chuẩn bị đại hội toàn quốc, BCT TƯ đưa ra một đề cương về đường lối, chủ trương, hay kế hoạch kinh tế xã hội (thường dưới dạng dự thảo báo cáo của TƯ) cho đại hội các cấp dưới thảo luận và bầu đại biểu dự đại hội. Ðề cương này được coi là chân lý, nghĩa là đại hội các cấp chỉ có thể thảo luận theo sự hướng dẫn của cấp trên để "quán triệt", "thấm nhuần", hoặc "thêm râu ria, mắm muối", chứ không thể phản bác, không thể có ý kiến khác biệt hoặc trái ngược, càng không thể đưa ra đề cương khác để cùng thảo luận, tranh luận cho ra lẽ. Những đại biểu nào ở cấp dưới tỏ ra "thông suốt", "nhất trí cao" với đề cương của TƯ thì mới được cử đi dự đại hội cấp trên. Theo lệnh của BCT TƯ, ban tổ chức TƯ phải có nhiệm vụ hướng dẫn các cấp dưới bầu đại biểu đi dự đại hội toàn quốc "đúng yêu cầu của TƯ". Làm như vậy, thì chắc chắn bảo đảm trăm phần trăm đường lối cũng như thành phần nhân sự ban lãnh đạo mới mà tập đoàn thống trị muốn sẽ được thông qua. Thậm chí, để chắc chắn đạt được yêu cầu của cấp trên, có khi tại đại hội đảng người ta còn tổ chức bầu cử thử ban chấp hành, nếu không đúng ý lãnh đạo thì lại tiếp tục "đả thông"! Ðấy, bằng cái gọi là "tập trung dân chủ" và "dân chủ có lãnh đạo" như thế, tập đoàn thống trị duy trì lâu dài quyền lực của mình trong đảng, trong nhà nước và xã hội.
10. Do những nguyên tắc sinh hoạt như trên, trong ÐCS và trong xã hội "xã hội chủ nghĩa", hình thành rõ rệt một chế độ đẳng cấp có tính chất phong kiến, chủ yếu dựa trên mức độ được cấp trên tin cậy và do đó được hưởng thụ vật chất với mức độ khác nhau trong hàng ngũ cán bộ. Người ta gọi đó là "chế độ đãi ngộ cán bộ", nhưng thật ra đó là một chế độ đặc quyền đặc lợi với những quy định cực kỳ phức tạp và phong kiến. Thậm chí khi đã chết rồi, những cán bộ cộng sản cũng "được" phân biệt đối xử theo chế độ đặc quyền đặc lợi đó: từ việc cáo phó được đăng báo hay không, vị trí trên tờ báo - trang nhất hay trang cuối, kèm ảnh hay không kèm ảnh, khổ ảnh to nhỏ, rộng hẹp, cho đến việc chôn cất như thế nào, lễ nghi ra sao, ai được chôn ở đâu, rộng hẹp mấy thước, v.v... Ðấy, người cộng sản vô thần, "chí công vô tư" coi trọng cái chết của họ như thế đấy. Còn những thứ khác liên quan đến sự sống vật chất thì khỏi phải nói! Tất cả mọi thứ, từ cái ăn, cái mặc, cái ở, việc chữa bệnh, an dưỡng, nghỉ ngơi, thậm chí đến việc học hành của con cái đều phân biệt đối xử chi li theo đẳng cấp, tôn ti trật tự. Ngày nay, giai cấp cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục duy trì chế độ đẳng cấp để dựa vào các tổ chức chính quyền, các công ty quốc doanh ăn của đút, ức hiếp dân thường, mánh mung làm ăn bất hợp pháp, che đậy cho thân thuộc đứng đầu các công ty gọi là "tư nhân" vơ vét tài sản nhà nước, làm giàu bất chính. Chính vì thế, từ lâu rồi trong ÐCSVN đã hình thành một lớp "nịnh thần" - lớp người do khéo bợ đỡ, xu nịnh, a dua cấp trên mà được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo, có đủ mọi đặc quyền đặc lợi, mà trước tiên là "đặc lợi" tham nhũng. Lớp "nịnh thần" này là nòng cốt của giai cấp mới thống trị trong xã hội "xã hội chủ nghĩa" Việt Nam, là chỗ dựa của ÐCSVN.
Ngày nay, trong văn chương bình dân dưới thời "xã hội chủ nghĩa" vẫn còn truyền tụng câu ca dao châm biếm cái chế độ phân phối thực phẩm theo đẳng cấp phong kiến đó của "đảng ta":
Tôn Ðản (cửa hàng ở phố Tôn Ðản bán hàng tốt và rẻ cho cán bộ cao cấp) là chợ vua quan,
Nhà Thờ (cửa hàng ở phố Nhà Thờ bán cho cán bộ trung cấp) là chợ trung gian nịnh thần,
Ðồng Xuân là chợ thương nhân, Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.
11. ÐCSVN ngoài miệng thường tuyên bố là họ đấu tranh cho một xã hội không có giai cấp, đấu tranh cho công bằng xã hội, v.v... nhưng khi đã cầm quyền rồi thì chính họ lại đẻ ra một giai cấp xã hội mới - giai cấp quan liêu nomenklatura, và ngay trong giai cấp đó lại chia ra nhiều đẳng cấp rõ rệt, tạo nên sự bất bình đẳng xã hội trầm trọng nhất. Vì thế đầu óc đẳng cấp "xôi thịt", nạn "mua quan bán chức" nặng nề làm cho số ít người có nhân cách trong đảng thấy xấu hổ, nhưng một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên thì như đàn ruồi lao vào "đĩa mật" đặc quyền đặc lợi, đua nhau còng lưng cúi gối, luồn lọt nịnh bợ cấp trên, cốt để leo lên địa vị cao hơn. Lên địa vị cao hơn thì lại muốn cao hơn nữa và quay lại đè nén cấp dưới, hoạnh họe làm tiền để bù vào "chi phí sản xuất" khi phải đút lót cấp trên. Ngày nay, nhiều người vào ÐCS là để kiếm lợi, để vươn lên giai cấp cầm quyền, chứ không phải để đấu tranh cho xã hội công bằng tốt đẹp. Vì thế ở nông thôn Việt Nam nghèo khổ, tối tăm, người nông dân vẫn bị đám "cường hào mới", chủ yếu là cán bộ của đảng, đè nén, áp bức, bóc lột không khác gì dưới thời Pháp thuộc, có khi còn nặng nề hơn vì bộ máy cai trị ở nông thôn ngày nay đông hơn thời Pháp gấp bội (theo thống kê của Trần Văn Giàu, số cán bộ nhân viên nhà nước chỉ trong một tỉnh Thanh Hóa đã đông hơn số công chức toàn Ðông Dương dưới thời Pháp). Còn ở thành thị thì nạn tham nhũng tràn lan, các "quan cán bộ" tha hồ nhận "phong bì" hầu như bán công khai. Thậm chí tổng bí thư ÐCS cũng nhận "phong bao" của công ty nước ngoài hàng triệu đô la, những ủy viên BCT TƯ hay ủy viên TƯ, thủ tướng, phó thủ tướng, thống đốc Ngân hàng nhà nước đút túi riêng bạc triệu bị cán bộ đảng viên trung thực tố cáo, khiếu nại bao lần thì vẫn nguyên vị (mới đây một phó thủ tướng và một thống đốc Ngân hàng bị "xử lý nội bộ" theo kiểu "giơ cao đánh khẽ"!), còn những cán bộ đảng viên thật lòng muốn giúp lãnh đạo làm trong sạch bộ máy đảng- nhà nước thì lại bị đàn áp, sách nhiễu, hành hạ "đến sống dở chết dở" (xem: thư của cựu chiến binh Trần Dũng Tiến gửi tổng bí thư Lê Khả Phiêu tố cáo tình cảnh 11 cụ đảng viên bị đàn áp vì đã dám vạch trần tội tham nhũng của các cán bộ cao cấp). Cái gọi là tính chất "tiên phong" của ÐCSVN ngày nay quả thật là sự mỉa mai chua chát.
12. Chính do sự sa đọa đạo đức của cán bộ đảng viên, sự biến chất khủng khiếp của ÐCSVN như vậy, nên hiện nay trong ÐCSVN tình trạng chia bè, lập khối rất trầm trọng và phổ biến dựa trên "nguyên tắc" giành và giữ lợi ích kinh tế và địa vị trong đảng-nhà nước. Các cấp càng cao thì sự đấu đá nhau càng dữ dội và thâm độc để giành và giữ quyền lực. Còn ở nông thôn tình trạng năm bè bảy bối thật trầm trọng, các chi bộ đảng ở nhiều nơi dựa theo "nguyên tắc" tộc phái, họ hàng (clan), họ nọ chống họ kia. Cái gọi là "tình đồng chí", "tình giai cấp" chỉ là sự mỉa mai! Tình trạng chia rẽ, bè phái này cũng như nạn tham nhũng là những chứng bệnh nan trị kinh niên của ÐCS kể từ năm 1945, khi đảng bắt đầu cầm quyền. Các "vị" lãnh đạo đảng đều hô hào chống những tệ nạn đó nhưng nào có ăn thua gì vì chính bản thân họ cũng ngập ngụa trong những tệ nạn đó, cho nên mọi cuộc "chỉnh đảng" xưa nay đều chỉ là hình thức.
13. Từ khi ÐCSVN ra đời, ở Việt Nam đã diễn ra cuộc đấu tranh ác liệt, không ngừng giữa chủ nghĩa quốc tế (internationalisme) và chủ nghĩa quốc gia (nationalisme). ÐCSVN theo chủ nghĩa quốc tế vô sản, đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong phạm trù cách mạng vô sản thế giới, nhằm mục tiêu giành chuyên chính cho giai cấp vô sản quốc tế để xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Như thế có nghĩa là ÐCS đặt cách mạng Việt Nam phụ thuộc trực tiếp vào QTCS, chịu sự chi phối của tập đoàn thống trị ÐCSLX. Còn chủ nghĩa quốc gia (sau này, những người cộng sản Việt Nam thường dùng từ "chủ nghĩa dân tộc" để dịch chữ nationalisme) thì hướng tới việc giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ nước ngoài và xây dựng đất nước độc lập, hùng cường mà không muốn gắn số phận đất nước và dân tộc vào chủ nghĩa cộng sản, nên tích cực chống lại chủ nghĩa quốc tế. Cố nhiên, chủ nghĩa quốc gia gắn nền kinh tế đất nước vào hệ thống kinh tế tư bản thế giới. Vì thế ÐCSVN coi chủ nghĩa quốc gia là khuynh hướng chính trị của giai cấp tư sản, là khuynh hướng đối lập, thù địch với mình nên luôn luôn chống chủ nghĩa quốc gia và những người theo chủ nghĩa quốc gia một cách vô cùng ác liệt. Ðã thế mà vẫn còn bị QTCS nghiêm khắc phê bình. Sau đây, chúng tôi xin trích dẫn một đoạn trong Thư của QTCS gửi ÐCS Ðông Dương hồi năm 1931: "Có nhiều chứng cớ chỉ rằng đảng không hiểu rõ cái nguy hiểm của chủ nghĩa quốc gia cải lương, đảng không kịch liệt tranh đấu, không giải thích rõ cho quần chúng hiểu rõ tính chất phản dân, phản quần chúng của bọn quốc gia cải lương. Dù cái vai tuồng của chúng không lấy gì làm lớn... ... Ảnh hưởng của tư tưởng quốc gia cải lương vẫn có ở trong đảng...". (RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 567, trang 8-9, bản tiếng Việt, nên chúng tôi chép lại nguyên văn). Sau khi cướp được chính quyền, việc đầu tiên những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam quan tâm là tiêu diệt các lãnh tụ và các đảng quốc gia để thực hiện nền chuyên chính độc tôn của họ. Suy cho cùng, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa quốc gia về thực chất chỉ là cuộc đấu tranh quyền lực mà thôi. Chính vì thế, ngay với những người quốc tế, như Ðệ tứ quốc tế, thì vì đấu tranh quyền lực, những người cộng sản quốc tế cũng sẵn sàng vu khống họ là "gián điệp", "tay sai đế quốc, phát xít" ... để thẳng tay tiêu diệt họ ...
14. ÐCSVN là một phân bộ của QTCS, phải thực hiện những nghĩa vụ đối với QTCS, mà các lãnh tụ QTCS, thật ra là tay chân của tập đoàn thống trị ÐCSLX, thì chỉ quan tâm đến ý đồ "quốc tế" của họ. Ðó là sự thật. Tuy nhiên, cũng có một sự thật khác là: nghe nói QTCS quan tâm đến việc giải phóng các nước thuộc địa, nghe nói ÐCSVN đấu tranh giành độc lập dân tộc thì nhiều người Việt Nam, nhất là thanh niên trí thức vừa có lòng yêu nước vừa có khát vọng dân chủ, đã hồ hởi đi theo ÐCS với lòng mong ước đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, chứ lúc đầu họ không biết rõ về chủ nghĩa cộng sản, về chủ nghĩa quốc tế, về chuyên chính vô sản (cũng có khi ÐCS giấu không nói những điều đó với họ từ đầu). Nhưng khi đã vào ÐCS rồi, cũng như "cá đã vào lờ", với sự giáo dục, với kỷ luật sắt và mọi cơ chế kìm chế khác của đảng, dù muốn dù không, cuối cùng họ cũng phải chấp nhận những thứ đó. Càng về sau, khi chế độ cực quyền đã thiết lập rồi thì một số đảng viên có tinh thần dân tộc và ý thức dân chủ càng nhận thấy ban lãnh đạo ÐCS thực tế đã trở thành những kẻ thống trị dân tộc, phản bội những lời hứa hẹn tốt đẹp về dân chủ tự do, về công bằng xã hội, thì họ lên tiếng phản đối. Ðó chính là nguồn gốc của trào lưu bất đồng chính kiến (dissidence) trong đảng.
15. Có điều đáng nói là lúc mới đầu, trong thập niên 30, ÐCSVN lệ thuộc rất chặt vào QTCS, những người lãnh đạo đảng luôn luôn cố tỏ ra đắc lực với QTCS, họ thi hành triệt để mọi mệnh lệnh của QTCS, nên cái tệ giáo điều cứng nhắc trong lãnh đạo của đảng rất nặng nề. Từ đầu và giữa thập niên 40, do bị đứt liên lạc với QTCS, lại gặp rất nhiều khó khăn, nên thời kỳ này ÐCSVN phải gượng nhẹ với các tầng lớp trong dân tộc, hoạt động ít nhiều có tính tự lập hơn, dù về căn bản vẫn tuân theo đường lối chung của QTCS. Trong những năm này, ÐCSVN có quan tâm hơn đến những vấn đề của dân tộc, nhờ đó đã tập hợp được đại đa số dân chúng làm cách mạng giải phóng đất nước và tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính trong thời gian này, đường lối phân biệt giai cấp của đảng chưa được nhấn mạnh, khối đoàn kết dân tộc tuy đã bị sứt mẻ do việc thanh trừng các đảng phái đối lập, nhưng còn chưa quá trầm trọng, dân chúng còn tập hợp quanh tổ chức Việt Minh (ÐCS đã nấp dưới chiêu bài này để che giấu thực chất cộng sản của mình). Trong ký ức nhiều người theo ÐCS trong cách mạng và kháng chiến còn ghi lại nhiều kỷ niệm tốt của thời gian này. Nhưng từ cuối thập niên 40đdầu thập niên 50, sau khi ÐCSTQ chiếm được toàn bộ Hoa lục, ÐCSVN nối lại liên lạc đã với ÐCSTQ và ÐCSLX và lại tiếp tục bị lệ thuộc về mọi mặt vào hai đảng "đàn anh" thì tình hình lại đổi khác, không khí hồ hởi biến mất, nhường chỗ cho sự sợ hãi và thù hận. Do tinh thần phục tùng nô lệ các thần tượng Stalin và Mao Trạch Ðông, do đầu óc giáo điều, rập khuôn máy móc các mô hình của Liên Xô và Trung Quốc, trong thời gian này ÐCSVN đã kỳ thị các giai cấp không vô sản, siết chặt "chuyên chính vô sản" (bắt chước Trung Quốc gọi là chuyên chính dân chủ nhân dân) và đã phạm nhiều bạo hành nghiêm trọng gây ra biết bao tai họa cho dân tộc - đặc biệt là trong cuộc "cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức", "hợp tác hóa nông nghiệp", "cải tạo tư sản", "cải tạo công thương nghiệp tư doanh", "vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm", "vụ án Xét lại - chống Ðảng", v.v... Trong thời gian này, ÐCSVN hăm hở "làm nhiệm vụ quốc tế", tích cực "đấu tranh giai cấp", hăng hái "tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội" để biến "Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Ðông Nam Á", v.v... nên dân tộc ta đã phải trả giá cao nhất bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt và tự do của mình.
16. Càng về sau, nhất là từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa và PTCSQT bị sụp đổ, ÐCSVN đã biến chất rõ rệt, không còn thực chất "cộng sản" nữa. Ðối với tập đoàn thống trị, những cái gọi là chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa quốc tế vô sản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, v.v... ngày nay không còn là niềm tin hay lý tưởng như xưa, mà chỉ là những chiêu bài để che đậy âm mưu giữ vững quyền lực cũng như quyền lợi của họ và của giai cấp quan liêu cầm quyền đất nước, là giai cấp thực tế đang thống trị và bóc lột dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, ÐCSVN trên thực tế đã chia ra thành hai "đảng vô sản" đối lập nhau rõ rệt - một "đảng vô sản thống trị" và một "đảng vô sản bị trị", nói cụ thể hơn là một "đảng vô sản" nắm quyền với những đảng viên "vô sản" giàu có, nhà lầu, xe hơi, biệt thự, sống xa hoa phè phỡn, chủ nhân những công ty "quốc doanh" trá hình, thậm chí một số là chủ nhân những tài khoản hàng triệu, hàng chục triệu đô la ở các nhà băng ngoại quốc, chuyên ngồi trên các "ghế " cao để ra lệnh cho toàn đảng, và một "đảng vô sản" của những đảng viên thường, những cựu chiến binh, những người nghỉ hưu nghèo khổ, thật sự vừa "vô sản" lại vô quyền,ăn bữa nay lo bữa mai và chỉ biết cắmđầu cắm cổ chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Giữa hai "đảng vô sản" đó hầu như không có cái gì chung, ngoài những khẩu hiệu "vô sản" rỗng tuếch: muôn năm chủ nghĩa Marx-Lenin, muôn năm tư tưởng Hồ Chí Minh, muôn năm chủ nghĩa xã hội ...
***
III. NHỮNG THỜI KỲ BIẾN ĐỘNG LỚN TRONG PTCSQT VÀ ÐCSVN QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG ĐÓ.
Trước khi đi sâu vào vấn đề này, người viết xin lưu ý bạn đọc vài điều nhận xét sau đây.
Cho đến đầu thập niên 90 thế kỷ 20, tất cả những biến động trong PTCSQT đều bắt đầu từ Liên Xô, từ cơ quan đầu não lãnh đạo toàn bộ phong trào đó, tức là từ tập đoàn thống trị cộng sản Liên Xô. Từ Liên Xô những biến động đó tạo ra những phản ứng dây chuyền đến các nước -xã hội chủ nghĩa- và các ÐCS -anh em- rồi lan ra toàn bộ PTCSQT. Ðiều này dễ hiểu, vì tập đoàn thống trị ÐCS bolshevik Nga/ÐCSLX thực tế là -cha đẻ- của PTCSQT. Chính vì thế, khi trình bày phần này chúng tôi chú ý nghiên cứu sâu hơn về tình hình Liên Xô.
Tất cả những biến động đó đều có nguyên nhân sâu xa. Thường là do những trận đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ ÐCS, hoặc do những khủng hoảng của chế độ xã hội mà những người cộng sản đã dựng lên. Cũng lắm khi cả hai nguyên nhân cùng tác động.
Nói về đấu tranh giành quyền lực thì ở bất cứ chế độ xã hội nào cũng có, kể cả dưới chế độ dân chủ. Nhưng dưới các chế độ độc tài, nhất là chế độ độc tài toàn trị cộng sản, cuộc đấu tranh đó vượt ra ngoài mọi khuôn khổ luật pháp, bằng những phương cách bạo lực đầy sắt máu nên dễ gây biến động lớn lao.
Còn nói về khủng hoảng chế độ thì đó là một căn bệnh mãn tính (chronique) của chế độ cực quyền cộng sản, vì chế độ này được dựng lên hoàn toàn trái quy luật tự nhiên, trước hết là trái với quy luật kinh tế chung, nên không bao giờ có thể giải quyết nổi những vấn đề quan trọng nhất về kinh tế và đời sống. Khủng hoảng theo sau chế độ cộng sản như hình với bóng. Nó đã xuất hiện nặng nề ngay từ dưới thời Lenin, và chính ông ta đã phải thừa nhận điều đó tại đại hội 10 của ÐCS (1921), là đại hội đã chấm dứt đường lối tiến nhanh vào chủ nghĩa cộng sản (về sau những người cộng sản gọi đó là -chủ nghĩa cộng sản thời chiến-) và chuyển qua -chính sách kinh tế mới- (NEP), cụ thể là nới lỏng sợi dây trói cổ kinh tế tư nhân và thị trường tự do. Bệnh khủng hoảng trầm kha đó cứ thế truyền mãi từ triều đại tổng bí thư này sang tổng bí thư khác. Cứ mỗi lần căn bệnh phát ra quá nặng nề, ÐCS lại cố gắng điều chỉnh tí chút về chính sách, cố nới ra một chút sợi dây trói kinh tế tư nhân và thị trường tự do, còn khi khủng hoảng hơi dịu xuống thì lại siết chặt dây trói. Vì nguồn gốc khủng hoảng nằm trong bản chất của chế độ, nằm ở ý thức hệ, ở tư duy lý luận của những người cộng sản, cho nên mọi -sửa chữa- lặt vặt, mọi đdiều chỉnh- hời hợt, mọi -cải tổ- nửa vời, mọi đdổi mới- không triệt để, thậm chí vờ vĩnh ... đều không thể nào thanh toán tận gốc khủng hoảng chế độ cực quyền cộng sản được. Và cuối cùng, chế độ đó phải bị quy luật kinh tế và thị trường tự do cùng với phong trào dân chủ đè bẹp.
Theo chúng tôi, từ khi xuất hiện, PTCSQT đã trải qua ba thời kỳ biến động lớn sau đây:
1.Thời kỳ biến động lớn đầu tiên:
Sau khi Lenin chết, Stalin tiêu diệt đảng của Lenin, dựng lên đảng riêng và bộ máy đảng-nhà nước riêng của mình để làm công cụ cho quyền lực cá nhân vô hạn. Trong thời kỳ này các lãnh tụ cộng sản thân tín của Lenin đều bị loại ra khỏi bộ máy lãnh đạo của ÐCSLX và QTCS, bị đàn áp, thậm chí bị tàn sát bi thảm. Hàng chục triệu người bị khủng bố, tù đày, hành quyết. Riêng Trotsky, lãnh tụ đứng thứ hai sau Lenin, bị thanh trừng rồi bị trục xuất ra khỏi Liên Xô và cuối cùng bị ám sát. Khi thấy Ðệ Tam Quốc Tế (QTCS) đã bị Stalin lũng đoạn, Trotsky lập ra Ðệ Tứ Quốc Tế, do đó trong PTCSQT lại có thêm một cánh Ðệ Tứ.
2. Thời kỳ biến động lớn thứ hai:
Sau khi Stalin chết, Khrutschev vạch trần tội ác của Stalin tại đại hội 20 của ÐCSLX và đại hội đó đã đề ra đường lối chính sách mới. Nghị quyết đại hội 20 được sự đồng tình của nhiều ÐCS trên thế giới, nhưng Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ phản đối, kéo theo lãnh tụ một số ÐCS ở Albania và vài nước Á châu, như Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Indonesia ... gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong PTCSQT, dẫn đến sự xung đột của hai nước -xã hội chủ nghĩa- lớn nhất thế giới.
3. Thời kỳ biến động lớn thứ ba:
Sau cái chết của một loạt lãnh tụ già cỗi, từ Brezhnev, Andropov, đến Chernenko, Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Xô, tuyên bố đường lối -perestroika-, -glasnost-, nhưng do chính sách nửa vời, do dự, không cứu được ÐCSLX và nhà nước xô-viết ra khỏi khủng hoảng trầm trọng, trong lúc đó phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ðông Âu và ngay tại Liên Xô, từ đó -hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới- tan vỡ, PTCSQT tan rã.
Trong ba thời kỳ biến động lớn nói trên đã từng gây ra phong ba bão táp trong PTCSQT, chúng tôi chỉ đề cập đến thời kỳ thứ hai và thứ ba. Sở dĩ như vậy vì trong những biến động mãnh liệt, khủng khiếp và đẵm máu ở thời kỳ đầu, thì đến năm 1930 ÐCSVN mới ra đời và lúc đó đảng hoàn toàn lệ thuộc vào tập đoàn thống trị staliniste ở Liên Xô, nên không có gì đáng nói.
Nhân thể xin nói thêm chút ít về thời kỳ đầu: trong các tài liệu lịch sử còn lưu lại ở kho lưu trữ của QTCS (hiện nay là RSKHIDNI) mà giới nghiên cứu có thể tiếp cận được, có ghi lại đôi điều về thái độ của ÐCSVN hồi đó. Nổi bật là những lời rất mạnh của Nguyễn Ái Quốc chống chủ nghĩa Trotsky và những người trotskistes, ông buộc cho họ tội -phản bội, gián điệp, tay sai đế quốc-, hoàn toàn rập khuôn lời lẽ của cơ quan tuyên truyền của Stalin. Có người cho rằng ông ta nghĩ như thế thật với lòng cuồng tín của một đồ đệ của Stalin, với lối lu loa, vu khống, sỉ nhục, thóa mạ họ một cách rất -Stalin-. Ðọc lại ba bức thư ông viết cho ÐCSVN hồi năm 1939, thấy đầy rẫy những lời chửi bới -chúng là một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật và chủ nghĩa phát xít quốc tế-, đàn chó trotskistes-, -những kẻ đầu trâu mặt ngựa-, -những đứa không còn phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác-, -kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ-, -bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất-, v.v... (xem -Hồ Chí Minh Toàn tập-, t.3, tr.97-100). Cũng vì đầu óc staliniste như vậy nên sau khi ông nắm được chính quyền thì hàng loạt lãnh tụ trotskistes Việt Nam (và các đảng quốc gia nữa) đã bị Việt Minh (tức là ÐCSVN) giết hại: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v...
Ðến năm 1948, ba người trotskites là Nguyễn Văn Linh, Lưu Khánh Thịnh, Liu Jialang (người Hoa) đã đến với chiến khu kháng chiến cũng bị Việt Minh giết rồi vu cho tội -tay sai của thực dân Pháp- (xem: Hoàng Khoa Khôi. -Về phong trào Ðệ Tứ Việt Nam- trong sách -Hồ sơ về phong trào Ðệ Tứ Việt Nam-, Paris, tr.7, 8). Nhưng cũng có người cho rằng ông ta tuyên bố như thế chẳng qua để tỏ rõ sự trung thành với Stalin, để chuộc lỗi với Stalin và đánh tan sự hiểu lầm về ông: vì hồi mới đến Liên Xô, nghe nói Trotsky là lãnh tụ thứ hai của ÐCS bolshevik, ông đã mon men cố tìm cách gần gũi Trotsky. Những người hiểu rõ ông cho biết là tính ông thường thế, rất thích gần gũi những nhân vật nổi tiếng rồi xin chữ ký và chụp ảnh để đề cao mình trước hạ cấp và lưu danh hậu thế.
Chuyện này thì sau khi Trotsky bị hạ bệ, Nguyễn Ái Quốc giấu kỹ. Mãi gần đây, hồi tháng 10 năm 1999, trên đài truyền hình Arte ở Pháp có chiếu bộ phim tư liệu quý -Niềm Tin Thế Kỷ - La Foi du Siècle- của Patrick Rotman và Patrick Barbéris trong đó có hình ảnh Lev Trotsky đứng nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc năm 1924. Tờ Điễn Ðàn - Forum- (Paris) có viết qua về bộ phim có giá trị này trong số tháng 10/1999. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phe cánh Stalin không hề tin cậy Nguyễn Ái Quốc, điều này biểu hiện ra trong vài lần ông bị thất sủng ở cơ quan QTCS (1934-1938) và trong cuộc đón tiếp lạnh nhạt Stalin dành cho ông khi ông đến Moskva lần đầu (1950) với cương vị chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Người viết những dòng này không có tài liệu để nhận xét, nên chỉ xin giới thiệu những ý kiến khác nhau để bạn đọc suy nghĩ.
Dưới đây, xin đề cập đến hai thời kỳ biến động lớn về sau:
III.a. Thời kỳ biến động lớn thứ hai: Ðại hội 20 ÐCSLX và sự phân liệt trong PTCSQT
Lúc "thời đại Stalin" xế bóng, ngay khi kẻ độc tài còn tại vị, cuộc khủng hoảng chế độ xô-viết về nhiều mặt trở nên rất sâu sắc. Về kinh tế, nổi bật nhất là sự sa sút của nền nông nghiệp xô-viết và tình trạng nghèo khổ cùng cực của nông dân do chính sách kinh tế của ÐCS bòn vét bóc lột nông dân để phục vụ kinh tế xã hội chủ nghĩa, là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ là ngành bị coi rẻ từ lâu, là tình trạng thiếu thốn hàng tiêu dùng rất trầm trọng. Về mặt xã hội, nổi rõ sự bất bình của nông dân do thuế má quá nặng nề, do những hạn chế ngặt nghèo đối với kinh tế gia đình của nông dân, cũng như sự bất mãn, oán hận của hàng triệu gia đình có con em, vợ chồng bị giam giữ, tù đày trong các trại tập trung thuộc hệ thống GULAG. Tại đấy, đã nổ ra hàng chục cuộc nổi dậy lớn của tù nhân trong nửa cuối thập niên 40 và đầu thập niên 50. Trong bộ sử Nga nổi tiếng, xuất bản dưới thời "perestroika", đã nhận định: "Tình hình những người cầm quyền hồi đó giống như đang ngồi trên ngọn núi lửa mà bên trong đang tích lũy và chín muồi năng lượng của sức công phá cực kỳ lớn lao. Nguồn căng thẳng xã hội được tạo nên do khu vực lao động cưỡng bách thường xuyên được mở rộng, khu vực này phân ra hai nhánh - một bên là GULAG, còn bên kia là nông thôn tập thể hóa" (xem: "Tổ Quốc chúng ta" của nhiều tác giả. Moskva, tái bản 1991, tiếng Nga, t.2, tr.445).
Khủng hoảng chính trị còn biểu hiện ở những cuộc thanh trừng mà Stalin tiến hành tại tại Liên Xô ("vụ án Leningrad", "vụ án các bác sĩ", v.v... và việc chuẩn bị đợt thanh trừng mới) và tại các nước "chư hầu" , như Bulgaria, Tiệp Khắc, Ba Lan, Ðông Ðức, v.v... làm nhiều lãnh tụ cộng sản các nước đó bị giết, bị tù, bị thất sủng. Nó cũng biểu hiện ở cuộc đánh phá Tito và ÐCS Nam Tư (tên chính thức là Liên minh những người cộng sản Nam Tư)ø bắt đầu ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc. Trong lúc đó, cuộc tranh giành quyền lực giữa các nhóm phái trong ÐCSLX vốn ngấm ngầm khi Stalin còn sống, đã bùng ra quyết liệt sau khi Stalin chết. Các nhân vật chính trong trận thư hùng này là "bộ ba" tam đầu chế (triumvirat): Malenkov nắm bộ máy chính phủ, Beria nắm bộ máy công an mật vụ và Khrutshev nắm bộ máy đảng. Trong "bộ ba" này thì Beria là người có thế lực nhất và nguy hiểm nhất, nhưng người giành thắng lợi lại là Khrutshev. Khi lên ngôi vị mới rồi, Khrutshev và ban lãnh đạo mới của ÐCSLX cố tìm mọi cách để vượt qua cuộc khủng hoảng.
Ðến tháng 2.1956, khi Khrutshev củng cố được vị thế lãnh tụ trong đảng rồi thì đã diễn ra đại hội 20 ÐCSLX. Ðó là một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử PTCSQT, nó giống như một trận địa chấn đã làm rung động đếùn tận gốc rễ các ÐCS, gây ra hậu quả đầy kịch tính là sự phân liệt của PTCSQT thành hai phe kịch liệt kình chống nhau, buộc tội cho nhau là "xét lại hiện đại" và "giáo điều bảo thủ".
Bản báo cáo mật tố cáo "tệ sùng bái cá nhân Stalin" do Khrutshev, bí thư thứ nhất BCH TƯ ÐCSLX, đọc trong ngày họp cuối cùng của đại hội (25.2.1956) giống như một quả bom bùng nổ trong ÐCSLX và trong PTCSQT. Lần đầu tiên, "người cha của các dân tộc" (một trong 11 danh hiệu tôn vinh Stalin), vị thánh sống của những người cộng sản trên thế giới đã bị vạch mặt là một tên bạo chúa đẵm máu, gian hùng với những tội ác tày trời. Hào quang rực rỡ trên thần tượng Stalin bị đập vỡ tan tành. Thật ra, Khrutshev chỉ mới trình bày một phần sự thật mà thôi, còn nhiều tội ác khủng khiếp khác không được nói đến hoặc giấu kín (chẳng hạn, hiệp ước Liên Xô ký với phát xít Ðức, vụ giết hàng ngàn sĩ quan Ba Lan ở Katyn rồi đổ vấy cho phát xít, v.v...), và khi đưa ra những tội ác của Stalin thì Khrutshev lại đổ lỗi cho "sự sùng bái cá nhân Stalin", chứ không dám truy nguyên sâu xa đến bản chất của chế độ cực quyền cộng sản. Phê phán Stalin, Khrutshev tuyệt nhiên không đụng đến Lenin, ông coi Lenin là tuyệt đối đúng, chỉ có Stalin làm sai chủ thuyết của Lenin.
Sở dĩ Khrutshev đã hành động như thế vì:
1. bản thân ông cũng như nhiều người khác trong ban lãnh đạo đảng hồi bấy giờ kẻ ít người nhiều đều có dính dáng đến những tội ác của Stalin, nên không ai muốn phơi bày hết sự thật;
2. trước sau ông vẫn là một người cộng sản bolshevik, nhận thức của ông không thoát khỏi ý thức hệ cộng sản, ông không dám truy nguyên tận cùng bản chất độc tài của ÐCS, cũng như của chế độ cực quyền mà đảng ông đã dựng lên, ông muốn duy trì chế độ đó cũng như quyền lực của giai cấp nomenklatura đang thống trị trong chế độ đó;
3. ông phải cân nhắc "liều lượng" công khai hóa các tội ác để giảm thiểu sự chống đối của các ủy viên bảo thủ trong Chủ tịch đoàn trung ương (CTÐ TƯ - tên gọi hồi đó của Bộ chính trị) đảng, trong đó không ít địch thủ của ông, để có thể được đồng ý báo cáo công khai trước đại hội. Và ông đã làm việc này với lòng dũng cảm lớn và tinh thần trách nhiệm caọ
Sau khi ÐCSLX chính thức công bố những tội ác của Stalin, người đầu tiên phản đối việc chống sùng bái cá nhân là Mao Trạch Ðông. Chẳng phải ông ta quý mến gì Stalin (nhiều người biết là Mao vẫn ngấm ngầm căm ghét Stalin trong nhiều việc, nhất là thái độ trịch thượng của Stalin đối với Mao trong lần ông đến Moskva hồi năm 1950), nhưng Khrutshev đụng đến sự sùng bái Stalin tức là đụng đến sự sùng bái bản thân Mao, mà Mao thì rất cần nuôi dưỡng sự sùng bái đó để có thể cai trị đám thần dân của ông hồi đó đông đến trên 600 triệu người. Thái độ của Mao có ảnh hưởng đến nhiều lãnh tụ cộng sản đang cầm quyền ở Albania, Triều Tiên, Việt Nam ... Ở các nước Âu Mỹ, do trình độ dân trí cao, ý thức dân chủ mạnh, có thông tin đầy đủ, sự hoan nghênh và ủng hộ mạnh mẽ của trí thức, công nhân và đảng viên đối với những nghị quyết của đại hội 20 ÐCSLX, nên hầu hết lãnh tụ cộng sản các nước Âu Mỹ không ai công khai phản đối việc phê phán Stalin, dù có thể có người không bằng lòng trong bụng. Ðiều này khác hẳn với các nước còn ảnh hưởng văn hóa phong kiến nặng nề, ý thức dân chủ non yếu, đảng viên cũng như dân chúng quen thói sùng bái, thần phục lãnh tụ, cho nên lãnh tụ cộng sản các nước này thường dễ dùng thủ đoạn đánh lừa (manipuler) cán bộ đảng viên và dân chúng. Họ bưng bít tin tức về đại hội 20, hạn chế, thậm chí bóp méo thông tin để tha hồ giải thích về vấn đề Stalin theo cách của họ. Không những thế, nhiều đảng, như ÐCSVN, còn cấm tuyệt cán bộ, đảng viên không được đả động đến Stalin.
Ðại hội 20 ÐCSLX gây chấn động trong PTCSQT một phần nữa vì nó đã đưa ra những luận điểm quan trọng mới mẻ và táo bạo (so với thời điểm bấy giờ) làm đảo lộn lối tư duy cũ kỹ đã thành nếp trong phong trào. Có thể tóm tắt những luận điểm trọng yếu ấy như sau.
Loài người đang đứng trước hiểm họa nghiêm trọng của cuộc chiến tranh thế giới mới với những võ khí hủy diệt khủnh khiếp, như bom nguyên tử, bom nhiệt hạch, v.v... cho nên nhiệm vụ cấp thiết của các ÐCS trên thế giới là phải đấu tranh bảo vệ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh, chống chạy đua võ trang, đòi giải trừ quân bị. Các ÐCS phải biết dùng những khẩu hiệu đó để tập hợp quanh mình một phong trào quần chúng rộng lớn để chống lại âm mưu của chủ nghĩa đế quốc. Khác với trước, ÐCSLX không công khai đặt vấn đề hệ thống xã hội chủ nghĩa phải dùng bạo lực để giải quyết vấn đề "ai thắng ai" với hệ thống tư bản chủ nghĩa, mà đặt vấn đề "cùng tồn tại hòa bình" và "thi đua hòa bình" giữa hai hệ thống, vì hồi đó những người cộng sản Liên Xô tin tưởng rằng trong cuộc "thi đua hòa bình", hệ thống xã hội chủ nghĩa sẽ thắng hệ thống tư bản chủ nghĩa. ÐCSLX cho rằng ngày nay đã có khả năng ngăn ngừa chiến tranh thế giới, có khả năng hòa bình giành được chính quyền và chuyển lên chủ nghĩa xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa. Về mặt đối nội, ÐCSLX cho rằng các ÐCS cầm quyền ở nước xã hội chủ nghĩa cần ra sức phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho dân chúng, đồng thời mở rộng tự do dân chủ, coi trọng chế độ pháp trị xã hội chủ nghĩa và chống sùng bái cá nhân lãnh tụ. Ðó là những cơ sở cho hệ thống xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi cuối cùng.
Những luận điểm mới này một mặt gây ra một luồng sinh khí mới trong các ÐCS và tạo nên một niềm phấn khởi lớn trong dân chúng ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là các tầng lớp trí thức, công nhân, sinh viên, thanh niên. Người ta hy vọng nạn độc tài độc đoán, vi phạm pháp chế sẽ chấm dứt và xã hội sẽ dần dần được dân chủ hóa; nỗi lo sợ chiến tranh cũng giảm bớt nhiều. Mặt khác, chúng cũng làm cho các lãnh tụ cộng sản bảo thủ lúc đầu tỏ thái độ nghi ngờ và lạnh nhạt, rồi dần dần chuyển sang chống đối mạnh mẽ; họ phê phán những luận điểm đó là "hòa bình giai cấp", "thỏa hiệp giai cấp", "buông lỏng chuyên chính vô sản", thậm chí là "chủ nghĩa xét lại hiện đại" và "phản bội chủ nghĩa Marx-Lenin".
Thái độ của Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ đối với những nghị quyết của đại hội 20 ÐCSLX đã tạo ra nguy cơ phân liệt trong PTCSQT, dù rằng cho đến tháng 10.1957 sự hợp tác giữa hai chính phủ Liên Xô và Trung Quốc đã đạt đến đỉnh cao - trong tháng đó hai chính phủ đã ký hiệp định bí mật về hợp tác quân sự với mục tiêu cụ thể: tăng cường công nghiệp quân sự cho Trung Quốc, xây dựng theo thiết kế và thiết bị của Liên Xô và chuyển giao bom nguyên tử cho Trung Quốc cùng kỹ thuật sản xuất bom đó. Ðây là hiệp định đầu tiên và cho đến nay là trường hợp duy nhất một cường quốc sẵn sàng chia sẻ với đồng minh của mình những bí mật về bom nguyên tử (cố nhiên, về sau do quan hệ giữa hai nước xấu đi, nên hiệp định này đã không được thi hành).
Ðể tìm con đường chung thoát khỏi cuộc khủng hoảng và duy trì được sự thống nhất của PTCSQT, trong dịp kỷ niệm 40 năm cách mạng tháng Mười, ÐCSLX đã vận động để tổ chức một cuộc hội nghị quan trọng của các ÐCS trên thế giới. Mao Trạch Ðông đã dẫn đầu đoàn đại biểu Trung Quốc đến Moskva. Nam Tư cũng cử phái đoàn đến nhưng Tito thì không đến. Tại cuộc hội nghị đại biểu của 12 ÐCS cầm quyền (14-16.11.1957) và hội nghị đại biểu các ÐCS và ÐCN 64 nước trên thế giới (16-19.11.1957) lúc đầu không có sự tranh cãi gay gắt, chỉ có Mao và Togliatti là cố so đọ các quan điểm khác nhau có tính chất tranh luận, còn phần đông các đại biểu cố giữ hòa khí, nhưng cuối cùng rồi cũng bùng ra cuộc tranh cãi gay gắt giữa đoàn đại biểu ÐCSTQ với đoàn đại biểu ÐCSLX. Nhưng để tránh sự phân liệt, các đoàn đại biểu 12 ÐCS cầm quyền đã thỏa thuận ký Tuyên bố chung có tính chất thỏa hiệp, còn đại biểu các ÐCS và ÐCN 64 nước trên thế giới đã ra Tuyên ngôn Hòa bình. Trong Tuyên bố chung, phe bảo thủ đòi ghi bằng được nhận định tính chất thời đại hiện nay là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, ghi rõ những điều kiện căn bản mà các nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện, chẳng hạn, phải duy trì và củng cố chuyên chính vô sản, phải thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ, phải làm cách mạng văn hóa và tư tưởng, phải chống chủ nghĩa xét lại ... Tóm lại, hai phe tranh chấp nhau, nhưng không ai muốn có sự tan vỡ của PTCSQT nên đã cố thỏa hiệp nhau, và ai cũng làm như tuồng hai văn kiện vừa ký kết đó là biểu tượng của sự thống nhất của PTCSQT. Sự thật thì những thỏa hiệp tạm thời đó không thể hàn gắn được sự nứt rạn sâu sắc của PTCSQT.
Đảng Cộng Sản Liên Xô lại cố vận động cho một cuộc hội nghị quốc tế nữa. Tại đại hội ÐCS Rumanie (tên chính thức là Ðảng công nhân Rumanie) hồi tháng 6.1960, trong cuộc gặp mặt của các phái đoàn các Ðảng đến dự đại hội đã có cuộc trao đổi ý kiến để chuẩn bị cho cuộc hội nghị các ÐCS và ÐCN thế giới sắp tới, bỗng dưng bùng nổ cuộc tranh cãi gay gắt giữa Khrutshev và Bành Chân. Tuy vậy, đến tháng 11 năm 1960, cuộc hội nghị quốc tế đó cũng đã họp được với thành phần đông hơn trước: đại biểu 81 đảng (trên thế giới hồi đó có 86 đảng), trong số đó có 70 đảng tán thành quan điểm của ÐCSLX. Lại tranh cãi kịch liệt giữa hai ÐCS lớn nhất thế giới, rồi lại thỏa hiệp nhau bằng một tuyên bố chung.
Tình thế đã đổi thay, khác hẳn thời Lenin và Stalin, ngày nay ÐCSLX không thể lấy thế "đàn anh" hay lấy "đa số" ra lệnh mà được: trong PTCSQT thực tế đang có sự tranh chấp quyền lãnh đạo giữa hai ÐCS lớn nhất với hai lãnh tụ của họ - Mao Trạch Ðông và Khrutshev. Vì thế ngay sau hội nghị quốc tế đó thì Phong Trào Cộng Sản Qô’c Tê’ thực tế đã phân liệt thành hai phe - phe theo Liên Xô và phe theo Trung Quốc. Phe Liên Xô công kích phe Trung Quốc là giáo điều, bảo thủ; phe Trung Quốc đả kích phe Liên Xô là xét lại, hết tinh thần cách mạng, sợ đế quốc, thậm chí tay sai đế quốc, phản cách mạng. Ngay từ năm 1961, ÐCSTQ đã công khai tuyên truyền: trung tâm cách mạng đã chuyển từ Nga đến Trung Quốc, và từ năm 1962 đã bắt đầu vận động thành lập Quốc tế mới do Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ lãnh đạo, với nòng cốt là các ÐCS Albania, Nam Dương (Indonesia), Bắc Triều Tiên, Việt Nam ... ÐCSTQ còn cố lôi kéo "thế giới thứ ba" để lập thành "mặt trận thế giới" do họ lãnh đạo nhằm chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ và "chủ nghĩa xét lại hiện đại" Liên Xô. Tình hình PTCSQT đầu những năm 60 là như vậy đó.
Về mặt đối nội: Ngay sau đại hội 20, Khrutshev và ban lãnh đạo ÐCSLX ra sức tháo gỡ ngòi nổ ở kho thuốc súng bất mãn xã hội trong nước. Họ thành lập ủy ban xét lại các vụ án chính trị dưới thời Stalin, minh oan và trả tự do cho hàng trăm ngàn tù nhân bị giam giữ trong các trại tập trung và phục hồi danh dự cho hàng trăm ngàn người khác đã bị chết oan. Ở nông thôn, nông dân được cấp giấy thông hành (passports) và từ đó lần đầu tiên dưới chế độ xô-viết, nông dân được đi lại tự do trong nước của mình! Chính phủ xô-viết đã quyết định giảm thuế vốn rất nặng đánh vào nông thôn, nới rộng chút ít cho nông dân có được mảnh ruộng đất riêng nho nhỏ có vài con bò riêng để làm kinh tế gia đình, mở "chợ nông trang" cho nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra ... Hàng chục vạn người thuộc các dân tộc trước đây bị Stalin lưu đày đến các vùng xa xôi, nay được trở về quê cũ. Dù việc này có gây ra biết bao vấn đề căng thẳng (do sự tranh giành đất đai, nhà cửa giữa người bị lưu đày và người mới được đưa đến ở) nhưng nói chung cũng làm cũng làm cho các dân tộc nạn nhân hả lòng đôi chút. Ở các thành phố lớn đã gấp rút mở rộng việc xây dựng nhà ở để giải quyết nạn thiếu nhà dân phải chui rúc sống ở tầng hầm. Một vài tác phẩm văn học nghệ thuật trước kia bị cấm thì nay bắt đầu được in ấn, xuất bản ... Một bầu không khí hồ hởi phấn khởi dâng lên mạnh trong dân chúng và đảng viên ở Liên Xô, mọi người cảm thấy như được giải phóng thật sự. Hồi ấy, người dân Liên Xô gọi thời kỳ này là "trời trở ấm" (ottepel), ý nói thời tiết dễ chịu lên sau những ngày băng giá.
Về mặt đối ngoại: Khrutshev và ban lãnh đạo ÐCSLX cố tìm cách giải quyết những mâu thuẫn giữa ÐCSLX với Tito và ÐCS Nam Tư, giải quyết những chuyện lấn cấn cũ với các ÐCS ở Ðông Âu, đồng thời tìm cách hòa dịu với Hoa Kỳ và các nước khác ở phương Tây. Những chuyến đi đây đi đó của Khrutshev đến các nước đã để lại nhiều ấn tượng mạnh mẽ, cả tích cực lẫn tiêu cực. Nhưng nói chung hoạt động đối ngoại của ông đã góp phần làm bớt căng thẳng phần nào trong quan hệ thế giới, nhưng lại càng kích thích sự bất mãn của ÐCSTQ và các nước kình địch với Hoa Kỳ và Nam Tư, lại càng châm ngòi cho cuộc khẩu chiến ồn ào giữa ÐCSTQ và ÐCSLX cùng các ÐCS "chư hầu" của hai bên.
Như đã nói, tiếng vang của đại hội 20 ÐCSLX truyền khắp thế giới. "Trời trở ấm" lan đến nhiều nước "xã hội chủ nghĩa", nhất là các nước Ðông Âu, kích thích ý thức dân chủ và tự do của người dân, từ trí thức cho đến công nhân. Người ta cảm thấy có cơ hội đứng lên để ít nhất nới bớt gông xiềng xô-viết. Ba Lan là nước đầu tiên đứng thẳng người lên. Thoạt đầu là công nhân nhà máy ô tô ở Poznan nổi dậy (28.6.1956), tiếp đến công nhân nhiều nhà máy khác hưởng ứng, họ biểu tình hòa bình với khẩu hiệu "Bánh mì!" và "Quân đội Liên Xô rút khỏi Ba Lan!". Ðã xảy ra những cuộc đụng độ giữa những người biểu tình và cảnh sát, có nhiều người chết và bị thương. Một cuộc đấu tranh rất ác liệt đã diễn ra trong nội bộ ÐCS Ba Lan (tên gọi chính thức là Ðảng công nhân thống nhất Ba Lan). Ban lãnh đạo mới của ÐCS Ba Lan đứng đầu là Gomulka đã đưa ra chương trình hoạt động mới giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân và bình thường hóa quan hệ với Liên Xô. Chính nhờ sự mềm dẻo của Gomulka mà Ba Lan tránh được sự can thiệp quân sự của Liên Xô.
Kết cục của các sự biến ở Hungarie lại khác hẳn với Ba Lan. Sau đại hội 20 ÐCSLX, trong ÐCS Hungarie (tên chính thức là Ðảng công nhân xã hội chủ nghĩa Hungarie) cũng đã diễn ra đấu tranh nội bộ cực kỳ căng thẳng. Cuối cùng, các lực lượng tiến bộ đã hạ bệ Rakoshi, người đứng đầu đảng có nhiều tội ác và là tay sai đắc lực của Liên Xô. Ngày 6.10.1956, có cuộc cải táng các nạn nhân bị giết oan dưới chế độ cộng sản, nhân dân căm phẫn biểu tình đông đảo với 200 ngàn người tham gia ngay giữa thủ đô Hungarie. Ðể làm dịu bớt tình hình, ban lãnh đạo ÐCSLX kêu gọi Imre Nagy ra nắm quyền. Cuộc đấu tranh quần chúng dần dần chuyển thành cuộc khởi nghĩa, nó cuốn hút không những trí thức, công nhân, nông dân, mà cả nhiều tầng lớp khác. Những nhà máy lớn nhất ở Budapest đều trở thành "cứ điểm" cho cuộc nổi dậy. Khác với Ba Lan, ÐCS Hungarie không lãnh đạo nổi phong trào. Ngày 22 tháng 10, diễn ra một cuộc biểu tình lớn nữa ở Budapest, quần chúng đòi Imre Nagy phải đứng đầu ban lãnh đạo mới. Ngày 23 tháng 10, Imre Nagy lên làm thủ tướng, ông kêu gọi dân chúng buông võ khí. Nhưng lúc đó xe tăng xô-viết đã có mặt ở Budapest nên dân chúng càng thêm sục sôi. Lại nổ ra một cuộc biểu tình khổng lồ nữa của thanh niên, sinh viên, học sinh, công nhân trẻ. Trước tòa nhà quốc hội tập hợp đến 200 ngàn người, họ hạ tượng Stalin xuống, thành lập đội võ trang và bắt đầu chiếm giữ các khu trong thành phố Budapest. Ngày 24.10, Mikoyan và Suslov bay đến Budapest đề nghị đưa Janos Kadar lên làm bí thư thứ nhất. Ngày 25.10, xảy ra cuộc đụng độ với bộ đội xô-viết ở gần tòa nhà quốc hội. Imre Nagy một mặt ra lệnh ngừng bắn, mặt khác yêu cầu Liên Xô rút quân. Nhưng đụng độ vẫn tiếp diễn. Dân chúng nổi dậy đòi bộ đội xô-viết phải triệt thoái ngay và thành lập chính phủ thống nhất dân tộc mới, trong đó có những đại diện các đảng khác. Ngày 28.10, các trận đánh vẫn tiếp diễn, chính phủ Hungarie ra lệnh ngừng bắn. Ngày 30.10, chính phủ tuyên bố xóa bỏ chế độ bắt buộc nông dân nộp nông phẩm cho nhà nước. Các tỉnh nhiệt liệt ủng hộ thủ đô, còn công nhân thì vẫn bỏ việc chờ đến khi ngừng hẳn các trận chiến đấu và quân xô-viết rút khỏi Budapest. Ba điều làm ban lãnh đạo Liên Xô đặc biệt lo sợ là dân chúng công khai đòi Liên Xô rút quân ra khỏi Budapest và toàn lãnh thổ Hungarie, Ðảng xã hội dân chủ Hungarie đã được khôi phục lại và một chính phủ đa đảng đã thành lập. Họ sợ tấm gương Hungarie sẽ truyền lây sang các nước khác ở Ðông Âu. Vì thế, CTÐ TƯ ÐCSLX họp ngày 26.10 đã quyết định can thiệp võ trang để đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân. Nghị quyết đó, mãi về sau mới được công bố, trong đó đầy rẫy những lời lẽ giả nhân giả nghĩa, như "thật là không thể tha thứ được cho Liên Xô, nếu vẫn cứ giữ thái độ trung lập mà không giúp đỡ cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống lại phản cách mạng". Nhưng CTÐ TƯ ÐCSLX lại muốn làm cho cuộc can thiệp võ trang của họ dường như là của cả phe xã hội chủ nghĩa, nên họ phải tìm cách đánh lừa dư luận, tranh thủ thời gian để chuẩn bị cuộc đàn áp, đồng thời tranh thủ sự đồng tình của các nước thành viên Hiệp ước Varsava, cũng như của Trung Quốc và Nam Tư . ÐCSLX mời phái đoàn ÐCSTQ do Lưu Thiếu Kỳ dẫn đầu đến Moskva. Ðàm phán khó khăn lắm ban lãnh đạo Liên Xô mới được Lưu Thiếu Kỳ chấp thuận tại sân bay Vnukovo ngay trước khi ông lên máy bay về nước (31.10). Tiếp đó, được sự đồng ý của Ba Lan, Rumanie và Nam Tư thì ngày 1.11, Liên Xô bắt đầu tiến quân. Imre Nagy cực lực phản đối, nhưng 3000 xe tăng xô-viết từ miền Zakarpat Ukraina và Rumanie cứ ào ạt vượt qua biên giới Hungarie. Tối hôm đó, Hungarie chính thức tuyên bố rút ra khỏi Hiệp ước Varsava vì Liên Xô đã vi phạm Hiệp ước đó trước, đồng thời tuyên bố theo chính sách trung lập và kêu gọi Liên hiệp quốc phản đối quân đội xô-viết võ trang can thiệp Hungarie. Liên Xô dối trá tuyên truyền như tuồng tình hình phức tạp ở Hungarie là do âm mưu của bọn đế quốc chống lại "phe hòa bình và dân chủ", như tuồng "bọn phản cách mạng" Hungarie nổi dậy giết những người cộng sản để mưu đồ khôi phục lại chủ nghĩa tư bản. Ðến ngày 3.11, 11 sư đoàn quân Liên Xô đã có mặt trên lãnh thổ Hungarie. Trong ngày đó, CTÐ TƯ ÐCSLX đã chuẩn bị một chính phủ Hungarie mới được thành lập trên đất Liên Xô do Janos Kadar, bí thư thứ nhất ÐCS Hungarie, làm thủ tướng để thay thế chính phủ Imre Nagy "phản cách mạng". Ngày 4.11 chính phủ mới của Hungarie được công bố chính thức, khi đại pháo xô-viết khai hỏa và xe tăng Liên Xô ào ào xông vào thủ đô Budapest. Hôm trước, ngày 3.11, chính phủ liên hiệp của Hungarie đã thành lập do Imre Nagy đứng đầu, gồm có ba đại biểu cộng sản, ba thuộc đảng tiểu chủ, ba thuộc đảng xã hội dân chủ, hai thuộc đảng Petefi và một người không đảng phái là tướng Pal Maleter. Cuộc chiến đấu của nhân dân Hungarie vô cùng dũng cảm, nhưng lực lượng hai bên quá chênh lệch, nên ở Budapest sau ba ngày thì lực lượng nhân dân bị đè bẹp, còn ở vùng nông thôn, cuộc chiến đấu tiếp diễn đến ngày 14.11. Thế là cuộc cách mạng dân chủ giải phóng dân tộc Hungarie bị dìm trong máu lửa. Quân đội và công an mật vụ Liên Xô liền lùng bắt và khủng bố dân chúng nổi dậy. Imre Nagy và những người đồng sự chạy vào sứ quán Nam Tư. Sau hai tuần lễ đàm phán, thủ tướng mới của Hungarie Janos Kadar cam kết là Imre Nagy và những người đồng sự của ông ta sẽ không bị trừng phạt mà sẽ được cùng gia đình đưa về nhà thì sứ quán Nam Tư mới chịu đồng ý cho họ lên xe buýt ra đi có cả hai nhân viên của sứ quán đi theo. Nhưng giữa đường, xe buýt đó bị mấy sĩ quan xô-viết chiếm, bắt Imre Nagy và những người đồng sự của ông ta. Về sau, Imre Nagy bị xử bắn cùng với tướng Pal Maleter (1958).
Những sự kiện đầy kịch tính ở Hungarie năm 1956 là một cú sốc mạnh đối với giới cầm quyền chẳng những ở Liên Xô mà còn ở nhiều nước "xã hội chủ nghĩa" khác: nỗi khiếp sợ mất nền thống trị đã kìm hãm ý hướng muốn cải cách của họ. Còn 15 năm sau, khi đã bị hạ bệ rồi, nhắc đến những sự kiện ở Hungarie năm 1956, Khrutshev không hề có một chút cắn rứt lương tâm, không hề nghĩ rằng chính ông ta và ban lãnh đạo Liên Xô đã xử sự một cách phản bội đối với cuộc cách mạng giải phóng của cả một dân tộc. Nhưng một ý niệm như thế làm sao có thể có được ở một con người theo chủ nghĩa Lenin ?!
Ðúng như vậy, Khrutshev là một con người đầy mâu thuẫn. Cũng như những người lãnh đạo khác của ÐCSLX, trước sau Khrutshev vẫn là một người cộng sản "chính cống", ý thức hệ Marx-Lenin, tư tưởng và tác phong độc đoán của chế độ cực quyền đã "đông kết" trong tư duy không cho ông có thể làm nhà cách tân thật sự. Trong lúc ông nới ra chút ít tự do, dân chủ, thì nói chung ông vẫn giữ thói độc đoán chuyên quyền của một lãnh tụ cộng sản. Ông vừa cho phép tạp chí "Thế giới mới" (Novy Mir) đăng bốn truyện ngắn của Solzhenitsyn hồi 1962, nhưng khi bị đám stalinistes trong ban lãnh đạo phản đối dữ dội thì ông lại hãm ngay không cho đăng những tiểu thuyết "Khu ung thư", "Vòng thứ nhất" của nhà văn nổi tiếng đó nữa. Hay tại cuộc triển lãm nghệ thuật ở Manezh Moskva, ông đã mạt sát thô bạo trường phái trừu tượng, gây ra cuộc tranh cãi kịch liệt giữa ông và nhà điêu khắc Ernst Neizvestnyi (nói cho công bằng, ông khác với Stalin, sau cuộc tranh cãi đó nhà điêu khắc không bị bỏ tù, không bị giết mà vẫn làm việc bình thường). Hay việc đối xử tồi tệ với nhà văn Boris Pasternak (1958). Hay việc dùng quân đội đàn áp đẵm máu cuộc biểu tình hòa bình của công nhân ở thành phố Novocherkask (tháng 6.1962), v.v... Trong lúc muốn "cùng tồn tại hòa bình", "thi đua hòa bình" với chủ nghĩa tư bản, muốn quan hệ tốt với Hoa Kỳ thì Khrutshev lại hùng hổ tuyên bố sẽ "chôn sống giai cấp tư bản", rồi bí mật đưa tên lửa đến Cuba (tháng 8.1962). Trong lúc muốn giải quyết những vấn đề mâu thuẫn do Stalin gây ra với các nước "anh em" ở Ðông Âu, đặc biệt là Nam Tư, thì Khrutshev lại xích mích với Trung Quốc. Bức tượng đá của Khrutshev do Ernst Neizvestnyi tạc đặt trước mộ ông có hai màu - nửa đen nửa trắng - chính là để biểu thị con người đầy mâu thuẫn đó.
Sau sự biến ở Hungarie, những phần tử bảo thủ trong CTÐ TƯ ÐCSLX càng tăng sức ép mạnh với Khrutshev, nên chính sách đối nội về kinh tế, chính trị và xã hội của ông thường chao đảo. Cuối cùng, nhóm bảo thủ nhất trong ban lãnh đạo do Brezhnev thủ mưu đã ngấm ngầm tổ chức cuộc đảo chính cung đình lật đổ ông vào tháng 10.1964.
Thế là đã qua rồi đợt "trời trở ấm", đất nước và xã hội Liên Xô lại bị chìm trong giá lạnh! Brezhnev và ban lãnh đạo mới của ÐCSLX mưu đồ khôi phục lại chủ nghĩa Stalin dưới dạng khác, không thể trắng trợn như trước được nữa, nhưng vẫn rất khắc nghiệt. Chính vào thời gian này sự bất bình trong dân chúng, nhất là trong trí thức thể hiện rõ rệt nhất qua phong trào dissidence (bất đồng chính kiến) ở Liên Xô. Brezhnev và ban lãnh đạo Liên Xô không thể giải quyết được vấn đề đoàn kết thống nhất PTCSQT, không thể hàn gắn được "mối tình Xô-Trung", trái lại mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trầm trọng, thậâm chí hồi tháng 3.1969, quân đội của hai nước đã đánh nhau kịch liệt ở Damanski (Trung Quốc gọi là đảo Chenbao) làm cả hai bên đều có nhiều người chết.
Trong lúc đó, nhiều ÐCS ở các nước tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là ở Pháp và Ý, ngày càng bị khủng hoảng, vì quần chúng cách mạng, nhất là trí thức, công nhân được làn gió mát của đại hội 20 ÐCSLX cổ võ, họ nhận rõ bản chất cực quyền của chế độ cộng sản xô-viết, nhận rõ tính chất tay sai của các ÐCS "nước mình" đối với Liên Xô, nên mất lòng tin vào ÐCS và chủ nghĩa cộng sản. Ở nhiều nước châu Âu, số đảng viên bỏ đảng rất đông. Các ÐCS cố tìm cách gây lại niềm tin của quần chúng để mong thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng nội bộ. Một vài đảng chính thức tuyên bố loại trừ chuyên chính vô sản và xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong cương lĩnh đảng. Về sau, ÐCS Ý cố hoàn thiện hơn về mặt lý luận đã cho ra một mô hình mới gọi là "chủ nghĩa cộng sản Âu châu" (eurocommunisme).
Một vài ÐCS ở Ðông Âu nằm trong gọng kìm xô-viết cố tìm đường thoát ra khỏi những bế tắc của chế độ cực quyền "xã hội chủ nghĩa" cả về kinh tế lẫn chính trị. Một trong những nước Ðông Âu đi tiên phong trong việc cải cách là Tiệp Khắc (1967-1968). Các lực lượng cấp tiến nhất trong ban lãnh đạo Tiệp Khắc do Alexandre Dubcek đứng đầu đã khởi sự những cải cách quan trọng, như nới rộng quyền tự do ngôn luận, cải tổ kinh tế theo hướng cho xí nghiệp được tự quản và phần nào dè dặt áp dụng nguyên tắc kinh tế thị trường. Về mặt kinh tế, người ta phê phán chế độ quản lý kinh tế trung ương tập quyền, giảm bớt việc lập kế hoạch tập trung, nới cho các xí nghiệp được quyền tự trị quyết định cả về đầu tư bằng tiền lãi do mình tự tạo ra cũng như tín dụng ngân hàng, cho công nhân các xí nghiệp được bầu hội đồng công nhân có quyền tham gia vào các quyết định của quản đốc xí nghiệp. Những cuộc cải cách đó được dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh, người ta gọi đó là "Mùa Xuân Praha". Những người cộng sản cấp tiến Tiệp Khắc muốn từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội xô-viết, thứ "chủ nghĩa xã hội trại lính", để cải biến thành "chủ nghĩa xã hội mặt người", tức là làm cho nó nhân bản hơn. Khiếp sợ trước những đổi thay căn bản của Tiệp Khắc, Brezhnev và ban lãnh đạo ÐCSLX chủ trương huy động quân đội của khối Hiệp ước Varsava, cụ thể là quân Liên Xô, Ðông Ðức, Ba Lan, Hungarie, Bulgarie (riêng Rumanie không chịu tham gia) với quân số nửa triệu, 4600 xe tăng, 800 máy bay, 2000 đại pháo đêm 20 rạng ngày 21.8.1968 đã tiến vào Tiệp Khắc để lật đổ chính quyền hợp pháp và dựng lên một đám bù nhìn mới làm tay sai. Dân chúng chống cự rất quyết liệt, họ đã thể hiện biết bao tấm gương hy sinh, quên mình vì nước. Nhưng trứng làm sao chọi nổi với đá ?! Cuối cùng, Tiệp Khắc phải chấp nhận ngừng ngay cuộc cải cách và chịu để cho 75 ngàn quân Liên Xô "tạm" đóng trên đất nước mình. Thế là "chủ nghĩa xã hội mặt thú" đã hoàn toàn đè bẹp "chủ nghĩa xã hội mặt người" !
Liên Xô dưới thời Brezhnev, Andropov, Chernenko ... vẫn không ngừng tiến hành chính sách bành trướng cộng sản mà họ gọi là "làm nghĩa vụ quốc tế". Cuộc phiêu lưu quân sự xô-viết ở Afganistan là một điển hình, không những thế, Liên Xô thông qua nước Cuba "anh em" để giúp đỡ cho cho các thế lực nổi loạn ở Nicaragoa, Salvador, thậm chí dùng binh lính Cuba đánh thuê (để trả nợ xô-viết) ở nhiều nước châu Phi, như Angola, Ethiopia, Mozambique. Người ta ngang ngược lấy cớ rằng dân Cuba "chiến đấu" ở các nước châu Phi là "làm nghĩa vụ quốc tế", hơn nữa người Cuba đến châu Phi cũng là con dân châu Phi quay trở về Ðất Mẹ! Lúc đầu dân Cuba cũng tự hào "làm nghĩa vụ quốc tế" ở châu Phi, nhưng khi bị sa lầy trong cuộc chiến tranh kéo dài thì dân Cuba lại bất mãn: vì sao thanh niên Cuba phải chết ở các chiến trường xa đất nước mình hàng nhiều ngàn cây số!
Sau khi "Mùa Xuân Praha" bị Liên Xô dẹp tan, các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu cố tránh những cải cách chính trị, vì sợ Liên Xô đàn áp, mà cố tìm cách cải cách kinh tế. Hầu hết các nhà kinh tế trung thực ở các nước này đều thấy rõ không thể duy trì "chế độ kinh tế tập trung chỉ huy kế hoạch" kiểu xô-viết được nữa, nhưng những người lãnh đạo các nước đó đều ngập ngừng. Tấm gương của những người cộng sản Nam Tư về chế độ công nhân tự quản xí nghiệp tuy bị Liên Xô đả kích, nhưng vẫn khá hấp dẫn đối với họ. Vài nước bắt đầu có một sốâ biện pháp cải cách kinh tế nho nhỏ: như cho các xí nghiệp được một chút tự quản, được cấp vốn và sau đó phải trả một phần lãi cho trung ương (Ðông Ðức), có nước tìm cách vay tiền của phương Tây để đầu tư, mua máy móc thiết bị làm hàng xuất cảng lấy ngoại tệ, hoặc thực hiện những bước rón rén tiến đến kinh tế thị trường (Ba Lan), có nước cố cải tổ kinh tế để giảm bớt sự chỉ huy tập trung, đưa ra "cơ chế kinh tế mới" để thay đổi cách quản lý kinh tế của ba khu vực: quốc doanh, hợp tác xã và tư nhân, áp dụng việc tản quyền, cho nông dân tự do mua bán, mưu toan làm cải cách giá cả (Hungarie). Nhưng vì không có được một khái niệm hoàn chỉnh về cải cách kinh tế chuyển hóa từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường tự do, vì cải cách kinh tế không được kèm theo cải cách chính trị, nên các cuộc cải cách đều mang tính nửa vời tạo ra nhiều mâu thuẫn, bế tắc.
Nhưng phần đông các nước "xã hội chủ nghĩa" hồi đó còn bị thống trị bởi các lãnh tụ bảo thủ (Liên Xô - Brezhnev, Andropov, Cherhenko, Trung Quốc - Mao Trạch Ðông, Hoa Quốc Phong, Việt Nam - Lê Duẩn, Rumanie -Nicolae Ceausescu, Bulgarie - Zhipkov, Bắc Triều Tiên - Kim Nhật Thành, Cuba - Fidel Castro, Albania - Anver Hodzha) nên hầu như họ không nghĩ gì đến cải cách kinh tế. Phe "xã hội chủ nghĩa" ngày càng ngập sâu vào khủng hoảng, chẳng những về kinh tế, xã hội mà cả về chính trị. Biểu hiện rõ nhất của khủng hoảng chính trị trong phe này hồi thập niên 80 là tình hình bất ổn ở Ba Lan: tiếp theo những cuộc đình công quyết liệt của công nhân Gdansk là sự ra đời (ngày 30.9.1980) và phát triển mạnh mẽ của phong trào Công đoàn "Ðoàn Kết" (Solidarnos) do người thợ điện Lech Walesa làm lãnh tụ. Bản thân Walesa đã nhiều lần bị bắt bớ, Công đoàn của ông nhiều lần bị đàn áp, cấm đoán, nhưng nó vẫn tồn tại và thu hút đông đảo công nhân và trí thức Ba Lan như một thách thức bướng bỉnh.
Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, PTCSQT ngày một khủng hoảng. Các nước "xã hội chủ nghĩa" đều đang rối ren, ở Ðông Âu dân chúng chốngđối thầm lặng, chỉ mong thoát khỏi gông xiềng xô-viết và giànhđược dân chủ. Còn các ÐCS Âu Mỹ cũng hết sức bối rối và ngày càng sa sút, "chủ nghĩa cộng sản Âu châu" trở thành món hàng ế khách không thu hút được quần chúng nên qua các cuộc bầu cử ÐCS nhiều nướcđã bị thất bại thảm hại, nhất là ÐCS Pháp.
III.b. ÐCSVN qua thời kỳ biến động lớn thứ hai từ sau đại hội 20 ÐCSLX
Ðoàn đại biểu ÐCSVN (tên chính thức hồi đó là Ðảng lao động Việt Nam) do chủ tịch Hồ Chí Minh và tổng bí thư Trường Chinh dẫn đầu dự đại hội 20 ÐCSLX. Trong và ngay sau đại hội, đoàn đã nhiệt liệt tán thành những nghị quyết của đại hội 20. Trong cuộc phỏng vấn của Ðài phát thanh Moskva ngày 3.3.1956, Trường Chinh đã đánh giá rất cao đại hội 20 ÐCSLX và bày tỏ sự ủng hộ nồng nhiệt đối với những nghị quyết của đại hội. Ông nói: "Ðại hội lần thứ 20 của ÐCSLX là một cuộc đại hội lịch sử quan trọng nhất từ khi Lenin mất đến nay" (xem: tạp chí "Học Tập", số 4, tháng 3.1956, tr.174). Ðánh giá đại hội 20 như thế có nghĩa là ông bày tỏ thái độ mạnh mẽ phê phán thời đại Stalin và dứt khoát tán thành nghị quyết đại hội 20. Nhưng khi về nước, tại hội nghị TƯ ÐCSVN (19-24.4.1956) để nghe báo cáo và bàn về nghị quyết đại hội 20, do tác động của thành phần bảo thủ thân Mao trong bộ chính trị, như Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan ... nên thái độ của TƯ ÐCSVN có tính chất lấp lửng, ngoài mặt thì làm ra vẻ ủng hộ đại hội 20, còn bên trong thì không ủng hộ. Lúc đầu, thái độ đó được giấu kín trong phạm vi TƯ biết với nhau thôi, không phổ biến rộng ngay cả cho cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng. Ðiều này tỏ rõ rằng trong nội bộ TƯ hồi đó đang có cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các phe.
Tiếp sau hội nghị TƯ là cuộc hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng (28.4 - 3.5.1956) để nghe báo cáo và nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 ÐCSLX. Ðược ảnh hưởng của tinh thần phê bình trong đại hội 20, hơn nữa bị sức ép của tình trạng căng thẳng trong xã hội miền Bắc hồi đó do những bạo hành trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, do sự vi phạm tự do dân chủ của ngành công an, mậu dịch, v.v... nên tại hội nghị cán bộ, lần đầu tiên bộc lộ một thái độ phê phán mạnh mẽ và thẳng thắn những sai lầm trong sự lãnh đạo của đảng. Thậm chí một số cán bộ đã đụng đến những "điều cấm kỵ", như đã dám phê phán sự sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh, dám nói đến việc lãnh tụ đảng đã tự mình tuyên truyền cho sự sùng bái cá nhân mình. Nhiều ý kiến vạch ra tệ nạn độc tài độc đoán, thói gia trưởng trong đảng. Về mặt đường lối, chính sách thì cán bộ lôi ra những bạo hành trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, những lộng hành trong quản lý hộ khẩu, quản lý thương nghiệp, v.v... BCT TƯ không lường trước một sự phê phán mạnh mẽ như vậy, nên tại hội nghị, tổng bí thư Trường Chinh đành phải nhận là "cũng đã có hiện tượng sùng bái cá nhân nhưng chưa đến mức trầm trọng" và hứa sẽ xem xét lại những việc cán bộ đã nói về cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, quản lý hộ khẩu, thương nghiệp, "xử lý" một số trí thức văn nghệ sĩ ...
Chính nhờ tiếng vang của đại hội 20 ÐCSLX, nhờ cuộc đấu tranh nôïi bộ trong đảng mới nhóm lên và sự bất bình của dân chúng đang dâng cao hồi đó (đã bùng nổ những cuộc nổi dậy mãnh liệt của nông dân ở một số nơi, như Quỳnh Lưu, Phát Diệm ... đến nỗi ÐCS phải dùng quân đội đàn áp đẵm máu) mà hội nghị lần thứ 10 TƯ ÐCSVN (tháng 9.1956) phải chịu nhận đã phạm những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất. Cố nhiên, như thường lệ người ta nhấn mạnh sai lầm chủ yếu ở khâu thực hiện và cố vớt vát "sai lầm tuy nghiêm trọng, nhưng thắng lợi cải cách ruộng đất vẫn là căn bản" vì "đã lấy ruộng đất địa chủ chia cho nông dân" ! Ðể làm dịu bớt bầu không khí cực kỳ căng thẳng trong dân chúng, tại cuộc mít tinh lớn của nhân dân Hà Nội ở Nhà hát Nhân dân (ở khu Ðấu Xảo cũ), Võ Nguyên Giáp, ủy viên BCT TƯ ÐCSVN thay mặt chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ, chính thức nhận sai lầm trong cải cách ruộng đất và hứa hẹn "sửa sai". Do sai lầm trong lãnh đạo cải cách ruộng đất, Trường Chinh mất chức tổng bí thư. Hồ Chí Minh vừa làm chủ tịch đảng, vừa kiêm chức tổng bí thư, nhưng trên thực tế Lê Duẩn, ủy viên thường trực BCT, đã nắm giữ chức vụ đó. Trong việc này có mưu đồ của Lê Ðức Thọ, ủy viên BCT, trưởng ban Tổ chức TƯ, muốn đưa Lê Duẩn lên ngôi vị tổng bí thư, gạt người có uy tín nhất hồi đó là Võ Nguyên Giáp.
Tiếp đó, ở nông thôn miền Bắc, ÐCS đã tiến hành "sửa sai", còn ở mấy thành phố lớn thì tổ chức những cuộc họp ở khu phố cho dân chúng phê bình công việc của đảng (quản lý hộ khẩu, mậu dịch ...). Người ta cũng "loáng thoáng" hứa hẹn mở rộng dân chủ ... Thật ra, "sửa sai" cải cách ruộng đất là một việc rất phức tạp, dù có thực tâm cũng không thể "sửa" thật sự được, không thể giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đã bị đảo lộn, cũng như những bi kịch đau thương, những quan hệ tình cảm thương tổn do cải cách ruộng đất gây ra. Cho nên, lời cửa miệng của dân "càng sửa càng sai" là sự đánh giá hoàn toàn chân thật. Còn những cuộc họp ở khu phố để mở rộng dân chủ lắng nghe ý kiến của dân - chỉ có tính chất hình thức, cho dân nói cho "hả", hé soupape xả bớt hơi, rồi đâu lại vào đấy, chẳng có ai giải quyết gì, chẳng qua chỉ là cơ hội cho công an dễ dàng theo dõi những ai mạnh dạn "có ý kiến phê bình" để sau này vào "sổ đen" trù dập. Ngay như hội nghị Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, họp (tháng 10.1956) đàng hoàng, trang trọng, có đủ mặt "bá quan", với sự hiện diện của những lãnh tụ của ÐCS, như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Xuân Thủy ... cũng thế, họ kêu gọi nhân sĩ, trí thức chân thành góp ý kiến với đảng, nhưng khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường dám thẳng thắn đọc bài diễn văn nổi tiếng "Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo" để góp ý kiến với ÐCS thì về sau ông bị trả thù, bị tước đoạt tự do và đày đọa suốt đời.
Những sự kiện xảy ra ở Ba Lan và Hungarie (1956) đã làm ban lãnh đạo ÐCSVN lo sợ. Họ quên ngay lời hứa hẹn mở rộng tự do dân chủ khi hội nghị TƯ nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 của ÐCSLX, và ngày càng nghiêng theo chủ nghĩa Mao, ngày càng siết chặt nền "chuyên chính" để mở đường cho miền Bắc tiến lên "chủ nghĩa xã hội" theo nghị quyết hội nghị lần thứ 13 của TƯ ÐCSVN (tháng 12.1957).
Hành động "chuyên chính" ác liệt đầu tiên sau khi ÐCSVN tiếp quản miền Bắc là vụ án văn chương "Nhân Văn - Giai Phẩm" (viết tắt VNVGP) diễn ra từ cuối năm 1956-1960 và kéo dài mãi về sau nhằm đánh gục trí thức văn nghệ sĩ khi đảng "đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội". Khi mới trở về Hà Nội sau chiến tranh, nhiều văn nghệ sĩ, trí thức khát khao được tự do sáng tác, được sống và làm việc trong tự do dân chủ, họ đã ra những ấn phẩm mang tên "Giai Phẩm Mùa Xuân" (1956), "Giai Phẩm Mùa Thu" tập I và tập II, "Giai Phẩm Mùa Ðông" (do Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Ðạt, Văn Cao, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tý ... chủ trương), báo "Trăm Hoa" (do Nguyễn Bính chủ trương), báo "Ðất Mới" (do Bùi Quang Ðoài chủ trương), báo "Nhân Văn" (do Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, Trần Duy, Hoàng Cầm ... chủ trương) để bày tỏ những khát vọng, giới thiệu những sáng tác của mình, có phần nào khác với đường lối văn nghệ của đảng cầm quyền. BCT TƯ ÐCSVN đã giao cho Trường Chinh, Tố Hữu, v.v... tổ chức một cuộc đàn áp tàn bạo đối với những trí thức, văn nghệ sĩ khao khát tự do. Những ấn phẩm của họ bị tịch thu, bị cấm, báo chí bị đóng cửa, còn những văn nghệ sĩ, trí thức có ít nhiều dính dáng đến VNVGP đều bị vu khống, gán ghép "tội trạng", bị đấu đá, bị tước mất tự do, một số bị đưa về nông thôn lao động cải tạo, một số đưa ra xử án "gián điệp" bị đưa vào tù (Thụy An 15 năm, Nguyễn Hữu Ðang 15 năm, Trần Thiếu Bảo (Minh Ðức) 15 năm, Phan Tài 5 năm, Lê Nguyên Chi 5 năm), nhiều người khác tuy không bị đưa ra xử án nhưng vẫn bị giam cầm không thời hạn ... Tất cả đều bị mất việc, bị khai trừ ra khỏi các hội sáng tác, bị tước quyền được xuất bản tác phẩm, thực ra là tước quyền lao động sáng tác, vợ con bè bạn đều bị vạ lây, bị phân biệt đối xử, hành hạ đủ điều. Tình trạng đó kéo dài hàng chục năm mãi cho đến gần cuối thập niên 80, khi ÐCSLX bắt đầu "perestroika", ÐCSVN tuyên bố "cởi trói" thì mới dần dần thầm lén trả tự do, trả quyền công dân cho các nạn nhân trong vụ án. Nhưng TƯ ÐCSVN vẫn từ khước công khai, đàng hoàng minh oan, phục hồi danh dự và nhân phẩm cho những người bị chà đạp trong mấy chục năm trời. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đã có dịp trình bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: "Nhân Văn - Giai Phẩm - một tư trào, một vụ án, một tội ác", nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).
Hành động "chuyên chính" ác liệt tiếp theo là quyết định của BCT TƯ ÐCSVN dưới thời tổng bí thư Lê Duẩn đã được "chính quyền hóa” bằng nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội số 49/NQ/TVQH do Trường Chinh, chủ tịch Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa, ký ngày 20.6.1961, cho chính quyền bắt giam các công dân vào trại tập trung mà không cần thủ tục tố tụng (nghị quyết này hồi đó được coi như là pháp lệnh!). Thật ra, trước đó BCT TƯ đã có chỉ thị mật cho bí thư các thành ủy và tỉnh ủy cùng với các giám đốc sở và ty công an thành và tỉnh chuẩn bị sẵn danh sách những người ở địa phương mình phải bị bắt giam vào trại tập trung mà không cần có tòa án xét xử để khi nghị quyết đó được công bố thì có thể bắt hàng loạt người đưa đi tập trung "cải tạo" trong thời hạn 3 năm, khi hết hạn đó chính quyền có thể gia thêm hạn khác, và cứ thế kéo dài mãi.
Trong những đợt bắt bớ đầu tiên, tập đoàn thống trị chủ yếu nhắm vào những người thuộc các đảng phái khác và đặc biệt là sĩ quan, binh lính, công chức của "ngụy quân, ngụy quyền", mặc dù những người này đã chịu ở lại miền Bắc không chạy vào Nam, đã chịu quy phục chính quyền mới, và công chức "cũ" thì đã được chính quyền mới tuyên bố "lưu dụng". Rồi dần dần đến lượt những người trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo sư, thậm chí cán bộ, đảng viên, quân nhân... là những người đã từng tham gia kháng chiến, nay có những ý kiến thắc mắc, bất đồng với đường lối chính sách của đảng, thì vẫn bị tống vào các trại tập trung theo nghị quyết phát xít số 49/NQ/TVQH nói trên. Mạng lưới trại tập trung (để tránh chữ "trại tập trung" có tính chất phát xít lộ liễu quá, người ta dùng chữ "trại cải tạo" na ná chữ "trại lao cải" của Trung Quốc) được mở rộng khắp miền Bắc. Hàng chục vạn người bị tù đày hầu như vô thời hạn, vợ con họ bị phân biệt đối xử, tình cảnh họ thật là bi thảm. Bao nhiêu người khốn khổ đã phải bỏ xác ở các trại tù. Ðây thực sự là một tội ác của tập đoàn thống trị ÐCSVN đối với dân tộc Việt Nam, và khốn thay, tội ác đó đã được lặp lại một lần nữa với quy mô còn lớn hơn, sau khi tập đoàn này chiếm được miền Nam.
Tình cảnh người dân bình thường trong chế độ "mới" thật vô cùng bi đát, trong dân gian vẫn còn truyền tụng những câu ca dao chua xót, như:
"Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau
Ăn cơm thì ăn với rau
Kiêng ăn cá thịt sợ ... đau dạ dày”.
Như đã nói trên, sau hội nghị TƯ lần thứ 10 (khóa 2), Trường Chinh bị mất chức tổng bí thư vì những "sai lầm" trong cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm tổng bí thư, nhưng thực tế từ đó Lê Duẩn đã nắm toàn quyền. Ðến đại hội 3 ÐCSVN (tháng 8.1960), ông được TƯ chính thức bầu làm tổng bí thư. Phái tán đồng đường lối của Mao trong BCT TƯ ÐCSVN, gồm có Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn ... ngày càng cố lái ÐCSVN theo đường lối Mao-ít. Hồ Chí Minh thì ngả nghiêng, lúc đầu cố giữ cân bằng giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhưng rồi cũng buông xuôi cho đa số trong BCT thân Trung Quốc tự do hành động. Mao Trạch Ðông và TƯ ÐCSTQ khôn khéo lôi kéo TƯ ÐCSVN vào con đường chống ÐCSLX ngày một sâu hơn. Chín bài luận văn cơ bản nhất của Trung Quốc để đả kích ÐCSLX (dù không nêu đích danh mà chỉ gọi chung chung là "chủ nghĩa xét lại hiện đại", nhưng ai cũng biết là nhắm vào Liên Xô) lần lượt tung ra từ tháng 4.1960 thì TƯ ÐCSTQ đều có trao đổi ý kiến với TƯ ÐCSVN, điều đó chứng tỏ rằng ngay từ hồi đó hai ÐCS thực tế đã cùng đứng chung trong một mặt trận chống Liên Xô.
Ở Việt Nam hồi đó, chín bài văn này được truyền bá rộng rãi trong ÐCS như văn kiện chính thức, đã tạo nên "cơ sở tư tưởng" cho tinh thần thân Trung Quốc chống Liên Xô tăng lên ở nước ta. Còn đến năm 1962, khi Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ chủ trương lập Quốc tế mới dưới sự lãnh đạo của ÐCSTQ, với nòng cốt là các ÐCS Albania, Indonesia, Bắc Triều Tiên, Việt Nam ... thì lúc đầu BCT TƯ ÐCSVN cũng đã hưởng ứng, nên mùa hè năm1963, BCT TƯ ÐCSVN đã cử một đoàn đại biểu gồm có Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh đến Trung Quốc theo lời mời của TƯ ÐCSTQ để bàn việc lập Quốc tế mới, đặc biệt là việc chuẩn bị cương lĩnh cho tổ chức đó. Dường như trong BCT TƯ ÐCSVN không có sự nhất trí về vấn đề này, và nói chung ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam e ngại rằng nếu dứt khoát đứng chung một mặt trận với Trung Quốc để công khai chống Liên Xô thì Việt Nam khó lòng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, cho nên họ lại chần chừ trong việc tham gia Quốc tế mới do Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ lãnh đạo. Mặc dù vậy, do hoạt động của phái theo Mao trong BCT và trong TƯ nên tinh thần Mao-ít, thân Trung Quốc, chống Liên Xô ngày càng mạnh mẽ và lộ liễu trong ÐCSVN. Cái tinh thần đó lan rộng ra cả ngoài dân chúng do sự tuyên truyền lừa bịp của phái Mao-ít là Liên Xô sợ chiến tranh, sợ Mỹ và muốn chung sống hòa bình nên chống lại sự thống nhất Việt Nam.
Ðến cuối năm 1963, hội nghị lần thứ 9 (khóa 3) của TƯ ÐCSVN đã họp và ra nghị quyết lái ÐCSVN đi theo hẳn con đường Mao-ít của ÐCSTQ. Như Trường Chinh đã nói tại hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp tại hội trường Ba Ðình hồi tháng 1.1964: "Ðường lối đối ngoại và đối nội của Ðảng ta và Nhà nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của ÐCS và Nhà nước Trung Quốc". Ðiều này trái hẳn với nghị quyết đại hội 3 của ÐCSVN (tháng 9.1960), trái với những lời tuyên bố cũng như chữ ký của đại biểu ÐCSVN đặt dưới bản Tuyên bố chung của các ÐCS và ÐCN thế giới, cho nên trong TƯ cũng như ngoài TƯ có một số cán bộ hoặc công nhiên phản đối hoặc tuyên bố không tán thành và "xin bảo lưu ý kiến".
Vấn đề gây cấn nhất hồi đó là vấn đề con đường thống nhất đất nước. Không một người Việt Nam nào không mong muốn thống nhất đất nước, nhưng thống nhất bằng con đường nào không phải là vấn đề dễ dàng nhất trí. Phải nói thẳng rằng tập đoàn thống trị ÐCSVN hồi những năm 1959 và 1960 đã có hành động vi phạm dân chủ nghiêm trọng đối với cơ quan có quyền lực cao nhất trong đảng là đại hội. Tại hội nghị lần thứ 15 của TƯ (tháng 1.1959) đã bí mật quyết định phải dùng bạo lực cách mạng, dùng võ trang đấu tranh để thống nhất đất nước và BCT TƯ đã quyết định điều động quân đội từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển quân trang quân dụng, võ khí vào miền Nam để tiến hành chiến tranh thống nhất đất nước. Thế nhưng BCT TƯ giữ bí mật không đưa vấn đề đó ra thảo luận tại đại hội toàn quốc lần thứ 3 của ÐCSVN, mà tại đại hội vẫn báo cáo và trong nghị quyết đại hội vẫn ghi là đảng "chủ trương thống nhất Tổ quốc bằng con đường hòa bình". Vấn đề thống nhất đất nước là một vấn đề tình cảm thiêng liêng, cho nên những cán bộ không tán thành nghị quyết hội nghị TƯ lần thứ 9 (thường gọi là "nghị quyết 9"), mặc dù đã biết trước là tập đoàn thống trị trong đảng theo Mao hồi đó đi theo con đường chiến tranh để thống nhất đất nước, trong thâm tâm đã thấy trước thảm kịch của toàn dân trong cuộc nội chiến khủng khiếp sắp tới, nhưng hầu như không có ai dám thẳng thắn phản đối vì sợ tập đoàn thống trị ghép tội phản quốc, chống lại thống nhất đất nước. Dù vậy phe Mao-ít vẫn rất e ngại những cán bộ đảng viên "bảo lưu ý kiến, không tán thành đường lối theo Trung Quốc của họ, sẽ trở thành một lực lượng đối lập nguy hiểm cho quyền lực của họ, nên trước hội nghị TƯ lần thứ 9, họ đã tìm cách loại dần những cán bộ "có quan điểm khác" ra khỏi những vị trí trọng yếu (cách chức bộ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm, gạt một số cán bộ cao cấp khác ra khỏi cương vị lãnh đạo các ngành quan trọng, hoặc cho họ giữ hư vị ngồi chơi xơi nước), còn sau hội nghị TƯ lần thứ 9 thì họ chuẩn bị cho một đợt thanh trừng quyết liệt đối với những cán bộ này.
Vì thế, hành động "chuyên chính" ác liệt tiếp theo của tập đoàn thống trị là nhằm đánh ngay vào nội bộ ÐCS, nhằm những cán bộ đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp, trung cấp, tán thành quan điểm của ÐCSLX, chống quan điểm của ÐCSTQ và không tán thành "nghị quyết 9". Ðó là "vụ án xét lại - chống Ðảng" (viết tắt VXLCÐ) thực tế bắt đầu từ cuối năm 1963, mở rộng năm 1967 và kéo dài mãi cho đến sau này. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đã có dịp trình bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: Những trang sử đầm đìa nước mắt còn chưa chấm hết - "vụ án xét lại - chống Ðảng", nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).
Theo nhận xét của nhiều người, VXLCÐ là một cuộc tranh giành quyền lực trong ÐCSVN: nhóm Lê Duẩn - Lê Ðức Thọ muốn độc tôn nắm toàn quyền trong đảng-nhà nước để triệt hạ đối thủ "tiềm thế" của họ. Nhiều người cho rằng Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ là những kẻ có tham vọng to lớn lại gian hùng, xảo quyệt, muốn đè bẹp đến cùng phe cánh của Võ Nguyên Giáp, nên đã bày ra "vụ án" khủng khiếp này. Sau chiến thắng Ðiện Biên phủ (1954), uy tín của Võ Nguyên Giáp, ủy viên BCT, tổng tư lệnh, rất cao trong ÐCS và dân chúng miền Bắc. Ngay cả tổng bí thư Trường Chinh đương nhiệm cũng muốn dìm tướng Giáp xuống, vì trước mắt người dân, vai trò tổng bí thư ÐCSVN hồi đó không có gì nổi bật cả. Cũng có người nói ngay cả chủ tịch Hồ Chí Minh cũng e ngại trước uy thế của tướng Giáp (người viết bài này không thể khẳng định được điều này vì không có tài liệu), dù ông Giáp tỏ ra rất khiêm tốn và luôn luôn đề cao ông Hồ là "cha già dân tộc". Nhưng đặc biệt là Lê Duẩn vốn đã có mối hận sẵn sau khi cướp chính quyền hồi 1945 (người ta đã không đưa ngay ông ta từ Côn Ðảo về đất liền, sau đó lại giao cho ông chức vụ quá thấp - phụ trách dân quân Nam Bộ dưới trướng tướng Giáp, v.v...) nên đã liên kết với Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn để cố gạt Võ Nguyên Giáp ra sau khi Trường Chinh bị cách chức tổng bí thư, tạo điều kiện cho mình nắm giữ chức vụ đó. Trong thời gian này, Lê Duẩn và phe cánh tung ra những chuyện vu khống hoặc nói xấu sau lưng tướng Giáp, nào là Võ Nguyên Giáp trước Cách mạng tháng 8 có quan hệ thân thuộc với Marti, nào là "anh ta sợ Mỹ lắm", nào là ông Giáp được chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy "chỉ vì khéo nịnh hót", v.v... (xem: Trần Quỳnh. "Những kỷ niệm về Lê Duẩn") để hạ uy tín đánh bại hoàn toàn địch thủ của họ. Thậm chí, có thời kỳ họ còn cố ghép tội cho Võ Nguyên Giáp có âm mưu liên hệ với "bọn xét lại hiện đại" vì đã nhận thư riêng của Khrutchev mà mười ngày sau mới báo cáo cốt để ghép cho ông Giáp tội "tay sai nước ngoài", "gián điệp cho địch" (xem: Thành Tín. "Mặt thật", 1993, tr. 190-191). Công khai ghép tội cho Võ Nguyên Giáp không được thì cánh Mao-ít lại ghép tội "gián điệp", "tay sai nước ngoài", "âm mưu gây bạo loạn nhằm lật đổ ban lãnh đạo của đảng"... cho nhiều cán bộ khác. Chính vì thế tên chính thức của Vụ Xe’t Lại Chô’ng Đảng mới gọi là "Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài". Nhiều người bị bắt, bị tù đày, giam tại gia, quản chế... người thì 6 năm, người thì 9 năm, người thì 20 năm, mà không có một tòa án nào xét xử dù chỉ là về mặt hình thức. Trước đây, cũng đã từng có những cuộc "đánh" vào nội bộ làm nhiều người bị oan uổng, nhưng chưa bao giờ có trận "đánh" to lớn, kéo dài và độc ác vào nội bộ như lần này làm nhiều cán bộ đảng viên, người ngoài đảng bị đọa đày, bị chết thảm khốc trong tù ngục hoặc trong cảnh giam cầm tại gia ... Nếu tính cả tướng Giáp (dù không chính thức bị xếp vào "vụ án") thì đòn thanh trừng lần này đã giáng xuống một ủy viên BCT, ba ủy viên TƯ ÐCS, một đại tướng, một trung tướng, hai thiếu tướng, bốn đại tá, một thượng tá, bốn trung tá, năm thiếu tá, và nhiều cán bộ cao cấp, như bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, phó bí thư thành ủy, ủy viên thường vụ thành ủy, phó chủ tịch thành phố, nhiều cán bộ trung cấp, nhiều nhà báo, nhà văn, giáo sư, bác sĩ .... Sau trận thanh trừng này phe cánh Lê Duẩn - Lê Ðức Thọ ở thế thượng phong hoàn toàn thống trị đất nước.
Trong lịch sử thường có những khúc ngoặt oái ăm: Lê Duẩn hồi năm 1956 đến đầu thập niên 60 tán đồng quan điểm của Mao và rất hâm mộ Mao, nhưng đến giữa năm 1963, khi cùng bàn bạc với Mao để chống Liên Xô, thì lại va chạm phải đầu óc lãnh tụ, trịch thượng, kiêu ngạo của Mao (xem: Trần Quỳnh. "Những kỷ niệm về Lê Duẩn"), thế là từ đấy có sự nứt rạn giữa hai "lãnh tụ". Như nhiều người đã nhận xét, trong tính cách của Lê Duẩn thì nét nổi bật là kiêu ngạo, không coi ai ra gì. Ngay đối với Hồ Chí Minh, khi có cơ hội Lê Duẩn vẫn chê ông Hồ sau lưng, cố nhiên là trước mặt cán bộ dưới trướng của mình để tự đề cao. Với Mao cũng thế, dù noi theo lý luận của Mao, nhưng trước mặt cán bộ Việt Nam Lê Duẩn vẫn chê bai Mao sau lưng.
Sau khi "nghị quyết 9" lái hẳn toàn bộ đường lối của ÐCSVN theo đường lối của ÐCSTQ, thì đầu năm 1964, Lê Duẩn dẫn đầu đoàn đại biểu ÐCSVN sang Liên Xô để - theo lời của Trần Quỳnh - "nói rõ lập trường quan điểm của Ðảng ta và kiến nghị Liên Xô xem xét lại lập trường của mình" đồng thời xin viện trợ quân sự của Liên Xô. Nhưng khi gặp Khrutchev, Lê Duẩn đã im re không nói gì đến "nghị quyết 9" chống chủ nghĩa xét lại (thật ra, không nói thì phía Liên Xô đã biết rõ về nội dung nghị quyết đó), mà chỉ báo cáo tình hình miền Nam và xin viện trợ. Khrutchev đã đồng ý viện trợ cho Việt Nam. Ðúng vào dịp này, ngay tại Moskva, đại tá Lê Vinh Quốc và thượng tá Văn Doãn, sau khi tốt nghiệp Học viện quân chính Lenin, đã tuyên bố phản đối "nghị quyết 9" và xin cư trú chính trị ở Liên Xô. Mấy tháng sau đến lượt kẻ viết bài này và hàng chục cán bộ đảng viên, sinh viên Việt Nam cũng đã phản đối "nghị quyết 9" của TƯ ÐCSVN, rồi xin cư trú chính trị ở Liên Xô và một số nước Ðông Âu.
Ðến tháng 10.1964, một sự biến xảy ra ở Liên Xô - cuộc đảo chính cung đình lật đổ Khrutchev đưa Brezhnev lên ngôi. Ðây là cơ hội để BCT TƯ ÐCSVN tiếp cận ÐCSLX để tìm cách xích lại gần nhằm khai thác đến mức tối đa viện trợ của hai nước "xã hội chủ nghĩa" lớn nhất.
Lê Duẩn và phe cánh tự cho mình là người theo chủ nghĩa Marx-Lenin "đúng nhất": vừa theo chủ nghĩa Mao, nhưng lại vừa ghét Mao, vừa chống chủ nghĩa xét lại hiện đại Liên Xô (dù không còn Khutchev), nhưng lại vừa cố cầu cạnh, ve vãn Brezhnev và ban lãnh đạo Liên Xô để xin viện trợ. Thậm chí, tại đại hội 23 của ÐCSLX, ông ta còn tuyên bố "Liên Xô là Tổ quốc thứ hai của chúng tôi" ! Một số đại biểu Liên Xô vỗ tay trong hội trường, còn ngoài hành lang một số khác lại nói với nhau là: "prostitutsia" (tiếng Nga: đĩ bợm). Mặc dù Trần Quỳnh hết lời ca ngợi "tài khôn khéo" của Ba Duẩn, nhưng qua những điều mô tả trong sách "Những kỷ niệm về Lê Duẩn" thì thấy "người cộng sản số một" của Việt Nam quả thật có nhân cách một tay đại bợm lừa dối mọi người. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều cố gắng gồng mình lên giúp đỡ Việt Nam đánh thắng Mỹ. Trong thời gian này ban lãnh đạo Việt Nam một mặt ra sức khai thác đến mức tối đa viện trợ của Liên Xô (chẳng hạn, mỗi công trình Việt Nam đều yêu cầu Liên Xô viện trợ nhiều đến mức có thể dùng để xây dựng được hai - ba công trình tương đương), mặt khác họ có thái độ cực kỳ vô trách nhiệm coi tài sản viện trợ là của "chủ nghĩa xét lại" càng lấy được nhiều và càng phung phí được nhiều thì càng tốt. Cái tâm lý này lan đến cán bộ và người dân đến nỗi người ta giải thích những chữ tắt của quốc hiệu Liên Xô - CCCP là "các chú cứ phá" hay "càng cho càng phá" ! Cái gọi là "chủ nghĩa quốc tế vô sản" của ÐCSVN tới lúc này đã sa đọa đến như thế !
Ban lãnh đạo Trung Quốc, dường như từ cuối thập niên 60, đã dè chừng và thận trọng hơn khi viện trợ cho ÐCSVN, thậm chí hãm dần viện trợ đó. Ðiều này làm ban lãnh đạo Việt Nam rất bất mãn. Còn đến năm 1973, khi Mao Trạch Ðông và ban lãnh đạo Trung Quốc muốn hòa giải với Mỹ thì Lê Duẩn và những người lãnh đạo Việt Nam đã hằn học tỏ thái độ thù địch với ÐCSTQ (lúc đầu chỉ nói trong nội bộ), họ cho rằng Trung Quốc không muốn Việt Nam thống nhất đất nước. Thái độ thù địch đó ngày càng mạnh và sau này đã dẫn tới sự xung đột giữa Việt Nam và Cam Bốt, rồi chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, gây ra bao nhiêu tang tóc đau thương cho cả hai dân tộc. Một thời gian dàiù, những người cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn miệng chửi rủa những người cầm quyền cộng sản Trung Quốc và đất nước họ là "kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam", và lòng thù địch Trung Quốc đó được ghi vào Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 !
* * *
Qua những biến động trong thời kỳ thứ hai này, chúng ta có thể rút ra nhận xét này: ảnh hưởng của đại hội 20 ÐCSLX đã tạo ra trong thời gian rất ngắn - chỉ vài tháng thôi - ở một số người lãnh đạo Việt Nam ý muốn mở rộng tí chút dân chủ trong đảng và ngoài xã hội. Nhưng ảnh hưởng tích cực đó chỉ thoáng qua mà thôi, rồi trước những sự biến ở Ba Lan và Hungarie, đầu óc bảo thủ lại thắng thế trong ban lãnh đạo vì nỗi sợ mất mát quyền lực. Nói chung, trong thời kỳ biến động này tập đoàn thống trị ÐCSVN đứng trên lập trường bảo thủ, chống cải cách, chống dân chủ hóa đảng và xã hộị Vì thế toàn bộ sinh hoạt đảng cũng như đời sống chính trị của đất nước ngày càng bị siết chặt trong một chế độ độc tài cực kỳ khắt nghiệt dựa trên nền tảng "chuyên chính vô sản" theo tinh thần chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao với ý định tiến hành đến cùng cuộc nội chiến để "thống nhất" đất nước và xây dựng "chủ nghĩa xã hội trại lính" trong toàn quốc. Hậu quả của một đường lối như thế đã quá rõ ràng, thiết tưởng không cần nói cụ thể ở đây. Chỉ cần hình dung cái giá mà toàn dân tộc ta đã phải trả cho cuộc nội chiến (1959-1975) và cho việc xây dựng chủ nghĩa trong cả nước (ở miền Bắc từ 1958, ở miền Nam từ năm 1976 cho đến năm 1986) thì cũng đủ thấy được tội ác lớn lao thế nào của những kẻ đã đề ra và thực hiện đường lối đó. Người viết không muốn dẫn các số liệu mà chính quyền Hà Nô.iđưa ra về những tổn thất lớn lao trong cuộc chiến tranh vừa qua (chẳng hạn, ba triệu người chết trong chiến tranh ...) vì e rằng con số đó còn thấp hơn thực tế. Hy vọng về sau sẽ có cơ quan nghiên cứu vấnđề này một cách độc lập và khách quan.
Nguyễn Minh Cần
Thư Mục
1. Hồ Chí Minh. Toàn Tập. Tập 3, tr.97-100. (ở tr.97).
2. Hoàng Khoa Khôi. Về Phong Trào Đệ Tứ Việt Nam. Hồ Sơ Về Phong Trào Đệ Tứ Việt Nam. Paris, tr.7,8. (ở tr.97-98).
3. Tổ Quốc Chúng Ta. Moskva, 1991, tập 2, tr.45. (ở tr.99)
4. Học Tập - tạp chí lý luận của Đảng Lao Động Việt Nam, số 4, tháng 3.1956, tr.174. (ở tr.120)
5. Nguyễn Minh Cần. Công Lý Đòi Hỏi. NXB Văn Nghệ, 1997, bài "Nhân Văn - Giai Phẩm – Một Tư Trào, Một Vụ Án, Một Tội Ác”, tr.11-56. (ở tr.125)
5 bis. Học Tập - tạp chí lý luận của Đảng Lao Động Việt Nam, số tháng 2.1964, tr.1. (ở tr.130)
6. Sách đã dẫn, bài "Những Trang Sử Đầm Đìa Nước Mắt Còn Chưa Chấm Hết - Vụ Án Xét Lại –Chống Đảng”,tr.85-123.(ởtr.131)
7. Trần Quỳnh. Những Kỷ Niệm Về Lê Duẩn. (chưa in). (ở tr. 132)
8. Thành Tín. Mặt Thật. 1993, tr.191-192. (ở tr.132)
9. Izvestia – Tin Tức, cơ quan ngôn luận của Xô-viết Tối Cao Liên Xô, ngày 7.7.1988. (ở tr.138)
10. APRF – Lưu Trữ Của Tổng Thống Liên Bang Nga. Báo cáo của Bộ Quốc phòng Liên Xô, số 0431. (ở tr.143)
11. Volkogonov D. Bảy Lãnh Tụ, Moskva, 1995, tập 2, tr.325-328. (ở tr.144)
12. "Russkaya Mysl” – Tư Tưởng Nga (báo), ngày 10.8.1990. (ở tr.145)
13. Việt Nam Truyền Thống. Quyển 2. Moskva, 1996, bài "Sự Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Châu Âu dưới mắt Người Việt Nam” của Tsvetov P.Yu., tiếng Nga, tr.196. (ở tr.146)
14. APRF – Lưu Trữ Của Tổng Thống Liên Bang Nga. Bản ghi chép phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 20.11.1989, List 409. (ở tr.161)
15. Như trên. Bản ghi chép phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 8.12.1989, List 529. (ở tr.161)
16. SKHSD – Trung Tâm Bảo Quản Tài Liệu Hiện Đại. Biên bản Phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 28.5.1990, List 1-5. (ở tr.162)
17. Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam. NXB Sự Thật. Hà Nội 1985, tr.239. (ở tr.187).
18. Thành Tín. Hoa Xuyên Tuyết. 1991, tr.161. (ở tr.187)
19. Medvedev V. Sự Tan Rã. Nó Đã Chín Muồi Thế Nào Trong "Hệ Thống Xã Hội Chủ Nghĩa Thế Giới”. Moskva, 1994, tiếng Nga, tr.288. (ở tr.188)
20. Thành Tín. Hoa Xuyên Tuyết. 1991, tr.175, Mặt Thật, 1993, tr.234. (ở tr.188)
21. Medvedev V. Sự Tan Rã ..., tiếng Nga, tr.291-304. (ở tr.198-199)
22. Chroniques vietnamiennes, số 8-9, xuân-hè 1990, tr.29. (ở tr.203).
23. Medvedev V. Sự Tan Rã ..., tiếng Nga, tr.295. (ở tr.212).
Danh Mục
Andropov Yu.V. (1914-84) - đại tướng, chủ tịch KGB LX (1967-82), tổng bí thư ĐCSLX (1982-84), chủ tịch XV Tối cao LX từ 1983. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi hàng loạt vụ đàn áp khốc liệt những người bất đồng chính kiến, tình trạng khủng hoảng của LX thêm trầm trọng và việc đẩy mạnh cuộc phiêu lưu quân sự ở Afganistan; ông có ý định dùng biện pháp hành chính để ngăn cuộc khủng hoảng của đất nước.
Bành Chân – ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản TQ dưới thời Mao Trạch Đông.
Beria L.P. (1899-1953) – phó thủ tướng LX (1941-53), ủy viên Bộ chính trị ĐCS LX (1946-53), nguyên soái LX, bộ trưởng Bộ nội vụ LX, một trong những người tích cực tổ chức các cuộc đàn áp hàng loạt người vô tội dưới thời Stalin; 1953 bị buộc tội âm mưu cướp chính quyền, bị xử bắn.
Brezhnev L.I. (1906-82) – ủy viên Bộ Chính trị TƯ từ 1957, đã tổ chức việäc lật đổ Khrutshev (1964), làm tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1964-1982). Dưới thời ông, nền kinh tế xô-viết bị trì trệ và khủng hoảng nặng. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi các vụ đàn áp khốc liệt những người bất đồng chính kiến, vụ can thiệp võ trang vào Tiệp Khắc 1968 và cuộäc phiêu lưu quân sự ở Afganistan 1979.
Bùi Quang Đoài – người chủ trương báo "Đất Mới” của sinh viên, hồi 1956 bị đàn áp tàn tệ.
Castro Fidel (s.1926) – lãnh tụ Đảng Cộng sản Cuba từ 1965, người đứng đầu nhà nước Cuba xã hội chủ nghĩa.
Ceausescu N. (1918-89) - người đứng đầu Đảng Cộng sản Rumanie, nắm quyền trong 24 năm, độc tài và bảo thủ, bị lật đổ và bị giết cùng với vợ hồi 1989.
Chernenko K.U. (1911-85) – ủy viên Bộ Chính trị dưới thời Brezhnev, nổi tiếng là một người quan liêu, bất tài, tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1984-85).
Dubcek A. (1921-92) – bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ đầu 1968 đến tháng 4.1969, đã bắt đầu tiến hành những cải cách dân chủ ở Tiệp Khắc làm ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản LX lo sợ, huy động quân đội của khối Hiệp ước Varsava can thiệp võ trang vào Tiệp Khắc (1968). Sau cuộc "cách mạng nhung” hồi 1989, ông làm chủ tịch Quốc hội Tiệp Khắc.
Gomulka V. (1905-82) – nguyên tổng bí thư của Đảng Cộng sản (lấy tên Đảng Công nhân Thống nhất) Ba Lan (1943-48), 1949 ông bị truất quyền, rồi bị bỏ tù 1951-55 dưới thời Stalin, đến 1956-70 lại được đưa lên đứng đầu Đảng.
Gorbachev M.S. (s.1931) – tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1985-91), chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô-viết Tối Cao LX (1988-89), Tổng thống LX (1989-90), người khởi xướng và thực hiện "perestroika” và "glasnost” với ý muốn đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng. Điều nổi bật dưới thời ông cầm quyền là sự chấm dứt "chiến tranh lạnh”, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và ngay chính ở Liên Xô. Ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình (1990).
Hồ Chí Minh (tên thật Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, ngoài ra còn có rất nhiều bí danh, bút danh khác) (1890-1969) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, một trong những người đầu tiên đưa chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam; dưới sự lãnh đạo của ông, cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thắng lợi đưa chính quyền vào tay Đảng Cộng sản và cuộc kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi (1954). Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi cuộc cải cách ruộng đất khủng khiếp hồi thập niên 50, cuộc cải tạo công thương nghiệp, vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và việc bắt đầu cuộc chiến tranh ác liệt với miền Nam.
Hoa Quốc Phong (s.1921) - người kế nghiệp của Mao Trạch Đông, đứng đầu Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc một thời.
Hoàng Cầm (s.1922) – nhà thơ, hồi giữa thập niên 50 làm Giai Phẩm, biên tập báo Nhân Văn, đòi tự do sáng tác, nên bị ghép vào vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, bị đàn áp tàn tệ, bị cấm sáng tác trong nhiều năm. tr.124
Hoàng Khoa Khôi (s.1911) - người theo phong trào Đệ Tứ Quốc Tế từ năm 1943, ra báo "Vô Sản”, "Tranh Đấu”, Tiếng Thợ”, "Diễn Đàn Mác-Xít”, v.v... trình bày quan điểm của những người trotskistes VN ở Pháp; là người dân chủ tích cực, hiện sống ở Pháp.
Hoàng Quốc Việt (tên thật Hạ Bá Cang) – ủy viên Bộ Chính trị TƯ nhiều năm, chủ tịch Tổng Công đoàn, viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.
Hoàng Tiến – nhà văn, người đấu tranh can đảm cho dân chủ, tự do và nhân quyền.
Hoàng Văn Hoan (1905-?)– nhà cách mạng cộng sản lão thành, ủy viên Bộ Chính trị trong nhiều năm dưới thời Hồ Chí Minh và Lê Duẩn; về sau vì bất đồng ý kiến với Lê Duẩn – Lê Đức Thọ nên bỏ sang TQ, bị kết án tử hình vắng mặt.
Kadar Janos (1912-89) – người đứng đầu Đảng Cộng sản (lấy tên Đảng Xã hội Chủ nghĩa Công nhân) Hungarie từ 1956-88; thủ tướng chính phủ Hungarie được thành lập trên đất LX để thay thế cho chính phủ Imre Nagy bị đánh đổ.
Khrutshev N.S. (1894-1971) - ủy viên Bộ Chính trị (1939-53), từ 1953 đến 1964 đứng đầu Đảng Cộng sản LX; tại đại hội 20 (1956) và 22 (1961) ông phê phán kịch liệt tệ sùng bái cá nhân Stalin. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc giải phóng cho hàng triệu người ra khỏi các trại tập trung và minh oan cho rất nhiều người vô tội trong các vụ án chính trị dưới thời Stalin, bởi sự cố gắng đẩy mạnh sản xuất công nông nghiệp và những nỗ lực để cải thiện đời sống cho người dân, nhưng đồng thời cũng bởi việc đàn áp cuộc biểu tình của công nhân ở Novocherkassk, việc đối đầu với phương Tây ở Berlin hồi 1961, ở biển Caribe hồi 1962, bởi cuộc can thiệp võ trang vào Hungarie hồi 1956. Ông có để lại tập hồi ký, xuất bản ở Hoa Kỳ 1981, còn ở Nga xuất bản toàn bộ hồi 1999.
Kim Nhật Thành (1912-94) – người đứng đầu Đảng Cộng sản (lấy tên Đảng Lao động) Triều Tiên từ 1949, chủ tịch miền Bắc Triều Tiên từ 1972. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc tiến hành chiến tranh khốc liệt để mưu toan chiếm miền Nam hồi 1950-53, bởi chế độ cực quyền toàn trị khắc nghiệt và tệ sùng bái cá nhân cao độ kiểu Stalin; sự xây dựng chủ nghĩa xã hội trại lính ở miền Bắc Triều Tiên đã dẫn đến sự khủng hoảng trầm trọng và nạn đói khủng khiếp hiện nay.
Lê Duẩn (1900-1986) - nhà cách mạng cộng sản, một trong những người đã lãnh đạo phong trào đấu tranh ở miền Nam chống chế độ VN Cộng hòa; tổng bí thư Đảng Cộng sản VN từ 1960-86. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc đẩy mạnh cao độ cuộc chiến tranh với miền Nam, đưa đến sự sụp đổ của chế độ miền Nam và sự thống nhất cả nước dưới quyền của những người cộng sản, bởi việc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trại lính với nền chuyên chế vô sản tàn bạo, những cuộc đàn áp hàng loạt người dưới chế độ cũ, đàn áp các giáo phẩm và các giáo hội, đàn áp cán bộ, đảng viên, trí thức bất đồng chính kiến; nó cũng được đánh dấu bởi sự đưa quân đánh vào Cam Bốt và chiếm đóng nước này trong 10 năm, gây ra xung đột lớn với TQ. Đường lối của ông đã đưa đến cuộc khủng hoảng toàn diện của VN hồi cuối thập niên 80.
Lê Đạt - nhà thơ, tích cực tham gia cuộc vận động đòi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ hồi giữa thập niên 50, cây bút xuất sắc trong các tập Giai Phẩm và tờ Nhân Văn; cùng Trần Dần, ông đề xướng việc tìm tòi cái mới trong sáng tác thơ ca; ông bị đàn áp tàn tệ, bị cấm sáng tác trong nhiều năm.
Lê Đức Thọ (tên thật Phan Đình Khải) (1911-90) - ủy viên Bộ Chính trị có quyền lực nhất, ông đã thao túng trên chính trường VN dưới thời Lê Duẩn và sau đó; ông là người tích cực đẩy mạnh cuộc chiến tranh với miền Nam, người chỉ huy việc đánh vào Cam Bốt, chiếm đóng và thống trị trực tiếp nước này trong 10 năm. Cùng với Lê Duẩn, ông đã dựng lên vụ án Xét lại – chống Đảng, bắt bớ, giam cầm, tù đày nhiều cán bộ cao cấp, đảng viên và người ngoài Đảng bất đồng với đường lối theo Mao của TƯ Đảng hồi những năm 60. Với tư cách trưởng ban tổ chức TƯ, ông là một trong những người khởi xướng cái gọi là "chủ nghĩa lý lịch” trong và ngoài Đảng, tức là sự kỳ thị trầm trọng về mọi mặt đối với những người không thuộc thành phần công nông, những người lý lịch "có vấn đề”, v.v...
Lê Ngọc - đảng viên trotskiste Việt Nam bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97.
Lê Nguyên Chi – người bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, đã bị xử 5 năm tù. tr.124.
Lê Văn Hương - đảng viên trotskiste Việt Nam bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97.
Lê Vinh Quốc (s.1927) – đại tá, phó chính uỷ Quân khu 3, tốt nghiệp Học viện Quân Chính Lenin (Moskva), vì bất đồng với đường lối theo Mao của hội nghị TƯ lần thứ 9 (1963), đã thoát ly ĐCSVN và xin tỵ nạn chính trị tại LX hồi đầu năm 1964.
Lenin V.I. (tên thật Ulyanov) (1870-1924) - nhà lý luận theo chủ nghĩa Marx, một trong những người sáng lập và là lãnh tụ Đảng bolshevich, lãnh đạo cuộc đảo chính tháng 10.1917, lật đổ chính quyền dân chủ, thiết lập chuyên chính vô sản với chế độ cực quyền toàn trị xô-viết. Với ý đồ làm cách mạng thế giới, phổ biến chế chế độ xô-viết ra toàn thế giới, ông đã thành lập Quốc Tế Cộng Sản (1919). Dưới chế độ chuyên chính vô hạn của ông, hàng triệu người dân vô tội đã bị giết.
Liu Jialang - đảng viên trotskiste người Hoa bị vu oan và bị giết.
Lưu Khánh Thịnh - đảng viên trotskiste VN bị vu oan và bị giết.
Lưu Thiếu Kỳ (1898-1960) – một trong những lãnh tụ Đảng Cộng sản TQ, chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân TQ (1959-68); theo lệnh của Mao Trạch Đông, ông bị khai trừ ra khỏi Đảng 1968, cách chức, bị đàn áp và đày đọa đến chết.
Malenkov G.M. (1902-88) - ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm (1926-57), thuộc giới thân cận Stalin, một trong những người tích cực tổ chức các cuộc đàn áp hàng loạt người vô tội dưới thời Stalin; cùng với Molotov, Kaganovich chống lại đường lối của Khrutshev, nên bị đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo Đảng hồi 1957.
Maleter Pal - người không đảng phái, thành viên của chính phủ liên hiệp Hungarie thành lập ngày 3.11.1956, sau khi quân đội Liên Xô can thiệp võ trang dẹp tan cuộc cách mạng nhân dân Hungarie, đã bị bắt và bị xử bắn năm 1958.
Mao Trạch Đông (1893-1976) – lãnh tụ Đảng Cộng sản TQ, chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân TQ (1954-59); người xây dựng chế độ cực quyền toàn trị khắc nghiệt, ông đề xướng phong trào "công xã nhân dân” và "đại nhảy vọt” ở TQ để tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi những cuộc vận động ác liệt, thường là đẫm máu, như cải cách ruộng đất, "tam phản”, "ngũ phản”, cải tạo trí thức, "đại cách mạng văn hóa” ... đã đẩy nền kinh tế, văn hóa TQ đến bên bờ vực thẳm. Hồi sinh thời của ông, việc sùng bái cá nhân ông đã lên cao đến mức chưa từng thấy.
Marx Karl (1818-83) - người sáng lập ra chủ nghĩa Marx, đã nêu lên vai trò giai cấp vô sản toàn thế giới trong việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản; tác phẩm căn bản của ông là bộ "Tư Bản” nổi tiếng; cùng với Engels và một số người khác, ông đã lập ra Liên Minh Công Nhân Quốc Tế (Đệ Nhất Quốc Tế) hồi 1864 và soạn thảo Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản. Chủ nghĩa Marx hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức, nhất là ở Âu Mỹ, nhưng dần dần qua thực tiễn lịch sử trong thế kỷ 20 người ta đã thấy rõ những sai lầm của nó.
Medvedev V. - ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản LX dưới thời Gorbachev, phụ trách Ban quốc tế TƯ.
Mikoyan A.I. (1895-1978) –ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm (1935-66), thuộc giới thân cận Stalin; về sau ông đã vạch trần tệ sùng bái cá nhân Stalin.
Mitterand F. (1916-96) – lãnh tụ Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp, tổng thống Pháp (1981-95).
Nagy Imre (1896-1958) - thủ tướng chính phủ Hungarie hồi 1953-55 và từ tháng 10 đến tháng 11.1956 sau là thành lập ngày 3.11.1956; sau khi quân đội Liên Xô can thiệp võ trang dẹp tan cuộc cách mạng nhân dân Hungarie, đã bị bắt và bị xử bắn năm 1958; sau khi nước Hungarie giành lại chủ quyền hồi 1989, ông được minh oan và coi là anh hùng nhân dân.
Neizvestnyi E.I. (s.1925) – nhà điêu khắc Nga nổi tiếng. tr.114.
Ngô Thức - cán bộ lão thành của ĐCS, từ những năm 80 nhiều lần góp ý kiến với lãnh đạo về các vấn đề chính trị, về dân chủ. tr.213
Nguyễn Bính (1917-1965) – nhà thơ trữ tình nổi tiếng, hồi giữa thập niên chủ trương tờ "Trăm Hoa”, bị đàn áp.
Nguyễn Chí Thanh (1914-67) - đại tướng, ủy viên Bộ Chính trị trong nhiều năm; là người tích cực đẩy mạnh cuộc chiến tranh với miền Nam, người quyết liệt nhất trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cá nhân. Sau khi ông qua đời, mới phát hiện là hồi bị tù dưới thời Pháp ông đã từng khai báo làm vỡ cơ sở Đảng.
Nguyễn Hữu Đang (s.1913) – đảng viên cộng sản, một trong những người lãnh đạo Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ; hồi giữa thập niên 50 đã phát biểu ý kiến đòi tự do, dân chủ, làm báo Nhân Văn; ông bị coi là người lãnh đạo tư tưởng của Nhân Văn, bị đàn áp tàn tệ trong vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, bị xử án 15 năm tù, sau khi hết hạn ngồi tù còn bị quản chế, đày đọa trong cảnh khốn cùng.
Nguyễn Mạnh Tường (1909-97) – luật sư, giáo sư, nhà trí thức nổi tiếng; đã ủng hộ những người cộng sản trong thời kháng chiến chống Pháp; đến những năm 50 ông đã góp ý kiến phê bình cuộc cải cách ruộng đất, tham gia viết báo Nhân Văn đòi tự do dân chủ, nên bị đàn áp tàn tệ và bị đày đọa trong cảnh cô lập và túng thiếu. Gần cuối đời, ông cho công bố ở Pháp tác phẩm "Un Excommunié” (Người Bị Rút Phép Thông Công) bằng tiếng Pháp kể lại chính sách đối xử tàn tệ của ban lãnh đạo cộng sản đối với trí thức và nhân dân.
Nguyễn Văn Linh - đảng viên trotskiste Việt Nam bị vu oan và bị giết.
Nguyễn Văn Sổ - đảng viên trotskiste Việt Nam bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97
Nguyễn Văn Tý – một trong những người chủ trương ra Giai Phẩm, bị đàn áp.
Như Phong Lê Văn Tiến (s.1923) - nhà báo VN kỳ cựu, bị tù nhiều năm sau 1975, hiện sinh sống ở Hoa Kỳ và là nhà báo độc lập, nhà nghiên cứu.
Pasternak B.L. (1890-1960) – nhà thơ trữ tình, nhà văn Nga. Tác phẩm "Bác Sĩ Zhivago” của ông được giải thưởng Nobel văn chương hồi 1958, nhưng do bị đe dọa trục xuất khỏi LX, ông đã phải từ chối, đến 1990, con trai ông thay mặt bố đã quá cố để nhận giải. "Bác Sĩ Zhivago” được xuất bản ở nước ngoài hồi 1958, nhưng mãi đến 1988 mới được xuất bản ở Nga.
Phan Khôi (1887-1959) – nhà báo kỳ cựu, nhà văn, người chủ trương báo Nhân Văn hồi 1956, phát ngôn những tư tưởng dân chủ, đăng những bài đòi hỏi dân chủ, nên bị đàn áp tàn tệ.
Phan Tài - người bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, đã bị xử 5 năm tù.
Phan Văn Chánh - đảng viên trotskiste VN, bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97
Phan Văn Hùm (1902-45) – một trong những lãnh tụ trotskiste VN nổi tiếng, nhà cách mạng theo Đệ Tứ Quốc Tế, bị giết sau khi những người cộng sản theo Đệ Tam Quốc Tế nắm chính quyền.
Rakoshi M. (1892-1971) người đứng đầu Đảng Cộng sản Hungarie trong nhiều năm (1945-56), tháng 7.1956 bị cách chức.
Shatunovskaya – một trong những đại biểu đã đưa ra lời chứng tại đại hội 20 của ĐCS LX về việc một số phiếu bầu tại đại hội 17 đã bị đánh cắp để gian lận trong cuộc bầu ban lãnh đạo đảng.
Solzhenitsyn A.I. (s.1918) – nhà văn Nga nổi tiếng, những tác phẩm của ông đã nêu bật bản chất tốt đẹp của tâm hồn con người trong hoàn cảnh của chế độ cực quyền toàn trị phi nhân, ông tố cáo những tội ác dưới chế độ cực quyền toàn trị xô-viết, vì thế ông bị tù đày nhiều năm, bị đàn áp tàn tệ, bị bị tước quốc tịch và trục xuất ra khỏi LX hồi 1974, phải sống lưu vong trong 20 năm; đến 1994 ông trở về nước khi chế độ cộng sản đã sụp đổ. Ông được giải Nobel văn chương 1970.
Stalin I.V. (tên thật Dzhugashvili) (1878-1953) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, người kế nhiệm Lenin làm lãnh tụ LX từ 1924; ông đã hoàn thiện chế độ cực quyền toàn trị xô-viết mà Lenin đã khởi đầu. Dưới chế độ độc tài vô hạn của cá nhân ông, hàng chục triệu đảng viên và những người dân vô tội đã bị giết.
Suslov M.A. (1902-82) – ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản LX trong nhiều năm, là nhà tư tưởng bảo thủ giáo điều có ảnh hưởng lớn dưới thời Brezhnev. tr.110.
Sỹ Ngọc - họa sĩ, vẽ tranh châm biếm cho báo Nhân Văn, bị đàn áp tàn tệ.
Tạ Thu Thâu (1906-45) - một trong những lãnh tụ trotskiste VN nổi tiếng, nhà cách mạng theo Đệ Tứ Quốc Tế, chủ trương làm cách mạng vô sản, bị giết sau khi những người cộng sản theo Đệ Tam Quốc Tế nắm chính quyền.
Thụy An – nhà văn nữ, bị nhà cầm quyền nghi là gián điệp, bà đã bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm và bị xử án 15 năm tù.
Tito B.I (1892-1980) – lãnh tụ của Liên Minh những người cộng sản Nam Tư, người đứng đầu nhà nước Nam Tư; do không chịu theo khuôn mẫu xô-viết để xây dựng xã hội Nam Tư, nên bị Stalin trục xuất Đảng Cộng sản Nam Tư ra khỏi phong trào cộng sản quốc tế và vu khống cho ông là gián điệp của đế quốc, các đảng "anh em” đều hùa theo LX tẩy chay Nam Tư và đả kích Tito là phần tử xét lại hiện đại.
Tố Hữu (tên thật Nguyễn Kim Thành) (s.1920) – nhà thơ tuyên truyền, ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm dưới thời Lê Duẩn, phó thủ tướng thứ nhất của chính phủ, một trong những người lãnh đạo văn học nghệ thuật bảo thủ, khắc nghiệt nhất; cùng với Trường Chinh, ông đã tiến hành các cuộc đàn áp tàn tệ văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác trong nhiều năm, nổi bật là vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm.
Trần Quốc Hoàn – ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm dưới thời Lê Duẩn, làm bộ trưởng công an, tham gia đắc lực việc đàn áp chính trị dưới thời Lê Duẩn-Lê Đức Thọ.
Trần Quỳnh (s.1916) – ủy viên TƯ Đảng Cộng sản từ 1976, từ 1982-86 làm phó thủ tướng, có thời là thư ký của Lê Duẩn.
Trần Thiếu Bảo (Minh Đức) – người xuất bản tư nhân, đã tái bản một số tác phẩm có giá trị trước cách mạng 1945, như "Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, "Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng, nên bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, bị xử án 15 năm tù, tài sản bị tịch thu.
Trần Văn Thạch (1905-45) - đảng viên trotskiste VN bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền.
Trường Chinh (1907-88) - nhà cách mạng cộng sản động nổi tiếng, tổng bí thư Đảng Cộng sản VN từ những năm 40 đến 1956, sau khi Lê Duẩn mất lại làm tổng bí thư trong thời gian ngắn. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc giành chính quyền vào tay Đảng Cộng sản hồi tháng 8.1945, việc xây dựng chế độâ VN Dân chủ Cộng hòa và thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp hồi 1954, đồng thời cũng được đánh dấu bởi cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo ở nông thôn miền Bắc do chính ông phụ trách, bởi sự xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết và TQ, bởi sự đàn áp tàn tệ văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm là lĩnh vực ông phụ trách, bởi cuộc hợp tác hóa nông nghiệp cũng do ông phụ trách. Ông được coi là nhà lý luận, nổi tiếng giáo điều trong việc áp dụng máy móc kinh nghiệm của LX và TQ; tuy nhiên về cuối đời, ông đã có ý định "đổi mới” theo gương "perestroika” của LX.
Trotsky L.D. (tên thật là Bronshtein) (1879-1940) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản Nga và Liên Xô (1917, 1919-26), bộ trưởng ngoại giao (1917-18), bộ trưởng quân sự (1918-25). Cuộc tranh giành quyền lực giữa Stalin và Trotsky đã kết thúc bằng sự thất bại của Trotsky, nên 1927, ông bị khai trừ ra khỏi Đảng, bị đày đến Alma Ata, rồi trục xuất khỏi LX (1929). Ông khởi xướng thành lập Đệ Tứ Quốc Tế (1938), bị giết bởi tên đặc vụ xô-viết tên là R.Merkader.
Ung Văn Khiêm - nhà cách mạng lão thành, một trong những người lãnh đạo quan trọng của Đảng Cộng sản và nhà nước VN, là bộ trưởng ngoại giao dưới thời Hồ Chí Minh; vì không tán thành đường lối thân Mao hồi những năm 60 của tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ, ông bị cách chức, bị khai trừ ra khỏi Đảng hồi 1968. tr.96.
Văn Cao (1923-95) – nhà nghệ sĩ đa tài, nhạc sĩ nổi tiếng, nhà thơ, họa sĩ, vì có ý hướng đòi tự do sáng tác và tham gia các tập Giai Phẩm hồi giữa thập niên 50, ông đã bị đàn áp tàn tệ, bị chà đạp, sống trong cảnh nghèo nàn và o ép.
Volkogonov D.A. (1928-95) - giáo sư, tiến sĩ triết học, tiến sĩ sử học, đảng viên cộng sản, trung tướng xô-viết, viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Nga; ông đã ra khỏi Đảng Cộng sản LX hồi 1990, trở thành nhà dân chủ triệt để. Ông đã để lại những tác phẩm sử học nổi tiếng về Lenin, Trotsky, Stalin, cũng như về Khrutshev, Brezhnev, Andropov, Chernenko và Gorbachev.
Võ Nguyên Giáp (s.1911) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, đại tướng, đã chỉ huy thắng lợi trong nhiều chiến dịch, nhất là chiến dịch Điên Biên Phủ, góp phần lớn cho thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp; ông là ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng trong nhiều năm, hồi 1982 bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị dưới thời Lê Duẩn, nay nghỉ hưu.
Walesa Lech (s.1943) - người thợ điện đã lãnh đạo phong trào đình công của công nhân Gdansk hồi đầu những năm 80, đưa đến việc thành lập phong trào Công đoàn "Đoàn Kết”, về sau chính phong trào công đoàn rộng lớn này đã làm nòng cốt cho cuộc cách mạng dân chủ làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Ba Lan, thiết lập chế độ dân chủ và giành chủ quyền lại cho nhân dân; làm tổng thống Ba Lan hồi 1990-95. Giải thưởng Nobel Hòa Bình 1983.
Xuân Thủy (1912-85) – bộ trưởng ngoại giao, kế nhiệm Ung Văn Khiêm, trên danh nghĩa là người đứng đầu phái đoàn VN đàm phán tại Paris hồi những năm 70.
Yakovliev A.N. (s.1923) – viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga, ủy viên Bộ chính trị TƯ Đảng Cộng Sản Liên Xô (1987-90), ông là người đóng góp tích cực vào đường lối chính trị của LX dưới thời Gorbachev; năm 1991 bị khai trừ ra khỏi Đảng; từ 1993 là chủ tịch Ủy ban minh oan cho nạn nhân trong các vụ đàn áp chính trị dưới thời xô-viết.
Zhipkov T. (1911-98) – người đứng đầu Đảng Cộng sản Bungarie, cầm quyền 35 năm; bị cách chức và khai trừ khỏi Đảng hồi 1989.
Đăng nhận xét
III. NHỮNG THỜI KỲ BIẾN ĐỘNG LỚN TRONG PTCSQT VÀ ÐCSVN QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG ĐÓ.
Trước khi đi sâu vào vấn đề này, người viết xin lưu ý bạn đọc vài điều nhận xét sau đây.
Cho đến đầu thập niên 90 thế kỷ 20, tất cả những biến động trong PTCSQT đều bắt đầu từ Liên Xô, từ cơ quan đầu não lãnh đạo toàn bộ phong trào đó, tức là từ tập đoàn thống trị cộng sản Liên Xô. Từ Liên Xô những biến động đó tạo ra những phản ứng dây chuyền đến các nước -xã hội chủ nghĩa- và các ÐCS -anh em- rồi lan ra toàn bộ PTCSQT. Ðiều này dễ hiểu, vì tập đoàn thống trị ÐCS bolshevik Nga/ÐCSLX thực tế là -cha đẻ- của PTCSQT. Chính vì thế, khi trình bày phần này chúng tôi chú ý nghiên cứu sâu hơn về tình hình Liên Xô.
Tất cả những biến động đó đều có nguyên nhân sâu xa. Thường là do những trận đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ ÐCS, hoặc do những khủng hoảng của chế độ xã hội mà những người cộng sản đã dựng lên. Cũng lắm khi cả hai nguyên nhân cùng tác động.
Nói về đấu tranh giành quyền lực thì ở bất cứ chế độ xã hội nào cũng có, kể cả dưới chế độ dân chủ. Nhưng dưới các chế độ độc tài, nhất là chế độ độc tài toàn trị cộng sản, cuộc đấu tranh đó vượt ra ngoài mọi khuôn khổ luật pháp, bằng những phương cách bạo lực đầy sắt máu nên dễ gây biến động lớn lao.
Còn nói về khủng hoảng chế độ thì đó là một căn bệnh mãn tính (chronique) của chế độ cực quyền cộng sản, vì chế độ này được dựng lên hoàn toàn trái quy luật tự nhiên, trước hết là trái với quy luật kinh tế chung, nên không bao giờ có thể giải quyết nổi những vấn đề quan trọng nhất về kinh tế và đời sống. Khủng hoảng theo sau chế độ cộng sản như hình với bóng. Nó đã xuất hiện nặng nề ngay từ dưới thời Lenin, và chính ông ta đã phải thừa nhận điều đó tại đại hội 10 của ÐCS (1921), là đại hội đã chấm dứt đường lối tiến nhanh vào chủ nghĩa cộng sản (về sau những người cộng sản gọi đó là -chủ nghĩa cộng sản thời chiến-) và chuyển qua -chính sách kinh tế mới- (NEP), cụ thể là nới lỏng sợi dây trói cổ kinh tế tư nhân và thị trường tự do. Bệnh khủng hoảng trầm kha đó cứ thế truyền mãi từ triều đại tổng bí thư này sang tổng bí thư khác. Cứ mỗi lần căn bệnh phát ra quá nặng nề, ÐCS lại cố gắng điều chỉnh tí chút về chính sách, cố nới ra một chút sợi dây trói kinh tế tư nhân và thị trường tự do, còn khi khủng hoảng hơi dịu xuống thì lại siết chặt dây trói. Vì nguồn gốc khủng hoảng nằm trong bản chất của chế độ, nằm ở ý thức hệ, ở tư duy lý luận của những người cộng sản, cho nên mọi -sửa chữa- lặt vặt, mọi đdiều chỉnh- hời hợt, mọi -cải tổ- nửa vời, mọi đdổi mới- không triệt để, thậm chí vờ vĩnh ... đều không thể nào thanh toán tận gốc khủng hoảng chế độ cực quyền cộng sản được. Và cuối cùng, chế độ đó phải bị quy luật kinh tế và thị trường tự do cùng với phong trào dân chủ đè bẹp.
Theo chúng tôi, từ khi xuất hiện, PTCSQT đã trải qua ba thời kỳ biến động lớn sau đây:
1.Thời kỳ biến động lớn đầu tiên:
Sau khi Lenin chết, Stalin tiêu diệt đảng của Lenin, dựng lên đảng riêng và bộ máy đảng-nhà nước riêng của mình để làm công cụ cho quyền lực cá nhân vô hạn. Trong thời kỳ này các lãnh tụ cộng sản thân tín của Lenin đều bị loại ra khỏi bộ máy lãnh đạo của ÐCSLX và QTCS, bị đàn áp, thậm chí bị tàn sát bi thảm. Hàng chục triệu người bị khủng bố, tù đày, hành quyết. Riêng Trotsky, lãnh tụ đứng thứ hai sau Lenin, bị thanh trừng rồi bị trục xuất ra khỏi Liên Xô và cuối cùng bị ám sát. Khi thấy Ðệ Tam Quốc Tế (QTCS) đã bị Stalin lũng đoạn, Trotsky lập ra Ðệ Tứ Quốc Tế, do đó trong PTCSQT lại có thêm một cánh Ðệ Tứ.
2. Thời kỳ biến động lớn thứ hai:
Sau khi Stalin chết, Khrutschev vạch trần tội ác của Stalin tại đại hội 20 của ÐCSLX và đại hội đó đã đề ra đường lối chính sách mới. Nghị quyết đại hội 20 được sự đồng tình của nhiều ÐCS trên thế giới, nhưng Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ phản đối, kéo theo lãnh tụ một số ÐCS ở Albania và vài nước Á châu, như Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Indonesia ... gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong PTCSQT, dẫn đến sự xung đột của hai nước -xã hội chủ nghĩa- lớn nhất thế giới.
3. Thời kỳ biến động lớn thứ ba:
Sau cái chết của một loạt lãnh tụ già cỗi, từ Brezhnev, Andropov, đến Chernenko, Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Xô, tuyên bố đường lối -perestroika-, -glasnost-, nhưng do chính sách nửa vời, do dự, không cứu được ÐCSLX và nhà nước xô-viết ra khỏi khủng hoảng trầm trọng, trong lúc đó phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ðông Âu và ngay tại Liên Xô, từ đó -hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới- tan vỡ, PTCSQT tan rã.
Trong ba thời kỳ biến động lớn nói trên đã từng gây ra phong ba bão táp trong PTCSQT, chúng tôi chỉ đề cập đến thời kỳ thứ hai và thứ ba. Sở dĩ như vậy vì trong những biến động mãnh liệt, khủng khiếp và đẵm máu ở thời kỳ đầu, thì đến năm 1930 ÐCSVN mới ra đời và lúc đó đảng hoàn toàn lệ thuộc vào tập đoàn thống trị staliniste ở Liên Xô, nên không có gì đáng nói.
Nhân thể xin nói thêm chút ít về thời kỳ đầu: trong các tài liệu lịch sử còn lưu lại ở kho lưu trữ của QTCS (hiện nay là RSKHIDNI) mà giới nghiên cứu có thể tiếp cận được, có ghi lại đôi điều về thái độ của ÐCSVN hồi đó. Nổi bật là những lời rất mạnh của Nguyễn Ái Quốc chống chủ nghĩa Trotsky và những người trotskistes, ông buộc cho họ tội -phản bội, gián điệp, tay sai đế quốc-, hoàn toàn rập khuôn lời lẽ của cơ quan tuyên truyền của Stalin. Có người cho rằng ông ta nghĩ như thế thật với lòng cuồng tín của một đồ đệ của Stalin, với lối lu loa, vu khống, sỉ nhục, thóa mạ họ một cách rất -Stalin-. Ðọc lại ba bức thư ông viết cho ÐCSVN hồi năm 1939, thấy đầy rẫy những lời chửi bới -chúng là một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật và chủ nghĩa phát xít quốc tế-, đàn chó trotskistes-, -những kẻ đầu trâu mặt ngựa-, -những đứa không còn phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác-, -kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ-, -bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất-, v.v... (xem -Hồ Chí Minh Toàn tập-, t.3, tr.97-100). Cũng vì đầu óc staliniste như vậy nên sau khi ông nắm được chính quyền thì hàng loạt lãnh tụ trotskistes Việt Nam (và các đảng quốc gia nữa) đã bị Việt Minh (tức là ÐCSVN) giết hại: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v...
Ðến năm 1948, ba người trotskites là Nguyễn Văn Linh, Lưu Khánh Thịnh, Liu Jialang (người Hoa) đã đến với chiến khu kháng chiến cũng bị Việt Minh giết rồi vu cho tội -tay sai của thực dân Pháp- (xem: Hoàng Khoa Khôi. -Về phong trào Ðệ Tứ Việt Nam- trong sách -Hồ sơ về phong trào Ðệ Tứ Việt Nam-, Paris, tr.7, 8). Nhưng cũng có người cho rằng ông ta tuyên bố như thế chẳng qua để tỏ rõ sự trung thành với Stalin, để chuộc lỗi với Stalin và đánh tan sự hiểu lầm về ông: vì hồi mới đến Liên Xô, nghe nói Trotsky là lãnh tụ thứ hai của ÐCS bolshevik, ông đã mon men cố tìm cách gần gũi Trotsky. Những người hiểu rõ ông cho biết là tính ông thường thế, rất thích gần gũi những nhân vật nổi tiếng rồi xin chữ ký và chụp ảnh để đề cao mình trước hạ cấp và lưu danh hậu thế.
Chuyện này thì sau khi Trotsky bị hạ bệ, Nguyễn Ái Quốc giấu kỹ. Mãi gần đây, hồi tháng 10 năm 1999, trên đài truyền hình Arte ở Pháp có chiếu bộ phim tư liệu quý -Niềm Tin Thế Kỷ - La Foi du Siècle- của Patrick Rotman và Patrick Barbéris trong đó có hình ảnh Lev Trotsky đứng nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc năm 1924. Tờ Điễn Ðàn - Forum- (Paris) có viết qua về bộ phim có giá trị này trong số tháng 10/1999. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phe cánh Stalin không hề tin cậy Nguyễn Ái Quốc, điều này biểu hiện ra trong vài lần ông bị thất sủng ở cơ quan QTCS (1934-1938) và trong cuộc đón tiếp lạnh nhạt Stalin dành cho ông khi ông đến Moskva lần đầu (1950) với cương vị chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Người viết những dòng này không có tài liệu để nhận xét, nên chỉ xin giới thiệu những ý kiến khác nhau để bạn đọc suy nghĩ.
Dưới đây, xin đề cập đến hai thời kỳ biến động lớn về sau:
III.a. Thời kỳ biến động lớn thứ hai: Ðại hội 20 ÐCSLX và sự phân liệt trong PTCSQT
Lúc "thời đại Stalin" xế bóng, ngay khi kẻ độc tài còn tại vị, cuộc khủng hoảng chế độ xô-viết về nhiều mặt trở nên rất sâu sắc. Về kinh tế, nổi bật nhất là sự sa sút của nền nông nghiệp xô-viết và tình trạng nghèo khổ cùng cực của nông dân do chính sách kinh tế của ÐCS bòn vét bóc lột nông dân để phục vụ kinh tế xã hội chủ nghĩa, là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ là ngành bị coi rẻ từ lâu, là tình trạng thiếu thốn hàng tiêu dùng rất trầm trọng. Về mặt xã hội, nổi rõ sự bất bình của nông dân do thuế má quá nặng nề, do những hạn chế ngặt nghèo đối với kinh tế gia đình của nông dân, cũng như sự bất mãn, oán hận của hàng triệu gia đình có con em, vợ chồng bị giam giữ, tù đày trong các trại tập trung thuộc hệ thống GULAG. Tại đấy, đã nổ ra hàng chục cuộc nổi dậy lớn của tù nhân trong nửa cuối thập niên 40 và đầu thập niên 50. Trong bộ sử Nga nổi tiếng, xuất bản dưới thời "perestroika", đã nhận định: "Tình hình những người cầm quyền hồi đó giống như đang ngồi trên ngọn núi lửa mà bên trong đang tích lũy và chín muồi năng lượng của sức công phá cực kỳ lớn lao. Nguồn căng thẳng xã hội được tạo nên do khu vực lao động cưỡng bách thường xuyên được mở rộng, khu vực này phân ra hai nhánh - một bên là GULAG, còn bên kia là nông thôn tập thể hóa" (xem: "Tổ Quốc chúng ta" của nhiều tác giả. Moskva, tái bản 1991, tiếng Nga, t.2, tr.445).
Khủng hoảng chính trị còn biểu hiện ở những cuộc thanh trừng mà Stalin tiến hành tại tại Liên Xô ("vụ án Leningrad", "vụ án các bác sĩ", v.v... và việc chuẩn bị đợt thanh trừng mới) và tại các nước "chư hầu" , như Bulgaria, Tiệp Khắc, Ba Lan, Ðông Ðức, v.v... làm nhiều lãnh tụ cộng sản các nước đó bị giết, bị tù, bị thất sủng. Nó cũng biểu hiện ở cuộc đánh phá Tito và ÐCS Nam Tư (tên chính thức là Liên minh những người cộng sản Nam Tư)ø bắt đầu ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc. Trong lúc đó, cuộc tranh giành quyền lực giữa các nhóm phái trong ÐCSLX vốn ngấm ngầm khi Stalin còn sống, đã bùng ra quyết liệt sau khi Stalin chết. Các nhân vật chính trong trận thư hùng này là "bộ ba" tam đầu chế (triumvirat): Malenkov nắm bộ máy chính phủ, Beria nắm bộ máy công an mật vụ và Khrutshev nắm bộ máy đảng. Trong "bộ ba" này thì Beria là người có thế lực nhất và nguy hiểm nhất, nhưng người giành thắng lợi lại là Khrutshev. Khi lên ngôi vị mới rồi, Khrutshev và ban lãnh đạo mới của ÐCSLX cố tìm mọi cách để vượt qua cuộc khủng hoảng.
Ðến tháng 2.1956, khi Khrutshev củng cố được vị thế lãnh tụ trong đảng rồi thì đã diễn ra đại hội 20 ÐCSLX. Ðó là một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử PTCSQT, nó giống như một trận địa chấn đã làm rung động đếùn tận gốc rễ các ÐCS, gây ra hậu quả đầy kịch tính là sự phân liệt của PTCSQT thành hai phe kịch liệt kình chống nhau, buộc tội cho nhau là "xét lại hiện đại" và "giáo điều bảo thủ".
Bản báo cáo mật tố cáo "tệ sùng bái cá nhân Stalin" do Khrutshev, bí thư thứ nhất BCH TƯ ÐCSLX, đọc trong ngày họp cuối cùng của đại hội (25.2.1956) giống như một quả bom bùng nổ trong ÐCSLX và trong PTCSQT. Lần đầu tiên, "người cha của các dân tộc" (một trong 11 danh hiệu tôn vinh Stalin), vị thánh sống của những người cộng sản trên thế giới đã bị vạch mặt là một tên bạo chúa đẵm máu, gian hùng với những tội ác tày trời. Hào quang rực rỡ trên thần tượng Stalin bị đập vỡ tan tành. Thật ra, Khrutshev chỉ mới trình bày một phần sự thật mà thôi, còn nhiều tội ác khủng khiếp khác không được nói đến hoặc giấu kín (chẳng hạn, hiệp ước Liên Xô ký với phát xít Ðức, vụ giết hàng ngàn sĩ quan Ba Lan ở Katyn rồi đổ vấy cho phát xít, v.v...), và khi đưa ra những tội ác của Stalin thì Khrutshev lại đổ lỗi cho "sự sùng bái cá nhân Stalin", chứ không dám truy nguyên sâu xa đến bản chất của chế độ cực quyền cộng sản. Phê phán Stalin, Khrutshev tuyệt nhiên không đụng đến Lenin, ông coi Lenin là tuyệt đối đúng, chỉ có Stalin làm sai chủ thuyết của Lenin.
Sở dĩ Khrutshev đã hành động như thế vì:
1. bản thân ông cũng như nhiều người khác trong ban lãnh đạo đảng hồi bấy giờ kẻ ít người nhiều đều có dính dáng đến những tội ác của Stalin, nên không ai muốn phơi bày hết sự thật;
2. trước sau ông vẫn là một người cộng sản bolshevik, nhận thức của ông không thoát khỏi ý thức hệ cộng sản, ông không dám truy nguyên tận cùng bản chất độc tài của ÐCS, cũng như của chế độ cực quyền mà đảng ông đã dựng lên, ông muốn duy trì chế độ đó cũng như quyền lực của giai cấp nomenklatura đang thống trị trong chế độ đó;
3. ông phải cân nhắc "liều lượng" công khai hóa các tội ác để giảm thiểu sự chống đối của các ủy viên bảo thủ trong Chủ tịch đoàn trung ương (CTÐ TƯ - tên gọi hồi đó của Bộ chính trị) đảng, trong đó không ít địch thủ của ông, để có thể được đồng ý báo cáo công khai trước đại hội. Và ông đã làm việc này với lòng dũng cảm lớn và tinh thần trách nhiệm caọ
Sau khi ÐCSLX chính thức công bố những tội ác của Stalin, người đầu tiên phản đối việc chống sùng bái cá nhân là Mao Trạch Ðông. Chẳng phải ông ta quý mến gì Stalin (nhiều người biết là Mao vẫn ngấm ngầm căm ghét Stalin trong nhiều việc, nhất là thái độ trịch thượng của Stalin đối với Mao trong lần ông đến Moskva hồi năm 1950), nhưng Khrutshev đụng đến sự sùng bái Stalin tức là đụng đến sự sùng bái bản thân Mao, mà Mao thì rất cần nuôi dưỡng sự sùng bái đó để có thể cai trị đám thần dân của ông hồi đó đông đến trên 600 triệu người. Thái độ của Mao có ảnh hưởng đến nhiều lãnh tụ cộng sản đang cầm quyền ở Albania, Triều Tiên, Việt Nam ... Ở các nước Âu Mỹ, do trình độ dân trí cao, ý thức dân chủ mạnh, có thông tin đầy đủ, sự hoan nghênh và ủng hộ mạnh mẽ của trí thức, công nhân và đảng viên đối với những nghị quyết của đại hội 20 ÐCSLX, nên hầu hết lãnh tụ cộng sản các nước Âu Mỹ không ai công khai phản đối việc phê phán Stalin, dù có thể có người không bằng lòng trong bụng. Ðiều này khác hẳn với các nước còn ảnh hưởng văn hóa phong kiến nặng nề, ý thức dân chủ non yếu, đảng viên cũng như dân chúng quen thói sùng bái, thần phục lãnh tụ, cho nên lãnh tụ cộng sản các nước này thường dễ dùng thủ đoạn đánh lừa (manipuler) cán bộ đảng viên và dân chúng. Họ bưng bít tin tức về đại hội 20, hạn chế, thậm chí bóp méo thông tin để tha hồ giải thích về vấn đề Stalin theo cách của họ. Không những thế, nhiều đảng, như ÐCSVN, còn cấm tuyệt cán bộ, đảng viên không được đả động đến Stalin.
Ðại hội 20 ÐCSLX gây chấn động trong PTCSQT một phần nữa vì nó đã đưa ra những luận điểm quan trọng mới mẻ và táo bạo (so với thời điểm bấy giờ) làm đảo lộn lối tư duy cũ kỹ đã thành nếp trong phong trào. Có thể tóm tắt những luận điểm trọng yếu ấy như sau.
Loài người đang đứng trước hiểm họa nghiêm trọng của cuộc chiến tranh thế giới mới với những võ khí hủy diệt khủnh khiếp, như bom nguyên tử, bom nhiệt hạch, v.v... cho nên nhiệm vụ cấp thiết của các ÐCS trên thế giới là phải đấu tranh bảo vệ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh, chống chạy đua võ trang, đòi giải trừ quân bị. Các ÐCS phải biết dùng những khẩu hiệu đó để tập hợp quanh mình một phong trào quần chúng rộng lớn để chống lại âm mưu của chủ nghĩa đế quốc. Khác với trước, ÐCSLX không công khai đặt vấn đề hệ thống xã hội chủ nghĩa phải dùng bạo lực để giải quyết vấn đề "ai thắng ai" với hệ thống tư bản chủ nghĩa, mà đặt vấn đề "cùng tồn tại hòa bình" và "thi đua hòa bình" giữa hai hệ thống, vì hồi đó những người cộng sản Liên Xô tin tưởng rằng trong cuộc "thi đua hòa bình", hệ thống xã hội chủ nghĩa sẽ thắng hệ thống tư bản chủ nghĩa. ÐCSLX cho rằng ngày nay đã có khả năng ngăn ngừa chiến tranh thế giới, có khả năng hòa bình giành được chính quyền và chuyển lên chủ nghĩa xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa. Về mặt đối nội, ÐCSLX cho rằng các ÐCS cầm quyền ở nước xã hội chủ nghĩa cần ra sức phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho dân chúng, đồng thời mở rộng tự do dân chủ, coi trọng chế độ pháp trị xã hội chủ nghĩa và chống sùng bái cá nhân lãnh tụ. Ðó là những cơ sở cho hệ thống xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi cuối cùng.
Những luận điểm mới này một mặt gây ra một luồng sinh khí mới trong các ÐCS và tạo nên một niềm phấn khởi lớn trong dân chúng ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là các tầng lớp trí thức, công nhân, sinh viên, thanh niên. Người ta hy vọng nạn độc tài độc đoán, vi phạm pháp chế sẽ chấm dứt và xã hội sẽ dần dần được dân chủ hóa; nỗi lo sợ chiến tranh cũng giảm bớt nhiều. Mặt khác, chúng cũng làm cho các lãnh tụ cộng sản bảo thủ lúc đầu tỏ thái độ nghi ngờ và lạnh nhạt, rồi dần dần chuyển sang chống đối mạnh mẽ; họ phê phán những luận điểm đó là "hòa bình giai cấp", "thỏa hiệp giai cấp", "buông lỏng chuyên chính vô sản", thậm chí là "chủ nghĩa xét lại hiện đại" và "phản bội chủ nghĩa Marx-Lenin".
Thái độ của Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ đối với những nghị quyết của đại hội 20 ÐCSLX đã tạo ra nguy cơ phân liệt trong PTCSQT, dù rằng cho đến tháng 10.1957 sự hợp tác giữa hai chính phủ Liên Xô và Trung Quốc đã đạt đến đỉnh cao - trong tháng đó hai chính phủ đã ký hiệp định bí mật về hợp tác quân sự với mục tiêu cụ thể: tăng cường công nghiệp quân sự cho Trung Quốc, xây dựng theo thiết kế và thiết bị của Liên Xô và chuyển giao bom nguyên tử cho Trung Quốc cùng kỹ thuật sản xuất bom đó. Ðây là hiệp định đầu tiên và cho đến nay là trường hợp duy nhất một cường quốc sẵn sàng chia sẻ với đồng minh của mình những bí mật về bom nguyên tử (cố nhiên, về sau do quan hệ giữa hai nước xấu đi, nên hiệp định này đã không được thi hành).
Ðể tìm con đường chung thoát khỏi cuộc khủng hoảng và duy trì được sự thống nhất của PTCSQT, trong dịp kỷ niệm 40 năm cách mạng tháng Mười, ÐCSLX đã vận động để tổ chức một cuộc hội nghị quan trọng của các ÐCS trên thế giới. Mao Trạch Ðông đã dẫn đầu đoàn đại biểu Trung Quốc đến Moskva. Nam Tư cũng cử phái đoàn đến nhưng Tito thì không đến. Tại cuộc hội nghị đại biểu của 12 ÐCS cầm quyền (14-16.11.1957) và hội nghị đại biểu các ÐCS và ÐCN 64 nước trên thế giới (16-19.11.1957) lúc đầu không có sự tranh cãi gay gắt, chỉ có Mao và Togliatti là cố so đọ các quan điểm khác nhau có tính chất tranh luận, còn phần đông các đại biểu cố giữ hòa khí, nhưng cuối cùng rồi cũng bùng ra cuộc tranh cãi gay gắt giữa đoàn đại biểu ÐCSTQ với đoàn đại biểu ÐCSLX. Nhưng để tránh sự phân liệt, các đoàn đại biểu 12 ÐCS cầm quyền đã thỏa thuận ký Tuyên bố chung có tính chất thỏa hiệp, còn đại biểu các ÐCS và ÐCN 64 nước trên thế giới đã ra Tuyên ngôn Hòa bình. Trong Tuyên bố chung, phe bảo thủ đòi ghi bằng được nhận định tính chất thời đại hiện nay là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, ghi rõ những điều kiện căn bản mà các nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện, chẳng hạn, phải duy trì và củng cố chuyên chính vô sản, phải thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ, phải làm cách mạng văn hóa và tư tưởng, phải chống chủ nghĩa xét lại ... Tóm lại, hai phe tranh chấp nhau, nhưng không ai muốn có sự tan vỡ của PTCSQT nên đã cố thỏa hiệp nhau, và ai cũng làm như tuồng hai văn kiện vừa ký kết đó là biểu tượng của sự thống nhất của PTCSQT. Sự thật thì những thỏa hiệp tạm thời đó không thể hàn gắn được sự nứt rạn sâu sắc của PTCSQT.
Đảng Cộng Sản Liên Xô lại cố vận động cho một cuộc hội nghị quốc tế nữa. Tại đại hội ÐCS Rumanie (tên chính thức là Ðảng công nhân Rumanie) hồi tháng 6.1960, trong cuộc gặp mặt của các phái đoàn các Ðảng đến dự đại hội đã có cuộc trao đổi ý kiến để chuẩn bị cho cuộc hội nghị các ÐCS và ÐCN thế giới sắp tới, bỗng dưng bùng nổ cuộc tranh cãi gay gắt giữa Khrutshev và Bành Chân. Tuy vậy, đến tháng 11 năm 1960, cuộc hội nghị quốc tế đó cũng đã họp được với thành phần đông hơn trước: đại biểu 81 đảng (trên thế giới hồi đó có 86 đảng), trong số đó có 70 đảng tán thành quan điểm của ÐCSLX. Lại tranh cãi kịch liệt giữa hai ÐCS lớn nhất thế giới, rồi lại thỏa hiệp nhau bằng một tuyên bố chung.
Tình thế đã đổi thay, khác hẳn thời Lenin và Stalin, ngày nay ÐCSLX không thể lấy thế "đàn anh" hay lấy "đa số" ra lệnh mà được: trong PTCSQT thực tế đang có sự tranh chấp quyền lãnh đạo giữa hai ÐCS lớn nhất với hai lãnh tụ của họ - Mao Trạch Ðông và Khrutshev. Vì thế ngay sau hội nghị quốc tế đó thì Phong Trào Cộng Sản Qô’c Tê’ thực tế đã phân liệt thành hai phe - phe theo Liên Xô và phe theo Trung Quốc. Phe Liên Xô công kích phe Trung Quốc là giáo điều, bảo thủ; phe Trung Quốc đả kích phe Liên Xô là xét lại, hết tinh thần cách mạng, sợ đế quốc, thậm chí tay sai đế quốc, phản cách mạng. Ngay từ năm 1961, ÐCSTQ đã công khai tuyên truyền: trung tâm cách mạng đã chuyển từ Nga đến Trung Quốc, và từ năm 1962 đã bắt đầu vận động thành lập Quốc tế mới do Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ lãnh đạo, với nòng cốt là các ÐCS Albania, Nam Dương (Indonesia), Bắc Triều Tiên, Việt Nam ... ÐCSTQ còn cố lôi kéo "thế giới thứ ba" để lập thành "mặt trận thế giới" do họ lãnh đạo nhằm chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ và "chủ nghĩa xét lại hiện đại" Liên Xô. Tình hình PTCSQT đầu những năm 60 là như vậy đó.
Về mặt đối nội: Ngay sau đại hội 20, Khrutshev và ban lãnh đạo ÐCSLX ra sức tháo gỡ ngòi nổ ở kho thuốc súng bất mãn xã hội trong nước. Họ thành lập ủy ban xét lại các vụ án chính trị dưới thời Stalin, minh oan và trả tự do cho hàng trăm ngàn tù nhân bị giam giữ trong các trại tập trung và phục hồi danh dự cho hàng trăm ngàn người khác đã bị chết oan. Ở nông thôn, nông dân được cấp giấy thông hành (passports) và từ đó lần đầu tiên dưới chế độ xô-viết, nông dân được đi lại tự do trong nước của mình! Chính phủ xô-viết đã quyết định giảm thuế vốn rất nặng đánh vào nông thôn, nới rộng chút ít cho nông dân có được mảnh ruộng đất riêng nho nhỏ có vài con bò riêng để làm kinh tế gia đình, mở "chợ nông trang" cho nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra ... Hàng chục vạn người thuộc các dân tộc trước đây bị Stalin lưu đày đến các vùng xa xôi, nay được trở về quê cũ. Dù việc này có gây ra biết bao vấn đề căng thẳng (do sự tranh giành đất đai, nhà cửa giữa người bị lưu đày và người mới được đưa đến ở) nhưng nói chung cũng làm cũng làm cho các dân tộc nạn nhân hả lòng đôi chút. Ở các thành phố lớn đã gấp rút mở rộng việc xây dựng nhà ở để giải quyết nạn thiếu nhà dân phải chui rúc sống ở tầng hầm. Một vài tác phẩm văn học nghệ thuật trước kia bị cấm thì nay bắt đầu được in ấn, xuất bản ... Một bầu không khí hồ hởi phấn khởi dâng lên mạnh trong dân chúng và đảng viên ở Liên Xô, mọi người cảm thấy như được giải phóng thật sự. Hồi ấy, người dân Liên Xô gọi thời kỳ này là "trời trở ấm" (ottepel), ý nói thời tiết dễ chịu lên sau những ngày băng giá.
Về mặt đối ngoại: Khrutshev và ban lãnh đạo ÐCSLX cố tìm cách giải quyết những mâu thuẫn giữa ÐCSLX với Tito và ÐCS Nam Tư, giải quyết những chuyện lấn cấn cũ với các ÐCS ở Ðông Âu, đồng thời tìm cách hòa dịu với Hoa Kỳ và các nước khác ở phương Tây. Những chuyến đi đây đi đó của Khrutshev đến các nước đã để lại nhiều ấn tượng mạnh mẽ, cả tích cực lẫn tiêu cực. Nhưng nói chung hoạt động đối ngoại của ông đã góp phần làm bớt căng thẳng phần nào trong quan hệ thế giới, nhưng lại càng kích thích sự bất mãn của ÐCSTQ và các nước kình địch với Hoa Kỳ và Nam Tư, lại càng châm ngòi cho cuộc khẩu chiến ồn ào giữa ÐCSTQ và ÐCSLX cùng các ÐCS "chư hầu" của hai bên.
Như đã nói, tiếng vang của đại hội 20 ÐCSLX truyền khắp thế giới. "Trời trở ấm" lan đến nhiều nước "xã hội chủ nghĩa", nhất là các nước Ðông Âu, kích thích ý thức dân chủ và tự do của người dân, từ trí thức cho đến công nhân. Người ta cảm thấy có cơ hội đứng lên để ít nhất nới bớt gông xiềng xô-viết. Ba Lan là nước đầu tiên đứng thẳng người lên. Thoạt đầu là công nhân nhà máy ô tô ở Poznan nổi dậy (28.6.1956), tiếp đến công nhân nhiều nhà máy khác hưởng ứng, họ biểu tình hòa bình với khẩu hiệu "Bánh mì!" và "Quân đội Liên Xô rút khỏi Ba Lan!". Ðã xảy ra những cuộc đụng độ giữa những người biểu tình và cảnh sát, có nhiều người chết và bị thương. Một cuộc đấu tranh rất ác liệt đã diễn ra trong nội bộ ÐCS Ba Lan (tên gọi chính thức là Ðảng công nhân thống nhất Ba Lan). Ban lãnh đạo mới của ÐCS Ba Lan đứng đầu là Gomulka đã đưa ra chương trình hoạt động mới giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân và bình thường hóa quan hệ với Liên Xô. Chính nhờ sự mềm dẻo của Gomulka mà Ba Lan tránh được sự can thiệp quân sự của Liên Xô.
Kết cục của các sự biến ở Hungarie lại khác hẳn với Ba Lan. Sau đại hội 20 ÐCSLX, trong ÐCS Hungarie (tên chính thức là Ðảng công nhân xã hội chủ nghĩa Hungarie) cũng đã diễn ra đấu tranh nội bộ cực kỳ căng thẳng. Cuối cùng, các lực lượng tiến bộ đã hạ bệ Rakoshi, người đứng đầu đảng có nhiều tội ác và là tay sai đắc lực của Liên Xô. Ngày 6.10.1956, có cuộc cải táng các nạn nhân bị giết oan dưới chế độ cộng sản, nhân dân căm phẫn biểu tình đông đảo với 200 ngàn người tham gia ngay giữa thủ đô Hungarie. Ðể làm dịu bớt tình hình, ban lãnh đạo ÐCSLX kêu gọi Imre Nagy ra nắm quyền. Cuộc đấu tranh quần chúng dần dần chuyển thành cuộc khởi nghĩa, nó cuốn hút không những trí thức, công nhân, nông dân, mà cả nhiều tầng lớp khác. Những nhà máy lớn nhất ở Budapest đều trở thành "cứ điểm" cho cuộc nổi dậy. Khác với Ba Lan, ÐCS Hungarie không lãnh đạo nổi phong trào. Ngày 22 tháng 10, diễn ra một cuộc biểu tình lớn nữa ở Budapest, quần chúng đòi Imre Nagy phải đứng đầu ban lãnh đạo mới. Ngày 23 tháng 10, Imre Nagy lên làm thủ tướng, ông kêu gọi dân chúng buông võ khí. Nhưng lúc đó xe tăng xô-viết đã có mặt ở Budapest nên dân chúng càng thêm sục sôi. Lại nổ ra một cuộc biểu tình khổng lồ nữa của thanh niên, sinh viên, học sinh, công nhân trẻ. Trước tòa nhà quốc hội tập hợp đến 200 ngàn người, họ hạ tượng Stalin xuống, thành lập đội võ trang và bắt đầu chiếm giữ các khu trong thành phố Budapest. Ngày 24.10, Mikoyan và Suslov bay đến Budapest đề nghị đưa Janos Kadar lên làm bí thư thứ nhất. Ngày 25.10, xảy ra cuộc đụng độ với bộ đội xô-viết ở gần tòa nhà quốc hội. Imre Nagy một mặt ra lệnh ngừng bắn, mặt khác yêu cầu Liên Xô rút quân. Nhưng đụng độ vẫn tiếp diễn. Dân chúng nổi dậy đòi bộ đội xô-viết phải triệt thoái ngay và thành lập chính phủ thống nhất dân tộc mới, trong đó có những đại diện các đảng khác. Ngày 28.10, các trận đánh vẫn tiếp diễn, chính phủ Hungarie ra lệnh ngừng bắn. Ngày 30.10, chính phủ tuyên bố xóa bỏ chế độ bắt buộc nông dân nộp nông phẩm cho nhà nước. Các tỉnh nhiệt liệt ủng hộ thủ đô, còn công nhân thì vẫn bỏ việc chờ đến khi ngừng hẳn các trận chiến đấu và quân xô-viết rút khỏi Budapest. Ba điều làm ban lãnh đạo Liên Xô đặc biệt lo sợ là dân chúng công khai đòi Liên Xô rút quân ra khỏi Budapest và toàn lãnh thổ Hungarie, Ðảng xã hội dân chủ Hungarie đã được khôi phục lại và một chính phủ đa đảng đã thành lập. Họ sợ tấm gương Hungarie sẽ truyền lây sang các nước khác ở Ðông Âu. Vì thế, CTÐ TƯ ÐCSLX họp ngày 26.10 đã quyết định can thiệp võ trang để đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân. Nghị quyết đó, mãi về sau mới được công bố, trong đó đầy rẫy những lời lẽ giả nhân giả nghĩa, như "thật là không thể tha thứ được cho Liên Xô, nếu vẫn cứ giữ thái độ trung lập mà không giúp đỡ cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống lại phản cách mạng". Nhưng CTÐ TƯ ÐCSLX lại muốn làm cho cuộc can thiệp võ trang của họ dường như là của cả phe xã hội chủ nghĩa, nên họ phải tìm cách đánh lừa dư luận, tranh thủ thời gian để chuẩn bị cuộc đàn áp, đồng thời tranh thủ sự đồng tình của các nước thành viên Hiệp ước Varsava, cũng như của Trung Quốc và Nam Tư . ÐCSLX mời phái đoàn ÐCSTQ do Lưu Thiếu Kỳ dẫn đầu đến Moskva. Ðàm phán khó khăn lắm ban lãnh đạo Liên Xô mới được Lưu Thiếu Kỳ chấp thuận tại sân bay Vnukovo ngay trước khi ông lên máy bay về nước (31.10). Tiếp đó, được sự đồng ý của Ba Lan, Rumanie và Nam Tư thì ngày 1.11, Liên Xô bắt đầu tiến quân. Imre Nagy cực lực phản đối, nhưng 3000 xe tăng xô-viết từ miền Zakarpat Ukraina và Rumanie cứ ào ạt vượt qua biên giới Hungarie. Tối hôm đó, Hungarie chính thức tuyên bố rút ra khỏi Hiệp ước Varsava vì Liên Xô đã vi phạm Hiệp ước đó trước, đồng thời tuyên bố theo chính sách trung lập và kêu gọi Liên hiệp quốc phản đối quân đội xô-viết võ trang can thiệp Hungarie. Liên Xô dối trá tuyên truyền như tuồng tình hình phức tạp ở Hungarie là do âm mưu của bọn đế quốc chống lại "phe hòa bình và dân chủ", như tuồng "bọn phản cách mạng" Hungarie nổi dậy giết những người cộng sản để mưu đồ khôi phục lại chủ nghĩa tư bản. Ðến ngày 3.11, 11 sư đoàn quân Liên Xô đã có mặt trên lãnh thổ Hungarie. Trong ngày đó, CTÐ TƯ ÐCSLX đã chuẩn bị một chính phủ Hungarie mới được thành lập trên đất Liên Xô do Janos Kadar, bí thư thứ nhất ÐCS Hungarie, làm thủ tướng để thay thế chính phủ Imre Nagy "phản cách mạng". Ngày 4.11 chính phủ mới của Hungarie được công bố chính thức, khi đại pháo xô-viết khai hỏa và xe tăng Liên Xô ào ào xông vào thủ đô Budapest. Hôm trước, ngày 3.11, chính phủ liên hiệp của Hungarie đã thành lập do Imre Nagy đứng đầu, gồm có ba đại biểu cộng sản, ba thuộc đảng tiểu chủ, ba thuộc đảng xã hội dân chủ, hai thuộc đảng Petefi và một người không đảng phái là tướng Pal Maleter. Cuộc chiến đấu của nhân dân Hungarie vô cùng dũng cảm, nhưng lực lượng hai bên quá chênh lệch, nên ở Budapest sau ba ngày thì lực lượng nhân dân bị đè bẹp, còn ở vùng nông thôn, cuộc chiến đấu tiếp diễn đến ngày 14.11. Thế là cuộc cách mạng dân chủ giải phóng dân tộc Hungarie bị dìm trong máu lửa. Quân đội và công an mật vụ Liên Xô liền lùng bắt và khủng bố dân chúng nổi dậy. Imre Nagy và những người đồng sự chạy vào sứ quán Nam Tư. Sau hai tuần lễ đàm phán, thủ tướng mới của Hungarie Janos Kadar cam kết là Imre Nagy và những người đồng sự của ông ta sẽ không bị trừng phạt mà sẽ được cùng gia đình đưa về nhà thì sứ quán Nam Tư mới chịu đồng ý cho họ lên xe buýt ra đi có cả hai nhân viên của sứ quán đi theo. Nhưng giữa đường, xe buýt đó bị mấy sĩ quan xô-viết chiếm, bắt Imre Nagy và những người đồng sự của ông ta. Về sau, Imre Nagy bị xử bắn cùng với tướng Pal Maleter (1958).
Những sự kiện đầy kịch tính ở Hungarie năm 1956 là một cú sốc mạnh đối với giới cầm quyền chẳng những ở Liên Xô mà còn ở nhiều nước "xã hội chủ nghĩa" khác: nỗi khiếp sợ mất nền thống trị đã kìm hãm ý hướng muốn cải cách của họ. Còn 15 năm sau, khi đã bị hạ bệ rồi, nhắc đến những sự kiện ở Hungarie năm 1956, Khrutshev không hề có một chút cắn rứt lương tâm, không hề nghĩ rằng chính ông ta và ban lãnh đạo Liên Xô đã xử sự một cách phản bội đối với cuộc cách mạng giải phóng của cả một dân tộc. Nhưng một ý niệm như thế làm sao có thể có được ở một con người theo chủ nghĩa Lenin ?!
Ðúng như vậy, Khrutshev là một con người đầy mâu thuẫn. Cũng như những người lãnh đạo khác của ÐCSLX, trước sau Khrutshev vẫn là một người cộng sản "chính cống", ý thức hệ Marx-Lenin, tư tưởng và tác phong độc đoán của chế độ cực quyền đã "đông kết" trong tư duy không cho ông có thể làm nhà cách tân thật sự. Trong lúc ông nới ra chút ít tự do, dân chủ, thì nói chung ông vẫn giữ thói độc đoán chuyên quyền của một lãnh tụ cộng sản. Ông vừa cho phép tạp chí "Thế giới mới" (Novy Mir) đăng bốn truyện ngắn của Solzhenitsyn hồi 1962, nhưng khi bị đám stalinistes trong ban lãnh đạo phản đối dữ dội thì ông lại hãm ngay không cho đăng những tiểu thuyết "Khu ung thư", "Vòng thứ nhất" của nhà văn nổi tiếng đó nữa. Hay tại cuộc triển lãm nghệ thuật ở Manezh Moskva, ông đã mạt sát thô bạo trường phái trừu tượng, gây ra cuộc tranh cãi kịch liệt giữa ông và nhà điêu khắc Ernst Neizvestnyi (nói cho công bằng, ông khác với Stalin, sau cuộc tranh cãi đó nhà điêu khắc không bị bỏ tù, không bị giết mà vẫn làm việc bình thường). Hay việc đối xử tồi tệ với nhà văn Boris Pasternak (1958). Hay việc dùng quân đội đàn áp đẵm máu cuộc biểu tình hòa bình của công nhân ở thành phố Novocherkask (tháng 6.1962), v.v... Trong lúc muốn "cùng tồn tại hòa bình", "thi đua hòa bình" với chủ nghĩa tư bản, muốn quan hệ tốt với Hoa Kỳ thì Khrutshev lại hùng hổ tuyên bố sẽ "chôn sống giai cấp tư bản", rồi bí mật đưa tên lửa đến Cuba (tháng 8.1962). Trong lúc muốn giải quyết những vấn đề mâu thuẫn do Stalin gây ra với các nước "anh em" ở Ðông Âu, đặc biệt là Nam Tư, thì Khrutshev lại xích mích với Trung Quốc. Bức tượng đá của Khrutshev do Ernst Neizvestnyi tạc đặt trước mộ ông có hai màu - nửa đen nửa trắng - chính là để biểu thị con người đầy mâu thuẫn đó.
Sau sự biến ở Hungarie, những phần tử bảo thủ trong CTÐ TƯ ÐCSLX càng tăng sức ép mạnh với Khrutshev, nên chính sách đối nội về kinh tế, chính trị và xã hội của ông thường chao đảo. Cuối cùng, nhóm bảo thủ nhất trong ban lãnh đạo do Brezhnev thủ mưu đã ngấm ngầm tổ chức cuộc đảo chính cung đình lật đổ ông vào tháng 10.1964.
Thế là đã qua rồi đợt "trời trở ấm", đất nước và xã hội Liên Xô lại bị chìm trong giá lạnh! Brezhnev và ban lãnh đạo mới của ÐCSLX mưu đồ khôi phục lại chủ nghĩa Stalin dưới dạng khác, không thể trắng trợn như trước được nữa, nhưng vẫn rất khắc nghiệt. Chính vào thời gian này sự bất bình trong dân chúng, nhất là trong trí thức thể hiện rõ rệt nhất qua phong trào dissidence (bất đồng chính kiến) ở Liên Xô. Brezhnev và ban lãnh đạo Liên Xô không thể giải quyết được vấn đề đoàn kết thống nhất PTCSQT, không thể hàn gắn được "mối tình Xô-Trung", trái lại mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trầm trọng, thậâm chí hồi tháng 3.1969, quân đội của hai nước đã đánh nhau kịch liệt ở Damanski (Trung Quốc gọi là đảo Chenbao) làm cả hai bên đều có nhiều người chết.
Trong lúc đó, nhiều ÐCS ở các nước tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là ở Pháp và Ý, ngày càng bị khủng hoảng, vì quần chúng cách mạng, nhất là trí thức, công nhân được làn gió mát của đại hội 20 ÐCSLX cổ võ, họ nhận rõ bản chất cực quyền của chế độ cộng sản xô-viết, nhận rõ tính chất tay sai của các ÐCS "nước mình" đối với Liên Xô, nên mất lòng tin vào ÐCS và chủ nghĩa cộng sản. Ở nhiều nước châu Âu, số đảng viên bỏ đảng rất đông. Các ÐCS cố tìm cách gây lại niềm tin của quần chúng để mong thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng nội bộ. Một vài đảng chính thức tuyên bố loại trừ chuyên chính vô sản và xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong cương lĩnh đảng. Về sau, ÐCS Ý cố hoàn thiện hơn về mặt lý luận đã cho ra một mô hình mới gọi là "chủ nghĩa cộng sản Âu châu" (eurocommunisme).
Một vài ÐCS ở Ðông Âu nằm trong gọng kìm xô-viết cố tìm đường thoát ra khỏi những bế tắc của chế độ cực quyền "xã hội chủ nghĩa" cả về kinh tế lẫn chính trị. Một trong những nước Ðông Âu đi tiên phong trong việc cải cách là Tiệp Khắc (1967-1968). Các lực lượng cấp tiến nhất trong ban lãnh đạo Tiệp Khắc do Alexandre Dubcek đứng đầu đã khởi sự những cải cách quan trọng, như nới rộng quyền tự do ngôn luận, cải tổ kinh tế theo hướng cho xí nghiệp được tự quản và phần nào dè dặt áp dụng nguyên tắc kinh tế thị trường. Về mặt kinh tế, người ta phê phán chế độ quản lý kinh tế trung ương tập quyền, giảm bớt việc lập kế hoạch tập trung, nới cho các xí nghiệp được quyền tự trị quyết định cả về đầu tư bằng tiền lãi do mình tự tạo ra cũng như tín dụng ngân hàng, cho công nhân các xí nghiệp được bầu hội đồng công nhân có quyền tham gia vào các quyết định của quản đốc xí nghiệp. Những cuộc cải cách đó được dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh, người ta gọi đó là "Mùa Xuân Praha". Những người cộng sản cấp tiến Tiệp Khắc muốn từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội xô-viết, thứ "chủ nghĩa xã hội trại lính", để cải biến thành "chủ nghĩa xã hội mặt người", tức là làm cho nó nhân bản hơn. Khiếp sợ trước những đổi thay căn bản của Tiệp Khắc, Brezhnev và ban lãnh đạo ÐCSLX chủ trương huy động quân đội của khối Hiệp ước Varsava, cụ thể là quân Liên Xô, Ðông Ðức, Ba Lan, Hungarie, Bulgarie (riêng Rumanie không chịu tham gia) với quân số nửa triệu, 4600 xe tăng, 800 máy bay, 2000 đại pháo đêm 20 rạng ngày 21.8.1968 đã tiến vào Tiệp Khắc để lật đổ chính quyền hợp pháp và dựng lên một đám bù nhìn mới làm tay sai. Dân chúng chống cự rất quyết liệt, họ đã thể hiện biết bao tấm gương hy sinh, quên mình vì nước. Nhưng trứng làm sao chọi nổi với đá ?! Cuối cùng, Tiệp Khắc phải chấp nhận ngừng ngay cuộc cải cách và chịu để cho 75 ngàn quân Liên Xô "tạm" đóng trên đất nước mình. Thế là "chủ nghĩa xã hội mặt thú" đã hoàn toàn đè bẹp "chủ nghĩa xã hội mặt người" !
Liên Xô dưới thời Brezhnev, Andropov, Chernenko ... vẫn không ngừng tiến hành chính sách bành trướng cộng sản mà họ gọi là "làm nghĩa vụ quốc tế". Cuộc phiêu lưu quân sự xô-viết ở Afganistan là một điển hình, không những thế, Liên Xô thông qua nước Cuba "anh em" để giúp đỡ cho cho các thế lực nổi loạn ở Nicaragoa, Salvador, thậm chí dùng binh lính Cuba đánh thuê (để trả nợ xô-viết) ở nhiều nước châu Phi, như Angola, Ethiopia, Mozambique. Người ta ngang ngược lấy cớ rằng dân Cuba "chiến đấu" ở các nước châu Phi là "làm nghĩa vụ quốc tế", hơn nữa người Cuba đến châu Phi cũng là con dân châu Phi quay trở về Ðất Mẹ! Lúc đầu dân Cuba cũng tự hào "làm nghĩa vụ quốc tế" ở châu Phi, nhưng khi bị sa lầy trong cuộc chiến tranh kéo dài thì dân Cuba lại bất mãn: vì sao thanh niên Cuba phải chết ở các chiến trường xa đất nước mình hàng nhiều ngàn cây số!
Sau khi "Mùa Xuân Praha" bị Liên Xô dẹp tan, các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu cố tránh những cải cách chính trị, vì sợ Liên Xô đàn áp, mà cố tìm cách cải cách kinh tế. Hầu hết các nhà kinh tế trung thực ở các nước này đều thấy rõ không thể duy trì "chế độ kinh tế tập trung chỉ huy kế hoạch" kiểu xô-viết được nữa, nhưng những người lãnh đạo các nước đó đều ngập ngừng. Tấm gương của những người cộng sản Nam Tư về chế độ công nhân tự quản xí nghiệp tuy bị Liên Xô đả kích, nhưng vẫn khá hấp dẫn đối với họ. Vài nước bắt đầu có một sốâ biện pháp cải cách kinh tế nho nhỏ: như cho các xí nghiệp được một chút tự quản, được cấp vốn và sau đó phải trả một phần lãi cho trung ương (Ðông Ðức), có nước tìm cách vay tiền của phương Tây để đầu tư, mua máy móc thiết bị làm hàng xuất cảng lấy ngoại tệ, hoặc thực hiện những bước rón rén tiến đến kinh tế thị trường (Ba Lan), có nước cố cải tổ kinh tế để giảm bớt sự chỉ huy tập trung, đưa ra "cơ chế kinh tế mới" để thay đổi cách quản lý kinh tế của ba khu vực: quốc doanh, hợp tác xã và tư nhân, áp dụng việc tản quyền, cho nông dân tự do mua bán, mưu toan làm cải cách giá cả (Hungarie). Nhưng vì không có được một khái niệm hoàn chỉnh về cải cách kinh tế chuyển hóa từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường tự do, vì cải cách kinh tế không được kèm theo cải cách chính trị, nên các cuộc cải cách đều mang tính nửa vời tạo ra nhiều mâu thuẫn, bế tắc.
Nhưng phần đông các nước "xã hội chủ nghĩa" hồi đó còn bị thống trị bởi các lãnh tụ bảo thủ (Liên Xô - Brezhnev, Andropov, Cherhenko, Trung Quốc - Mao Trạch Ðông, Hoa Quốc Phong, Việt Nam - Lê Duẩn, Rumanie -Nicolae Ceausescu, Bulgarie - Zhipkov, Bắc Triều Tiên - Kim Nhật Thành, Cuba - Fidel Castro, Albania - Anver Hodzha) nên hầu như họ không nghĩ gì đến cải cách kinh tế. Phe "xã hội chủ nghĩa" ngày càng ngập sâu vào khủng hoảng, chẳng những về kinh tế, xã hội mà cả về chính trị. Biểu hiện rõ nhất của khủng hoảng chính trị trong phe này hồi thập niên 80 là tình hình bất ổn ở Ba Lan: tiếp theo những cuộc đình công quyết liệt của công nhân Gdansk là sự ra đời (ngày 30.9.1980) và phát triển mạnh mẽ của phong trào Công đoàn "Ðoàn Kết" (Solidarnos) do người thợ điện Lech Walesa làm lãnh tụ. Bản thân Walesa đã nhiều lần bị bắt bớ, Công đoàn của ông nhiều lần bị đàn áp, cấm đoán, nhưng nó vẫn tồn tại và thu hút đông đảo công nhân và trí thức Ba Lan như một thách thức bướng bỉnh.
Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, PTCSQT ngày một khủng hoảng. Các nước "xã hội chủ nghĩa" đều đang rối ren, ở Ðông Âu dân chúng chốngđối thầm lặng, chỉ mong thoát khỏi gông xiềng xô-viết và giànhđược dân chủ. Còn các ÐCS Âu Mỹ cũng hết sức bối rối và ngày càng sa sút, "chủ nghĩa cộng sản Âu châu" trở thành món hàng ế khách không thu hút được quần chúng nên qua các cuộc bầu cử ÐCS nhiều nướcđã bị thất bại thảm hại, nhất là ÐCS Pháp.
III.b. ÐCSVN qua thời kỳ biến động lớn thứ hai từ sau đại hội 20 ÐCSLX
Ðoàn đại biểu ÐCSVN (tên chính thức hồi đó là Ðảng lao động Việt Nam) do chủ tịch Hồ Chí Minh và tổng bí thư Trường Chinh dẫn đầu dự đại hội 20 ÐCSLX. Trong và ngay sau đại hội, đoàn đã nhiệt liệt tán thành những nghị quyết của đại hội 20. Trong cuộc phỏng vấn của Ðài phát thanh Moskva ngày 3.3.1956, Trường Chinh đã đánh giá rất cao đại hội 20 ÐCSLX và bày tỏ sự ủng hộ nồng nhiệt đối với những nghị quyết của đại hội. Ông nói: "Ðại hội lần thứ 20 của ÐCSLX là một cuộc đại hội lịch sử quan trọng nhất từ khi Lenin mất đến nay" (xem: tạp chí "Học Tập", số 4, tháng 3.1956, tr.174). Ðánh giá đại hội 20 như thế có nghĩa là ông bày tỏ thái độ mạnh mẽ phê phán thời đại Stalin và dứt khoát tán thành nghị quyết đại hội 20. Nhưng khi về nước, tại hội nghị TƯ ÐCSVN (19-24.4.1956) để nghe báo cáo và bàn về nghị quyết đại hội 20, do tác động của thành phần bảo thủ thân Mao trong bộ chính trị, như Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan ... nên thái độ của TƯ ÐCSVN có tính chất lấp lửng, ngoài mặt thì làm ra vẻ ủng hộ đại hội 20, còn bên trong thì không ủng hộ. Lúc đầu, thái độ đó được giấu kín trong phạm vi TƯ biết với nhau thôi, không phổ biến rộng ngay cả cho cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng. Ðiều này tỏ rõ rằng trong nội bộ TƯ hồi đó đang có cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các phe.
Tiếp sau hội nghị TƯ là cuộc hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp của đảng (28.4 - 3.5.1956) để nghe báo cáo và nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 ÐCSLX. Ðược ảnh hưởng của tinh thần phê bình trong đại hội 20, hơn nữa bị sức ép của tình trạng căng thẳng trong xã hội miền Bắc hồi đó do những bạo hành trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, do sự vi phạm tự do dân chủ của ngành công an, mậu dịch, v.v... nên tại hội nghị cán bộ, lần đầu tiên bộc lộ một thái độ phê phán mạnh mẽ và thẳng thắn những sai lầm trong sự lãnh đạo của đảng. Thậm chí một số cán bộ đã đụng đến những "điều cấm kỵ", như đã dám phê phán sự sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh, dám nói đến việc lãnh tụ đảng đã tự mình tuyên truyền cho sự sùng bái cá nhân mình. Nhiều ý kiến vạch ra tệ nạn độc tài độc đoán, thói gia trưởng trong đảng. Về mặt đường lối, chính sách thì cán bộ lôi ra những bạo hành trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, những lộng hành trong quản lý hộ khẩu, quản lý thương nghiệp, v.v... BCT TƯ không lường trước một sự phê phán mạnh mẽ như vậy, nên tại hội nghị, tổng bí thư Trường Chinh đành phải nhận là "cũng đã có hiện tượng sùng bái cá nhân nhưng chưa đến mức trầm trọng" và hứa sẽ xem xét lại những việc cán bộ đã nói về cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, quản lý hộ khẩu, thương nghiệp, "xử lý" một số trí thức văn nghệ sĩ ...
Chính nhờ tiếng vang của đại hội 20 ÐCSLX, nhờ cuộc đấu tranh nôïi bộ trong đảng mới nhóm lên và sự bất bình của dân chúng đang dâng cao hồi đó (đã bùng nổ những cuộc nổi dậy mãnh liệt của nông dân ở một số nơi, như Quỳnh Lưu, Phát Diệm ... đến nỗi ÐCS phải dùng quân đội đàn áp đẵm máu) mà hội nghị lần thứ 10 TƯ ÐCSVN (tháng 9.1956) phải chịu nhận đã phạm những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất. Cố nhiên, như thường lệ người ta nhấn mạnh sai lầm chủ yếu ở khâu thực hiện và cố vớt vát "sai lầm tuy nghiêm trọng, nhưng thắng lợi cải cách ruộng đất vẫn là căn bản" vì "đã lấy ruộng đất địa chủ chia cho nông dân" ! Ðể làm dịu bớt bầu không khí cực kỳ căng thẳng trong dân chúng, tại cuộc mít tinh lớn của nhân dân Hà Nội ở Nhà hát Nhân dân (ở khu Ðấu Xảo cũ), Võ Nguyên Giáp, ủy viên BCT TƯ ÐCSVN thay mặt chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ, chính thức nhận sai lầm trong cải cách ruộng đất và hứa hẹn "sửa sai". Do sai lầm trong lãnh đạo cải cách ruộng đất, Trường Chinh mất chức tổng bí thư. Hồ Chí Minh vừa làm chủ tịch đảng, vừa kiêm chức tổng bí thư, nhưng trên thực tế Lê Duẩn, ủy viên thường trực BCT, đã nắm giữ chức vụ đó. Trong việc này có mưu đồ của Lê Ðức Thọ, ủy viên BCT, trưởng ban Tổ chức TƯ, muốn đưa Lê Duẩn lên ngôi vị tổng bí thư, gạt người có uy tín nhất hồi đó là Võ Nguyên Giáp.
Tiếp đó, ở nông thôn miền Bắc, ÐCS đã tiến hành "sửa sai", còn ở mấy thành phố lớn thì tổ chức những cuộc họp ở khu phố cho dân chúng phê bình công việc của đảng (quản lý hộ khẩu, mậu dịch ...). Người ta cũng "loáng thoáng" hứa hẹn mở rộng dân chủ ... Thật ra, "sửa sai" cải cách ruộng đất là một việc rất phức tạp, dù có thực tâm cũng không thể "sửa" thật sự được, không thể giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đã bị đảo lộn, cũng như những bi kịch đau thương, những quan hệ tình cảm thương tổn do cải cách ruộng đất gây ra. Cho nên, lời cửa miệng của dân "càng sửa càng sai" là sự đánh giá hoàn toàn chân thật. Còn những cuộc họp ở khu phố để mở rộng dân chủ lắng nghe ý kiến của dân - chỉ có tính chất hình thức, cho dân nói cho "hả", hé soupape xả bớt hơi, rồi đâu lại vào đấy, chẳng có ai giải quyết gì, chẳng qua chỉ là cơ hội cho công an dễ dàng theo dõi những ai mạnh dạn "có ý kiến phê bình" để sau này vào "sổ đen" trù dập. Ngay như hội nghị Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, họp (tháng 10.1956) đàng hoàng, trang trọng, có đủ mặt "bá quan", với sự hiện diện của những lãnh tụ của ÐCS, như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Xuân Thủy ... cũng thế, họ kêu gọi nhân sĩ, trí thức chân thành góp ý kiến với đảng, nhưng khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường dám thẳng thắn đọc bài diễn văn nổi tiếng "Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo" để góp ý kiến với ÐCS thì về sau ông bị trả thù, bị tước đoạt tự do và đày đọa suốt đời.
Những sự kiện xảy ra ở Ba Lan và Hungarie (1956) đã làm ban lãnh đạo ÐCSVN lo sợ. Họ quên ngay lời hứa hẹn mở rộng tự do dân chủ khi hội nghị TƯ nghiên cứu nghị quyết đại hội 20 của ÐCSLX, và ngày càng nghiêng theo chủ nghĩa Mao, ngày càng siết chặt nền "chuyên chính" để mở đường cho miền Bắc tiến lên "chủ nghĩa xã hội" theo nghị quyết hội nghị lần thứ 13 của TƯ ÐCSVN (tháng 12.1957).
Hành động "chuyên chính" ác liệt đầu tiên sau khi ÐCSVN tiếp quản miền Bắc là vụ án văn chương "Nhân Văn - Giai Phẩm" (viết tắt VNVGP) diễn ra từ cuối năm 1956-1960 và kéo dài mãi về sau nhằm đánh gục trí thức văn nghệ sĩ khi đảng "đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội". Khi mới trở về Hà Nội sau chiến tranh, nhiều văn nghệ sĩ, trí thức khát khao được tự do sáng tác, được sống và làm việc trong tự do dân chủ, họ đã ra những ấn phẩm mang tên "Giai Phẩm Mùa Xuân" (1956), "Giai Phẩm Mùa Thu" tập I và tập II, "Giai Phẩm Mùa Ðông" (do Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Ðạt, Văn Cao, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tý ... chủ trương), báo "Trăm Hoa" (do Nguyễn Bính chủ trương), báo "Ðất Mới" (do Bùi Quang Ðoài chủ trương), báo "Nhân Văn" (do Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, Trần Duy, Hoàng Cầm ... chủ trương) để bày tỏ những khát vọng, giới thiệu những sáng tác của mình, có phần nào khác với đường lối văn nghệ của đảng cầm quyền. BCT TƯ ÐCSVN đã giao cho Trường Chinh, Tố Hữu, v.v... tổ chức một cuộc đàn áp tàn bạo đối với những trí thức, văn nghệ sĩ khao khát tự do. Những ấn phẩm của họ bị tịch thu, bị cấm, báo chí bị đóng cửa, còn những văn nghệ sĩ, trí thức có ít nhiều dính dáng đến VNVGP đều bị vu khống, gán ghép "tội trạng", bị đấu đá, bị tước mất tự do, một số bị đưa về nông thôn lao động cải tạo, một số đưa ra xử án "gián điệp" bị đưa vào tù (Thụy An 15 năm, Nguyễn Hữu Ðang 15 năm, Trần Thiếu Bảo (Minh Ðức) 15 năm, Phan Tài 5 năm, Lê Nguyên Chi 5 năm), nhiều người khác tuy không bị đưa ra xử án nhưng vẫn bị giam cầm không thời hạn ... Tất cả đều bị mất việc, bị khai trừ ra khỏi các hội sáng tác, bị tước quyền được xuất bản tác phẩm, thực ra là tước quyền lao động sáng tác, vợ con bè bạn đều bị vạ lây, bị phân biệt đối xử, hành hạ đủ điều. Tình trạng đó kéo dài hàng chục năm mãi cho đến gần cuối thập niên 80, khi ÐCSLX bắt đầu "perestroika", ÐCSVN tuyên bố "cởi trói" thì mới dần dần thầm lén trả tự do, trả quyền công dân cho các nạn nhân trong vụ án. Nhưng TƯ ÐCSVN vẫn từ khước công khai, đàng hoàng minh oan, phục hồi danh dự và nhân phẩm cho những người bị chà đạp trong mấy chục năm trời. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đã có dịp trình bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: "Nhân Văn - Giai Phẩm - một tư trào, một vụ án, một tội ác", nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).
Hành động "chuyên chính" ác liệt tiếp theo là quyết định của BCT TƯ ÐCSVN dưới thời tổng bí thư Lê Duẩn đã được "chính quyền hóa” bằng nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội số 49/NQ/TVQH do Trường Chinh, chủ tịch Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa, ký ngày 20.6.1961, cho chính quyền bắt giam các công dân vào trại tập trung mà không cần thủ tục tố tụng (nghị quyết này hồi đó được coi như là pháp lệnh!). Thật ra, trước đó BCT TƯ đã có chỉ thị mật cho bí thư các thành ủy và tỉnh ủy cùng với các giám đốc sở và ty công an thành và tỉnh chuẩn bị sẵn danh sách những người ở địa phương mình phải bị bắt giam vào trại tập trung mà không cần có tòa án xét xử để khi nghị quyết đó được công bố thì có thể bắt hàng loạt người đưa đi tập trung "cải tạo" trong thời hạn 3 năm, khi hết hạn đó chính quyền có thể gia thêm hạn khác, và cứ thế kéo dài mãi.
Trong những đợt bắt bớ đầu tiên, tập đoàn thống trị chủ yếu nhắm vào những người thuộc các đảng phái khác và đặc biệt là sĩ quan, binh lính, công chức của "ngụy quân, ngụy quyền", mặc dù những người này đã chịu ở lại miền Bắc không chạy vào Nam, đã chịu quy phục chính quyền mới, và công chức "cũ" thì đã được chính quyền mới tuyên bố "lưu dụng". Rồi dần dần đến lượt những người trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo sư, thậm chí cán bộ, đảng viên, quân nhân... là những người đã từng tham gia kháng chiến, nay có những ý kiến thắc mắc, bất đồng với đường lối chính sách của đảng, thì vẫn bị tống vào các trại tập trung theo nghị quyết phát xít số 49/NQ/TVQH nói trên. Mạng lưới trại tập trung (để tránh chữ "trại tập trung" có tính chất phát xít lộ liễu quá, người ta dùng chữ "trại cải tạo" na ná chữ "trại lao cải" của Trung Quốc) được mở rộng khắp miền Bắc. Hàng chục vạn người bị tù đày hầu như vô thời hạn, vợ con họ bị phân biệt đối xử, tình cảnh họ thật là bi thảm. Bao nhiêu người khốn khổ đã phải bỏ xác ở các trại tù. Ðây thực sự là một tội ác của tập đoàn thống trị ÐCSVN đối với dân tộc Việt Nam, và khốn thay, tội ác đó đã được lặp lại một lần nữa với quy mô còn lớn hơn, sau khi tập đoàn này chiếm được miền Nam.
Tình cảnh người dân bình thường trong chế độ "mới" thật vô cùng bi đát, trong dân gian vẫn còn truyền tụng những câu ca dao chua xót, như:
"Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau
Ăn cơm thì ăn với rau
Kiêng ăn cá thịt sợ ... đau dạ dày”.
Như đã nói trên, sau hội nghị TƯ lần thứ 10 (khóa 2), Trường Chinh bị mất chức tổng bí thư vì những "sai lầm" trong cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm tổng bí thư, nhưng thực tế từ đó Lê Duẩn đã nắm toàn quyền. Ðến đại hội 3 ÐCSVN (tháng 8.1960), ông được TƯ chính thức bầu làm tổng bí thư. Phái tán đồng đường lối của Mao trong BCT TƯ ÐCSVN, gồm có Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn ... ngày càng cố lái ÐCSVN theo đường lối Mao-ít. Hồ Chí Minh thì ngả nghiêng, lúc đầu cố giữ cân bằng giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhưng rồi cũng buông xuôi cho đa số trong BCT thân Trung Quốc tự do hành động. Mao Trạch Ðông và TƯ ÐCSTQ khôn khéo lôi kéo TƯ ÐCSVN vào con đường chống ÐCSLX ngày một sâu hơn. Chín bài luận văn cơ bản nhất của Trung Quốc để đả kích ÐCSLX (dù không nêu đích danh mà chỉ gọi chung chung là "chủ nghĩa xét lại hiện đại", nhưng ai cũng biết là nhắm vào Liên Xô) lần lượt tung ra từ tháng 4.1960 thì TƯ ÐCSTQ đều có trao đổi ý kiến với TƯ ÐCSVN, điều đó chứng tỏ rằng ngay từ hồi đó hai ÐCS thực tế đã cùng đứng chung trong một mặt trận chống Liên Xô.
Ở Việt Nam hồi đó, chín bài văn này được truyền bá rộng rãi trong ÐCS như văn kiện chính thức, đã tạo nên "cơ sở tư tưởng" cho tinh thần thân Trung Quốc chống Liên Xô tăng lên ở nước ta. Còn đến năm 1962, khi Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ chủ trương lập Quốc tế mới dưới sự lãnh đạo của ÐCSTQ, với nòng cốt là các ÐCS Albania, Indonesia, Bắc Triều Tiên, Việt Nam ... thì lúc đầu BCT TƯ ÐCSVN cũng đã hưởng ứng, nên mùa hè năm1963, BCT TƯ ÐCSVN đã cử một đoàn đại biểu gồm có Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh đến Trung Quốc theo lời mời của TƯ ÐCSTQ để bàn việc lập Quốc tế mới, đặc biệt là việc chuẩn bị cương lĩnh cho tổ chức đó. Dường như trong BCT TƯ ÐCSVN không có sự nhất trí về vấn đề này, và nói chung ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam e ngại rằng nếu dứt khoát đứng chung một mặt trận với Trung Quốc để công khai chống Liên Xô thì Việt Nam khó lòng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, cho nên họ lại chần chừ trong việc tham gia Quốc tế mới do Mao Trạch Ðông và ÐCSTQ lãnh đạo. Mặc dù vậy, do hoạt động của phái theo Mao trong BCT và trong TƯ nên tinh thần Mao-ít, thân Trung Quốc, chống Liên Xô ngày càng mạnh mẽ và lộ liễu trong ÐCSVN. Cái tinh thần đó lan rộng ra cả ngoài dân chúng do sự tuyên truyền lừa bịp của phái Mao-ít là Liên Xô sợ chiến tranh, sợ Mỹ và muốn chung sống hòa bình nên chống lại sự thống nhất Việt Nam.
Ðến cuối năm 1963, hội nghị lần thứ 9 (khóa 3) của TƯ ÐCSVN đã họp và ra nghị quyết lái ÐCSVN đi theo hẳn con đường Mao-ít của ÐCSTQ. Như Trường Chinh đã nói tại hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp tại hội trường Ba Ðình hồi tháng 1.1964: "Ðường lối đối ngoại và đối nội của Ðảng ta và Nhà nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của ÐCS và Nhà nước Trung Quốc". Ðiều này trái hẳn với nghị quyết đại hội 3 của ÐCSVN (tháng 9.1960), trái với những lời tuyên bố cũng như chữ ký của đại biểu ÐCSVN đặt dưới bản Tuyên bố chung của các ÐCS và ÐCN thế giới, cho nên trong TƯ cũng như ngoài TƯ có một số cán bộ hoặc công nhiên phản đối hoặc tuyên bố không tán thành và "xin bảo lưu ý kiến".
Vấn đề gây cấn nhất hồi đó là vấn đề con đường thống nhất đất nước. Không một người Việt Nam nào không mong muốn thống nhất đất nước, nhưng thống nhất bằng con đường nào không phải là vấn đề dễ dàng nhất trí. Phải nói thẳng rằng tập đoàn thống trị ÐCSVN hồi những năm 1959 và 1960 đã có hành động vi phạm dân chủ nghiêm trọng đối với cơ quan có quyền lực cao nhất trong đảng là đại hội. Tại hội nghị lần thứ 15 của TƯ (tháng 1.1959) đã bí mật quyết định phải dùng bạo lực cách mạng, dùng võ trang đấu tranh để thống nhất đất nước và BCT TƯ đã quyết định điều động quân đội từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển quân trang quân dụng, võ khí vào miền Nam để tiến hành chiến tranh thống nhất đất nước. Thế nhưng BCT TƯ giữ bí mật không đưa vấn đề đó ra thảo luận tại đại hội toàn quốc lần thứ 3 của ÐCSVN, mà tại đại hội vẫn báo cáo và trong nghị quyết đại hội vẫn ghi là đảng "chủ trương thống nhất Tổ quốc bằng con đường hòa bình". Vấn đề thống nhất đất nước là một vấn đề tình cảm thiêng liêng, cho nên những cán bộ không tán thành nghị quyết hội nghị TƯ lần thứ 9 (thường gọi là "nghị quyết 9"), mặc dù đã biết trước là tập đoàn thống trị trong đảng theo Mao hồi đó đi theo con đường chiến tranh để thống nhất đất nước, trong thâm tâm đã thấy trước thảm kịch của toàn dân trong cuộc nội chiến khủng khiếp sắp tới, nhưng hầu như không có ai dám thẳng thắn phản đối vì sợ tập đoàn thống trị ghép tội phản quốc, chống lại thống nhất đất nước. Dù vậy phe Mao-ít vẫn rất e ngại những cán bộ đảng viên "bảo lưu ý kiến, không tán thành đường lối theo Trung Quốc của họ, sẽ trở thành một lực lượng đối lập nguy hiểm cho quyền lực của họ, nên trước hội nghị TƯ lần thứ 9, họ đã tìm cách loại dần những cán bộ "có quan điểm khác" ra khỏi những vị trí trọng yếu (cách chức bộ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm, gạt một số cán bộ cao cấp khác ra khỏi cương vị lãnh đạo các ngành quan trọng, hoặc cho họ giữ hư vị ngồi chơi xơi nước), còn sau hội nghị TƯ lần thứ 9 thì họ chuẩn bị cho một đợt thanh trừng quyết liệt đối với những cán bộ này.
Vì thế, hành động "chuyên chính" ác liệt tiếp theo của tập đoàn thống trị là nhằm đánh ngay vào nội bộ ÐCS, nhằm những cán bộ đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp, trung cấp, tán thành quan điểm của ÐCSLX, chống quan điểm của ÐCSTQ và không tán thành "nghị quyết 9". Ðó là "vụ án xét lại - chống Ðảng" (viết tắt VXLCÐ) thực tế bắt đầu từ cuối năm 1963, mở rộng năm 1967 và kéo dài mãi cho đến sau này. (Hồi đầu thập niên 90, chúng tôi đã có dịp trình bày cuộc đàn áp khốc liệt này trong bài: Những trang sử đầm đìa nước mắt còn chưa chấm hết - "vụ án xét lại - chống Ðảng", nên xin được miễn viết cụ thể ở đây).
Theo nhận xét của nhiều người, VXLCÐ là một cuộc tranh giành quyền lực trong ÐCSVN: nhóm Lê Duẩn - Lê Ðức Thọ muốn độc tôn nắm toàn quyền trong đảng-nhà nước để triệt hạ đối thủ "tiềm thế" của họ. Nhiều người cho rằng Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ là những kẻ có tham vọng to lớn lại gian hùng, xảo quyệt, muốn đè bẹp đến cùng phe cánh của Võ Nguyên Giáp, nên đã bày ra "vụ án" khủng khiếp này. Sau chiến thắng Ðiện Biên phủ (1954), uy tín của Võ Nguyên Giáp, ủy viên BCT, tổng tư lệnh, rất cao trong ÐCS và dân chúng miền Bắc. Ngay cả tổng bí thư Trường Chinh đương nhiệm cũng muốn dìm tướng Giáp xuống, vì trước mắt người dân, vai trò tổng bí thư ÐCSVN hồi đó không có gì nổi bật cả. Cũng có người nói ngay cả chủ tịch Hồ Chí Minh cũng e ngại trước uy thế của tướng Giáp (người viết bài này không thể khẳng định được điều này vì không có tài liệu), dù ông Giáp tỏ ra rất khiêm tốn và luôn luôn đề cao ông Hồ là "cha già dân tộc". Nhưng đặc biệt là Lê Duẩn vốn đã có mối hận sẵn sau khi cướp chính quyền hồi 1945 (người ta đã không đưa ngay ông ta từ Côn Ðảo về đất liền, sau đó lại giao cho ông chức vụ quá thấp - phụ trách dân quân Nam Bộ dưới trướng tướng Giáp, v.v...) nên đã liên kết với Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn để cố gạt Võ Nguyên Giáp ra sau khi Trường Chinh bị cách chức tổng bí thư, tạo điều kiện cho mình nắm giữ chức vụ đó. Trong thời gian này, Lê Duẩn và phe cánh tung ra những chuyện vu khống hoặc nói xấu sau lưng tướng Giáp, nào là Võ Nguyên Giáp trước Cách mạng tháng 8 có quan hệ thân thuộc với Marti, nào là "anh ta sợ Mỹ lắm", nào là ông Giáp được chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy "chỉ vì khéo nịnh hót", v.v... (xem: Trần Quỳnh. "Những kỷ niệm về Lê Duẩn") để hạ uy tín đánh bại hoàn toàn địch thủ của họ. Thậm chí, có thời kỳ họ còn cố ghép tội cho Võ Nguyên Giáp có âm mưu liên hệ với "bọn xét lại hiện đại" vì đã nhận thư riêng của Khrutchev mà mười ngày sau mới báo cáo cốt để ghép cho ông Giáp tội "tay sai nước ngoài", "gián điệp cho địch" (xem: Thành Tín. "Mặt thật", 1993, tr. 190-191). Công khai ghép tội cho Võ Nguyên Giáp không được thì cánh Mao-ít lại ghép tội "gián điệp", "tay sai nước ngoài", "âm mưu gây bạo loạn nhằm lật đổ ban lãnh đạo của đảng"... cho nhiều cán bộ khác. Chính vì thế tên chính thức của Vụ Xe’t Lại Chô’ng Đảng mới gọi là "Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài". Nhiều người bị bắt, bị tù đày, giam tại gia, quản chế... người thì 6 năm, người thì 9 năm, người thì 20 năm, mà không có một tòa án nào xét xử dù chỉ là về mặt hình thức. Trước đây, cũng đã từng có những cuộc "đánh" vào nội bộ làm nhiều người bị oan uổng, nhưng chưa bao giờ có trận "đánh" to lớn, kéo dài và độc ác vào nội bộ như lần này làm nhiều cán bộ đảng viên, người ngoài đảng bị đọa đày, bị chết thảm khốc trong tù ngục hoặc trong cảnh giam cầm tại gia ... Nếu tính cả tướng Giáp (dù không chính thức bị xếp vào "vụ án") thì đòn thanh trừng lần này đã giáng xuống một ủy viên BCT, ba ủy viên TƯ ÐCS, một đại tướng, một trung tướng, hai thiếu tướng, bốn đại tá, một thượng tá, bốn trung tá, năm thiếu tá, và nhiều cán bộ cao cấp, như bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, phó bí thư thành ủy, ủy viên thường vụ thành ủy, phó chủ tịch thành phố, nhiều cán bộ trung cấp, nhiều nhà báo, nhà văn, giáo sư, bác sĩ .... Sau trận thanh trừng này phe cánh Lê Duẩn - Lê Ðức Thọ ở thế thượng phong hoàn toàn thống trị đất nước.
Trong lịch sử thường có những khúc ngoặt oái ăm: Lê Duẩn hồi năm 1956 đến đầu thập niên 60 tán đồng quan điểm của Mao và rất hâm mộ Mao, nhưng đến giữa năm 1963, khi cùng bàn bạc với Mao để chống Liên Xô, thì lại va chạm phải đầu óc lãnh tụ, trịch thượng, kiêu ngạo của Mao (xem: Trần Quỳnh. "Những kỷ niệm về Lê Duẩn"), thế là từ đấy có sự nứt rạn giữa hai "lãnh tụ". Như nhiều người đã nhận xét, trong tính cách của Lê Duẩn thì nét nổi bật là kiêu ngạo, không coi ai ra gì. Ngay đối với Hồ Chí Minh, khi có cơ hội Lê Duẩn vẫn chê ông Hồ sau lưng, cố nhiên là trước mặt cán bộ dưới trướng của mình để tự đề cao. Với Mao cũng thế, dù noi theo lý luận của Mao, nhưng trước mặt cán bộ Việt Nam Lê Duẩn vẫn chê bai Mao sau lưng.
Sau khi "nghị quyết 9" lái hẳn toàn bộ đường lối của ÐCSVN theo đường lối của ÐCSTQ, thì đầu năm 1964, Lê Duẩn dẫn đầu đoàn đại biểu ÐCSVN sang Liên Xô để - theo lời của Trần Quỳnh - "nói rõ lập trường quan điểm của Ðảng ta và kiến nghị Liên Xô xem xét lại lập trường của mình" đồng thời xin viện trợ quân sự của Liên Xô. Nhưng khi gặp Khrutchev, Lê Duẩn đã im re không nói gì đến "nghị quyết 9" chống chủ nghĩa xét lại (thật ra, không nói thì phía Liên Xô đã biết rõ về nội dung nghị quyết đó), mà chỉ báo cáo tình hình miền Nam và xin viện trợ. Khrutchev đã đồng ý viện trợ cho Việt Nam. Ðúng vào dịp này, ngay tại Moskva, đại tá Lê Vinh Quốc và thượng tá Văn Doãn, sau khi tốt nghiệp Học viện quân chính Lenin, đã tuyên bố phản đối "nghị quyết 9" và xin cư trú chính trị ở Liên Xô. Mấy tháng sau đến lượt kẻ viết bài này và hàng chục cán bộ đảng viên, sinh viên Việt Nam cũng đã phản đối "nghị quyết 9" của TƯ ÐCSVN, rồi xin cư trú chính trị ở Liên Xô và một số nước Ðông Âu.
Ðến tháng 10.1964, một sự biến xảy ra ở Liên Xô - cuộc đảo chính cung đình lật đổ Khrutchev đưa Brezhnev lên ngôi. Ðây là cơ hội để BCT TƯ ÐCSVN tiếp cận ÐCSLX để tìm cách xích lại gần nhằm khai thác đến mức tối đa viện trợ của hai nước "xã hội chủ nghĩa" lớn nhất.
Lê Duẩn và phe cánh tự cho mình là người theo chủ nghĩa Marx-Lenin "đúng nhất": vừa theo chủ nghĩa Mao, nhưng lại vừa ghét Mao, vừa chống chủ nghĩa xét lại hiện đại Liên Xô (dù không còn Khutchev), nhưng lại vừa cố cầu cạnh, ve vãn Brezhnev và ban lãnh đạo Liên Xô để xin viện trợ. Thậm chí, tại đại hội 23 của ÐCSLX, ông ta còn tuyên bố "Liên Xô là Tổ quốc thứ hai của chúng tôi" ! Một số đại biểu Liên Xô vỗ tay trong hội trường, còn ngoài hành lang một số khác lại nói với nhau là: "prostitutsia" (tiếng Nga: đĩ bợm). Mặc dù Trần Quỳnh hết lời ca ngợi "tài khôn khéo" của Ba Duẩn, nhưng qua những điều mô tả trong sách "Những kỷ niệm về Lê Duẩn" thì thấy "người cộng sản số một" của Việt Nam quả thật có nhân cách một tay đại bợm lừa dối mọi người. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều cố gắng gồng mình lên giúp đỡ Việt Nam đánh thắng Mỹ. Trong thời gian này ban lãnh đạo Việt Nam một mặt ra sức khai thác đến mức tối đa viện trợ của Liên Xô (chẳng hạn, mỗi công trình Việt Nam đều yêu cầu Liên Xô viện trợ nhiều đến mức có thể dùng để xây dựng được hai - ba công trình tương đương), mặt khác họ có thái độ cực kỳ vô trách nhiệm coi tài sản viện trợ là của "chủ nghĩa xét lại" càng lấy được nhiều và càng phung phí được nhiều thì càng tốt. Cái tâm lý này lan đến cán bộ và người dân đến nỗi người ta giải thích những chữ tắt của quốc hiệu Liên Xô - CCCP là "các chú cứ phá" hay "càng cho càng phá" ! Cái gọi là "chủ nghĩa quốc tế vô sản" của ÐCSVN tới lúc này đã sa đọa đến như thế !
Ban lãnh đạo Trung Quốc, dường như từ cuối thập niên 60, đã dè chừng và thận trọng hơn khi viện trợ cho ÐCSVN, thậm chí hãm dần viện trợ đó. Ðiều này làm ban lãnh đạo Việt Nam rất bất mãn. Còn đến năm 1973, khi Mao Trạch Ðông và ban lãnh đạo Trung Quốc muốn hòa giải với Mỹ thì Lê Duẩn và những người lãnh đạo Việt Nam đã hằn học tỏ thái độ thù địch với ÐCSTQ (lúc đầu chỉ nói trong nội bộ), họ cho rằng Trung Quốc không muốn Việt Nam thống nhất đất nước. Thái độ thù địch đó ngày càng mạnh và sau này đã dẫn tới sự xung đột giữa Việt Nam và Cam Bốt, rồi chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, gây ra bao nhiêu tang tóc đau thương cho cả hai dân tộc. Một thời gian dàiù, những người cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn miệng chửi rủa những người cầm quyền cộng sản Trung Quốc và đất nước họ là "kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam", và lòng thù địch Trung Quốc đó được ghi vào Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 !
* * *
Qua những biến động trong thời kỳ thứ hai này, chúng ta có thể rút ra nhận xét này: ảnh hưởng của đại hội 20 ÐCSLX đã tạo ra trong thời gian rất ngắn - chỉ vài tháng thôi - ở một số người lãnh đạo Việt Nam ý muốn mở rộng tí chút dân chủ trong đảng và ngoài xã hội. Nhưng ảnh hưởng tích cực đó chỉ thoáng qua mà thôi, rồi trước những sự biến ở Ba Lan và Hungarie, đầu óc bảo thủ lại thắng thế trong ban lãnh đạo vì nỗi sợ mất mát quyền lực. Nói chung, trong thời kỳ biến động này tập đoàn thống trị ÐCSVN đứng trên lập trường bảo thủ, chống cải cách, chống dân chủ hóa đảng và xã hộị Vì thế toàn bộ sinh hoạt đảng cũng như đời sống chính trị của đất nước ngày càng bị siết chặt trong một chế độ độc tài cực kỳ khắt nghiệt dựa trên nền tảng "chuyên chính vô sản" theo tinh thần chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao với ý định tiến hành đến cùng cuộc nội chiến để "thống nhất" đất nước và xây dựng "chủ nghĩa xã hội trại lính" trong toàn quốc. Hậu quả của một đường lối như thế đã quá rõ ràng, thiết tưởng không cần nói cụ thể ở đây. Chỉ cần hình dung cái giá mà toàn dân tộc ta đã phải trả cho cuộc nội chiến (1959-1975) và cho việc xây dựng chủ nghĩa trong cả nước (ở miền Bắc từ 1958, ở miền Nam từ năm 1976 cho đến năm 1986) thì cũng đủ thấy được tội ác lớn lao thế nào của những kẻ đã đề ra và thực hiện đường lối đó. Người viết không muốn dẫn các số liệu mà chính quyền Hà Nô.iđưa ra về những tổn thất lớn lao trong cuộc chiến tranh vừa qua (chẳng hạn, ba triệu người chết trong chiến tranh ...) vì e rằng con số đó còn thấp hơn thực tế. Hy vọng về sau sẽ có cơ quan nghiên cứu vấnđề này một cách độc lập và khách quan.
Nguyễn Minh Cần
Thư Mục
1. Hồ Chí Minh. Toàn Tập. Tập 3, tr.97-100. (ở tr.97).
2. Hoàng Khoa Khôi. Về Phong Trào Đệ Tứ Việt Nam. Hồ Sơ Về Phong Trào Đệ Tứ Việt Nam. Paris, tr.7,8. (ở tr.97-98).
3. Tổ Quốc Chúng Ta. Moskva, 1991, tập 2, tr.45. (ở tr.99)
4. Học Tập - tạp chí lý luận của Đảng Lao Động Việt Nam, số 4, tháng 3.1956, tr.174. (ở tr.120)
5. Nguyễn Minh Cần. Công Lý Đòi Hỏi. NXB Văn Nghệ, 1997, bài "Nhân Văn - Giai Phẩm – Một Tư Trào, Một Vụ Án, Một Tội Ác”, tr.11-56. (ở tr.125)
5 bis. Học Tập - tạp chí lý luận của Đảng Lao Động Việt Nam, số tháng 2.1964, tr.1. (ở tr.130)
6. Sách đã dẫn, bài "Những Trang Sử Đầm Đìa Nước Mắt Còn Chưa Chấm Hết - Vụ Án Xét Lại –Chống Đảng”,tr.85-123.(ởtr.131)
7. Trần Quỳnh. Những Kỷ Niệm Về Lê Duẩn. (chưa in). (ở tr. 132)
8. Thành Tín. Mặt Thật. 1993, tr.191-192. (ở tr.132)
9. Izvestia – Tin Tức, cơ quan ngôn luận của Xô-viết Tối Cao Liên Xô, ngày 7.7.1988. (ở tr.138)
10. APRF – Lưu Trữ Của Tổng Thống Liên Bang Nga. Báo cáo của Bộ Quốc phòng Liên Xô, số 0431. (ở tr.143)
11. Volkogonov D. Bảy Lãnh Tụ, Moskva, 1995, tập 2, tr.325-328. (ở tr.144)
12. "Russkaya Mysl” – Tư Tưởng Nga (báo), ngày 10.8.1990. (ở tr.145)
13. Việt Nam Truyền Thống. Quyển 2. Moskva, 1996, bài "Sự Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Châu Âu dưới mắt Người Việt Nam” của Tsvetov P.Yu., tiếng Nga, tr.196. (ở tr.146)
14. APRF – Lưu Trữ Của Tổng Thống Liên Bang Nga. Bản ghi chép phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 20.11.1989, List 409. (ở tr.161)
15. Như trên. Bản ghi chép phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 8.12.1989, List 529. (ở tr.161)
16. SKHSD – Trung Tâm Bảo Quản Tài Liệu Hiện Đại. Biên bản Phiên họp Bộ Chính Trị ĐCSLX, ngày 28.5.1990, List 1-5. (ở tr.162)
17. Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam. NXB Sự Thật. Hà Nội 1985, tr.239. (ở tr.187).
18. Thành Tín. Hoa Xuyên Tuyết. 1991, tr.161. (ở tr.187)
19. Medvedev V. Sự Tan Rã. Nó Đã Chín Muồi Thế Nào Trong "Hệ Thống Xã Hội Chủ Nghĩa Thế Giới”. Moskva, 1994, tiếng Nga, tr.288. (ở tr.188)
20. Thành Tín. Hoa Xuyên Tuyết. 1991, tr.175, Mặt Thật, 1993, tr.234. (ở tr.188)
21. Medvedev V. Sự Tan Rã ..., tiếng Nga, tr.291-304. (ở tr.198-199)
22. Chroniques vietnamiennes, số 8-9, xuân-hè 1990, tr.29. (ở tr.203).
23. Medvedev V. Sự Tan Rã ..., tiếng Nga, tr.295. (ở tr.212).
Danh Mục
Andropov Yu.V. (1914-84) - đại tướng, chủ tịch KGB LX (1967-82), tổng bí thư ĐCSLX (1982-84), chủ tịch XV Tối cao LX từ 1983. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi hàng loạt vụ đàn áp khốc liệt những người bất đồng chính kiến, tình trạng khủng hoảng của LX thêm trầm trọng và việc đẩy mạnh cuộc phiêu lưu quân sự ở Afganistan; ông có ý định dùng biện pháp hành chính để ngăn cuộc khủng hoảng của đất nước.
Bành Chân – ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản TQ dưới thời Mao Trạch Đông.
Beria L.P. (1899-1953) – phó thủ tướng LX (1941-53), ủy viên Bộ chính trị ĐCS LX (1946-53), nguyên soái LX, bộ trưởng Bộ nội vụ LX, một trong những người tích cực tổ chức các cuộc đàn áp hàng loạt người vô tội dưới thời Stalin; 1953 bị buộc tội âm mưu cướp chính quyền, bị xử bắn.
Brezhnev L.I. (1906-82) – ủy viên Bộ Chính trị TƯ từ 1957, đã tổ chức việäc lật đổ Khrutshev (1964), làm tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1964-1982). Dưới thời ông, nền kinh tế xô-viết bị trì trệ và khủng hoảng nặng. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi các vụ đàn áp khốc liệt những người bất đồng chính kiến, vụ can thiệp võ trang vào Tiệp Khắc 1968 và cuộäc phiêu lưu quân sự ở Afganistan 1979.
Bùi Quang Đoài – người chủ trương báo "Đất Mới” của sinh viên, hồi 1956 bị đàn áp tàn tệ.
Castro Fidel (s.1926) – lãnh tụ Đảng Cộng sản Cuba từ 1965, người đứng đầu nhà nước Cuba xã hội chủ nghĩa.
Ceausescu N. (1918-89) - người đứng đầu Đảng Cộng sản Rumanie, nắm quyền trong 24 năm, độc tài và bảo thủ, bị lật đổ và bị giết cùng với vợ hồi 1989.
Chernenko K.U. (1911-85) – ủy viên Bộ Chính trị dưới thời Brezhnev, nổi tiếng là một người quan liêu, bất tài, tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1984-85).
Dubcek A. (1921-92) – bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ đầu 1968 đến tháng 4.1969, đã bắt đầu tiến hành những cải cách dân chủ ở Tiệp Khắc làm ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản LX lo sợ, huy động quân đội của khối Hiệp ước Varsava can thiệp võ trang vào Tiệp Khắc (1968). Sau cuộc "cách mạng nhung” hồi 1989, ông làm chủ tịch Quốc hội Tiệp Khắc.
Gomulka V. (1905-82) – nguyên tổng bí thư của Đảng Cộng sản (lấy tên Đảng Công nhân Thống nhất) Ba Lan (1943-48), 1949 ông bị truất quyền, rồi bị bỏ tù 1951-55 dưới thời Stalin, đến 1956-70 lại được đưa lên đứng đầu Đảng.
Gorbachev M.S. (s.1931) – tổng bí thư Đảng Cộng sản LX (1985-91), chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô-viết Tối Cao LX (1988-89), Tổng thống LX (1989-90), người khởi xướng và thực hiện "perestroika” và "glasnost” với ý muốn đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng. Điều nổi bật dưới thời ông cầm quyền là sự chấm dứt "chiến tranh lạnh”, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và ngay chính ở Liên Xô. Ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình (1990).
Hồ Chí Minh (tên thật Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, ngoài ra còn có rất nhiều bí danh, bút danh khác) (1890-1969) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, một trong những người đầu tiên đưa chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam; dưới sự lãnh đạo của ông, cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thắng lợi đưa chính quyền vào tay Đảng Cộng sản và cuộc kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi (1954). Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi cuộc cải cách ruộng đất khủng khiếp hồi thập niên 50, cuộc cải tạo công thương nghiệp, vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và việc bắt đầu cuộc chiến tranh ác liệt với miền Nam.
Hoa Quốc Phong (s.1921) - người kế nghiệp của Mao Trạch Đông, đứng đầu Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc một thời.
Hoàng Cầm (s.1922) – nhà thơ, hồi giữa thập niên 50 làm Giai Phẩm, biên tập báo Nhân Văn, đòi tự do sáng tác, nên bị ghép vào vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, bị đàn áp tàn tệ, bị cấm sáng tác trong nhiều năm. tr.124
Hoàng Khoa Khôi (s.1911) - người theo phong trào Đệ Tứ Quốc Tế từ năm 1943, ra báo "Vô Sản”, "Tranh Đấu”, Tiếng Thợ”, "Diễn Đàn Mác-Xít”, v.v... trình bày quan điểm của những người trotskistes VN ở Pháp; là người dân chủ tích cực, hiện sống ở Pháp.
Hoàng Quốc Việt (tên thật Hạ Bá Cang) – ủy viên Bộ Chính trị TƯ nhiều năm, chủ tịch Tổng Công đoàn, viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.
Hoàng Tiến – nhà văn, người đấu tranh can đảm cho dân chủ, tự do và nhân quyền.
Hoàng Văn Hoan (1905-?)– nhà cách mạng cộng sản lão thành, ủy viên Bộ Chính trị trong nhiều năm dưới thời Hồ Chí Minh và Lê Duẩn; về sau vì bất đồng ý kiến với Lê Duẩn – Lê Đức Thọ nên bỏ sang TQ, bị kết án tử hình vắng mặt.
Kadar Janos (1912-89) – người đứng đầu Đảng Cộng sản (lấy tên Đảng Xã hội Chủ nghĩa Công nhân) Hungarie từ 1956-88; thủ tướng chính phủ Hungarie được thành lập trên đất LX để thay thế cho chính phủ Imre Nagy bị đánh đổ.
Khrutshev N.S. (1894-1971) - ủy viên Bộ Chính trị (1939-53), từ 1953 đến 1964 đứng đầu Đảng Cộng sản LX; tại đại hội 20 (1956) và 22 (1961) ông phê phán kịch liệt tệ sùng bái cá nhân Stalin. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc giải phóng cho hàng triệu người ra khỏi các trại tập trung và minh oan cho rất nhiều người vô tội trong các vụ án chính trị dưới thời Stalin, bởi sự cố gắng đẩy mạnh sản xuất công nông nghiệp và những nỗ lực để cải thiện đời sống cho người dân, nhưng đồng thời cũng bởi việc đàn áp cuộc biểu tình của công nhân ở Novocherkassk, việc đối đầu với phương Tây ở Berlin hồi 1961, ở biển Caribe hồi 1962, bởi cuộc can thiệp võ trang vào Hungarie hồi 1956. Ông có để lại tập hồi ký, xuất bản ở Hoa Kỳ 1981, còn ở Nga xuất bản toàn bộ hồi 1999.
Kim Nhật Thành (1912-94) – người đứng đầu Đảng Cộng sản (lấy tên Đảng Lao động) Triều Tiên từ 1949, chủ tịch miền Bắc Triều Tiên từ 1972. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc tiến hành chiến tranh khốc liệt để mưu toan chiếm miền Nam hồi 1950-53, bởi chế độ cực quyền toàn trị khắc nghiệt và tệ sùng bái cá nhân cao độ kiểu Stalin; sự xây dựng chủ nghĩa xã hội trại lính ở miền Bắc Triều Tiên đã dẫn đến sự khủng hoảng trầm trọng và nạn đói khủng khiếp hiện nay.
Lê Duẩn (1900-1986) - nhà cách mạng cộng sản, một trong những người đã lãnh đạo phong trào đấu tranh ở miền Nam chống chế độ VN Cộng hòa; tổng bí thư Đảng Cộng sản VN từ 1960-86. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc đẩy mạnh cao độ cuộc chiến tranh với miền Nam, đưa đến sự sụp đổ của chế độ miền Nam và sự thống nhất cả nước dưới quyền của những người cộng sản, bởi việc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trại lính với nền chuyên chế vô sản tàn bạo, những cuộc đàn áp hàng loạt người dưới chế độ cũ, đàn áp các giáo phẩm và các giáo hội, đàn áp cán bộ, đảng viên, trí thức bất đồng chính kiến; nó cũng được đánh dấu bởi sự đưa quân đánh vào Cam Bốt và chiếm đóng nước này trong 10 năm, gây ra xung đột lớn với TQ. Đường lối của ông đã đưa đến cuộc khủng hoảng toàn diện của VN hồi cuối thập niên 80.
Lê Đạt - nhà thơ, tích cực tham gia cuộc vận động đòi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ hồi giữa thập niên 50, cây bút xuất sắc trong các tập Giai Phẩm và tờ Nhân Văn; cùng Trần Dần, ông đề xướng việc tìm tòi cái mới trong sáng tác thơ ca; ông bị đàn áp tàn tệ, bị cấm sáng tác trong nhiều năm.
Lê Đức Thọ (tên thật Phan Đình Khải) (1911-90) - ủy viên Bộ Chính trị có quyền lực nhất, ông đã thao túng trên chính trường VN dưới thời Lê Duẩn và sau đó; ông là người tích cực đẩy mạnh cuộc chiến tranh với miền Nam, người chỉ huy việc đánh vào Cam Bốt, chiếm đóng và thống trị trực tiếp nước này trong 10 năm. Cùng với Lê Duẩn, ông đã dựng lên vụ án Xét lại – chống Đảng, bắt bớ, giam cầm, tù đày nhiều cán bộ cao cấp, đảng viên và người ngoài Đảng bất đồng với đường lối theo Mao của TƯ Đảng hồi những năm 60. Với tư cách trưởng ban tổ chức TƯ, ông là một trong những người khởi xướng cái gọi là "chủ nghĩa lý lịch” trong và ngoài Đảng, tức là sự kỳ thị trầm trọng về mọi mặt đối với những người không thuộc thành phần công nông, những người lý lịch "có vấn đề”, v.v...
Lê Ngọc - đảng viên trotskiste Việt Nam bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97.
Lê Nguyên Chi – người bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, đã bị xử 5 năm tù. tr.124.
Lê Văn Hương - đảng viên trotskiste Việt Nam bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97.
Lê Vinh Quốc (s.1927) – đại tá, phó chính uỷ Quân khu 3, tốt nghiệp Học viện Quân Chính Lenin (Moskva), vì bất đồng với đường lối theo Mao của hội nghị TƯ lần thứ 9 (1963), đã thoát ly ĐCSVN và xin tỵ nạn chính trị tại LX hồi đầu năm 1964.
Lenin V.I. (tên thật Ulyanov) (1870-1924) - nhà lý luận theo chủ nghĩa Marx, một trong những người sáng lập và là lãnh tụ Đảng bolshevich, lãnh đạo cuộc đảo chính tháng 10.1917, lật đổ chính quyền dân chủ, thiết lập chuyên chính vô sản với chế độ cực quyền toàn trị xô-viết. Với ý đồ làm cách mạng thế giới, phổ biến chế chế độ xô-viết ra toàn thế giới, ông đã thành lập Quốc Tế Cộng Sản (1919). Dưới chế độ chuyên chính vô hạn của ông, hàng triệu người dân vô tội đã bị giết.
Liu Jialang - đảng viên trotskiste người Hoa bị vu oan và bị giết.
Lưu Khánh Thịnh - đảng viên trotskiste VN bị vu oan và bị giết.
Lưu Thiếu Kỳ (1898-1960) – một trong những lãnh tụ Đảng Cộng sản TQ, chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân TQ (1959-68); theo lệnh của Mao Trạch Đông, ông bị khai trừ ra khỏi Đảng 1968, cách chức, bị đàn áp và đày đọa đến chết.
Malenkov G.M. (1902-88) - ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm (1926-57), thuộc giới thân cận Stalin, một trong những người tích cực tổ chức các cuộc đàn áp hàng loạt người vô tội dưới thời Stalin; cùng với Molotov, Kaganovich chống lại đường lối của Khrutshev, nên bị đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo Đảng hồi 1957.
Maleter Pal - người không đảng phái, thành viên của chính phủ liên hiệp Hungarie thành lập ngày 3.11.1956, sau khi quân đội Liên Xô can thiệp võ trang dẹp tan cuộc cách mạng nhân dân Hungarie, đã bị bắt và bị xử bắn năm 1958.
Mao Trạch Đông (1893-1976) – lãnh tụ Đảng Cộng sản TQ, chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân TQ (1954-59); người xây dựng chế độ cực quyền toàn trị khắc nghiệt, ông đề xướng phong trào "công xã nhân dân” và "đại nhảy vọt” ở TQ để tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi những cuộc vận động ác liệt, thường là đẫm máu, như cải cách ruộng đất, "tam phản”, "ngũ phản”, cải tạo trí thức, "đại cách mạng văn hóa” ... đã đẩy nền kinh tế, văn hóa TQ đến bên bờ vực thẳm. Hồi sinh thời của ông, việc sùng bái cá nhân ông đã lên cao đến mức chưa từng thấy.
Marx Karl (1818-83) - người sáng lập ra chủ nghĩa Marx, đã nêu lên vai trò giai cấp vô sản toàn thế giới trong việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản; tác phẩm căn bản của ông là bộ "Tư Bản” nổi tiếng; cùng với Engels và một số người khác, ông đã lập ra Liên Minh Công Nhân Quốc Tế (Đệ Nhất Quốc Tế) hồi 1864 và soạn thảo Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản. Chủ nghĩa Marx hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức, nhất là ở Âu Mỹ, nhưng dần dần qua thực tiễn lịch sử trong thế kỷ 20 người ta đã thấy rõ những sai lầm của nó.
Medvedev V. - ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản LX dưới thời Gorbachev, phụ trách Ban quốc tế TƯ.
Mikoyan A.I. (1895-1978) –ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm (1935-66), thuộc giới thân cận Stalin; về sau ông đã vạch trần tệ sùng bái cá nhân Stalin.
Mitterand F. (1916-96) – lãnh tụ Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp, tổng thống Pháp (1981-95).
Nagy Imre (1896-1958) - thủ tướng chính phủ Hungarie hồi 1953-55 và từ tháng 10 đến tháng 11.1956 sau là thành lập ngày 3.11.1956; sau khi quân đội Liên Xô can thiệp võ trang dẹp tan cuộc cách mạng nhân dân Hungarie, đã bị bắt và bị xử bắn năm 1958; sau khi nước Hungarie giành lại chủ quyền hồi 1989, ông được minh oan và coi là anh hùng nhân dân.
Neizvestnyi E.I. (s.1925) – nhà điêu khắc Nga nổi tiếng. tr.114.
Ngô Thức - cán bộ lão thành của ĐCS, từ những năm 80 nhiều lần góp ý kiến với lãnh đạo về các vấn đề chính trị, về dân chủ. tr.213
Nguyễn Bính (1917-1965) – nhà thơ trữ tình nổi tiếng, hồi giữa thập niên chủ trương tờ "Trăm Hoa”, bị đàn áp.
Nguyễn Chí Thanh (1914-67) - đại tướng, ủy viên Bộ Chính trị trong nhiều năm; là người tích cực đẩy mạnh cuộc chiến tranh với miền Nam, người quyết liệt nhất trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cá nhân. Sau khi ông qua đời, mới phát hiện là hồi bị tù dưới thời Pháp ông đã từng khai báo làm vỡ cơ sở Đảng.
Nguyễn Hữu Đang (s.1913) – đảng viên cộng sản, một trong những người lãnh đạo Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ; hồi giữa thập niên 50 đã phát biểu ý kiến đòi tự do, dân chủ, làm báo Nhân Văn; ông bị coi là người lãnh đạo tư tưởng của Nhân Văn, bị đàn áp tàn tệ trong vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, bị xử án 15 năm tù, sau khi hết hạn ngồi tù còn bị quản chế, đày đọa trong cảnh khốn cùng.
Nguyễn Mạnh Tường (1909-97) – luật sư, giáo sư, nhà trí thức nổi tiếng; đã ủng hộ những người cộng sản trong thời kháng chiến chống Pháp; đến những năm 50 ông đã góp ý kiến phê bình cuộc cải cách ruộng đất, tham gia viết báo Nhân Văn đòi tự do dân chủ, nên bị đàn áp tàn tệ và bị đày đọa trong cảnh cô lập và túng thiếu. Gần cuối đời, ông cho công bố ở Pháp tác phẩm "Un Excommunié” (Người Bị Rút Phép Thông Công) bằng tiếng Pháp kể lại chính sách đối xử tàn tệ của ban lãnh đạo cộng sản đối với trí thức và nhân dân.
Nguyễn Văn Linh - đảng viên trotskiste Việt Nam bị vu oan và bị giết.
Nguyễn Văn Sổ - đảng viên trotskiste Việt Nam bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97
Nguyễn Văn Tý – một trong những người chủ trương ra Giai Phẩm, bị đàn áp.
Như Phong Lê Văn Tiến (s.1923) - nhà báo VN kỳ cựu, bị tù nhiều năm sau 1975, hiện sinh sống ở Hoa Kỳ và là nhà báo độc lập, nhà nghiên cứu.
Pasternak B.L. (1890-1960) – nhà thơ trữ tình, nhà văn Nga. Tác phẩm "Bác Sĩ Zhivago” của ông được giải thưởng Nobel văn chương hồi 1958, nhưng do bị đe dọa trục xuất khỏi LX, ông đã phải từ chối, đến 1990, con trai ông thay mặt bố đã quá cố để nhận giải. "Bác Sĩ Zhivago” được xuất bản ở nước ngoài hồi 1958, nhưng mãi đến 1988 mới được xuất bản ở Nga.
Phan Khôi (1887-1959) – nhà báo kỳ cựu, nhà văn, người chủ trương báo Nhân Văn hồi 1956, phát ngôn những tư tưởng dân chủ, đăng những bài đòi hỏi dân chủ, nên bị đàn áp tàn tệ.
Phan Tài - người bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, đã bị xử 5 năm tù.
Phan Văn Chánh - đảng viên trotskiste VN, bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. tr.97
Phan Văn Hùm (1902-45) – một trong những lãnh tụ trotskiste VN nổi tiếng, nhà cách mạng theo Đệ Tứ Quốc Tế, bị giết sau khi những người cộng sản theo Đệ Tam Quốc Tế nắm chính quyền.
Rakoshi M. (1892-1971) người đứng đầu Đảng Cộng sản Hungarie trong nhiều năm (1945-56), tháng 7.1956 bị cách chức.
Shatunovskaya – một trong những đại biểu đã đưa ra lời chứng tại đại hội 20 của ĐCS LX về việc một số phiếu bầu tại đại hội 17 đã bị đánh cắp để gian lận trong cuộc bầu ban lãnh đạo đảng.
Solzhenitsyn A.I. (s.1918) – nhà văn Nga nổi tiếng, những tác phẩm của ông đã nêu bật bản chất tốt đẹp của tâm hồn con người trong hoàn cảnh của chế độ cực quyền toàn trị phi nhân, ông tố cáo những tội ác dưới chế độ cực quyền toàn trị xô-viết, vì thế ông bị tù đày nhiều năm, bị đàn áp tàn tệ, bị bị tước quốc tịch và trục xuất ra khỏi LX hồi 1974, phải sống lưu vong trong 20 năm; đến 1994 ông trở về nước khi chế độ cộng sản đã sụp đổ. Ông được giải Nobel văn chương 1970.
Stalin I.V. (tên thật Dzhugashvili) (1878-1953) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, người kế nhiệm Lenin làm lãnh tụ LX từ 1924; ông đã hoàn thiện chế độ cực quyền toàn trị xô-viết mà Lenin đã khởi đầu. Dưới chế độ độc tài vô hạn của cá nhân ông, hàng chục triệu đảng viên và những người dân vô tội đã bị giết.
Suslov M.A. (1902-82) – ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản LX trong nhiều năm, là nhà tư tưởng bảo thủ giáo điều có ảnh hưởng lớn dưới thời Brezhnev. tr.110.
Sỹ Ngọc - họa sĩ, vẽ tranh châm biếm cho báo Nhân Văn, bị đàn áp tàn tệ.
Tạ Thu Thâu (1906-45) - một trong những lãnh tụ trotskiste VN nổi tiếng, nhà cách mạng theo Đệ Tứ Quốc Tế, chủ trương làm cách mạng vô sản, bị giết sau khi những người cộng sản theo Đệ Tam Quốc Tế nắm chính quyền.
Thụy An – nhà văn nữ, bị nhà cầm quyền nghi là gián điệp, bà đã bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm và bị xử án 15 năm tù.
Tito B.I (1892-1980) – lãnh tụ của Liên Minh những người cộng sản Nam Tư, người đứng đầu nhà nước Nam Tư; do không chịu theo khuôn mẫu xô-viết để xây dựng xã hội Nam Tư, nên bị Stalin trục xuất Đảng Cộng sản Nam Tư ra khỏi phong trào cộng sản quốc tế và vu khống cho ông là gián điệp của đế quốc, các đảng "anh em” đều hùa theo LX tẩy chay Nam Tư và đả kích Tito là phần tử xét lại hiện đại.
Tố Hữu (tên thật Nguyễn Kim Thành) (s.1920) – nhà thơ tuyên truyền, ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm dưới thời Lê Duẩn, phó thủ tướng thứ nhất của chính phủ, một trong những người lãnh đạo văn học nghệ thuật bảo thủ, khắc nghiệt nhất; cùng với Trường Chinh, ông đã tiến hành các cuộc đàn áp tàn tệ văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác trong nhiều năm, nổi bật là vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm.
Trần Quốc Hoàn – ủy viên Bộ Chính trị nhiều năm dưới thời Lê Duẩn, làm bộ trưởng công an, tham gia đắc lực việc đàn áp chính trị dưới thời Lê Duẩn-Lê Đức Thọ.
Trần Quỳnh (s.1916) – ủy viên TƯ Đảng Cộng sản từ 1976, từ 1982-86 làm phó thủ tướng, có thời là thư ký của Lê Duẩn.
Trần Thiếu Bảo (Minh Đức) – người xuất bản tư nhân, đã tái bản một số tác phẩm có giá trị trước cách mạng 1945, như "Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, "Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng, nên bị ghép vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, bị xử án 15 năm tù, tài sản bị tịch thu.
Trần Văn Thạch (1905-45) - đảng viên trotskiste VN bị giết sau khi những người cộng sản nắm chính quyền.
Trường Chinh (1907-88) - nhà cách mạng cộng sản động nổi tiếng, tổng bí thư Đảng Cộng sản VN từ những năm 40 đến 1956, sau khi Lê Duẩn mất lại làm tổng bí thư trong thời gian ngắn. Thời ông cầm quyền được đánh dấu bởi việc giành chính quyền vào tay Đảng Cộng sản hồi tháng 8.1945, việc xây dựng chế độâ VN Dân chủ Cộng hòa và thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp hồi 1954, đồng thời cũng được đánh dấu bởi cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo ở nông thôn miền Bắc do chính ông phụ trách, bởi sự xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết và TQ, bởi sự đàn áp tàn tệ văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm là lĩnh vực ông phụ trách, bởi cuộc hợp tác hóa nông nghiệp cũng do ông phụ trách. Ông được coi là nhà lý luận, nổi tiếng giáo điều trong việc áp dụng máy móc kinh nghiệm của LX và TQ; tuy nhiên về cuối đời, ông đã có ý định "đổi mới” theo gương "perestroika” của LX.
Trotsky L.D. (tên thật là Bronshtein) (1879-1940) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản Nga và Liên Xô (1917, 1919-26), bộ trưởng ngoại giao (1917-18), bộ trưởng quân sự (1918-25). Cuộc tranh giành quyền lực giữa Stalin và Trotsky đã kết thúc bằng sự thất bại của Trotsky, nên 1927, ông bị khai trừ ra khỏi Đảng, bị đày đến Alma Ata, rồi trục xuất khỏi LX (1929). Ông khởi xướng thành lập Đệ Tứ Quốc Tế (1938), bị giết bởi tên đặc vụ xô-viết tên là R.Merkader.
Ung Văn Khiêm - nhà cách mạng lão thành, một trong những người lãnh đạo quan trọng của Đảng Cộng sản và nhà nước VN, là bộ trưởng ngoại giao dưới thời Hồ Chí Minh; vì không tán thành đường lối thân Mao hồi những năm 60 của tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ, ông bị cách chức, bị khai trừ ra khỏi Đảng hồi 1968. tr.96.
Văn Cao (1923-95) – nhà nghệ sĩ đa tài, nhạc sĩ nổi tiếng, nhà thơ, họa sĩ, vì có ý hướng đòi tự do sáng tác và tham gia các tập Giai Phẩm hồi giữa thập niên 50, ông đã bị đàn áp tàn tệ, bị chà đạp, sống trong cảnh nghèo nàn và o ép.
Volkogonov D.A. (1928-95) - giáo sư, tiến sĩ triết học, tiến sĩ sử học, đảng viên cộng sản, trung tướng xô-viết, viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Nga; ông đã ra khỏi Đảng Cộng sản LX hồi 1990, trở thành nhà dân chủ triệt để. Ông đã để lại những tác phẩm sử học nổi tiếng về Lenin, Trotsky, Stalin, cũng như về Khrutshev, Brezhnev, Andropov, Chernenko và Gorbachev.
Võ Nguyên Giáp (s.1911) - nhà cách mạng cộng sản nổi tiếng, đại tướng, đã chỉ huy thắng lợi trong nhiều chiến dịch, nhất là chiến dịch Điên Biên Phủ, góp phần lớn cho thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp; ông là ủy viên Bộ Chính trị TƯ Đảng trong nhiều năm, hồi 1982 bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị dưới thời Lê Duẩn, nay nghỉ hưu.
Walesa Lech (s.1943) - người thợ điện đã lãnh đạo phong trào đình công của công nhân Gdansk hồi đầu những năm 80, đưa đến việc thành lập phong trào Công đoàn "Đoàn Kết”, về sau chính phong trào công đoàn rộng lớn này đã làm nòng cốt cho cuộc cách mạng dân chủ làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Ba Lan, thiết lập chế độ dân chủ và giành chủ quyền lại cho nhân dân; làm tổng thống Ba Lan hồi 1990-95. Giải thưởng Nobel Hòa Bình 1983.
Xuân Thủy (1912-85) – bộ trưởng ngoại giao, kế nhiệm Ung Văn Khiêm, trên danh nghĩa là người đứng đầu phái đoàn VN đàm phán tại Paris hồi những năm 70.
Yakovliev A.N. (s.1923) – viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga, ủy viên Bộ chính trị TƯ Đảng Cộng Sản Liên Xô (1987-90), ông là người đóng góp tích cực vào đường lối chính trị của LX dưới thời Gorbachev; năm 1991 bị khai trừ ra khỏi Đảng; từ 1993 là chủ tịch Ủy ban minh oan cho nạn nhân trong các vụ đàn áp chính trị dưới thời xô-viết.
Zhipkov T. (1911-98) – người đứng đầu Đảng Cộng sản Bungarie, cầm quyền 35 năm; bị cách chức và khai trừ khỏi Đảng hồi 1989.
<< Home
