14/11/05
Comments:
<< Home
Tựa đề của bài này có thể khiến một số độc giả có lý do chính đáng để không hài lòng. Cố gắng của đảng và nhà nước cộng sản từ hơn mười năm qua không phải là đổi mới mà là chống lại đổi mới. Hơn nữa, cột mốc tháng 12-1986, thời điểm của đại hội 6 của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong đó chính sách đổi mới được chính thức đưa ra, cũng chỉ là một cột mốc tiện lợi thôi chứ không hoàn toàn chính xác với các chuyên gia. Thực ra Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu thay đổi chính sách từ năm 1979 sau khi kế hoạch 5 năm 1976-1980 đã thất bại và các mục tiêu đưa ra trở thành trò cười dân gian. Tuy vậy, xã hội Việt Nam đã thực sự đi vào một giai đoạn đổi mới kể từ năm 1986 và vẫn còn đang tiếp tục đổi mới.
Bối cảnh ra đời của chính sách đổi mới có thể giúp ta hiểu được logic của nó và những diễn biến sau này.
Vào năm 1986, xã hội Việt Nam, và chế độ cộng sản Việt Nam ở trong một tình trạng sắp bùng nổ. Các kế hoạch duy ý chí đặt nền tảng trên tín ngưỡng về sự ưu việt của chủ nghĩa Mác-Lênin đều đã thất bại một cách lố bịch. Các biện pháp đổi tiền 1975, 1978 và 1985 đã làm cả nước phá sản. Chính sách "giá lương tiền" của nhà thơ trở thành trùm kinh tế Tố Hữu đã là một thảm kịch đến nỗi nạn đói đã xuất hiện khắp nơi. Quần chúng Việt Nam bị đặt trước tình thế phải nổi loạn hoặc chết đói. Ngay cả đại bộ phận đảng viên cộng sản cũng lâm vào cảnh cùng cực. Thêm vào đó là sự chao đảo thấy rõ của khối cộng sản. Sự sụp đổ của chế độ cộng sản Ba Lan ngày càng chắc chắn. Năm 1985, Gorbachev lên cầm quyền tại Nga với một lập trường dân chủ hóa rõ rệt và một ưu tiên duy nhất : cứu nước Nga khỏi họa phá sản bằng mọi giá, kể cả nếu phải giải tán Liên Bang Xô Viết ; các nước xã hội chủ nghĩa anh em không còn được dành một quan tâm nào. Tại Trung Quốc, Hồ Diệu Bang rồi Triệu Tử Dương kế tiếp nhau với lập trường tương tự. Đảng Cộng Sản Việt Nam bị đặt trong thế hoàn toàn cô lập với bên ngoài, bị thù ghét ở trong nước, trong khi cán bộ, đảng viên chao đảo và hốt hoảng. Nói chung là một tình trạng cực kỳ nguy ngập. Tổng bí thư Trường Chinh, một người nổi tiếng thủ cựu, giáo điều và sắt máu, la lên : "đổi mới hay là chết!".
Các khẩu hiệu không có cùng một ý nghĩa. Khi Nguyễn Vũ Bình hét lên trước toà án: "tự do hay là chết!", lời hô này có nghĩa là chấp nhận chết để đất nước có tự do; khi ông Trường Chinh hô lên: "đổi mới hay là chết!", ông chỉ muốn nói rằng nếu không đổi mới thì sẽ chết và vì vậy phải đổi mới để thoát chết. Ông Lê Đức Thọ, con người quyền lực nhất trong đảng cộng sản lúc đó, đã chính xác hơn khi ông nói: "đổi mới để tồn tại". Mục đích của chính sách đổi mới của đảng cộng sản là như thế : đổi mới để khỏi sụp đổ. Điều này có nghĩa là khi Đảng Cộng Sản Việt Nam cảm thấy không còn nguy cơ sụp đổ nữa thì chính sách đổi mới cũng không còn lý do để tiếp tục, và nếu nó lại đe dọa chế độ thì nó phải ngừng lại. Phải ghi nhận một điều : những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam rất nhất quán, họ chỉ quan tâm tới sự tồn tại và quyền lực của họ mà thôi, tương lai đất nước không quan trọng.
Nội dung của chính sách đổi mới được tóm tắt trong khẩu hiệu : "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Khẩu hiệu này cũng vô lý như "mở một vũ trường với tôn chỉ của một dòng nữ tu" bởi vì cốt lõi của chủ nghĩa xã hội là gì nếu không phải là sự từ khước kinh tế thị trường? Sự nghịch lý này là nét đậm của chế độ cộng sản Việt Nam trong gần hai thập niên qua. Khi chấp nhận khẩu hiệu vay mượn từ Đảng Cộng Sản Trung Quốc này, những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ coi nó như một cách nói chống chế để chuyển sang một chế độ độc tài bình thường mà không phải nhìn nhận là đã theo đuổi một lý tưởng sai lầm trong nhiều năm và làm thiệt hại hàng triệu mạng người ; nhưng họ hình như vẫn chưa ý thức rằng chính khẩu hiệu vô lý này khiến họ không còn gì để nói. Từ gần hai thập niên qua, chế độ cộng sản đã chỉ dùng công an và nhà tù để trả lời những người dân chủ. Bạo lực có thể cho người cầm quyền cái ảo tưởng là có lý, nhưng nó chỉ là một sự phá sản về lý luận, và sự phá sản này sớm muộn cũng đưa tới sự sụp đổ của chính quyền. Sớm chứ không muộn, vì thế giới đã đi vào kỷ nguyên trí tuệ và truyền thông.
Trên thực tế Việt Nam đã đi vào giai đoạn hậu cộng sản từ gần hai thập niên qua, chỉ có điều là giai đoạn hậu cộng sản này đã không diễn ra như chúng ta mong đợi : chế độ cộng sản đã nhường chỗ cho một chế độ độc tài quân phiệt và mafia thay vì cho dân chủ.
Dầu sao không ai phủ nhận là Việt Nam đã khá hơn trong hai thập niên qua. Sự kiện này chứng tỏ rằng một chế độ độc tài quân phiệt vẫn còn hơn một chế độ cộng sản và, trong cùng một trường phái bạo ngược, Hitler còn hơn Lenin. Tăng trưởng kinh tế đã được duy trì liên tục ở mức trên 7% mỗi năm, đồng tiền Việt Nam đã ổn vững, đời sống của một phần lớn dân chúng đã được nâng cao đáng kể. Đường sá, giao thông được cải thiện, các thành phố tiện nghi hơn và thẩm mỹ hơn ; tại nhiều vùng nông thôn nhà ngói đã thay nhà tranh. Điện thoại không còn là một xa xỉ phẩm ; hàng triệu người đã sử dụng internet nhờ đó liên lạc dễ dàng hơn, kể cả với nước ngoài, và được thông tin nhanh chóng về những gì đang diễn ra trên thế giới. Nói chung, đã có tăng trưởng kinh tế ở mức độ khả quan kéo theo tiến bộ trên nhiều mặt khác.
Tuy nhiên một chế độ độc tài toàn trị dĩ nhiên phải có những tật bệnh tự nhiên của nó. Dưới một bề ngoài phồn vinh hơn xã hội Việt Nam cũng đã bệnh hoạn hơn. Hệ thống y tế hầu như không có tiến bộ và hơn thế nữa còn tồi tệ hơn đối với người nghèo. Giáo dục xuống cấp và hơn nữa còn trở thành đắt đỏ đối với đa số. Cách biệt giàu nghèo trầm trọng tới mức độ khiêu khích, các giá trị đạo đức xuống tới mức thấp nhất. Tinh thần dân tộc hầu như không còn gì, mỗi người chỉ lo giải quyết các vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân bởi vì sự thất vọng kéo dài quá lâu đối với chính quyền dần dần đã biến thành sự chán nản đối với chính đất nước. Trong bối cảnh đó, tham nhũng đã trở thành một quốc nạn như chính nhà cầm quyền cộng sản nhìn nhận, dù không có giải pháp. Điều đáng lo ngại là tham nhũng đã trở thành một nếp sống và một phương thức kinh doanh đến nỗi mà nhiều người coi là bình thường. Nhưng không ngăn chặn được tham nhũng thì đất nước không thể vươn lên được.
Một nguy cơ ngày càng trầm trọng là sự hủy hoại của môi trường. Diện tích rừng liên tục giảm sút, trong khi nhà cầm quyền thiếu hẳn một chính sách xử lý phế liệu. Hậu quả đã rõ rệt : hạn hán và lũ lụt kế tiếp nhau. Các thành phố bị ô nhiễm đến nỗi người ta phải đeo mặt nạ để tránh khói và bụi. Người Việt Nam có nguy cơ trở thành xa lạ với nhau vì không còn nhìn được mặt nhau nữa. Nếu phải khấu trừ đi chi phí cần thiết để phục hồi môi trường thiên nhiên, chưa kể môi trường văn hóa và đạo đức, thì mức tăng trưởng 7,5% mỗi năm không còn lại bao nhiêu. Tăng trưởng hoang dại bất chấp môi trường, các giá trị đạo đức và liên đới xã hội chỉ là một vay mượn vô trách nhiệm. Một ngày nào đó đất nước sẽ phải trả, và trả với giá đắt.
Cũng cần phân biệt tăng trưởng và phát triển. Mục tiêu là phát triển chứ không phải chỉ là tăng trưởng. Phát triển không phải chỉ là gia tăng GDP, như tăng trưởng, mà còn bao gồm sự cải tiến về hiểu biết, năng suất lao động và mức sống vật chất cũng như tinh thần. Việt Nam tuy tăng trưởng ở mức độ khá nhưng chỉ phát triển chậm. Về kỹ năng chúng ta ngày càng tụt hậu hơn so với các nước trong vùng. Chúng ta chỉ xuất khẩu dầu thô, nông phẩm, hải sản và những mặt hàng kỹ thuật thấp. Chúng ta cũng thiếu một điểm mạnh, như Trung Quốc có may mặc, Ấn Độ có tin học. Ngành tin học có lúc là hy vọng của Việt Nam hiện nay không còn được nhắc đến nữa. Sự hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài vẫn chỉ là nhân công rẻ và giá sinh hoạt thấp. Như vậy tăng trưởng của chúng ta không lành mạnh bởi vì mâu thuẫn với mục tiêu là nâng cao mức sống và sẽ khựng lại khi đã đạt một thành quả nào đó. Kinh tế Việt Nam thực ra đã bắt đầu đuối sức : trong năm 2005 sức mua của quần chúng không tăng lên mà còn giảm đi, và giảm nhiều, vì vật giá tăng trên 20% trong khi thu nhập không thay đổi. Điều này có nghĩa là tăng trưởng được duy trì một cách giả tạo trên lưng người lao động.
Mô hình mà Đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên xã hội Việt Nam là một mô hình sao chép từ Trung Quốc, nhưng dở hơn, và sẽ đưa Việt Nam vào những bế tắc lớn mà Trung Quốc khó tránh khỏi. Phát minh độc hại nhất được du nhập là kinh doanh vô trật tự. Quân đội, công an, đảng cộng sản đều có những công ty của riêng mình, được hưởng những quyền lợi như những công ty thuộc nhà nước nhưng lại không thuộc nhà nước. Thí dụ như trong ngành du lịch thì Vietnam Tourism là của nhà nước, Saigon Tourism là của công an, Toseco là của quân đội, đảng cộng sản có nhiều công ty du lịch khác. Đảng cộng sản, công an, quân đội vì vậy trở thành những nhà nước tự trị trong một nhà nước. Trên thực tế đây là sự từ nhiệm của nhà nước chính thức. Một trong những nét đậm của giai đoạn gọi là đổi mới là người ta không nói đến tách rời đảng và nhà nước nữa, trái lại còn tăng cường sự khống chế của đảng đối với nhà nước.
Ngay lúc này, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã mất hai độc quyền mà bất cứ một nhà nước nào cũng phải có là độc quyền thu thuế và độc quyền sử dụng bạo lực. Tại Việt Nam ngày nay người ta nộp tiền cho tham nhũng nhiều hơn là nộp thuế và sợ các băng đảng xã hội đen hơn là sợ công an. Cần nhận định dứt khoát một điều : nhà nước Việt Nam tuy hung bạo nhưng không mạnh, trái lại rất yếu và rất bất lực. Nó có thể bắt giam hoặc sách nhiễu những người lương thiện như Phạm Quế Dương, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu nhưng nó không kiểm soát được công an, quân đội và đảng cộng sản, nó bất lực trước các băng đảng tội ác, không bảo vệ được lãnh thổ và lãnh hải, cũng không dám phản đối khi ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc tàn sát. Nó không phải là một nhà nước đúng nghĩa.
Như tất cả mọi chế độ cộng sản, chế độ cộng sản Việt Nam dung túng sự vô kỷ luật để bù lại với sự thiếu vắng các quyền tự do chính trị. Cuối cùng nó rớt vào cạm bẫy của chính nó. Nó trở thành vô nghĩa đối với một quần chúng vừa bất tín vừa bất kính.
Một tổng kết, dù tóm lược đến đâu, của giai đoạn đổi mới cũng không thể bỏ qua những cố gắng vận động dân chủ. Nói chung những người dân chủ Việt Nam, kể cả trong lẫn ngoài nước, chưa vận dụng được bối cảnh thuận lợi của giai đoạn mới. Nhìn một cách qui ước, phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay về nhân lực và phương tiện không mạnh hơn năm 1989, thời điểm của cuộc thảm sát Thiên An Môn, đánh dấu sự trở mặt chống lại trào lưu dân chủ của hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam. Ở một mức độ nào đó, phong trào dân chủ còn yếu hơn năm 1989, những khuôn mặt dân chủ đã già đi, nhiều người không còn nữa, những người trẻ đến với cuộc đấu tranh cho dân chủ không nhiều. Trong nước vẫn chưa hình thành được một tổ chức dân chủ. Ngoài nước phần lớn các tổ chức chính trị đã giải thể hoặc ngưng hoạt động trên thực tế. Các tổ chức còn lại, trừ một hai ngoại lệ, không mạnh lên.
Nhưng tình hình Việt Nam không thể nhìn một cách qui ước. Trên thực tế, dù các tổ chức dân chủ không mạnh lên, xã hội Việt Nam vẫn chuyển hóa một cách chắc chắn về dân chủ. Không thể có "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hết lý luận và tắt tiếng nói sau khi tự giam cầm trong khẩu hiệu vô lý này. Họ không còn gì để nói, hay đúng ra chỉ còn một tuyên bố : "chúng tôi tồi dở, tham nhũng và vô đạo đức thực đấy, nhưng chúng tôi vẫn nhất định khống chế các anh tới cùng", đó chỉ là ngôn ngữ của bọn cướp đối với con tin chứ không phải là ngôn ngữ của một chính quyền. Quyền lực chính trị luôn luôn phải dựa vào hai vế : lời nói và sức mạnh. Lời nói để thuyết phục và sức mạnh để khuất phục, không có lời nói thì sức mạnh không những đáng ghê tởm mà còn vô hiệu. Khi kinh thánh không còn thì giáo đường cũng hết tín đồ. Từ sau đại hội 6, chúng ta đã chứng kiến một cuộc dằng co giữa một bên là một xã hội dân sự cố gắng để tự cởi trói và một bên là đảng cộng sản cố duy trì ách độc tài đảng trị. Cán cân lực lượng ngày càng thuận lợi cho xã hội dân sự. Điểm thăng bằng đã được đạt tới, có thể đã vượt qua. Việt Nam đã chín muồi cho một chuyển hóa về dân chủ. Sự chín muồi này sẽ cho phép xuất hiện một, hoặc một vài, tổ chức dân chủ có tầm vóc. Sự thiếu vắng một tổ chức dân chủ mạnh cho tới nay một phần là vì những người dân chủ đã thiếu bản lĩnh - trong nhận thức cũng như trong tổ chức - nhưng cũng vì họ chưa có được một tâm lý quần chúng thuận lợi. Họ sắp được một vận hội mới. Sự giải thể của nhiều tổ chức chính trị để lại một số nhỏ tổ chức cũng có tác dụng tập trung lực lượng. Họ cũng sẽ được tiếp sức bởi một lớp người có kinh nghiệm sinh hoạt tổ chức, có kiến thức chính trị và cũng có cả phương tiện và ảnh hưởng : những đảng viên cộng sản ở lứa tuổi 30-50 nhận thức rằng họ còn một tương lai dài trong khi chế độ này không thể tồn tại quá 5 năm, hoặc cùng lắm 10 năm, và do đó thay vì chịu đựng và là nạn nhân họ phải là tác nhân của tiến trình dân chủ hóa để nó diễn ra phù hợp với danh dự và quyền lợi của họ.
Vào lúc này chúng ta có thể nhận định những vấn đề nổi cộm sau đây :
* một là tiến trình dân chủ hóa là bắt buộc để đất nước vươn lên, chưa có một nước nào có thể trở thành giàu mạnh mà không có dân chủ ;
* hai là phải ngăn chặn được tham nhũng, chưa có một nước nào ở mức độ tham nhũng tương đương với Việt Nam mà có thể trở thành giàu mạnh, và muốn ngăn chặn được tham nhũng thì phải có dân chủ ;
*ba là muốn giành thắng lợi cho dân chủ thì phải có một tổ chức dân chủ mạnh, đảng cộng sản nhất định ngăn cản sự ra đời của một tổ chức dân chủ trong nước, trong khi đối lập dân chủ nhất định phải tiến tới tổ chức, đây là cuộc đấu tranh quyết liệt nhất vào thời đại này.
Đằng sau những yêu cầu cấp bách là những vấn đề trọng đại đặt ra cho đất nước : cuộc chuyển hóa bắt buộc của Việt Nam từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ ; hòa giải giữa người Việt Nam với nhau sau cuộc xung đột đẫm máu và những chính sách phân biệt đối xử, trước hết là bình thường hóa quan hệ giữa trong và ngoài nước để có thể tận dụng tiềm năng của cộng đồng người Việt hải ngoại ; phục hồi lại hy vọng và niềm tin ở đất nước và trách nhiệm đối với đất nước ; tổ chức lại lãnh thổ một cách hợp lý, trên căn bản một triết lý tản quyền lành mạnh ; và nhất là chấm dứt lối kinh doanh vô trật tự của các công ty quốc doanh, đảng doanh, công an doanh đang tạo ra những nhà nước trong một nhà nước. Tất cả những vấn đề trọng đại này chưa bắt đầu có giải pháp, trong nhiều trường hợp còn trở nên trầm trọng hơn.
Từ gần hai thập niên qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam chạy theo Trung Quốc và rập khuôn theo Trung Quốc nhưng có một khác biệt căn bản mà chúng ta cần nhận định. Đảng Cộng Sản Trung Quốc có những cấp lãnh đạo tương đối có viễn kiến và do đó những đổi mới nói chung đến từ lãnh đạo, trong khi đảng cộng sản Việt Nam chỉ có những cấp lãnh đạo mờ nhạt không bản lãnh do đó những thay đổi chỉ đến từ áp lực của xã hội. Tại Trung Quốc lãnh đạo sáng suốt hơn quần chúng, trong khi tại Việt Nam quần chúng năng động hơn lãnh đạo. Chuyển hóa bắt buộc về dân chủ tại hai nước khác nhau : trong khi Trung Quốc có nhiều triển vọng tiến trình dân chủ hóa sẽ đến từ một chính quyền nhận thấy không có thể làm gì khác, trong khi tại Việt Nam nó sẽ đến từ nhân dân. Một đàng có thể là dân chủ ban phát, một đàng chắc chắn sẽ là dân chủ giành được. Không nên hy vọng gì ở những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ không muốn, không biết và không thể.
Đại hội 10 của Đảng Cộng Sản Việt Nam sắp tới. Đảng cộng sản không có giải đáp nào cho các vấn đề lớn của đất nước, không có đồng thuận để tìm giải đáp và cũng không có cả các cấp lãnh đạo ngang tầm với đòi hỏi của tình thế. Đại hội 10 có thể là đại hội cuối cùng của đảng cộng sản trong cương vị một đảng cầm quyền.
Nguyễn Gia Kiểng
Đăng nhận xét
Bối cảnh ra đời của chính sách đổi mới có thể giúp ta hiểu được logic của nó và những diễn biến sau này.
Vào năm 1986, xã hội Việt Nam, và chế độ cộng sản Việt Nam ở trong một tình trạng sắp bùng nổ. Các kế hoạch duy ý chí đặt nền tảng trên tín ngưỡng về sự ưu việt của chủ nghĩa Mác-Lênin đều đã thất bại một cách lố bịch. Các biện pháp đổi tiền 1975, 1978 và 1985 đã làm cả nước phá sản. Chính sách "giá lương tiền" của nhà thơ trở thành trùm kinh tế Tố Hữu đã là một thảm kịch đến nỗi nạn đói đã xuất hiện khắp nơi. Quần chúng Việt Nam bị đặt trước tình thế phải nổi loạn hoặc chết đói. Ngay cả đại bộ phận đảng viên cộng sản cũng lâm vào cảnh cùng cực. Thêm vào đó là sự chao đảo thấy rõ của khối cộng sản. Sự sụp đổ của chế độ cộng sản Ba Lan ngày càng chắc chắn. Năm 1985, Gorbachev lên cầm quyền tại Nga với một lập trường dân chủ hóa rõ rệt và một ưu tiên duy nhất : cứu nước Nga khỏi họa phá sản bằng mọi giá, kể cả nếu phải giải tán Liên Bang Xô Viết ; các nước xã hội chủ nghĩa anh em không còn được dành một quan tâm nào. Tại Trung Quốc, Hồ Diệu Bang rồi Triệu Tử Dương kế tiếp nhau với lập trường tương tự. Đảng Cộng Sản Việt Nam bị đặt trong thế hoàn toàn cô lập với bên ngoài, bị thù ghét ở trong nước, trong khi cán bộ, đảng viên chao đảo và hốt hoảng. Nói chung là một tình trạng cực kỳ nguy ngập. Tổng bí thư Trường Chinh, một người nổi tiếng thủ cựu, giáo điều và sắt máu, la lên : "đổi mới hay là chết!".
Các khẩu hiệu không có cùng một ý nghĩa. Khi Nguyễn Vũ Bình hét lên trước toà án: "tự do hay là chết!", lời hô này có nghĩa là chấp nhận chết để đất nước có tự do; khi ông Trường Chinh hô lên: "đổi mới hay là chết!", ông chỉ muốn nói rằng nếu không đổi mới thì sẽ chết và vì vậy phải đổi mới để thoát chết. Ông Lê Đức Thọ, con người quyền lực nhất trong đảng cộng sản lúc đó, đã chính xác hơn khi ông nói: "đổi mới để tồn tại". Mục đích của chính sách đổi mới của đảng cộng sản là như thế : đổi mới để khỏi sụp đổ. Điều này có nghĩa là khi Đảng Cộng Sản Việt Nam cảm thấy không còn nguy cơ sụp đổ nữa thì chính sách đổi mới cũng không còn lý do để tiếp tục, và nếu nó lại đe dọa chế độ thì nó phải ngừng lại. Phải ghi nhận một điều : những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam rất nhất quán, họ chỉ quan tâm tới sự tồn tại và quyền lực của họ mà thôi, tương lai đất nước không quan trọng.
Nội dung của chính sách đổi mới được tóm tắt trong khẩu hiệu : "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Khẩu hiệu này cũng vô lý như "mở một vũ trường với tôn chỉ của một dòng nữ tu" bởi vì cốt lõi của chủ nghĩa xã hội là gì nếu không phải là sự từ khước kinh tế thị trường? Sự nghịch lý này là nét đậm của chế độ cộng sản Việt Nam trong gần hai thập niên qua. Khi chấp nhận khẩu hiệu vay mượn từ Đảng Cộng Sản Trung Quốc này, những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ coi nó như một cách nói chống chế để chuyển sang một chế độ độc tài bình thường mà không phải nhìn nhận là đã theo đuổi một lý tưởng sai lầm trong nhiều năm và làm thiệt hại hàng triệu mạng người ; nhưng họ hình như vẫn chưa ý thức rằng chính khẩu hiệu vô lý này khiến họ không còn gì để nói. Từ gần hai thập niên qua, chế độ cộng sản đã chỉ dùng công an và nhà tù để trả lời những người dân chủ. Bạo lực có thể cho người cầm quyền cái ảo tưởng là có lý, nhưng nó chỉ là một sự phá sản về lý luận, và sự phá sản này sớm muộn cũng đưa tới sự sụp đổ của chính quyền. Sớm chứ không muộn, vì thế giới đã đi vào kỷ nguyên trí tuệ và truyền thông.
Trên thực tế Việt Nam đã đi vào giai đoạn hậu cộng sản từ gần hai thập niên qua, chỉ có điều là giai đoạn hậu cộng sản này đã không diễn ra như chúng ta mong đợi : chế độ cộng sản đã nhường chỗ cho một chế độ độc tài quân phiệt và mafia thay vì cho dân chủ.
Dầu sao không ai phủ nhận là Việt Nam đã khá hơn trong hai thập niên qua. Sự kiện này chứng tỏ rằng một chế độ độc tài quân phiệt vẫn còn hơn một chế độ cộng sản và, trong cùng một trường phái bạo ngược, Hitler còn hơn Lenin. Tăng trưởng kinh tế đã được duy trì liên tục ở mức trên 7% mỗi năm, đồng tiền Việt Nam đã ổn vững, đời sống của một phần lớn dân chúng đã được nâng cao đáng kể. Đường sá, giao thông được cải thiện, các thành phố tiện nghi hơn và thẩm mỹ hơn ; tại nhiều vùng nông thôn nhà ngói đã thay nhà tranh. Điện thoại không còn là một xa xỉ phẩm ; hàng triệu người đã sử dụng internet nhờ đó liên lạc dễ dàng hơn, kể cả với nước ngoài, và được thông tin nhanh chóng về những gì đang diễn ra trên thế giới. Nói chung, đã có tăng trưởng kinh tế ở mức độ khả quan kéo theo tiến bộ trên nhiều mặt khác.
Tuy nhiên một chế độ độc tài toàn trị dĩ nhiên phải có những tật bệnh tự nhiên của nó. Dưới một bề ngoài phồn vinh hơn xã hội Việt Nam cũng đã bệnh hoạn hơn. Hệ thống y tế hầu như không có tiến bộ và hơn thế nữa còn tồi tệ hơn đối với người nghèo. Giáo dục xuống cấp và hơn nữa còn trở thành đắt đỏ đối với đa số. Cách biệt giàu nghèo trầm trọng tới mức độ khiêu khích, các giá trị đạo đức xuống tới mức thấp nhất. Tinh thần dân tộc hầu như không còn gì, mỗi người chỉ lo giải quyết các vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân bởi vì sự thất vọng kéo dài quá lâu đối với chính quyền dần dần đã biến thành sự chán nản đối với chính đất nước. Trong bối cảnh đó, tham nhũng đã trở thành một quốc nạn như chính nhà cầm quyền cộng sản nhìn nhận, dù không có giải pháp. Điều đáng lo ngại là tham nhũng đã trở thành một nếp sống và một phương thức kinh doanh đến nỗi mà nhiều người coi là bình thường. Nhưng không ngăn chặn được tham nhũng thì đất nước không thể vươn lên được.
Một nguy cơ ngày càng trầm trọng là sự hủy hoại của môi trường. Diện tích rừng liên tục giảm sút, trong khi nhà cầm quyền thiếu hẳn một chính sách xử lý phế liệu. Hậu quả đã rõ rệt : hạn hán và lũ lụt kế tiếp nhau. Các thành phố bị ô nhiễm đến nỗi người ta phải đeo mặt nạ để tránh khói và bụi. Người Việt Nam có nguy cơ trở thành xa lạ với nhau vì không còn nhìn được mặt nhau nữa. Nếu phải khấu trừ đi chi phí cần thiết để phục hồi môi trường thiên nhiên, chưa kể môi trường văn hóa và đạo đức, thì mức tăng trưởng 7,5% mỗi năm không còn lại bao nhiêu. Tăng trưởng hoang dại bất chấp môi trường, các giá trị đạo đức và liên đới xã hội chỉ là một vay mượn vô trách nhiệm. Một ngày nào đó đất nước sẽ phải trả, và trả với giá đắt.
Cũng cần phân biệt tăng trưởng và phát triển. Mục tiêu là phát triển chứ không phải chỉ là tăng trưởng. Phát triển không phải chỉ là gia tăng GDP, như tăng trưởng, mà còn bao gồm sự cải tiến về hiểu biết, năng suất lao động và mức sống vật chất cũng như tinh thần. Việt Nam tuy tăng trưởng ở mức độ khá nhưng chỉ phát triển chậm. Về kỹ năng chúng ta ngày càng tụt hậu hơn so với các nước trong vùng. Chúng ta chỉ xuất khẩu dầu thô, nông phẩm, hải sản và những mặt hàng kỹ thuật thấp. Chúng ta cũng thiếu một điểm mạnh, như Trung Quốc có may mặc, Ấn Độ có tin học. Ngành tin học có lúc là hy vọng của Việt Nam hiện nay không còn được nhắc đến nữa. Sự hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài vẫn chỉ là nhân công rẻ và giá sinh hoạt thấp. Như vậy tăng trưởng của chúng ta không lành mạnh bởi vì mâu thuẫn với mục tiêu là nâng cao mức sống và sẽ khựng lại khi đã đạt một thành quả nào đó. Kinh tế Việt Nam thực ra đã bắt đầu đuối sức : trong năm 2005 sức mua của quần chúng không tăng lên mà còn giảm đi, và giảm nhiều, vì vật giá tăng trên 20% trong khi thu nhập không thay đổi. Điều này có nghĩa là tăng trưởng được duy trì một cách giả tạo trên lưng người lao động.
Mô hình mà Đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên xã hội Việt Nam là một mô hình sao chép từ Trung Quốc, nhưng dở hơn, và sẽ đưa Việt Nam vào những bế tắc lớn mà Trung Quốc khó tránh khỏi. Phát minh độc hại nhất được du nhập là kinh doanh vô trật tự. Quân đội, công an, đảng cộng sản đều có những công ty của riêng mình, được hưởng những quyền lợi như những công ty thuộc nhà nước nhưng lại không thuộc nhà nước. Thí dụ như trong ngành du lịch thì Vietnam Tourism là của nhà nước, Saigon Tourism là của công an, Toseco là của quân đội, đảng cộng sản có nhiều công ty du lịch khác. Đảng cộng sản, công an, quân đội vì vậy trở thành những nhà nước tự trị trong một nhà nước. Trên thực tế đây là sự từ nhiệm của nhà nước chính thức. Một trong những nét đậm của giai đoạn gọi là đổi mới là người ta không nói đến tách rời đảng và nhà nước nữa, trái lại còn tăng cường sự khống chế của đảng đối với nhà nước.
Ngay lúc này, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã mất hai độc quyền mà bất cứ một nhà nước nào cũng phải có là độc quyền thu thuế và độc quyền sử dụng bạo lực. Tại Việt Nam ngày nay người ta nộp tiền cho tham nhũng nhiều hơn là nộp thuế và sợ các băng đảng xã hội đen hơn là sợ công an. Cần nhận định dứt khoát một điều : nhà nước Việt Nam tuy hung bạo nhưng không mạnh, trái lại rất yếu và rất bất lực. Nó có thể bắt giam hoặc sách nhiễu những người lương thiện như Phạm Quế Dương, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu nhưng nó không kiểm soát được công an, quân đội và đảng cộng sản, nó bất lực trước các băng đảng tội ác, không bảo vệ được lãnh thổ và lãnh hải, cũng không dám phản đối khi ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc tàn sát. Nó không phải là một nhà nước đúng nghĩa.
Như tất cả mọi chế độ cộng sản, chế độ cộng sản Việt Nam dung túng sự vô kỷ luật để bù lại với sự thiếu vắng các quyền tự do chính trị. Cuối cùng nó rớt vào cạm bẫy của chính nó. Nó trở thành vô nghĩa đối với một quần chúng vừa bất tín vừa bất kính.
Một tổng kết, dù tóm lược đến đâu, của giai đoạn đổi mới cũng không thể bỏ qua những cố gắng vận động dân chủ. Nói chung những người dân chủ Việt Nam, kể cả trong lẫn ngoài nước, chưa vận dụng được bối cảnh thuận lợi của giai đoạn mới. Nhìn một cách qui ước, phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay về nhân lực và phương tiện không mạnh hơn năm 1989, thời điểm của cuộc thảm sát Thiên An Môn, đánh dấu sự trở mặt chống lại trào lưu dân chủ của hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam. Ở một mức độ nào đó, phong trào dân chủ còn yếu hơn năm 1989, những khuôn mặt dân chủ đã già đi, nhiều người không còn nữa, những người trẻ đến với cuộc đấu tranh cho dân chủ không nhiều. Trong nước vẫn chưa hình thành được một tổ chức dân chủ. Ngoài nước phần lớn các tổ chức chính trị đã giải thể hoặc ngưng hoạt động trên thực tế. Các tổ chức còn lại, trừ một hai ngoại lệ, không mạnh lên.
Nhưng tình hình Việt Nam không thể nhìn một cách qui ước. Trên thực tế, dù các tổ chức dân chủ không mạnh lên, xã hội Việt Nam vẫn chuyển hóa một cách chắc chắn về dân chủ. Không thể có "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hết lý luận và tắt tiếng nói sau khi tự giam cầm trong khẩu hiệu vô lý này. Họ không còn gì để nói, hay đúng ra chỉ còn một tuyên bố : "chúng tôi tồi dở, tham nhũng và vô đạo đức thực đấy, nhưng chúng tôi vẫn nhất định khống chế các anh tới cùng", đó chỉ là ngôn ngữ của bọn cướp đối với con tin chứ không phải là ngôn ngữ của một chính quyền. Quyền lực chính trị luôn luôn phải dựa vào hai vế : lời nói và sức mạnh. Lời nói để thuyết phục và sức mạnh để khuất phục, không có lời nói thì sức mạnh không những đáng ghê tởm mà còn vô hiệu. Khi kinh thánh không còn thì giáo đường cũng hết tín đồ. Từ sau đại hội 6, chúng ta đã chứng kiến một cuộc dằng co giữa một bên là một xã hội dân sự cố gắng để tự cởi trói và một bên là đảng cộng sản cố duy trì ách độc tài đảng trị. Cán cân lực lượng ngày càng thuận lợi cho xã hội dân sự. Điểm thăng bằng đã được đạt tới, có thể đã vượt qua. Việt Nam đã chín muồi cho một chuyển hóa về dân chủ. Sự chín muồi này sẽ cho phép xuất hiện một, hoặc một vài, tổ chức dân chủ có tầm vóc. Sự thiếu vắng một tổ chức dân chủ mạnh cho tới nay một phần là vì những người dân chủ đã thiếu bản lĩnh - trong nhận thức cũng như trong tổ chức - nhưng cũng vì họ chưa có được một tâm lý quần chúng thuận lợi. Họ sắp được một vận hội mới. Sự giải thể của nhiều tổ chức chính trị để lại một số nhỏ tổ chức cũng có tác dụng tập trung lực lượng. Họ cũng sẽ được tiếp sức bởi một lớp người có kinh nghiệm sinh hoạt tổ chức, có kiến thức chính trị và cũng có cả phương tiện và ảnh hưởng : những đảng viên cộng sản ở lứa tuổi 30-50 nhận thức rằng họ còn một tương lai dài trong khi chế độ này không thể tồn tại quá 5 năm, hoặc cùng lắm 10 năm, và do đó thay vì chịu đựng và là nạn nhân họ phải là tác nhân của tiến trình dân chủ hóa để nó diễn ra phù hợp với danh dự và quyền lợi của họ.
Vào lúc này chúng ta có thể nhận định những vấn đề nổi cộm sau đây :
* một là tiến trình dân chủ hóa là bắt buộc để đất nước vươn lên, chưa có một nước nào có thể trở thành giàu mạnh mà không có dân chủ ;
* hai là phải ngăn chặn được tham nhũng, chưa có một nước nào ở mức độ tham nhũng tương đương với Việt Nam mà có thể trở thành giàu mạnh, và muốn ngăn chặn được tham nhũng thì phải có dân chủ ;
*ba là muốn giành thắng lợi cho dân chủ thì phải có một tổ chức dân chủ mạnh, đảng cộng sản nhất định ngăn cản sự ra đời của một tổ chức dân chủ trong nước, trong khi đối lập dân chủ nhất định phải tiến tới tổ chức, đây là cuộc đấu tranh quyết liệt nhất vào thời đại này.
Đằng sau những yêu cầu cấp bách là những vấn đề trọng đại đặt ra cho đất nước : cuộc chuyển hóa bắt buộc của Việt Nam từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ ; hòa giải giữa người Việt Nam với nhau sau cuộc xung đột đẫm máu và những chính sách phân biệt đối xử, trước hết là bình thường hóa quan hệ giữa trong và ngoài nước để có thể tận dụng tiềm năng của cộng đồng người Việt hải ngoại ; phục hồi lại hy vọng và niềm tin ở đất nước và trách nhiệm đối với đất nước ; tổ chức lại lãnh thổ một cách hợp lý, trên căn bản một triết lý tản quyền lành mạnh ; và nhất là chấm dứt lối kinh doanh vô trật tự của các công ty quốc doanh, đảng doanh, công an doanh đang tạo ra những nhà nước trong một nhà nước. Tất cả những vấn đề trọng đại này chưa bắt đầu có giải pháp, trong nhiều trường hợp còn trở nên trầm trọng hơn.
Từ gần hai thập niên qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam chạy theo Trung Quốc và rập khuôn theo Trung Quốc nhưng có một khác biệt căn bản mà chúng ta cần nhận định. Đảng Cộng Sản Trung Quốc có những cấp lãnh đạo tương đối có viễn kiến và do đó những đổi mới nói chung đến từ lãnh đạo, trong khi đảng cộng sản Việt Nam chỉ có những cấp lãnh đạo mờ nhạt không bản lãnh do đó những thay đổi chỉ đến từ áp lực của xã hội. Tại Trung Quốc lãnh đạo sáng suốt hơn quần chúng, trong khi tại Việt Nam quần chúng năng động hơn lãnh đạo. Chuyển hóa bắt buộc về dân chủ tại hai nước khác nhau : trong khi Trung Quốc có nhiều triển vọng tiến trình dân chủ hóa sẽ đến từ một chính quyền nhận thấy không có thể làm gì khác, trong khi tại Việt Nam nó sẽ đến từ nhân dân. Một đàng có thể là dân chủ ban phát, một đàng chắc chắn sẽ là dân chủ giành được. Không nên hy vọng gì ở những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ không muốn, không biết và không thể.
Đại hội 10 của Đảng Cộng Sản Việt Nam sắp tới. Đảng cộng sản không có giải đáp nào cho các vấn đề lớn của đất nước, không có đồng thuận để tìm giải đáp và cũng không có cả các cấp lãnh đạo ngang tầm với đòi hỏi của tình thế. Đại hội 10 có thể là đại hội cuối cùng của đảng cộng sản trong cương vị một đảng cầm quyền.
Nguyễn Gia Kiểng
<< Home
