13/11/05
VỀ TỔNG CỤC II
VỤ ÁN TRỊNH VĨNH BÌNH
TỔNG CỤC II - VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH TRONG VỤ ÁN TRỊNH VĨNH BÌNH
Trần Quốc Hoàn
Xem tiêp...
Comments:
<< Home
Gần đây, việc ông Trịnh Vĩnh Bình thưa kiện Chính phủ Việt Nam ra một toà án Quốc tế đã làm xôn xao dư luận ở Hải ngoại. Vụ kiện này là một vụ án chưa từng có trong lịch sử Việt Nam và có rất nhiều ý nghĩa khác nhau, đặc biệt là số tiền bồi thường quá lớn đối với một đất nước nghèo khó như Việt Nam: 100.000.000 USD. Thật ra, trong những cuộc họp giao ban của khối an ninh vào khoảng cuối năm 2002 thì người ta đã phổ biến thông tin rằng ông Trịnh Vĩnh Bình đang tìm cách thưa kiện Chính phủ Việt Nam rồi. Song, vì thái độ vô trách nhiệm, coi thường pháp luật, coi thường dư luận Quốc tế, cộng với sự chủ quan, lúng túng của bộ máy an ninh, của lãnh đạo cộng sản nên họ đã để sự việc diễn biến đến nghiêm trọng như ngày hôm nay. Tuy nhiên, điều đáng buồn là dư luận trong nước lại rất ít người biết đến vụ việc này, do sự chỉ đạo bưng bít thông tin của Ban tư tưởng Văn hóa, Đảng cộng sản Việt Nam, mới chỉ có hai, ba tờ báo là "dám" nhắc đến vụ án này một cách "qua quít", sao chép giống hệt nhau, cùng với mấy ông luật sư trả lời một cách "không có đầu, không có cuối".
Nhà nước cộng sản Việt Nam, mà tất nhiên là do Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo, đã rất lo ngại vụ việc này bị phanh phui như một vụ án nghiêm trọng và đặc biệt điển hình để tố cáo chế độ cộng sản ở nhiều mặt khác nhau. Với Quốc tế và giới doanh nhân (xin nhấn mạnh ở đây là giới doanh nhân nói chung, ở cả trong và ngoài nước chứ không riêng gì Việt kiều hay doanh nghiệp nước ngoài như một số bài báo nêu ra, vì ở Việt Nam chưa hề có "một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp" như lời mời gọi của giới lãnh đạo cộng sản vẫn hô hào, bất kể doanh nghiệp nào không phải là doanh nghiệp nhà nước (là "con bò sữa", là chỗ làm tiền và rửa tiền của Mafia cộng sản) đều gặp phải rất nhiều rắc rối do chính quyền gây ra) đây là một vụ án điển hình nhất được tố cáo và sẽ đưa ra xét xử công khai trước Quốc tế, sẽ là một bằng chứng sống động nhất cho Thế giới biết đến sự cưỡng bức trắng trợn, sự bất chấp luật pháp, vi phạm nhân quyền của bộ máy an ninh cộng sản, chính quyền cộng sản. Đặc biệt đây là một sự kiện hi hữu, không thể lý giải được: một tội phạm đào thoát đang chịu hình phạt bị kết án 11 năm tù - có nghĩa là một kẻ đang bị một chính phủ truy nã - lại dám công khai đứng ra kiện chính phủ đó trước Tòa án Quốc tế. Nhưng quan trọng hơn là đối với số đông quần chúng nhân dân, chính quyền cộng sản đang rất lo sợ dư luận nhân dân sẽ biết rõ sự việc này, và đặc biệt nếu chính phủ Việt Nam sẽ bị xử thua ở phiên tòa năm sau thì vụ án này sẽ gây ra một sự bất bình lớn trong dân chúng, nếu toàn bộ sự thật được phơi bày có thể sẽ gây ra một làn sóng phản ứng mạnh mẽ mà sẽ khó đoán trước được hậu quả như thế nào.
Sau khi đã đọc và nghe kỹ hầu hết các bài viết và phỏng vấn ở Hải ngoại có liên quan đến vụ án, tôi xin gửi đến quý độc giả (thính giả) và đặc biệt là ông Trịnh Vĩnh Bình thêm một số chi tiết mà tôi khẳng định là yếu tố quyết định vụ án. Với cương vị là một người trong cuộc, tôi xin đảm bảo rằng những thông tin mình đưa ra là chính xác 100% (điều này hy vọng sẽ được ông Trịnh Vĩnh Bình xác nhận), đồng thời cũng cung cấp thêm một số thông tin mà có thể do ở một góc độ khác ông Trịnh Vĩnh Bình không được biết, hoặc vì một vài lí do nào đó mà ông Trịnh Vĩnh Bình đã không tiết lộ, với mục đích làm rõ hơn những ẩn khuất trong vụ án này và để dư luận trong ngoài nước sẽ được biết đến, quan tâm đến vụ án này hơn nữa; qua đó quần chúng nhân dân, đồng bào Việt Nam ở Hải ngoại và trong nước sẽ cùng lên tiếng tố cáo những bất công, bưng bít, vi phạm pháp luật, vi phạm nhân quyền của chế độ cộng sản Việt Nam.
Cần trở lại vụ án Công ty cổ phần Bình Châu (cũng gọi là vụ án Bình - Hà Lan) ở những năm 1998-1999, đã được báo chí Việt Nam viết đến rất nhiều, cũng không ít bài báo viết có sự phân tích, mổ xẻ về tính pháp lí của vụ án, bênh vực "bị cáo" Trịnh Vĩnh Bình. Do có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau nên vụ án được dư luận trong nước quan tâm nhiều. Thế nhưng, sự quan tâm đấy cũng chỉ đơn thuần coi như một vụ án kinh tế, có "dính dáng" đến Việt kiều, đến đầu tư nước ngoài. Rất ít ai được biết đến vụ án là đã có những yếu tố chính trị, thậm chí cái yếu tố ấy đã có tính quyết định toàn bộ vụ án. Về nội dung này tôi không nghĩ là ông Trịnh Vĩnh Bình đã không hề biết gì. Gần đây, khi trả lời phỏng vấn báo chí ông Trịnh Vĩnh Bình cũng đã không cung cấp thêm thông tin gì mới hơn, có thể ông cần phải giữ thái độ thận trọng cần thiết, cũng có thể ông chưa được biết chính xác. Tôi xin công khai chi tiết này dưới đây, để độc giả có thể hiểu được bản chất của sự việc và qua đó các bên liên quan sẽ tìm ra những phương pháp hành xử tốt nhất trong những công việc tiếp theo của vụ án mà ông Trịnh Vĩnh Bình đang theo kiện chính phủ Việt Nam.
Những nguyên nhân chính mà ông Trịnh Vĩnh Bình đưa ra (cũng đã được ông Trọng Kim, chủ bút tờ báo Ngày nay ở Houston, Texas - Hoa Kỳ cho biết thêm) là do ông Bình đã có một sự đối đầu với cơ quan công an tỉnh Bà rịa - Vũng tàu, cụ thể là ông Ngô Chí Đan, trưởng phòng an ninh điều tra (PA24) và ông Phạm Văn Phương - anh vợ ông Ngô Chí Đan - chức danh phó Tổng giám đốc công ty liên doanh Vicarent.
Sự việc này cần phải diễn giải chi tiết thêm thì độc giả mới có thể hình dung được. Tại địa phương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì gần như ai ai cũng đều biết đến ông Ngô Chí Đan, với cương vị trưởng phòng An ninh điều tra, phó thủ trưởng cơ quan điều tra liên tục mười mấy năm liền, và là một con người khét tiếng với các vụ án quan trọng. Thế nhưng còn nổi tiếng và "tài ba" hơn nhiều lại chính là ông Phạm Văn Phương, anh vợ của Ngô Chí Đan, với những quan hệ mà những người dân thường chỉ nghe thấy thôi cũng đã phải "rùng mình", từ Tổng bí thư (xin nói rõ là Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải bí thư xã, bí thư huyện nhé) đến Thủ tướng, phó thủ tướng Chính phủ, còn cỡ như Bộ trưởng, thứ trưởng thì ông Phương có thể quen biết vài chục vị. Chỉ qua việc ông ta đã từng hạ "nốc ao" cả Chủ tịch tỉnh và đưa một vị khác lên thay chức chủ tịch tỉnh, rồi vào ủy viên Trung ương Đảng cộng sản là đủ biết uy lực của ông Phương lớn đến thế nào (riêng sự việc này tôi xin gửi thông tin đến độc giả ở một bài viết khác). Thế nhưng, sau này chính anh em ông Ngô Chí Đan và Phạm Văn Phương cũng lại phải ra hầu Tòa trong một vụ án khác, mà ông Ngô Chí Đan đã bị kỉ luật, tước danh hiệu công an, Phạm Văn Phương thì chịu bản án 27 năm tù giam. Thật ra, trong vụ án đó anh em ông Phương, ông Đan cũng chỉ là con mồi của bộ máy an ninh cộng sản, con mồi của chính cái bẫy mà mình đã giăng ra, và tôi cũng xin khẳng định rằng vụ án đó cũng lại chính là hệ lụy của vụ án Trịnh Vĩnh Bình mà chúng ta đang nói đến hôm nay, vì lí do đó tôi lại phải xin hẹn với độc giả trong một bài viết khác sẽ được nói rõ thêm về vụ án này (độc giả ở Hải ngoại có thể tìm xem về "vụ án Phương Vicarent" trên các trang pháp luật của các báo điện tử tại Việt Nam, còn ở Việt Nam thì chắc là ai cũng đều biết đến vụ án ấy cả). Vì xã hội Việt Nam đã hoàn toàn bị Đảng cộng sản cưỡng bức thông tin, bưng bít thông tin; chế độ Đảng trị độc tài can thiệp vào tất cả bê bối kinh tế và chính trị nhằm che dấu tội lỗi của mình, lo sợ sự phản ứng giận dữ của quần chúng, nhằm đảm bảo sự độc tài thống trị của mình, nên người dân không được biết về thế lực thật sự của ông Phạm Văn Phương cùng những hành động tội lỗi của ông ta mà thật ra "tập đoàn Mafia Năm Cam" so ra với ông Phương cũng chỉ bằng hạt cát.
Quay trở lại vụ án của ông Trịnh Vĩnh Bình, thật không may cho ông Trịnh Vĩnh Bình là: thời điểm mà ông Trịnh Vĩnh Bình vào Việt Nam đầu tư là thời điểm mà ông Phạm Văn Phương và vây cánh của ông ta đang rất mạnh. Tất cả các doanh nghiệp vào đầu tư tại Bà Rịa - Vũng Tàu đều phải nhờ vả hoặc đến "ra mắt" ông Phương, phải chịu sự điều khiển của ông ta, hoặc ít ra cũng phải "cống nộp" tiền bạc cho ông ta. Ông Trịnh Vĩnh Bình vì là người ở Hà Lan đến, cộng thêm sự tự tin là về đầu tư trên quê hương mình nên đã không sớm có sự hiểu biết đó. Nguyên nhân mà ông Trịnh Vĩnh Bình hiểu ra rằng sự khó chịu và đối đầu với ông Phạm Văn Phương đã gây ra cho ông bao nhiêu khó khăn, vất vả sau này, từ đổ vỡ trong kinh doanh, rồi tù tội, trắng tay về kinh tế, rồi phải đào thoát, tính mạng nguy hiểm đến thế nào, và cuối cùng là vụ kiện chính phủ Việt Nam mà ngày hôm nay ông đang theo đuổi. Về xuất phát cơ bản thì đúng là như vậy, nhưng sự thật đằng sau đó có ý nghĩa quyết định vụ án đấy là lí do chính trị, bàn tay của Tổng cục II, Bộ quốc phòng.
Ngay sau khi ông Phương và bè cánh của ông Phương đã lên một "kế hoạch" hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình, người ta chưa hề nghĩ đến sẽ có một hậu quả xấu như thế (tôi chắc là ngay cả chính ông Phương cũng chưa định liệu trước được một hậu quả như vậy). Bởi vì bản chất của Phương chỉ là một kẻ giang hồ, mượn oai thế và uy lực để bức hiếp kẻ yếu, tống tiền, trục lợi. Về con đường "quan lộ", với cái gốc là lái xe, không một mảnh bằng cấp, không trình độ ngoại ngữ, Phương không thể "mảy may" nghĩ tới. Và Phương cũng không nghĩ ra được rằng con mồi của mình (ông Trịnh Vĩnh Bình) lại liên quan đến các yếu tố chính trị cơ hội khác. Ngô Chí Đan, dù là trưởng phòng an ninh điều tra, phòng có uy quyền nhất trong lực lượng công an cộng sản (cơ quan điều tra là cơ quan duy nhất được phép ra lệnh triệu tập và bắt người), là cơ quan theo dõi mọi hoạt động an ninh có liên quan đến yếu tố nước ngoài, thế nhưng Ngô Chí Đan cũng không hề có thông tin và âm mưu hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình là có liên quan đến các yếu tố chính trị (ngoài việc biết ông Trịnh Vĩnh Bình là thành viên Đảng dân chủ tự do Hà Lan). Việc Phương và Đan mưu hại thật ra cũng chỉ là một màn kịch tống tiền, Phương và Đan chưa nghĩ ra được Trịnh Vĩnh Bình sẽ trở thành một miếng mồi thơm hơn để có thể trục lợi những âm mưu khác, Phương và Đan cũng không thể nghĩ ra rằng việc hãm hại Trịnh Vĩnh Bình có thể để lại một hệ lụy khôn lường (cho chính cả bản thân mình và cho cả chính phủ Việt Nam) đến ngày hôm nay.
Mọi việc không chỉ đơn giản như vậy. Chắc rằng, tất cả những người có một chút am hiểu về bộ máy an ninh của cộng sản đều biết rằng: mọi công dân nước ngoài khi vào hoạt động, làm ăn tại Việt Nam cũng đều bị một sự giám sát vô hình của cơ quan an ninh cộng sản. Đặc biệt như trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình, một thành viên của Đảng dân chủ tự do Hà Lan, ngoài các bộ phận nghiệp vụ của Bộ công an ra thì không thể nào Tổng cục II - Bộ quốc phòng lại có thể "quên" được. Do vậy, giai đoạn mà mạng lưới Mafia của Phạm Văn Phương đang tìm cách hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình ở thời điểm quan trọng, quyết định nhất thì chính là lúc lộ diện vai trò của Tổng cục II. Lúc đó, Phương và Đan đều có phần lúng túng (dù là không bất ngờ) vì kế hoạch của mình có thể bị bại lộ hoặc phải thay đổi, lúc này bọn chúng phải tính đến việc phải phối hợp với Tổng cục II để hướng sự việc sang một chiều hướng khác. Do phối hợp với Tổng cục II nên nhiều yếu tố mới đã xuất hiện, từ đó sự việc trở nên phức tạp và ngoài tầm kiểm soát của Phương - Đan, nhưng cũng lại mở ra một âm mưu mới táo bạo hơn, có lợi hơn cho Phương - Đan (âm mưu hạ bệ ông Nguyễn Trọng Minh, chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau vụ án này) !?
Đây là yếu tố quyết định của vụ án này, và cũng chính từ Tổng cục II đã phát ra nhiều thông tin đặc biệt rất bất lợi đến ông Trịnh Vĩnh Bình (đến bây giờ cũng khó khẳng định được những thông tin này là thật hay "dỏm" như những thông tin mà Tổng cục II đưa ra về ông Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo cao cấp khác ?). Những diễn biến dưới đây , tôi cũng xin để trả lời cho nguyên nhân tại sao mà ông Trọng Kim, chủ bút tờ báo Ngày nay ở Houston, Texas - Hoa Kỳ, không biết được tại sao mà ngay cả khi đã có bút phê của thủ tướng chính phủ Việt Nam - Phan Văn Khải - rồi mà bên Bộ công an họ vẫn ra lệnh khởi tố, bắt giam ông Trịnh Vĩnh Bình (xin xem thêm trong phỏng vấn ngày 15/5/2005 của Đài RFA, BBC hoặc các trang Web: www.ykien.net, www.doi-thoai.com, www.danchimviet.com ...). Và qua đây tôi cũng xin làm rõ một số chữ viết tắt (mà theo tôi là không cần thiết), và một số điều chưa rõ trong "Thư gửi đồng bào cả nước" của tác giả Nguyễn Thiện Tâm đăng trên rất nhiều báo chí Hải ngoại thời gian gần đây, ở phần nói về vụ án của ông Trịnh Vĩnh Bình (xin đọc trên trang Web: www.vnn-news.com ra ngày 18/5/2005). Việc này ông Trọng Kim cho rằng: là do thế lực và vây cánh của thứ trưởng Bộ công an - Nguyễn Khánh Toàn - quá mạnh. Thực chất, không phải là như vậy, mặc dù tôi cũng khẳng định rằng ông Phương - Đan có quan hệ rất thân thiết với ông Nguyễn Khánh Toàn (thậm chí việc ông Nguyễn Khánh Toàn mất ghế Bộ trưởng công an sau này cũng do vụ án "Phương Vicarent" mà liên lụy), thế nhưng lúc đấy ông Lê Minh Hương là Bộ trưởng - Ủy viên Bộ chính trị, quyền lực rất mạnh nếu muốn làm cũng không thể làm được gì, đấy chính bởi vì đã có bàn tay của Tổng cục II - Bộ quốc phòng dính vào, thậm chí là quyết định toàn bộ vụ án.
Rất ít khi có một vụ án kinh tế mà lại phức tạp như vụ án này. Cần phải nói rõ thêm, về vụ án này đã có mấy chục cá nhân liên quan được cơ quan công an thẩm vấn, điều tra. Trong số các bị cáo, ngoài ông Trịnh Vĩnh Bình là bị cáo chính, còn một nhân vật cũng được rất nhiều người biết đến, đấy chính là ông Lê Quang Luyện, tiến sĩ hóa học, đã từng là thư ký riêng của Chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; gia đình bà Hương, vợ ông Luyện, lại có quan hệ với bà phó chủ tịch nước Việt Nam lúc đó là Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Mạnh Cầm (lúc đó mới chỉ là Bộ trưởng Bộ ngoại giao). Từ đó đã nảy sinh ra rất nhiều mối quan hệ, nhiều sức ép từ nhiều phía. Bằng con đường ngoại giao, chính phủ Hà Lan đã có công hàm cho chính phủ Việt Nam. Thường vụ Bộ chính trị Việt Nam đã phải họp mở rộng bốn lần về vụ án này. Theo quan điểm ngoại giao, ông Phan Văn Khải và bà Nguyễn Thị Bình (đã từng là bộ trưởng ngoại giao và trưởng phái đoàn đàm phán của CPLTCHMN Việt Nam tại Pari) đề nghị đình chỉ vụ án và giải oan cho ông Trịnh Vĩnh Bình. Ngược lại, ý kiến của ông Lê Khả Phiêu, Lê Minh Hương và đặc biệt người tỏ ra quyết liệt, gay gắt nhất là ông Phạm Thế Duyệt (người mà tác giả Nguyễn Thiện Tâm viết tắt là PTD, còn ba người kia nữa là ông Châu Văn Mẫn - giám đốc công an tỉnh Bà rịa - Vũng tàu, Lê Văn Dỹ - bí thư tỉnh ủy, sau này bị khiển trách và đưa ra làm Phó Ban kinh tế Trung ương, và Phạm Văn Phương) là phải kiên quyết xử lý. Nhưng từng ý kiến của các vị Ủy viên Bộ chính trị ấy đều không có tính quyết định bằng các chứng cứ của Tổng cục II đưa ra, họ khẳng định rằng Trịnh Vĩnh Bình vào Việt Nam là để hoạt động gián điệp, núp dưới cái "vỏ" doanh nhân. Tổng cục II đã đưa ra hàng loạt những ghi chép theo dõi về các hoạt động của ông Trịnh Vĩnh Bình, một trong những mục tiêu của Trịnh Vĩnh Bình là mua chuộc các cán bộ cao cấp nhất, mà cụ thể Tổng cục II đưa ra dẫn chứng về một cuộc sắp đặt của ông Trịnh Vĩnh Bình tiếp xúc ông Phan Văn Khải, cũng như việc ông Trịnh Vĩnh Bình đã dùng tiền hối lộ (mà theo tổng cục II là để mua chuộc, khống chế) ông Nguyễn Trọng Minh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà rịa - Vũng tàu (sau này ông Minh cũng bị mất chức Chủ tịch vì vụ việc này) (người viết chỉ đưa ra các chi tiết theo các tài liệu có được, điều này chắc chắn ông Trịnh Vĩnh Bình là người biết rõ nhất và là đúng sai như thế nào ?). Về phía bà Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Mạnh Cầm cũng được Tổng cục II cho biết những mối quan hệ và tiếp xúc với gia đình ông Lê Quang Luyện, do vậy ông Khải, ông Cầm và bà Bình gần như "chết cứng", không thể nói được gì nữa. Vậy là từ một âm mưu tống tiền rồi chuyển thành một vụ án kinh tế, một vụ án kinh tế lại được biến ra thành một vụ án chính trị. Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã phải trực tiếp chỉ đạo vụ án. Tuy nhiên, cả phía an ninh quân đội và công an đều cho rằng họ đã "bắt non" ông Trịnh Vĩnh Bình, vì vậy họ phải xử theo một vụ án kinh tế (chứ không phải là "hình sự hóa quan hệ kinh tế" như ông Trịnh Vĩnh Bình đã trả lời phỏng vấn báo chí). Vậy là việc ông Trịnh Vĩnh Bình bị kết án là việc không thể tránh khỏi và là một "vở kịch" đã được Tổng cục II viết sẵn rồi, các công việc thủ tục pháp lí tiếp theo chỉ còn mang tính chất hợp pháp hóa cho cái "vở kịch" đó thôi.
Nhưng sau khi ông Trịnh Vĩnh Bình đã bị kết án và bắt giam rồi thì lại xảy ra một "tấn tuồng" khá vụng về của cơ quan an ninh Việt Nam và "tấn tuồng" ấy đã để lại hậu quả đến hôm nay. Đấy chính là việc "để thoát" ông Trịnh Vĩnh Bình, cần xem lại các báo chí Việt Nam viết về sự kiện đó, các báo đưa tin: "Trịnh Vĩnh Bình đã bỏ trốn khi cơ quan công an di lí từ Tân Sơn Nhất ra Nội Bài - Hà Nội" (đào thoát trên máy bay mới lạ chứ! Thật là một "trò hề" quá vụng về!). Việc này, gần đây tất cả các bài báo và trả lời phỏng vấn của ông Trịnh Vĩnh Bình đều không đề cập đến. Có thể vì lí do nào đó mà ông Trịnh Vĩnh Bình đã né tránh điều này, chỉ duy nhất hai lần ông Trịnh Vĩnh Bình và ông Trọng Kim nhắc đến sự việc này với từ "đào thoát" mà không nói gì thêm. Tôi chắc chắn rằng ông Trịnh Vĩnh Bình có thể viết sách bán được về cái vụ "đào thoát" của mình. Tôi cũng đề nghị ông Trịnh Vĩnh Bình cần công khai tất cả những chi tiết này, vì nó sẽ có lợi hơn cho ông. Theo một thông tin tuyệt mật được phía Bộ công an tiết lộ thì âm mưu đào thoát của ông Trịnh Vĩnh Bình lại là một kế hoạch được thỏa thuận ngầm của Tổng cục II. Rất may khi ông Trịnh Vĩnh Bình đã nghĩ là: "sau một thời gian tôi được tại ngoại, tôi cảm thấy là có nguy cơ tôi sẽ bị bắt lại và đưa vào tù và có thể tôi sẽ bị chết. Do đó, với hoàn cảnh đó, tôi phải đào thoát khỏi Việt Nam". Bởi vì, theo kế hoạch đó của Tổng cục II, việc họ bắt và xử ông là không có cơ sở, trái với luật pháp Quốc tế và Việt Nam. Do vậy, các Chính phủ và tổ chức Quốc tế sẽ can thiệp và nếu sự việc vỡ lở lúc đó sẽ dẫn đến những hậu quả lớn hơn trên trường Quốc tế. Vậy thì, cách tốt nhất là họ để ông "đào thoát" và sau đó sẽ tìm cách thủ tiêu ông, lúc đó sẽ chẳng có ai phải chịu trách nhiệm về vụ án của ông cũng như mạng sống của ông nữa. Nếu có một tổ chức điều tra Quốc tế nào đó có thể điều tra ra thì đấy cũng chỉ như một vụ án hình sự thanh toán lẫn nhau của các băng nhóm giang hồ mà thôi. Những linh tính đã mách bảo cho ông Trịnh Vĩnh Bình và cứu ông thoát khỏi cái chết trong tay của Tổng cục II. Phải chăng, đây là một trong những trường hợp may mắn khá hi hữu, hay là khi ông Trịnh Vĩnh Bình tiết lộ rõ mọi chuyện thì người ta sẽ lại được thấy thêm những bộ mặt phản trắc trong nội bộ Tổng cục II ?
Từ vụ án này người ta lại thấy bản chất cực kỳ thâm độc của cơ quan An ninh cộng sản - Tổng cục II. Nhưng hơn tất cả là người ta nhận thấy sức mạnh ghê gớm của nó, nó có thể điều hành tất cả các vị trí, chức vụ cao nhất trong Đảng, trong Chính phủ, kể cả các ủy viên Bộ chính trị. Nó có thể can thiệp vào mọi công việc và quyết định mọi sự việc theo ý mình. Sau vụ này cũng cần phải nói thêm là viên trung tá phụ trách Tổng cục II ở Bà Rịa - Vũng Tàu là Võ Minh Thắng (biệt hiệu là Thắng "què") đã được phong quân hàm lên chức thượng tá.
Cuối cùng, điều gì cần rút ra sau vụ án này ? Dù ông Trịnh Vĩnh Bình có thắng hay thua trong vụ án này thì nhiều bài học rất xót xa cũng đã và sẽ được rút ra từ các bên, mà những nguyên nhân của nó lại chính xuất phát từ cơ quan an ninh - Tổng cục II, Bộ quốc phòng Việt Nam, một cơ quan đã gây ra quá nhiều vụ án, tai tiếng từ quá khứ và hiện tại rồi sẽ ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc. Nhà nước Việt Nam thì bị tai tiếng, mất uy tín trên trường Quốc tế. Chính quyền Việt Nam thì bị mất đi một số cán bộ do bị họ chụp mũ, vu khống, cưỡng bức. Các cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp, những người không thể tự mình có thể đối phó với thế lực của họ thì bị tù đày, oan ức, sạt nghiệp và không ít người bị thủ tiêu, bức tử. Và điều gì nữa sẽ xảy ra nếu ông Trịnh Vĩnh Bình sẽ thắng kiện trong vụ kiện sắp tới (mà cá nhân tôi tin chắc rằng ông ta sẽ thắng kiện) ? Ông Trịnh Vĩnh Bình cũng đã khẳng định rằng số tài sản ban đầu mà ông đầu tư vào Việt Nam chỉ tổng cộng trên dưới 4 triệu Mỹ kim; tất nhiên con số 100 triệu Mỹ kim của ông Bình và luật sư của ông đưa ra yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải bồi thường cũng phải rất có cơ sở, vậy số tiền chênh lệch lên đến 96 triệu đô la Mỹ, có nghĩa là phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ gấp 24 lần giá trị ban đầu. Một trăm triệu đô la Mỹ, đâu phải là một khoản tiền nhỏ ? Một khoản tiền rất lớn đối với mọi quốc gia, và đối với Việt Nam lại càng là một số tiền khổng lồ. Ở Việt Nam, với số tiền đó có thể xây dựng được hơn 200 trường học khang trang, hiện đại; khoảng 30 bệnh viện lớn. Số tiền đó có thể giúp cho khoảng 160.000 hộ gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo. Và nếu chia đầu người 82 triệu dân Việt Nam phải ghánh chịu thì già trẻ, lớn bé mỗi người đều phải đóng góp gần 20.000 đồng mới đủ để trả cho ông Trịnh Vĩnh Bình, chưa tính được án phí sẽ là bao nhiêu nữa.
Thật là khủng khiếp! Thật là đáng căm giận! Số tiền đó ai sẽ phải trả ? Chính phủ Việt Nam ư ? Chẳng có Ngân sách quốc gia nào cả, đấy chính là tài sản của nhân dân Việt Nam đó. Tất cả một đồng bạc nào của đất nước Việt Nam cũng đều do nhân dân lao động làm ra và đóng góp cả. Hết vụ kiện của ông Letard kiện Liên đoàn bóng đá Việt Nam số tiền 197.000 Mỹ kim, rồi lại đến vụ hãng hàng không quốc gia Việt Nam Airline bị kiện bồi thường khoảng 5 triệu đô la Mỹ, rồi lại đến vụ kiện của ông Trịnh Vĩnh Bình sắp tới đây. Đảng cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam sẽ lấy đâu ra tiền để bồi thường những khoản tiền đấy (dù chỉ là chi phí theo hầu kiện và án phí)? Đảng cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam làm gì có "của hồi môn" nào để lại mà tự ghánh chịu thiệt hại ? Tất nhiên những đồng tiền ấy là của NHÂN DÂN rồi! Thế thì, ai cho phép Đảng cộng sản Việt Nam được tự ý sử dụng những đồng tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân như vậy ? Ai cho phép Đảng cộng sản Việt Nam dùng mồ hôi của người lao động để đóng cái khoản "tiền ngu" cho mình như thế ? Tại sao báo chí Việt Nam và những ông luật gia, luật sư lại chỉ nói đến việc ấy một cách vô cảm, vô trách nhiệm như là một "bài học kinh nghiệm"? Nhân dân Việt Nam đâu có cần và đâu có làm ra những "bài học kinh nghiệm" đó ??
Hay phải chăng những đồng tiền đó không phải là mồ hôi, nước mắt của nhân Việt Nam? Hoàn toàn không thể như vậy được, chẳng qua là do người dân không được biết sự thật đó thôi. Nhân dân Việt Nam cần phải biết sự thật! Những nhà hoạt động dân chủ, những người có khả năng và phương tiện để tuyên truyền đến dân chúng, cùng tất cả những người dân yêu nước Việt Nam, phải vạch rõ những sự thật này cho mỗi người dân trong nước được biết đến. Trách nhiệm là của tất cả mọi người, nếu chúng ta không muốn nhìn thấy bất công, nếu chúng ta không muốn đất nước và nhân dân phải chịu thiệt hại, nếu chúng ta không muốn lại tái diễn những sự kiện tương tự, chúng ta phải có trách nhiệm thông báo và giải thích rõ những sự kiện này đến mỗi người dân lao động Việt Nam ? Tại sao các tổ chức đối lập ở Hải ngoại không lên tiếng đấu tranh với Chính phủ Việt Nam về những sự kiện này ? Phải chăng là họ không cảm thấy thương xót cho tài sản, mồ hôi nước mắt của đồng bào mình đã bị Nhà nước cộng sản xâm phạm ? Tại sao những nhà hoạt động dân chủ trong và ngoài nước không lên tiếng đấu tranh với một sự việc quá rõ ràng và không thể bưng bít được (so với vụ án Tổng cục II mà lâu nay vẫn tốn nhiều giấy mực nói đến)? Phải chăng các nhà hoạt động dân chủ cho rằng vụ việc này không liên quan đến đấu tranh dân chủ, không thiệt hại đến đồng bào và cá nhân mình ? Còn chờ gì nữa ? Đã đến lúc cần phải tự cảnh tỉnh và tự vấn mình!!
Bài viết này tôi cũng xin gửi đến toàn thể đồng bào Việt Nam ở trong nước và Hải ngoại để chúng ta được biết thêm sự thật đằng sau bức màn đen tối của chế độ cộng sản Việt Nam. Tôi xin nhờ đến các cơ quan đài, báo Việt Nam ở Hải ngoại và đài, báo quốc tế có quan tâm đến sự việc này giúp tôi chuyển bài viết này đến đồng bào Việt Nam ở trong nước và trên khắp Thế giới. Tôi cũng rất mong sẽ nhận được những ý kiến của ông Trịnh Vĩnh Bình để khẳng định thêm tính trung thực về những tư liệu mà tôi đưa ra, đồng thời cũng rất mong muốn rằng ông Trịnh Vĩnh Bình sẽ cho các cơ quan báo chí và đồng bào Việt Nam được biết thêm những chi tiết về cuộc "đào thoát" của mình, cùng những thủ đoạn đen tối của cơ quan an ninh cộng sản đã áp dụng đối với ông. Tôi cũng sẽ xin cung cấp thêm những thông tin riêng mà mình đang có liên quan đến vụ án mà ông đang theo đuổi, nếu ông thấy cần thiết.
Xin hẹn trở lại với độc giả ở một bài viết sau, nói về hậu quả của vụ án Bình Châu (Trịnh Vĩnh Bình) đã để lại cho gia đình ông Phạm Văn Phương và Ngô Chí Đan, cũng chính là một vụ bê bối chính trị trong bộ máy cộng sản được ém nhẹm, ngụy trang dưới cái vỏ "kinh tế" để lừa bịp che mắt nhân dân.
Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 25/5/2005
SỰ THẬT VỀ "VỤ ÁN PHƯƠNG VICARRENT"
Trần Quốc Hoàn
Điều quan trọng nhất trong một xã hội cộng sản mục nát, tăm tối và hỗn độn mà người ta cần biết đến, đấy chính là: Sự thật. Một sự thật hiển nhiên, chính xác sẽ có giá trị và cần thiết hơn hàng triệu lần những sự giả dối, trí trá và phỉnh lừa của cả guồng máy cộng sản đang cưỡng bức, nhồi nhét vào đầu óc nhân dân Việt Nam. Vì vậy, điều tôi muốn gửi đến các quí độc giả và thính giả là những sự thật bị che dấu đằng sau những vụ án lớn, những bê bối kinh tế cũng như chính trị của nhà nước cộng sản Việt Nam. Những sự thật này cũng không phải là sở hữu của riêng ai, và tất nhiên cũng không phải chỉ một vài người được biết, còn có thể nói rằng một số rất đông những người có liên quan đến các cơ quan an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật của cộng sản đều nắm rõ những sự việc này. Thế nhưng, vì nhiều lí do khác nhau mà những sự thật đó chưa bị phanh phui, chưa được tiết lộ. Với riêng cá nhân người viết thì lí do quan trọng nhất đó chính bởi vì để đảm bảo an ninh cá nhân trong một xã hội chồng chéo những tai mắt của hệ thống an ninh cộng sản, người viết chưa có phương pháp nào, phương tiện nào để phổ biến rộng rãi nhất những sự thật này cho toàn thể nhân dân Việt Nam được biết đến, để vạch rõ bộ mặt thật sự của chế độ cộng sản. Đấy cũng chính là lí do mà lâu nay người viết vẫn đắn đo, ưu tư và không đưa rất nhiều những sự thật đó ra ánh sáng.
Ngay sau khi gửi bài viết "Tổng cục II - vai trò quyết định trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình" đến các cơ quan đài-báo, người viết đã nhận được rất nhiều thư từ trao đổi, góp ý, yêu cầu, đặc biệt là quan tâm đến một số thông tin của các vụ án quan trọng đã từng xảy ra trong quá khứ như "vụ án Tân Trường Sanh", "vụ án Tăng Minh Phụng", "vụ án thủy cung Thăng Long", "vụ án Năm Cam", "vụ án Lã Thị Kim Oanh", "vụ án Phương Vicarrent", "vụ án tham nhũng tại Petro Việt Nam", "vụ án Mai Văn Dâu" ..., và gần đây là vụ của Tổng công ty lắp máy Việt Nam Lilama cũng đang được báo chí trong nước khơi lại (cơ quan điều tra đã vào cuộc từ lâu rồi). Thật ra, tất cả các vụ án này và nhiều vụ việc khác nữa đã bị Chính phủ Việt Nam, cơ quan an ninh Việt Nam để "chìm xuồng", che đậy những sự thật rất quan trọng mà người ta đành chấp nhận gọi là "tảng băng chìm". Những Sự thật bị che dấu đó chính là những "bí mật" đầy dơ dáy, lưu manh, đốn mạt của chế độ cộng sản. Người viết đã có may mắn được biết khá chi tiết những "bí mật" ấy. Trước yêu cầu của các quí độc giả, người viết cũng thấy khó lòng giữ im lặng và giữ "bí mật" những thông tin ấy mãi.
Như đã hẹn với quí độc giả ở bài viết trước, trong bài viết này xin được gửi đến quí độc giả những sự thật đằng sau "vụ án Phương Vicarrent", những vụ việc khác cũng sẽ được thứ tự đề cập đến sau bài viết này. Người viết chỉ có một đề nghị duy nhất là: rất mong các quí độc giả sẽ giúp người viết chuyển tất cả những thông tin này đến đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước (đặc biệt là đồng bào ở trong nước, những con người phải chịu nhiều thiệt thòi trong một xã hội thông tin bị ém nhẹm, cưỡng bức, khép kín) với khả năng cao nhất của mình để đông đảo nhân dân lao động Việt Nam đều được biết đến.
Trở về vụ án Phạm Văn Phương, tên thường được gọi khác là Phương "xoăn", Phương Vicarrent - một tên "đại lưu manh" được sản sinh ra từ bộ máy của chế độ cộng sản, là nguyên mẫu và là bằng chứng xác thực nhất của sự sa đọa, tham nhũng, lừa đảo, bè phái, mafia cộng sản. Xuất phát từ một kẻ vô học, nghề nghiệp chỉ là lái xe, Phương đã có một quá trình luồn lọt, quan hệ, cộng với một chút ít may mắn để trở thành Phó tổng giám đốc công ty liên doanh Vicarrent (mà thực tế là Tổng giám đốc vì Tổng giám đốc người Hồng Kông là Lau Chau Chi đã không làm việc ở liên doanh này từ lâu). Nhưng lại không chỉ bằng lòng với vị trí như vậy, sau một thời gian có được "tí chức", "tí quyền", có các mối quan hệ, được mặc sức tung hoành, cộng với thế lực của người em rể mình là Trưởng phòng an ninh điều tra - trung tá Ngô Chí Đan, Phương bắt đầu nghĩ ra những mưu kế hại người và tư lợi cho mình. Những sự việc mà Phương Vicarrent và đồng bọn đã gây ra bao nhiêu thảm họa cho những người khác thì thật là không thể kể hết ra ở đây được và cũng sẽ làm cho độc giả lại phải mất thời gian với hàng trăm sự việc liên hệ khác mà không phải nội dung chính của bài viết này. Bài viết này chỉ xin nói về những chi tiết có liên quan và hệ lụy đến chính cuộc đời của Phạm Văn Phương khởi nguồn từ "vụ án Bình Hà Lan" đến "vụ án Phương Vicarrent".
Như trong bài viết "Tổng cục II - vai trò quyết định trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình" đã nhắc đến, xuất phát từ âm mưu ban đầu là hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình, sau đó với các chứng cứ từ Tổng cục II đưa ra là Trịnh Vĩnh Bình đã có những hoạt động thao túng các lãnh đạo địa phương mà cụ thể là hối lộ ông Nguyễn Trọng Minh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (sự việc này sau đó Nguyễn Trọng Minh đã phải làm bản tường trình với thường vụ Bộ chính trị và công nhận là đã nhận tiền Trịnh Vĩnh Bình "biếu"), chi tiết này đối với Phương và Đan thì cứ như là bắt được tiền từ trên trời rơi xuống (thật đúng là "phúc họa khôn lường"!).
Cũng cần nói thêm rằng: do đặc thù về địa lí, do trước đây Vũng Tàu là một đặc khu trực thuộc Trung ương nên các lãnh đạo của Vũng Tàu sau này đều được đưa ra Trung ương vào những vị trí lãnh đạo cấp cao nhất trong nghành công an như: Cao Đăng Chiếm, Lâm Văn Thê, Bùi Thiện Ngộ ..., chính vì vậy lực lượng công an Vũng Tàu từ đấy có uy thế và quyền lực đặc biệt tại địa phương. Cơ quan công an Bà Rịa - Vũng Tàu can thiệp vào rất nhiều những hoạt động hàng ngày của các cơ quan chính quyền khác, thậm chí họ còn thường xuyên đe dọa, bắt ép các cơ quan khác trong chính quyền phải làm việc theo sự chỉ đạo của họ. Do đó đã có một quá trình mâu thuẫn khá gay gắt giữa cơ quan công an và các cơ quan chính quyền địa phương, mà đến cả Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng là nạn nhân của họ, đã rất nhiều lần các chức sắc ở Ủy ban nhân dân bị họ đe dọa hoặc tìm cách khống chế.
Vào thời điểm ông Nguyễn Trọng Minh làm chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh rất phát triển. Ông Nguyễn Trọng Minh là một trí thức được đào tạo cơ bản tại Liên Xô cũ, có quá trình công tác liên tục, kinh qua các chức vụ quan trọng từ thấp đến cao, với khả năng sử dụng thông thạo nhiều ngoại ngữ, là một người thông minh, dám nghĩ dám làm, ông ta là một biểu tượng của giới lãnh đạo trí thức. Do đó ông Minh rất không vừa lòng với sự "can thiệp thô bạo", "hình sự hóa các quan hệ dân sự" của cơ quan công an. Lại là một người mang đậm bản chất Nam bộ, rất trực tính và thẳng thắn, ông Minh đã không hề giấu diếm sự khó chịu đó. Thậm chí, có lần vì bực giận trước những hành động của cơ quan công an, ông Minh đã không kềm chế được và đứng từ văn phòng Ủy ban chỉ sang bên cơ quan công an nói rằng "tụi chó đẻ đó (công an) nó có chừa ai đâu, không có tội nó cũng ép cho có để bắt bớ, làm tiền". Những lời nói này cùng với thái độ bộc trực của ông Minh đều đến tai cơ quan công an. Dù trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh và trụ sở công an cùng nằm trên một con đường và chỉ cách nhau có chưa đầy ba phút đi bộ nhưng một không khí đối lập rất nặng nề đã bao phủ lên hai cơ quan này. Chính vào giai đoạn đã nắm được một số chứng cứ cụ thể trong tay, Phó giám đốc công an, thủ trưởng cơ quan điều tra - Lâm Minh Chiến (sau này lên Giám đốc công an tỉnh) đã đứng giữa hội trường tuyên bố sau cuộc họp: "chủ tịch với phó chủ tịch cái gì, sắp bắt cả đến nơi bây giờ". Với Ngô Chí Đan thì lại là một âm mưu khác, được công nhận là khôn khéo và sắc sảo nhất trong đám "chó săn" đó, Ngô Chí Đan đang âm thầm bàn bạc cùng Phạm Văn Phương bày mưu hạm hại Trịnh Vĩnh Bình, Nguyễn Trọng Minh mà cái đích đạt được sẽ vừa là chính trị vừa là kinh tế, vừa là việc công vừa là thủ lợi cá nhân. Và cuối cùng cái màn kịch thứ nhất đã được hạ xuống như mọi người đã biết: Trịnh Vĩnh Bình thì bị kết án 11 năm tù giam, còn Nguyễn Trọng Minh thì bị kỉ luật, cách chức Chủ tịch tỉnh. Cũng cần phải nói thêm về sự việc này, trên phương tiện thông tin tuyên truyền và thông báo công khai, Bộ chính trị cộng sản chỉ nói đến việc kỉ luật Nguyễn Trọng Minh là do để mất đoàn kết nội bộ (giữa Minh và Lê Văn Dỹ - bí thư tỉnh ủy) chứ không dám nói đến nguyên nhân chính là do việc nhận hối lộ và quan hệ với Bình Hà Lan (mà thật ra là một đòn thanh trừng lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo cộng sản).
Lại nói thêm, trước khi "hạ" được Nguyễn Trọng Minh, Phạm Văn Phương đã tuyên bố sẽ "bố trí" cho Nguyễn Tuấn Minh lên thay chức Chủ tịch tỉnh, và sự thật đã diễn ra đúng như vậy, không biết chính xác trong "phi vụ" này Phương và Đan kiếm được bao nhiêu ? Chỉ biết rằng sau đó Phạm Văn Phương còn tiếp tục "bố trí" cho Nguyễn Tuấn Minh vào tới Trung ương ủy viên, mà riêng vụ này Phương đã công khai là Nguyễn Tuấn Minh mang đến tận nhà Phương số tiền tương đương 100.000 Mĩ kim, có lẽ việc này thì những người công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Bà Rịa - Vũng Tàu và Hà Nội không ai là không biết. Cũng chính vì thế, sau khi kết thúc "vụ án Phương Vicarrent" thì Nguyễn Tuấn Minh cũng bị kỉ luật và cách chức Chủ tịch. (Thật đúng là một chuỗi những vụ việc có gắn kết với nhau rất lo-gíc và cũng là một bằng chứng rất sinh động của luật nhân quả.)
Vậy là Nguyễn Trọng Minh đã bị Phạm Văn Phương cho một "vố" đau, chỉ một "chiêu" là đã tiêu tan mọi tiền đồ, sự nghiệp (bởi vì Minh là một cán bộ có năng lực, độ tuổi còn nằm trong cơ cấu, đang chuẩn bị đưa vào Ủy viên trung ương Đảng cộng sản và sẽ đảm nhiệm vị trí lãnh đạo cao hơn). Và mối thù này chắc chắn sẽ không thể hóa giải. Chính từ đây câu chuyện được "viết" tiếp với màn kịch thứ hai.
Sau khi bị cơ quan công an cho "đo ván" và "hạ nhục", cái chí của "kẻ quân tử" lúc này chắc chắn sẽ là phải báo thù. Mà "quân tử báo thù mười năm chưa muộn". Minh đã cắn răng chịu nhục, chấp nhận bỏ ngoài tai mọi điều tiếng và làm ra mặt bình thản, bằng lòng với mọi việc. Trong thời gian đó chính là lúc Minh đang qui tụ lại lực lượng, tay chân tin cậy, ngấm ngầm sử dụng những kẻ thân tín nhất và những kẻ trước đây đã nhận những ơn huệ của Minh trong thời gian tại vị để âm mưu một kế hoạch báo thù.
Trong số những kẻ chịu ơn huệ của Nguyễn Trọng Minh trước đây có một người tên là Nguyễn Minh Hoàng - giám đốc Công ty xây dựng và phát triển đô thị (UDEC). Nghe thì tưởng là Hoàng cũng chỉ bình thường như hàng trăm ngàn các vị giám đốc doanh nghiệp khác, nhưng thật ra không phải vậy. Chỉ cần nhìn vào số tài sản mà Công ty xây dựng và phát triển đô thị của Hoàng đã là chủ sở hữu lên đến hàng vài nghìn tỉ đồng, làm Chủ đầu tư hoặc tham gia thực hiện những dự án trị giá hàng trăm tỉ, hàng nghìn tỉ đồng, thì đủ hiểu rằng Hoàng không phải tay vừa (chỉ riêng hai dự án, trong số hàng trăm dự án mà UDEC đã thực hiện, là khu công nghiệp Đông Xuyên và Phú Mĩ I thì tổng giá trị dự án đã là 1.370 tỉ - một nghìn ba trăm bảy mươi tỉ đồng). Quan hệ của Hoàng có thể đến thẳng một số vị Bộ trưởng và Thủ tướng, phó thủ tướng Chính phủ (người viết tự thấy rằng không cần thiết phải dẫn chứng ra đây những sự việc cụ thể, nếu độc giả nào còn cảm thấy nghi ngờ về chi tiết này thì quả thật là đã không am hiểu tình hình thực tế trong nước: tại Việt Nam, là một doanh nghiệp sở hữu những khoản tiền lớn như vậy mà không "mua" được hoặc không "ăn chia" được với mấy vị ấy thì mới là lạ!). Thấy rằng sức mạnh của Hoàng đã ghê ghớm như vậy, vậy mà Hoàng cũng chỉ là "nạn nhân" trong "vụ án Phương Vicarrent", đủ biết rằng thế lực và phe cánh của Phạm Văn Phương mạnh như thế nào.
Và cũng vì một nguyên nhân nữa nằm đằng sau đó, đấy chính là sự bàn bạc của Nguyễn Trọng Minh và Nguyễn Minh Hoàng để đưa Phạm Văn Phương cùng Ngô Chí Đan vào vòng lao lí. Có những lí do khác nhau để Minh và Hoàng cùng nhau thực hiện "vụ án" này, trong đó phải kể đến hai nguyên nhân chính, thứ nhất: dù là những người nắm trong tay những sức mạnh kinh tế và chính trị mạnh nhất của địa phương Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng cả Minh và Hoàng đều là những nạn nhân trực tiếp của Phạm Văn Phương, cho nên cùng có một mối thù chung với Phạm Văn Phương; thứ hai là: trước đây khi Minh còn đương chức, đương quyền thì Công ty xây dựng và phát triển đô thị của Hoàng chính là đơn vị nhận được nhiều ưu ái và bổng lộc của Minh nhất. Hàng loạt các công trình chỉ định thầu hoặc đã được thu xếp trước cho Công ty xây dựng và phát triển đô thị với giá trị cao gấp rưỡi tới gấp hai, ba lần giá trị thi công thực tế. Để độc giả hiểu rõ hơn, xin lấy ví dụ điển hình cụ thể như dự án khu công nghiệp Đông Xuyên và Phú Mĩ I, ngay giai đoạn ban đầu đã bị phát hiện giá trị thực hiện là 531 tỉ (531.000.000.000 vnđ) không qua đấu thầu. Sau này Chính phủ cộng sản lại cùng Hoàng "xẻ thịt" và "xoá sổ" vụ tham nhũng mấy trăm tỉ đó bằng một "tuyệt chiêu" rất đẹp mắt là: để công ty UDEC bị thua lỗ, thực hiện dự án không hiệu quả, không thể tiếp tục thực hiện dự án (có một cụm từ rất "hay" được sử dụng trong văn bản này là: "UDEC đã không nhiệt tình công tác"), sau đó họ lại "đẻ" ra một cơ quan tên là IZICO để nhận bàn giao lại tất cả những hậu quả này, thế là "xí xoá", thế là "chìm xuồng". Quí độc giả có thể tham khảo qua sự việc trên ở các báo chí Việt Nam, hoặc báo điện tử Việt Nam net ngày 12/6/2004 (con số mà Việt Nam net đưa ra là 400 tỉ là không chính xác, con số được xác định lại sau này là 531 tỉ đồng). Còn "đẹp mắt" hơn nữa là sau khi đã rút ruột toàn bộ những số tiền khổng lồ mà UDEC tham nhũng trong suốt cả một quá trình dài, để lại hàng trăm vụ bê bối và một cái tài khoản mang dấu âm (-), họ lại đạo diễn tiếp để xoá sạch dấu vết và cùng nhau "hạ cánh an toàn" bằng cách cổ phần hoá UDEC. Cái chế độ cộng sản đã ăn cướp trắng trợn và tàn bạo mồ hôi, nước mắt và cả máu của người lao động Việt Nam như thế đấy. Khi chế độ cộng sản sụp đổ thì chỉ riêng cái khoản tham nhũng của Minh Hoàng ở Bà Rịa - Vũng Tàu người ta cũng có thể thống kê lên đến hàng nghìn tỉ đồng. Vì vậy, làm sao mà Hoàng lại không xả thân vì Nguyễn Trọng Minh được.
Sau cùng, lại vẫn phải nói đến vai trò của Tổng cục II. Như trước đây đã nói, quan hệ của Phạm Văn Phương là cực kì rộng, đặc biệt là trong các cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án (chưa cần đề cập đến các quan hệ với bên Quốc hội, Chính phủ và Đảng cộng sản). Phương đã chơi là phải quan hệ với cỡ Bộ trưởng, thứ trưởng, Viện trưởng chứ không phải nhỏ. Trước đây, khi Bùi Thiện Ngộ còn là Bộ trưởng công an, đã không ít lần Phương từng đánh xe riêng chở ba Ngộ đi chơi. Phương đi lại với Nguyễn Khánh Toàn, Lê Thế Tiệm, Hoàng Ngọc Nhất còn hơn người trong gia đình, đến tận nhà riêng ăn uống, nghỉ ngơi. Nhiều lần người ta cũng nhìn thấy Phương gặp gỡ, ăn cơm với Hà Mạnh Trí (viện trưởng Viện kiểm sát tối cao), được biết Trí cũng rất quí Phương về tài ăn nói và giao thiệp (tất nhiên quí nhất là cái khoản "bao thư"). Với Trịnh Hồng Dương (chánh án Tòa tối cao trước đây) thì quan hệ lại càng dễ dàng, đơn giản hơn. Còn các cán bộ cấp dưới khác ở trong nghành công an, kiểm sát, tòa án thì chỉ coi như đàn em để Phương sai bảo. Chính vì vậy để "đụng" được vào Phương thật cũng không phải dễ. Minh và Hoàng đã phải nghĩ nát óc về vấn đề này, nếu dùng đến mấy cái cơ quan bảo vệ pháp luật trên để đánh Phương thì chẳng khác nào đưa mình nộp mạng cho Phương, nhất là cạnh Phương lại luôn có Ngô Chí Đan trấn giữ một vị trí cực kì quan trọng trong công an Bà Rịa - Vũng Tàu để làm tai mắt bảo vệ Phương. Đối đầu với Phương mà sảy tay thì coi như là chui vào miệng cọp. Vậy là Minh và Hoàng đã đi đến bài toán quyết định: phải dùng Tổng cục II - Bộ quốc phòng.
Ở đây, chúng ta cũng cần hiểu thêm về quan hệ giữa quân đội và công an ở Việt Nam từ trước tới giờ lúc nào cũng như nước với lửa. Hai cơ quan này mang tiếng là hỗ trợ với nhau và cùng mang một trách nhiệm là bảo vệ an ninh đất nước, nhưng thực chất họ chỉ "bằng mặt chứ không bằng lòng" với nhau. Việc Phạm Văn Phương có quan hệ thân thiết với các quan chức trong nghành công an lại cũng chính là chỗ làm cho Phương rất khó kết thân được với các quan chức của Tổng cục II - Bộ quốc phòng. Thật ra là Phương cũng đã nhiều lần tìm cách tiếp xúc và kết thân, song đều bị từ chối, cuối cùng thì Phương cũng chỉ biết được vài ba "con tép riu" trong Tổng cục II để thỉnh thoảng "hóng hớt" các thông tin và đem ra dọa nạt những kẻ yếu bóng vía. Ngược lại, Tổng cục II đã có một thời gian nắm được các thông tin báo về các quan hệ của Phạm Văn Phương với rất nhiều quan chức cao cấp nhất trong Chính phủ, Đảng cộng sản nên họ đã có ngấm ngầm theo dõi những hành tung của Phương mà Phương lại không hề biết.
Trong khoảng thời gian dài làm lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Trưởng ban kinh tế đối ngoại, phó chủ tịch và chủ tịch), Nguyễn Trọng Minh đã có biết được những báo cáo của cơ quan an ninh quân đội về Phạm Văn Phương (trong một báo cáo họ ghi rõ: "Phương là một phần tử cơ hội ...", "... lợi dụng uy tín của các lãnh đạo cấp cao"). Từ đó, Minh và Hoàng khẳng định rằng: muốn "hạ" được Phương thì rứt khoát phải dùng lực lượng của Tổng cục II. Nguyễn Minh Hoàng đã bỏ ra một số tiền khá lớn (theo thông tin người viết được biết là trên 200.000 Mĩ kim, hơn 3 tỉ đồng Việt Nam) để đặt vấn đề "thịt" Phương Vicarrent với lãnh đạo Tổng cục II. Đồng thời với số tiền trên là hàng loạt các chứng cứ liên quan đến các hoạt động phạm pháp của Phương mà Minh, Hoàng và các "tay chân" của mình thu thập được để hòng "hại chết" Phương. Bởi vì cả Minh và Hoàng đều hiểu rằng trong cuộc chơi này nếu chỉ sơ xuất một chút, hoặc không thẳng tay "hại chết" Phương thì đồng nghĩa với việc tự kết án tử hình cho mình. Ở thời điểm cuối năm 2001, đầu năm 2002 Hoàng đã nhiều lần bay ra Hà Nội để lo vụ này, Hoàng đã tiếp xúc được với lãnh đạo của Tổng cục II qua mối quan hệ của một người có tên là D. (người viết chưa kiểm chứng được có chính xác là tên này hay không?). Và tất nhiên với một khoản thù lao rộng rãi như vậy cùng với hàng loạt chứng cớ tội lỗi rất rõ ràng của Phương, Tổng cục II không thể từ chối "hợp đồng" này.
Và cũng là do "luật nhân quả", kẻ "gieo gió" là Phương thì cũng có ngày Phương phải "gặt bão". Đã quen với kiểu ăn cướp tiền thiên hạ rồi nên Phương cũng không thể tha cho Hoàng, đầu tiên là "xin đểu" ít tiền rồi sau đó lòng tham đã đẩy Phương đến mục đích "ăn cướp" của Hoàng số tiền lớn hơn. Không biết "trời xui đất khiến" thế nào mà Phạm Văn Phương lại bày ra cái cái trò ấy vào đúng lúc Hoàng và Minh đang ngồi "đợi thời" để ụp cái bẫy đó xuống đầu Phương.
Cơ hội ngàn năm mới có một lần cho Minh, Hoàng và Tổng cục II. Nhưng Tổng cục II mà đã làm thì kín lắm, không rườm rà, lộ liễu và "non tay" như bên công an khi "xía" vào vụ Trịnh Vĩnh Bình. Khi Phương cùng đồng phạm của mình là Nguyễn Thành Sơn giăng ra một cái bẫy để "làm tiền" Minh Hoàng là: có nhiều thông tin bất lợi cho Hoàng và công ty UDEC, nếu Hoàng muốn Phương can thiệp giúp để giải quyết êm mọi việc thì phải chi ra 100.000 USD để Phương "lo" giúp. Ngoài những tội trạng khác của Phương mà họ đã nắm trong tay, đây là cơ hội bằng vàng để Tổng cục II đưa Phương vào chỗ chết. Tổng cục II quyết định để Hoàng trực tiếp vào "cuộc chơi". Sự việc này binh pháp gọi là "gậy ông lại đập lưng ông", trong công việc thì người ta cho là "tai nạn nghề nghiệp", còn dân gian thì vẫn gọi là "chơi dao có ngày đứt tay", có nghĩa là cái bẫy mà Phương đưa ra với Hoàng sẽ sập xuống chính Phương. Với những phương tiện, thiết bị kĩ thuật đầy đủ, mạng lưới an ninh dày đặc, họ rất ung dung, từ từ để đưa con mồi vào tròng, với những chứng cớ quá chi tiết và thuyết phục mà một con "cáo già" như Phương cũng phải cúi đầu chịu tội. Cho đến khi bị những chiếc còng số tám khóa vào tay, Phương vẫn chưa hề biết được chuyện gì đã xảy ra với mình, tám cuốn băng ghi âm cùng với cả nhiều nhân chứng, vật chứng đều xuất hiện để kết tội Phương.
Lại phải nói thêm và làm sáng tỏ những chi tiết này. Ngày 23/3/2002, khi báo chí cộng sản đồng loại đưa tin là Phạm Văn Phương đã bị cơ quan công an bắt quả tang tại nhà hàng Song Ngư, số 70 đường Sương Nguyệt Anh, Sài Gòn, những người đã một lần từng được nghe đến danh của Phương đều giật mình. Trong nội bộ công an cũng bất ngờ, từ các vị thứ trưởng đến các vị Tổng cục trưởng, cục trưởng hàng ngày còn nhậu nhẹt, "chén chú chén anh" với Phương, còn cầm hàng đống tiền của Phương nghe thấy tin này mà toát mồ hôi, "nhột nhạt" trong người. Các lực lượng nghiệp vụ thì nháo nhác không biết bên bộ phận nào làm vụ này? Bên an ninh điều tra (A24) thì không hề biết gì, thôi thì cũng phải, việc này thì những người trong nghành cũng hiểu rồi, Đan còn đang ngồi đó thì làm sao để A24 làm được. Hay là lãnh đạo sợ để A24 biết nên bên an ninh kinh tế (A17) phải "chộp" ngay cho xong rồi mới chuyển hồ sơ sang cho cơ quan điều tra, thế nhưng A17 cũng có biết gì đâu. Hay là bên khối cảnh sát làm? Lại có người đoán là bên cảnh sát điều tra (C16) làm, nhưng bên cảnh sát điều tra cũng hoàn toàn không biết gì. Thế là lại phải gọi điện tìm hiểu khắp nơi, cả bên cảnh sát kinh tế (C15), cả bên cảnh sát hình sự (C14) (mà thật ra không bao giờ những vụ thế này mà lại để các cơ quan đó tham gia), rồi đến hỏi cả trinh sát ngoại tuyến cũng ngớ người ra, chẳng hiểu là bộ phận nào làm cả. Thế là, hết địa phương thì lại bảo là Bộ làm, Bộ lại bảo địa phương làm, chẳng biết đường nào mà lần cả. Mà chắc chắn rằng đến bây giờ nhiều bộ phận nghiệp vụ bên công an vẫn không hề biết đơn vị nào tham gia vụ này, hoặc là chỉ đoán già, đoán non lung tung. Các báo chí cũng chộp được vài tấm ảnh với mấy cái sắc phục màu xanh của bên an ninh, nhưng thật ra chỉ là mấy cái áo an ninh giả của nhân viên Tổng cục II mặc lên để "lòe bịp" Phương và mấy nhân vật công an nữa thì là được Tổng cục II gọi đến để hoàn tất nốt màn kịch sau khi họ đã kéo phông "hạ màn".
Cần phải tố cáo thêm về hành động bao che, thông cung của các báo chí của nghành công an. Tất cả các báo của bên công an từ Công an nhân dân, An ninh thủ đô, An ninh thế giới đến Công an TPHCM viết về vụ này đều có vẻ đầy đủ, khách quan, song thật ra chỉ có những người trong nội bộ mới biết rằng do vụ việc này là một vụ "đánh úp", "đánh lén", "đánh thuê"; mà tội phạm lại chính là những kẻ có quan hệ rất rộng với nghành công an và đang công tác trong nghành, cho nên các báo chí trong nghành công an lập tức đưa ngay những chi tiết rất quan trọng và đáng lẽ chưa thể công bố báo chí trong giai đoạn điều tra để Ngô Chí Đan và những kẻ đồng lõa, giúp đỡ, "bảo kê" cho Phương trong vụ này biết được và tìm cách "thoát thân" trước.
Các tờ báo khác như tờ Thanh Niên ra ngày 25/3/2002 viết về nội dung trong lệnh tạm giam của cơ quan công an đã ghi rõ tội danh của Phương: "hành vi lừa đảo đối tác trong hoạt động kinh doanh và có hành vi tống tiền". Chỉ một dòng này thôi thì đã lộ rõ âm mưu của một tổ chức đứng đằng sau vụ án này. Có nghĩa là ban đầu họ âm mưu với nhau định "hạ" Phương Vicarrent bằng các chứng cứ mà họ đã thu thập được là của "hành vi lừa đảo đối tác trong kinh doanh", giữa lúc đó thì lại phát sinh ra việc Phương bày ra màn kịch để ăn tiền của Hoàng, thế là họ bắt Phương vì chứng cứ của "có hành vi tống tiền". Cho nên sau này phiên tòa xử Phương Vicarrent có nói gì đến tội danh thứ nhất đâu mà chỉ khép vào tội chiếm đoạt tài sản thôi. Đây cũng là một sơ xuất đáng xấu hổ của Tổng cục II và Bộ công an, và cũng là một sơ xuất khó tránh khỏi trong hàng nghìn chi tiết của một vụ án. Chi tiết này là một bằng chứng xác thực cho sự thật mà nội dung bài viết này nêu ra.
Còn rất lâu sau đó thì báo Nhân Dân đã viết như thế nào ? Cần xem lại về bài viết trên báo Nhân Dân ra ngày 12/3/2004 của tác giả Vũ Hoàng Long. Cần phải trích nguyên văn một vài đoạn trong bài báo để độc giả sẽ thấy rõ được tác giả là một nhân viên của Tổng cục II (có thể bút danh giả hoặc mượn bút danh), và đã bị "lộ đuôi" về cái bản chất thật sự của vụ án bởi những chi tiết này: "Bối cảnh Nguyễn Minh Hoàng bị Phương lừa đảo bắt đầu từ cuối năm 1998, khi ông Nguyễn Trọng Minh thôi giữ chức Chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." (không ai "khảo" tự nhiên sao lại "khai" ra việc của ông Nguyễn Trọng Minh để làm gì thế? Có liên quan gì đến nội dung bài báo và có liên quan gì đến vụ án này đâu?); và đoạn này nữa: "Những vụ lừa đảo, cưỡng đoạt tài sản của Phương chỉ là một phần trong những hành vi phạm tội của y. Nhưng chỉ những hành vi phạm tội nói trên cũng đủ căn cứ để cơ quan chức năng truy tố y theo khung hình phạt cao nhất của hai tội danh: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cưỡng đoạt tài sản" (lại lòi cái đuôi của kẻ đang âm mưu hại người với những tội danh khác, song lại may mắn nắm được chứng cứ quan trọng hơn đủ để hại chết, thế là đã đủ để hoàn thành "hợp đồng đánh thuê" rồi nhé). Người viết khẳng định bài báo này phải là của những nhân viên Tổng cục II, những người đã mưu đồ dựng lên "vụ án Phương Vicarrent" và nắm rõ sự thật của vụ án. Mục đích của bài báo là để chống chế, bao biện cho cái điều vô lí mà họ đã làm và đang bị dư luận thắc mắc.
Thế là bản án 27 năm tù giam cho kẻ phạm nhân tóc chỉ còn một màu bạc trắng được hoàn thành. Nguyễn Trọng Minh và Nguyễn Minh Hoàng đã dùng Tổng cục II để chấm dứt cuộc đời của "Phương Vicarrent" ở trong tù như vậy đó.
Người dân Việt Nam thì có mấy ai biết được lại có vai trò của Nguyễn Trọng Minh trong vụ án này đâu. Thậm chí, đến bài viết này đã đưa toàn bộ sự thật ra ánh sáng, người đọc cũng chỉ thấy rất ít chi tiết đề cập đến tên ông ta. Rõ ràng trong vụ này Nguyễn Trọng Minh vừa là chủ mưu vừa là kẻ "ném đá dấu tay". Sự tính toán, sắp xếp và thực hiện của Minh rất kín đáo và khôn ngoan. Thế nhưng, có một điều mà không thể "khôn ngoan" được, đó chính là Minh đã "chơi" với Tổng cục II, mà "chơi dao thì sẽ có ngày đứt tay". Ngay sau khi Nguyễn Minh Hoàng tiếp cận và "ký hợp đồng" được với Tổng cục II thì cũng từ lúc đó toàn bộ mọi sự bàn tính, gặp gỡ của Minh với Hoàng cũng đã được Tổng cục II theo dõi, ghi chép rất đầy đủ. Đấy chính là những bằng chứng mà khiến Minh phải chịu làm con tin cho Tổng cục II suốt quãng đời còn lại của mình (có lẽ cái đám lãnh đạo cộng sản thì có đến hơn 90% phải chấp nhận làm con tin cho Tổng cục II tương tự như Minh, cho nên đến bây giờ có kẻ nào dám động đến nó đâu).
Nhưng mà, ở đời này có cái gì giữ kín được mãi đâu, "cái kim trong bọc lâu ngày cũng phải lòi ra". Những điều vô lí lại càng không thể lòe bịp thiên hạ được. Những người có trình độ về pháp luật chắc chắn đều nhận thấy: "có một cái gì đó không ổn" (mà thật ra là vô lí, trái pháp luật) trong vụ này. Rõ ràng trong vụ việc này Phạm Văn Phương là kẻ có tội và pháp luật phải trừng trị Phương, thế nhưng tất cả những người có trình độ pháp luật và cả toàn bộ các cơ quan tham gia tố tụng đều nhận thấy rằng: các tội danh ghép cho Phương (cưỡng đoạt tài sản và lừa đảo) là vô lí, không đúng bản chất sự việc, không đúng với những chứng cứ và lời khai của các bên (Viện kiểm sát và Tòa án cũng đành phải đọc cáo trạng và tuyên án theo cái bản của Tổng cục II đã viết sẵn mà thôi). Cả Phạm Văn Phương và luật sư của mình là ông Phan Trung Hoài ở cả hai phiên tòa sơ phẩm và phúc thẩm đều không công nhận tội danh này. Sự vô lí đó nằm ở chỗ nào? Cũng như sự vô lí ở trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình mà nếu như không tìm ra vai trò của Tổng cục II thì người ta đều không nhận ra được cái vô lí đó. Tất cả những sự thật trên đây đã trả lời cho cái sự vô lí đó. Bản chất của vụ án không phải là cưỡng đoạt tài sản, không phải là tống tiền, Nguyễn Minh Hoàng tự nguyện đưa tiền cho Phương cơ mà, vậy làm sao gọi là cưỡng đoạt được? Nói là Phương tống tiền Hoàng, điều này là không có cơ sở, Hoàng về kinh tế thì mạnh hơn Phương, chức vụ thì lớn hơn Phương, Phương lại không phải là quan chức nhà nước, không phải là cơ quan bảo vệ pháp luật, lại cũng không hề dùng đến sức mạnh hay quyền lực nào để đe dọa Hoàng (mặc dù là Phương có dùng Đan để "bóng gió" dọa Hoàng nhưng thực chất vị trí như Đan thì chưa thể dọa được Hoàng, và trong quá trình xét xử Đan cũng phủ nhận toàn bộ điều này, bằng chứng rõ nhất là cơ quan tố tụng không khởi tố Đan) vậy thì làm sao mà tống tiền được? Phương chỉ nói với Hoàng một cách rất thân thiện là: "có nghe dư luận thanh tra Chính phủ định thanh tra công ty và công an định bắt chú, chú nên đưa cho anh 100.000 USD để anh chạy giúp cho chú thoát tội", thế là Hoàng đưa tiền. Vậy thì rõ ràng rằng ở đây động cơ và bản chất của sự việc là "chạy tội", mà danh từ của pháp luật gọi là tội "hối lộ". Nhưng tội hối lộ lại phải có các yếu tố đưa hối lộ, nhận hối lộ và môi giới hối lộ. Từ đây nhận thấy rõ rằng Phương chính là kẻ "môi giới hối lộ", nhưng cái khó là vậy thì lại phải tìm cho ra cho được ông "đưa" và ông "nhận" hối lộ. Nếu như vậy thì lại hỏng mất vở kịch của Minh, Hoàng và Tổng cục II đã dựng ra, bởi vì như vậy thì chính Nguyễn Minh Hoàng phải chịu tội đưa hối lộ, mà Hoàng lại đang đứng trên cương vị "chủ hợp đồng" thuê Tổng cục II làm vụ này cơ mà. Lại còn mấy ông lớn nào nhận hối lộ ở đây nữa chứ? Không thể khui lung tung ra như thế được, lại loạn hết cả triều đình lên. Chắc chắn Tổng cục II không thể để xảy ra như vậy. Do vậy chỉ có cách "biến hóa" thành tội cưỡng đoạt tài sản, chỉ có một bên bị cáo và một bên bị hại mà thôi, chỉ có một mình Phạm Văn Phương là kẻ có tội mà thôi (chắc thằng cha Hoàng này bị "mát" quá, không có tội tình gì và người ta cũng không xin xỏ, ép buộc gì mình vậy mà tự dưng lại đưa 100.000 Mĩ kim để biếu không).
Đấy là xét trên hồ sơ, bút lục và những chứng cứ trước tòa, đấy là xét về góc độ pháp luật. Còn bản chất thật sự và cái "bí mật" của nó thì đã được bài viết này tố cáo rõ ràng ở trên đây. Tất cả cái bản chất lưu manh, xảo trá và vô lí của "vụ án Phương Vicarrent" cũng chính là bản chất của chế độ cộng sản. Mọi lo-gíc chỉ có thể tìm ra từ sự thật, và sự thật thì không thể che dấu mãi được. Hàng triệu triệu điều vô lí đã và đang tồn tại và phát sinh ra trong xã hội Việt Nam, đó chính bởi vì chế độ cộng sản cầm quyền đã bóp méo sự thật, che dấu sự thật, thêu dệt sự thật. Nhà nước cộng sản ghét bỏ sự thật, không muốn nghe những lời nói thật, bỏ ngoài tai những lời nói tâm huyết của những người trung thành nhất, yêu nước nhất, dũng cảm nhất, kể cả những người đã từng mất những phần thân thể và đổ máu cho cái mảnh đất Việt Nam này, để xây dựng nên cái chế độ cộng sản này. Họ chỉ thích nghe những lời khen ngợi, tán dương, nịnh hót, lừa dối của những đám tôi tớ giúp việc cơ hội, nịnh thần, đấy là sự thật mà lãnh đạo cộng sản nghe được. Nhà nước cộng sản cũng không cần nhận thấy sự thật. Sự thật tất yếu là chế độ cộng sản trên toàn Thế giới sẽ phải sụp đổ hoàn toàn, nếu họ không lập tức hối cải và phục thiện thì toàn bộ bộ máy của họ, bản thân họ, và cả dòng họ gia đình của họ sẽ phải chứng kiến cái cảnh đứng trước đoạn đầu đài. Nhà nước cộng sản không cần nhìn thấy những cảnh đời đau khổ, những gia đình nông dân đang lao động cật lực cả cuộc đời cũng chỉ có được cuộc sống bữa no bữa đói, không có điều kiện học hành, đau ốm không thuốc men. Họ không nhìn thấy cảnh hàng triệu con người chịu áp bức bóc lột ở khắp nơi, những cảnh sống không còn một tấc đất để cắm dùi, những cảnh đời li tán tha phương cầu thực, những cảnh đời phải bán thân nuôi miệng ở đất khách, xứ người, rồi còn hàng triệu những nỗi oan khuất mà chỉ biết đành chịu ôm hận xuống suối vàng. Họ chỉ biết đến những báo cáo thành tích phát triển đứng trên mồ hôi của đồng bào mình và trong sự rút cạn kiệt tài nguyên của đất nước, phá tàn lụi cả thiên nhiên, hủy hoại mọi nền tảng xã hội; những "thành tích phát triển" mà mãi mãi không bao giờ theo kịp những nước quanh khu vực. Họ chỉ biết đến những bữa ăn đắt giá bằng tiền công mấy năm lao động của một người dân, biết đến những biệt thự đắt tiền và những nhãn hiệu xe hơi nổi tiếng (mà mỗi cái xe tính tương đương ra bằng đến 3000 con trâu) mà họ đang sở hữu, đấy là sự thật của lãnh đạo cộng sản. Đã không nghe, không thấy lại càng không cần nói đến sự thật, sự thật nào có được khi mà bên tai của Đảng, Chính phủ còn có Ban tư tưởng - văn hóa trung ương, họ cưỡng bức luôn hơn 80 triệu con người phải hàng ngày lắng nghe những điều họ tuyên truyền, nhồi nhét. Họ thích những điều hoa mỹ, vô nghĩa như: "đại hội thành công tốt đẹp" (chưa có một cái hội nghị nào của cộng sản lại không "thành công tốt đẹp"), "theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại" (ổng đã "nghẻo" hơn 36 năm nay rồi vẫn còn bắt cả dân tộc đi theo cái tư tưởng ấy mãi, làm cái việc bắt người chết chỉ đường cho người sống, định để cho cả dân tộc quay về thế kỉ 19 hay sao?), "Việt Nam cực lực lên án" (chẳng làm gì được ai cả, chỉ cứ "cực lực phản đối" hay "lên án" thế là xong) ..., hay là trẻ em thì có những danh hiệu "cháu ngoan Bác Hồ" (sao không phải là "cháu ngoan bác Franklin" thì có tốt hơn không, ít nhất cũng gấp được hơn mười lăm ngàn lần "bác Hồ" đấy!), rồi các "bà mẹ Việt Nam anh hùng" (đồng nghĩa với trao tặng danh hiệu là việc phải cứu đói các mẹ đang sống lay lắt và bao nhiêu người mẹ khác cũng đã "ngậm cười nơi chín suối" để nhận danh hiệu ấy do Diêm vương trao tặng; mà cũng lạ là tại sao chẳng có "ông bố Việt Nam anh hùng" nhỉ?), họ nhồi nhét tất cả những điều đó vào đầu những người dân nô lệ của họ (nhà báo người Pháp Jean Lacouture - đã nói đúng: cộng sản đã áp dụng chính sách thực dân với chính đồng bào của mình) kể từ đứa trẻ lúc mới chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cộng sản triền miên suốt 60 năm trời nói những điều vô lí, trống rỗng, xuyên tạc mà không cảm thấy xấu hổ, không biết ngượng miệng, nói cho sướng miệng mình còn có ai nghe và ai tin không thì cũng "kệ xác mày", đấy là sự thật của chế độ cộng sản. Nhân dân Việt Nam không bao giờ còn tin những điều cộng sản nói và càng không thể chấp nhận được những gì cộng sản đã và đang làm. Nhân dân chỉ còn một cơ hội duy nhất và tất yếu là phải lật đổ chế độ cộng sản cầm quyền; đòi lại dân chủ, nhân quyền cho chính mình; xoá bỏ mọi bất công, đòi lại công bằng cho xã hội; xây dựng lại đất nước Việt Nam, cải thiện lại hình ảnh của dân tộc Việt Nam.
Đọc bài viết này hẳn độc giả sẽ thắc mắc là: vậy bản chất của vụ án rõ ràng cũng là những cuộc "đâm thuê, chém mướn" của các thế lực Mafia cộng sản mà nếu làm rõ ra thì có lẽ còn liên quan đến cả vài chục vị ở trung ương và Bộ chính trị có quan hệ với Phương và đứng đằng sau Phương Vicarrent nữa chứ, rồi còn lực lượng bóng tối của phe bên kia gồm Nguyễn Trọng Minh, Nguyễn Minh Hoàng và Tổng cục II thì ra sao? Tất nhiên, trong một chế độ dân chủ, trong một chính phủ minh bạch nếu cứ bắt đầu từ đấy để chứng minh "bàn tay sạch" thì như trong "vụ án Phương Vicarrent" người ta sẽ còn liệt kê được thêm vài chục vị nữa từ Tổng bí thư, Thủ tướng, phó thủ tướng đến các vị Chủ nhiệm văn phòng chính phủ, bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Kế hoạch đầu tư, Xây dựng, Thương mại, ... rất rất nhiều, người viết không thể biết hết được và cũng không thể liệt kê hết ra đây được, cần phải hẹn lại độc giả ở những bài viết khác nói đến những sự việc cụ thể và từng danh tánh cá nhân sẽ được nêu lên chính xác, rõ ràng để những kẻ "đày tớ hút máu dân" đó sẽ không thể chối cãi được nữa.
Cuối cùng, xin nói thêm, để khẳng định và giải thích nhiều chi tiết trong bài viết, người viết đã phải dẫn chứng quá nhiều những tình tiết rườm rà, những ngoặc đơn, ngoặc kép làm phiền lòng độc giả. Xin các quí độc giả tìm xem thêm những bài viết của "vụ án Phương Vicarrent" ở những bài báo và tài liệu khác để hiểu rõ hơn.
Xin hẹn lại độc giả ở một bài viết khác. Xin chân thành cảm ơn!
Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 10/6/2005
Đăng nhận xét
Nhà nước cộng sản Việt Nam, mà tất nhiên là do Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo, đã rất lo ngại vụ việc này bị phanh phui như một vụ án nghiêm trọng và đặc biệt điển hình để tố cáo chế độ cộng sản ở nhiều mặt khác nhau. Với Quốc tế và giới doanh nhân (xin nhấn mạnh ở đây là giới doanh nhân nói chung, ở cả trong và ngoài nước chứ không riêng gì Việt kiều hay doanh nghiệp nước ngoài như một số bài báo nêu ra, vì ở Việt Nam chưa hề có "một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp" như lời mời gọi của giới lãnh đạo cộng sản vẫn hô hào, bất kể doanh nghiệp nào không phải là doanh nghiệp nhà nước (là "con bò sữa", là chỗ làm tiền và rửa tiền của Mafia cộng sản) đều gặp phải rất nhiều rắc rối do chính quyền gây ra) đây là một vụ án điển hình nhất được tố cáo và sẽ đưa ra xét xử công khai trước Quốc tế, sẽ là một bằng chứng sống động nhất cho Thế giới biết đến sự cưỡng bức trắng trợn, sự bất chấp luật pháp, vi phạm nhân quyền của bộ máy an ninh cộng sản, chính quyền cộng sản. Đặc biệt đây là một sự kiện hi hữu, không thể lý giải được: một tội phạm đào thoát đang chịu hình phạt bị kết án 11 năm tù - có nghĩa là một kẻ đang bị một chính phủ truy nã - lại dám công khai đứng ra kiện chính phủ đó trước Tòa án Quốc tế. Nhưng quan trọng hơn là đối với số đông quần chúng nhân dân, chính quyền cộng sản đang rất lo sợ dư luận nhân dân sẽ biết rõ sự việc này, và đặc biệt nếu chính phủ Việt Nam sẽ bị xử thua ở phiên tòa năm sau thì vụ án này sẽ gây ra một sự bất bình lớn trong dân chúng, nếu toàn bộ sự thật được phơi bày có thể sẽ gây ra một làn sóng phản ứng mạnh mẽ mà sẽ khó đoán trước được hậu quả như thế nào.
Sau khi đã đọc và nghe kỹ hầu hết các bài viết và phỏng vấn ở Hải ngoại có liên quan đến vụ án, tôi xin gửi đến quý độc giả (thính giả) và đặc biệt là ông Trịnh Vĩnh Bình thêm một số chi tiết mà tôi khẳng định là yếu tố quyết định vụ án. Với cương vị là một người trong cuộc, tôi xin đảm bảo rằng những thông tin mình đưa ra là chính xác 100% (điều này hy vọng sẽ được ông Trịnh Vĩnh Bình xác nhận), đồng thời cũng cung cấp thêm một số thông tin mà có thể do ở một góc độ khác ông Trịnh Vĩnh Bình không được biết, hoặc vì một vài lí do nào đó mà ông Trịnh Vĩnh Bình đã không tiết lộ, với mục đích làm rõ hơn những ẩn khuất trong vụ án này và để dư luận trong ngoài nước sẽ được biết đến, quan tâm đến vụ án này hơn nữa; qua đó quần chúng nhân dân, đồng bào Việt Nam ở Hải ngoại và trong nước sẽ cùng lên tiếng tố cáo những bất công, bưng bít, vi phạm pháp luật, vi phạm nhân quyền của chế độ cộng sản Việt Nam.
Cần trở lại vụ án Công ty cổ phần Bình Châu (cũng gọi là vụ án Bình - Hà Lan) ở những năm 1998-1999, đã được báo chí Việt Nam viết đến rất nhiều, cũng không ít bài báo viết có sự phân tích, mổ xẻ về tính pháp lí của vụ án, bênh vực "bị cáo" Trịnh Vĩnh Bình. Do có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau nên vụ án được dư luận trong nước quan tâm nhiều. Thế nhưng, sự quan tâm đấy cũng chỉ đơn thuần coi như một vụ án kinh tế, có "dính dáng" đến Việt kiều, đến đầu tư nước ngoài. Rất ít ai được biết đến vụ án là đã có những yếu tố chính trị, thậm chí cái yếu tố ấy đã có tính quyết định toàn bộ vụ án. Về nội dung này tôi không nghĩ là ông Trịnh Vĩnh Bình đã không hề biết gì. Gần đây, khi trả lời phỏng vấn báo chí ông Trịnh Vĩnh Bình cũng đã không cung cấp thêm thông tin gì mới hơn, có thể ông cần phải giữ thái độ thận trọng cần thiết, cũng có thể ông chưa được biết chính xác. Tôi xin công khai chi tiết này dưới đây, để độc giả có thể hiểu được bản chất của sự việc và qua đó các bên liên quan sẽ tìm ra những phương pháp hành xử tốt nhất trong những công việc tiếp theo của vụ án mà ông Trịnh Vĩnh Bình đang theo kiện chính phủ Việt Nam.
Những nguyên nhân chính mà ông Trịnh Vĩnh Bình đưa ra (cũng đã được ông Trọng Kim, chủ bút tờ báo Ngày nay ở Houston, Texas - Hoa Kỳ cho biết thêm) là do ông Bình đã có một sự đối đầu với cơ quan công an tỉnh Bà rịa - Vũng tàu, cụ thể là ông Ngô Chí Đan, trưởng phòng an ninh điều tra (PA24) và ông Phạm Văn Phương - anh vợ ông Ngô Chí Đan - chức danh phó Tổng giám đốc công ty liên doanh Vicarent.
Sự việc này cần phải diễn giải chi tiết thêm thì độc giả mới có thể hình dung được. Tại địa phương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì gần như ai ai cũng đều biết đến ông Ngô Chí Đan, với cương vị trưởng phòng An ninh điều tra, phó thủ trưởng cơ quan điều tra liên tục mười mấy năm liền, và là một con người khét tiếng với các vụ án quan trọng. Thế nhưng còn nổi tiếng và "tài ba" hơn nhiều lại chính là ông Phạm Văn Phương, anh vợ của Ngô Chí Đan, với những quan hệ mà những người dân thường chỉ nghe thấy thôi cũng đã phải "rùng mình", từ Tổng bí thư (xin nói rõ là Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải bí thư xã, bí thư huyện nhé) đến Thủ tướng, phó thủ tướng Chính phủ, còn cỡ như Bộ trưởng, thứ trưởng thì ông Phương có thể quen biết vài chục vị. Chỉ qua việc ông ta đã từng hạ "nốc ao" cả Chủ tịch tỉnh và đưa một vị khác lên thay chức chủ tịch tỉnh, rồi vào ủy viên Trung ương Đảng cộng sản là đủ biết uy lực của ông Phương lớn đến thế nào (riêng sự việc này tôi xin gửi thông tin đến độc giả ở một bài viết khác). Thế nhưng, sau này chính anh em ông Ngô Chí Đan và Phạm Văn Phương cũng lại phải ra hầu Tòa trong một vụ án khác, mà ông Ngô Chí Đan đã bị kỉ luật, tước danh hiệu công an, Phạm Văn Phương thì chịu bản án 27 năm tù giam. Thật ra, trong vụ án đó anh em ông Phương, ông Đan cũng chỉ là con mồi của bộ máy an ninh cộng sản, con mồi của chính cái bẫy mà mình đã giăng ra, và tôi cũng xin khẳng định rằng vụ án đó cũng lại chính là hệ lụy của vụ án Trịnh Vĩnh Bình mà chúng ta đang nói đến hôm nay, vì lí do đó tôi lại phải xin hẹn với độc giả trong một bài viết khác sẽ được nói rõ thêm về vụ án này (độc giả ở Hải ngoại có thể tìm xem về "vụ án Phương Vicarent" trên các trang pháp luật của các báo điện tử tại Việt Nam, còn ở Việt Nam thì chắc là ai cũng đều biết đến vụ án ấy cả). Vì xã hội Việt Nam đã hoàn toàn bị Đảng cộng sản cưỡng bức thông tin, bưng bít thông tin; chế độ Đảng trị độc tài can thiệp vào tất cả bê bối kinh tế và chính trị nhằm che dấu tội lỗi của mình, lo sợ sự phản ứng giận dữ của quần chúng, nhằm đảm bảo sự độc tài thống trị của mình, nên người dân không được biết về thế lực thật sự của ông Phạm Văn Phương cùng những hành động tội lỗi của ông ta mà thật ra "tập đoàn Mafia Năm Cam" so ra với ông Phương cũng chỉ bằng hạt cát.
Quay trở lại vụ án của ông Trịnh Vĩnh Bình, thật không may cho ông Trịnh Vĩnh Bình là: thời điểm mà ông Trịnh Vĩnh Bình vào Việt Nam đầu tư là thời điểm mà ông Phạm Văn Phương và vây cánh của ông ta đang rất mạnh. Tất cả các doanh nghiệp vào đầu tư tại Bà Rịa - Vũng Tàu đều phải nhờ vả hoặc đến "ra mắt" ông Phương, phải chịu sự điều khiển của ông ta, hoặc ít ra cũng phải "cống nộp" tiền bạc cho ông ta. Ông Trịnh Vĩnh Bình vì là người ở Hà Lan đến, cộng thêm sự tự tin là về đầu tư trên quê hương mình nên đã không sớm có sự hiểu biết đó. Nguyên nhân mà ông Trịnh Vĩnh Bình hiểu ra rằng sự khó chịu và đối đầu với ông Phạm Văn Phương đã gây ra cho ông bao nhiêu khó khăn, vất vả sau này, từ đổ vỡ trong kinh doanh, rồi tù tội, trắng tay về kinh tế, rồi phải đào thoát, tính mạng nguy hiểm đến thế nào, và cuối cùng là vụ kiện chính phủ Việt Nam mà ngày hôm nay ông đang theo đuổi. Về xuất phát cơ bản thì đúng là như vậy, nhưng sự thật đằng sau đó có ý nghĩa quyết định vụ án đấy là lí do chính trị, bàn tay của Tổng cục II, Bộ quốc phòng.
Ngay sau khi ông Phương và bè cánh của ông Phương đã lên một "kế hoạch" hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình, người ta chưa hề nghĩ đến sẽ có một hậu quả xấu như thế (tôi chắc là ngay cả chính ông Phương cũng chưa định liệu trước được một hậu quả như vậy). Bởi vì bản chất của Phương chỉ là một kẻ giang hồ, mượn oai thế và uy lực để bức hiếp kẻ yếu, tống tiền, trục lợi. Về con đường "quan lộ", với cái gốc là lái xe, không một mảnh bằng cấp, không trình độ ngoại ngữ, Phương không thể "mảy may" nghĩ tới. Và Phương cũng không nghĩ ra được rằng con mồi của mình (ông Trịnh Vĩnh Bình) lại liên quan đến các yếu tố chính trị cơ hội khác. Ngô Chí Đan, dù là trưởng phòng an ninh điều tra, phòng có uy quyền nhất trong lực lượng công an cộng sản (cơ quan điều tra là cơ quan duy nhất được phép ra lệnh triệu tập và bắt người), là cơ quan theo dõi mọi hoạt động an ninh có liên quan đến yếu tố nước ngoài, thế nhưng Ngô Chí Đan cũng không hề có thông tin và âm mưu hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình là có liên quan đến các yếu tố chính trị (ngoài việc biết ông Trịnh Vĩnh Bình là thành viên Đảng dân chủ tự do Hà Lan). Việc Phương và Đan mưu hại thật ra cũng chỉ là một màn kịch tống tiền, Phương và Đan chưa nghĩ ra được Trịnh Vĩnh Bình sẽ trở thành một miếng mồi thơm hơn để có thể trục lợi những âm mưu khác, Phương và Đan cũng không thể nghĩ ra rằng việc hãm hại Trịnh Vĩnh Bình có thể để lại một hệ lụy khôn lường (cho chính cả bản thân mình và cho cả chính phủ Việt Nam) đến ngày hôm nay.
Mọi việc không chỉ đơn giản như vậy. Chắc rằng, tất cả những người có một chút am hiểu về bộ máy an ninh của cộng sản đều biết rằng: mọi công dân nước ngoài khi vào hoạt động, làm ăn tại Việt Nam cũng đều bị một sự giám sát vô hình của cơ quan an ninh cộng sản. Đặc biệt như trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình, một thành viên của Đảng dân chủ tự do Hà Lan, ngoài các bộ phận nghiệp vụ của Bộ công an ra thì không thể nào Tổng cục II - Bộ quốc phòng lại có thể "quên" được. Do vậy, giai đoạn mà mạng lưới Mafia của Phạm Văn Phương đang tìm cách hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình ở thời điểm quan trọng, quyết định nhất thì chính là lúc lộ diện vai trò của Tổng cục II. Lúc đó, Phương và Đan đều có phần lúng túng (dù là không bất ngờ) vì kế hoạch của mình có thể bị bại lộ hoặc phải thay đổi, lúc này bọn chúng phải tính đến việc phải phối hợp với Tổng cục II để hướng sự việc sang một chiều hướng khác. Do phối hợp với Tổng cục II nên nhiều yếu tố mới đã xuất hiện, từ đó sự việc trở nên phức tạp và ngoài tầm kiểm soát của Phương - Đan, nhưng cũng lại mở ra một âm mưu mới táo bạo hơn, có lợi hơn cho Phương - Đan (âm mưu hạ bệ ông Nguyễn Trọng Minh, chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau vụ án này) !?
Đây là yếu tố quyết định của vụ án này, và cũng chính từ Tổng cục II đã phát ra nhiều thông tin đặc biệt rất bất lợi đến ông Trịnh Vĩnh Bình (đến bây giờ cũng khó khẳng định được những thông tin này là thật hay "dỏm" như những thông tin mà Tổng cục II đưa ra về ông Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo cao cấp khác ?). Những diễn biến dưới đây , tôi cũng xin để trả lời cho nguyên nhân tại sao mà ông Trọng Kim, chủ bút tờ báo Ngày nay ở Houston, Texas - Hoa Kỳ, không biết được tại sao mà ngay cả khi đã có bút phê của thủ tướng chính phủ Việt Nam - Phan Văn Khải - rồi mà bên Bộ công an họ vẫn ra lệnh khởi tố, bắt giam ông Trịnh Vĩnh Bình (xin xem thêm trong phỏng vấn ngày 15/5/2005 của Đài RFA, BBC hoặc các trang Web: www.ykien.net, www.doi-thoai.com, www.danchimviet.com ...). Và qua đây tôi cũng xin làm rõ một số chữ viết tắt (mà theo tôi là không cần thiết), và một số điều chưa rõ trong "Thư gửi đồng bào cả nước" của tác giả Nguyễn Thiện Tâm đăng trên rất nhiều báo chí Hải ngoại thời gian gần đây, ở phần nói về vụ án của ông Trịnh Vĩnh Bình (xin đọc trên trang Web: www.vnn-news.com ra ngày 18/5/2005). Việc này ông Trọng Kim cho rằng: là do thế lực và vây cánh của thứ trưởng Bộ công an - Nguyễn Khánh Toàn - quá mạnh. Thực chất, không phải là như vậy, mặc dù tôi cũng khẳng định rằng ông Phương - Đan có quan hệ rất thân thiết với ông Nguyễn Khánh Toàn (thậm chí việc ông Nguyễn Khánh Toàn mất ghế Bộ trưởng công an sau này cũng do vụ án "Phương Vicarent" mà liên lụy), thế nhưng lúc đấy ông Lê Minh Hương là Bộ trưởng - Ủy viên Bộ chính trị, quyền lực rất mạnh nếu muốn làm cũng không thể làm được gì, đấy chính bởi vì đã có bàn tay của Tổng cục II - Bộ quốc phòng dính vào, thậm chí là quyết định toàn bộ vụ án.
Rất ít khi có một vụ án kinh tế mà lại phức tạp như vụ án này. Cần phải nói rõ thêm, về vụ án này đã có mấy chục cá nhân liên quan được cơ quan công an thẩm vấn, điều tra. Trong số các bị cáo, ngoài ông Trịnh Vĩnh Bình là bị cáo chính, còn một nhân vật cũng được rất nhiều người biết đến, đấy chính là ông Lê Quang Luyện, tiến sĩ hóa học, đã từng là thư ký riêng của Chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; gia đình bà Hương, vợ ông Luyện, lại có quan hệ với bà phó chủ tịch nước Việt Nam lúc đó là Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Mạnh Cầm (lúc đó mới chỉ là Bộ trưởng Bộ ngoại giao). Từ đó đã nảy sinh ra rất nhiều mối quan hệ, nhiều sức ép từ nhiều phía. Bằng con đường ngoại giao, chính phủ Hà Lan đã có công hàm cho chính phủ Việt Nam. Thường vụ Bộ chính trị Việt Nam đã phải họp mở rộng bốn lần về vụ án này. Theo quan điểm ngoại giao, ông Phan Văn Khải và bà Nguyễn Thị Bình (đã từng là bộ trưởng ngoại giao và trưởng phái đoàn đàm phán của CPLTCHMN Việt Nam tại Pari) đề nghị đình chỉ vụ án và giải oan cho ông Trịnh Vĩnh Bình. Ngược lại, ý kiến của ông Lê Khả Phiêu, Lê Minh Hương và đặc biệt người tỏ ra quyết liệt, gay gắt nhất là ông Phạm Thế Duyệt (người mà tác giả Nguyễn Thiện Tâm viết tắt là PTD, còn ba người kia nữa là ông Châu Văn Mẫn - giám đốc công an tỉnh Bà rịa - Vũng tàu, Lê Văn Dỹ - bí thư tỉnh ủy, sau này bị khiển trách và đưa ra làm Phó Ban kinh tế Trung ương, và Phạm Văn Phương) là phải kiên quyết xử lý. Nhưng từng ý kiến của các vị Ủy viên Bộ chính trị ấy đều không có tính quyết định bằng các chứng cứ của Tổng cục II đưa ra, họ khẳng định rằng Trịnh Vĩnh Bình vào Việt Nam là để hoạt động gián điệp, núp dưới cái "vỏ" doanh nhân. Tổng cục II đã đưa ra hàng loạt những ghi chép theo dõi về các hoạt động của ông Trịnh Vĩnh Bình, một trong những mục tiêu của Trịnh Vĩnh Bình là mua chuộc các cán bộ cao cấp nhất, mà cụ thể Tổng cục II đưa ra dẫn chứng về một cuộc sắp đặt của ông Trịnh Vĩnh Bình tiếp xúc ông Phan Văn Khải, cũng như việc ông Trịnh Vĩnh Bình đã dùng tiền hối lộ (mà theo tổng cục II là để mua chuộc, khống chế) ông Nguyễn Trọng Minh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà rịa - Vũng tàu (sau này ông Minh cũng bị mất chức Chủ tịch vì vụ việc này) (người viết chỉ đưa ra các chi tiết theo các tài liệu có được, điều này chắc chắn ông Trịnh Vĩnh Bình là người biết rõ nhất và là đúng sai như thế nào ?). Về phía bà Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Mạnh Cầm cũng được Tổng cục II cho biết những mối quan hệ và tiếp xúc với gia đình ông Lê Quang Luyện, do vậy ông Khải, ông Cầm và bà Bình gần như "chết cứng", không thể nói được gì nữa. Vậy là từ một âm mưu tống tiền rồi chuyển thành một vụ án kinh tế, một vụ án kinh tế lại được biến ra thành một vụ án chính trị. Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã phải trực tiếp chỉ đạo vụ án. Tuy nhiên, cả phía an ninh quân đội và công an đều cho rằng họ đã "bắt non" ông Trịnh Vĩnh Bình, vì vậy họ phải xử theo một vụ án kinh tế (chứ không phải là "hình sự hóa quan hệ kinh tế" như ông Trịnh Vĩnh Bình đã trả lời phỏng vấn báo chí). Vậy là việc ông Trịnh Vĩnh Bình bị kết án là việc không thể tránh khỏi và là một "vở kịch" đã được Tổng cục II viết sẵn rồi, các công việc thủ tục pháp lí tiếp theo chỉ còn mang tính chất hợp pháp hóa cho cái "vở kịch" đó thôi.
Nhưng sau khi ông Trịnh Vĩnh Bình đã bị kết án và bắt giam rồi thì lại xảy ra một "tấn tuồng" khá vụng về của cơ quan an ninh Việt Nam và "tấn tuồng" ấy đã để lại hậu quả đến hôm nay. Đấy chính là việc "để thoát" ông Trịnh Vĩnh Bình, cần xem lại các báo chí Việt Nam viết về sự kiện đó, các báo đưa tin: "Trịnh Vĩnh Bình đã bỏ trốn khi cơ quan công an di lí từ Tân Sơn Nhất ra Nội Bài - Hà Nội" (đào thoát trên máy bay mới lạ chứ! Thật là một "trò hề" quá vụng về!). Việc này, gần đây tất cả các bài báo và trả lời phỏng vấn của ông Trịnh Vĩnh Bình đều không đề cập đến. Có thể vì lí do nào đó mà ông Trịnh Vĩnh Bình đã né tránh điều này, chỉ duy nhất hai lần ông Trịnh Vĩnh Bình và ông Trọng Kim nhắc đến sự việc này với từ "đào thoát" mà không nói gì thêm. Tôi chắc chắn rằng ông Trịnh Vĩnh Bình có thể viết sách bán được về cái vụ "đào thoát" của mình. Tôi cũng đề nghị ông Trịnh Vĩnh Bình cần công khai tất cả những chi tiết này, vì nó sẽ có lợi hơn cho ông. Theo một thông tin tuyệt mật được phía Bộ công an tiết lộ thì âm mưu đào thoát của ông Trịnh Vĩnh Bình lại là một kế hoạch được thỏa thuận ngầm của Tổng cục II. Rất may khi ông Trịnh Vĩnh Bình đã nghĩ là: "sau một thời gian tôi được tại ngoại, tôi cảm thấy là có nguy cơ tôi sẽ bị bắt lại và đưa vào tù và có thể tôi sẽ bị chết. Do đó, với hoàn cảnh đó, tôi phải đào thoát khỏi Việt Nam". Bởi vì, theo kế hoạch đó của Tổng cục II, việc họ bắt và xử ông là không có cơ sở, trái với luật pháp Quốc tế và Việt Nam. Do vậy, các Chính phủ và tổ chức Quốc tế sẽ can thiệp và nếu sự việc vỡ lở lúc đó sẽ dẫn đến những hậu quả lớn hơn trên trường Quốc tế. Vậy thì, cách tốt nhất là họ để ông "đào thoát" và sau đó sẽ tìm cách thủ tiêu ông, lúc đó sẽ chẳng có ai phải chịu trách nhiệm về vụ án của ông cũng như mạng sống của ông nữa. Nếu có một tổ chức điều tra Quốc tế nào đó có thể điều tra ra thì đấy cũng chỉ như một vụ án hình sự thanh toán lẫn nhau của các băng nhóm giang hồ mà thôi. Những linh tính đã mách bảo cho ông Trịnh Vĩnh Bình và cứu ông thoát khỏi cái chết trong tay của Tổng cục II. Phải chăng, đây là một trong những trường hợp may mắn khá hi hữu, hay là khi ông Trịnh Vĩnh Bình tiết lộ rõ mọi chuyện thì người ta sẽ lại được thấy thêm những bộ mặt phản trắc trong nội bộ Tổng cục II ?
Từ vụ án này người ta lại thấy bản chất cực kỳ thâm độc của cơ quan An ninh cộng sản - Tổng cục II. Nhưng hơn tất cả là người ta nhận thấy sức mạnh ghê gớm của nó, nó có thể điều hành tất cả các vị trí, chức vụ cao nhất trong Đảng, trong Chính phủ, kể cả các ủy viên Bộ chính trị. Nó có thể can thiệp vào mọi công việc và quyết định mọi sự việc theo ý mình. Sau vụ này cũng cần phải nói thêm là viên trung tá phụ trách Tổng cục II ở Bà Rịa - Vũng Tàu là Võ Minh Thắng (biệt hiệu là Thắng "què") đã được phong quân hàm lên chức thượng tá.
Cuối cùng, điều gì cần rút ra sau vụ án này ? Dù ông Trịnh Vĩnh Bình có thắng hay thua trong vụ án này thì nhiều bài học rất xót xa cũng đã và sẽ được rút ra từ các bên, mà những nguyên nhân của nó lại chính xuất phát từ cơ quan an ninh - Tổng cục II, Bộ quốc phòng Việt Nam, một cơ quan đã gây ra quá nhiều vụ án, tai tiếng từ quá khứ và hiện tại rồi sẽ ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc. Nhà nước Việt Nam thì bị tai tiếng, mất uy tín trên trường Quốc tế. Chính quyền Việt Nam thì bị mất đi một số cán bộ do bị họ chụp mũ, vu khống, cưỡng bức. Các cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp, những người không thể tự mình có thể đối phó với thế lực của họ thì bị tù đày, oan ức, sạt nghiệp và không ít người bị thủ tiêu, bức tử. Và điều gì nữa sẽ xảy ra nếu ông Trịnh Vĩnh Bình sẽ thắng kiện trong vụ kiện sắp tới (mà cá nhân tôi tin chắc rằng ông ta sẽ thắng kiện) ? Ông Trịnh Vĩnh Bình cũng đã khẳng định rằng số tài sản ban đầu mà ông đầu tư vào Việt Nam chỉ tổng cộng trên dưới 4 triệu Mỹ kim; tất nhiên con số 100 triệu Mỹ kim của ông Bình và luật sư của ông đưa ra yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải bồi thường cũng phải rất có cơ sở, vậy số tiền chênh lệch lên đến 96 triệu đô la Mỹ, có nghĩa là phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ gấp 24 lần giá trị ban đầu. Một trăm triệu đô la Mỹ, đâu phải là một khoản tiền nhỏ ? Một khoản tiền rất lớn đối với mọi quốc gia, và đối với Việt Nam lại càng là một số tiền khổng lồ. Ở Việt Nam, với số tiền đó có thể xây dựng được hơn 200 trường học khang trang, hiện đại; khoảng 30 bệnh viện lớn. Số tiền đó có thể giúp cho khoảng 160.000 hộ gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo. Và nếu chia đầu người 82 triệu dân Việt Nam phải ghánh chịu thì già trẻ, lớn bé mỗi người đều phải đóng góp gần 20.000 đồng mới đủ để trả cho ông Trịnh Vĩnh Bình, chưa tính được án phí sẽ là bao nhiêu nữa.
Thật là khủng khiếp! Thật là đáng căm giận! Số tiền đó ai sẽ phải trả ? Chính phủ Việt Nam ư ? Chẳng có Ngân sách quốc gia nào cả, đấy chính là tài sản của nhân dân Việt Nam đó. Tất cả một đồng bạc nào của đất nước Việt Nam cũng đều do nhân dân lao động làm ra và đóng góp cả. Hết vụ kiện của ông Letard kiện Liên đoàn bóng đá Việt Nam số tiền 197.000 Mỹ kim, rồi lại đến vụ hãng hàng không quốc gia Việt Nam Airline bị kiện bồi thường khoảng 5 triệu đô la Mỹ, rồi lại đến vụ kiện của ông Trịnh Vĩnh Bình sắp tới đây. Đảng cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam sẽ lấy đâu ra tiền để bồi thường những khoản tiền đấy (dù chỉ là chi phí theo hầu kiện và án phí)? Đảng cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam làm gì có "của hồi môn" nào để lại mà tự ghánh chịu thiệt hại ? Tất nhiên những đồng tiền ấy là của NHÂN DÂN rồi! Thế thì, ai cho phép Đảng cộng sản Việt Nam được tự ý sử dụng những đồng tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân như vậy ? Ai cho phép Đảng cộng sản Việt Nam dùng mồ hôi của người lao động để đóng cái khoản "tiền ngu" cho mình như thế ? Tại sao báo chí Việt Nam và những ông luật gia, luật sư lại chỉ nói đến việc ấy một cách vô cảm, vô trách nhiệm như là một "bài học kinh nghiệm"? Nhân dân Việt Nam đâu có cần và đâu có làm ra những "bài học kinh nghiệm" đó ??
Hay phải chăng những đồng tiền đó không phải là mồ hôi, nước mắt của nhân Việt Nam? Hoàn toàn không thể như vậy được, chẳng qua là do người dân không được biết sự thật đó thôi. Nhân dân Việt Nam cần phải biết sự thật! Những nhà hoạt động dân chủ, những người có khả năng và phương tiện để tuyên truyền đến dân chúng, cùng tất cả những người dân yêu nước Việt Nam, phải vạch rõ những sự thật này cho mỗi người dân trong nước được biết đến. Trách nhiệm là của tất cả mọi người, nếu chúng ta không muốn nhìn thấy bất công, nếu chúng ta không muốn đất nước và nhân dân phải chịu thiệt hại, nếu chúng ta không muốn lại tái diễn những sự kiện tương tự, chúng ta phải có trách nhiệm thông báo và giải thích rõ những sự kiện này đến mỗi người dân lao động Việt Nam ? Tại sao các tổ chức đối lập ở Hải ngoại không lên tiếng đấu tranh với Chính phủ Việt Nam về những sự kiện này ? Phải chăng là họ không cảm thấy thương xót cho tài sản, mồ hôi nước mắt của đồng bào mình đã bị Nhà nước cộng sản xâm phạm ? Tại sao những nhà hoạt động dân chủ trong và ngoài nước không lên tiếng đấu tranh với một sự việc quá rõ ràng và không thể bưng bít được (so với vụ án Tổng cục II mà lâu nay vẫn tốn nhiều giấy mực nói đến)? Phải chăng các nhà hoạt động dân chủ cho rằng vụ việc này không liên quan đến đấu tranh dân chủ, không thiệt hại đến đồng bào và cá nhân mình ? Còn chờ gì nữa ? Đã đến lúc cần phải tự cảnh tỉnh và tự vấn mình!!
Bài viết này tôi cũng xin gửi đến toàn thể đồng bào Việt Nam ở trong nước và Hải ngoại để chúng ta được biết thêm sự thật đằng sau bức màn đen tối của chế độ cộng sản Việt Nam. Tôi xin nhờ đến các cơ quan đài, báo Việt Nam ở Hải ngoại và đài, báo quốc tế có quan tâm đến sự việc này giúp tôi chuyển bài viết này đến đồng bào Việt Nam ở trong nước và trên khắp Thế giới. Tôi cũng rất mong sẽ nhận được những ý kiến của ông Trịnh Vĩnh Bình để khẳng định thêm tính trung thực về những tư liệu mà tôi đưa ra, đồng thời cũng rất mong muốn rằng ông Trịnh Vĩnh Bình sẽ cho các cơ quan báo chí và đồng bào Việt Nam được biết thêm những chi tiết về cuộc "đào thoát" của mình, cùng những thủ đoạn đen tối của cơ quan an ninh cộng sản đã áp dụng đối với ông. Tôi cũng sẽ xin cung cấp thêm những thông tin riêng mà mình đang có liên quan đến vụ án mà ông đang theo đuổi, nếu ông thấy cần thiết.
Xin hẹn trở lại với độc giả ở một bài viết sau, nói về hậu quả của vụ án Bình Châu (Trịnh Vĩnh Bình) đã để lại cho gia đình ông Phạm Văn Phương và Ngô Chí Đan, cũng chính là một vụ bê bối chính trị trong bộ máy cộng sản được ém nhẹm, ngụy trang dưới cái vỏ "kinh tế" để lừa bịp che mắt nhân dân.
Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 25/5/2005
SỰ THẬT VỀ "VỤ ÁN PHƯƠNG VICARRENT"
Trần Quốc Hoàn
Điều quan trọng nhất trong một xã hội cộng sản mục nát, tăm tối và hỗn độn mà người ta cần biết đến, đấy chính là: Sự thật. Một sự thật hiển nhiên, chính xác sẽ có giá trị và cần thiết hơn hàng triệu lần những sự giả dối, trí trá và phỉnh lừa của cả guồng máy cộng sản đang cưỡng bức, nhồi nhét vào đầu óc nhân dân Việt Nam. Vì vậy, điều tôi muốn gửi đến các quí độc giả và thính giả là những sự thật bị che dấu đằng sau những vụ án lớn, những bê bối kinh tế cũng như chính trị của nhà nước cộng sản Việt Nam. Những sự thật này cũng không phải là sở hữu của riêng ai, và tất nhiên cũng không phải chỉ một vài người được biết, còn có thể nói rằng một số rất đông những người có liên quan đến các cơ quan an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật của cộng sản đều nắm rõ những sự việc này. Thế nhưng, vì nhiều lí do khác nhau mà những sự thật đó chưa bị phanh phui, chưa được tiết lộ. Với riêng cá nhân người viết thì lí do quan trọng nhất đó chính bởi vì để đảm bảo an ninh cá nhân trong một xã hội chồng chéo những tai mắt của hệ thống an ninh cộng sản, người viết chưa có phương pháp nào, phương tiện nào để phổ biến rộng rãi nhất những sự thật này cho toàn thể nhân dân Việt Nam được biết đến, để vạch rõ bộ mặt thật sự của chế độ cộng sản. Đấy cũng chính là lí do mà lâu nay người viết vẫn đắn đo, ưu tư và không đưa rất nhiều những sự thật đó ra ánh sáng.
Ngay sau khi gửi bài viết "Tổng cục II - vai trò quyết định trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình" đến các cơ quan đài-báo, người viết đã nhận được rất nhiều thư từ trao đổi, góp ý, yêu cầu, đặc biệt là quan tâm đến một số thông tin của các vụ án quan trọng đã từng xảy ra trong quá khứ như "vụ án Tân Trường Sanh", "vụ án Tăng Minh Phụng", "vụ án thủy cung Thăng Long", "vụ án Năm Cam", "vụ án Lã Thị Kim Oanh", "vụ án Phương Vicarrent", "vụ án tham nhũng tại Petro Việt Nam", "vụ án Mai Văn Dâu" ..., và gần đây là vụ của Tổng công ty lắp máy Việt Nam Lilama cũng đang được báo chí trong nước khơi lại (cơ quan điều tra đã vào cuộc từ lâu rồi). Thật ra, tất cả các vụ án này và nhiều vụ việc khác nữa đã bị Chính phủ Việt Nam, cơ quan an ninh Việt Nam để "chìm xuồng", che đậy những sự thật rất quan trọng mà người ta đành chấp nhận gọi là "tảng băng chìm". Những Sự thật bị che dấu đó chính là những "bí mật" đầy dơ dáy, lưu manh, đốn mạt của chế độ cộng sản. Người viết đã có may mắn được biết khá chi tiết những "bí mật" ấy. Trước yêu cầu của các quí độc giả, người viết cũng thấy khó lòng giữ im lặng và giữ "bí mật" những thông tin ấy mãi.
Như đã hẹn với quí độc giả ở bài viết trước, trong bài viết này xin được gửi đến quí độc giả những sự thật đằng sau "vụ án Phương Vicarrent", những vụ việc khác cũng sẽ được thứ tự đề cập đến sau bài viết này. Người viết chỉ có một đề nghị duy nhất là: rất mong các quí độc giả sẽ giúp người viết chuyển tất cả những thông tin này đến đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước (đặc biệt là đồng bào ở trong nước, những con người phải chịu nhiều thiệt thòi trong một xã hội thông tin bị ém nhẹm, cưỡng bức, khép kín) với khả năng cao nhất của mình để đông đảo nhân dân lao động Việt Nam đều được biết đến.
Trở về vụ án Phạm Văn Phương, tên thường được gọi khác là Phương "xoăn", Phương Vicarrent - một tên "đại lưu manh" được sản sinh ra từ bộ máy của chế độ cộng sản, là nguyên mẫu và là bằng chứng xác thực nhất của sự sa đọa, tham nhũng, lừa đảo, bè phái, mafia cộng sản. Xuất phát từ một kẻ vô học, nghề nghiệp chỉ là lái xe, Phương đã có một quá trình luồn lọt, quan hệ, cộng với một chút ít may mắn để trở thành Phó tổng giám đốc công ty liên doanh Vicarrent (mà thực tế là Tổng giám đốc vì Tổng giám đốc người Hồng Kông là Lau Chau Chi đã không làm việc ở liên doanh này từ lâu). Nhưng lại không chỉ bằng lòng với vị trí như vậy, sau một thời gian có được "tí chức", "tí quyền", có các mối quan hệ, được mặc sức tung hoành, cộng với thế lực của người em rể mình là Trưởng phòng an ninh điều tra - trung tá Ngô Chí Đan, Phương bắt đầu nghĩ ra những mưu kế hại người và tư lợi cho mình. Những sự việc mà Phương Vicarrent và đồng bọn đã gây ra bao nhiêu thảm họa cho những người khác thì thật là không thể kể hết ra ở đây được và cũng sẽ làm cho độc giả lại phải mất thời gian với hàng trăm sự việc liên hệ khác mà không phải nội dung chính của bài viết này. Bài viết này chỉ xin nói về những chi tiết có liên quan và hệ lụy đến chính cuộc đời của Phạm Văn Phương khởi nguồn từ "vụ án Bình Hà Lan" đến "vụ án Phương Vicarrent".
Như trong bài viết "Tổng cục II - vai trò quyết định trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình" đã nhắc đến, xuất phát từ âm mưu ban đầu là hãm hại ông Trịnh Vĩnh Bình, sau đó với các chứng cứ từ Tổng cục II đưa ra là Trịnh Vĩnh Bình đã có những hoạt động thao túng các lãnh đạo địa phương mà cụ thể là hối lộ ông Nguyễn Trọng Minh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (sự việc này sau đó Nguyễn Trọng Minh đã phải làm bản tường trình với thường vụ Bộ chính trị và công nhận là đã nhận tiền Trịnh Vĩnh Bình "biếu"), chi tiết này đối với Phương và Đan thì cứ như là bắt được tiền từ trên trời rơi xuống (thật đúng là "phúc họa khôn lường"!).
Cũng cần nói thêm rằng: do đặc thù về địa lí, do trước đây Vũng Tàu là một đặc khu trực thuộc Trung ương nên các lãnh đạo của Vũng Tàu sau này đều được đưa ra Trung ương vào những vị trí lãnh đạo cấp cao nhất trong nghành công an như: Cao Đăng Chiếm, Lâm Văn Thê, Bùi Thiện Ngộ ..., chính vì vậy lực lượng công an Vũng Tàu từ đấy có uy thế và quyền lực đặc biệt tại địa phương. Cơ quan công an Bà Rịa - Vũng Tàu can thiệp vào rất nhiều những hoạt động hàng ngày của các cơ quan chính quyền khác, thậm chí họ còn thường xuyên đe dọa, bắt ép các cơ quan khác trong chính quyền phải làm việc theo sự chỉ đạo của họ. Do đó đã có một quá trình mâu thuẫn khá gay gắt giữa cơ quan công an và các cơ quan chính quyền địa phương, mà đến cả Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng là nạn nhân của họ, đã rất nhiều lần các chức sắc ở Ủy ban nhân dân bị họ đe dọa hoặc tìm cách khống chế.
Vào thời điểm ông Nguyễn Trọng Minh làm chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh rất phát triển. Ông Nguyễn Trọng Minh là một trí thức được đào tạo cơ bản tại Liên Xô cũ, có quá trình công tác liên tục, kinh qua các chức vụ quan trọng từ thấp đến cao, với khả năng sử dụng thông thạo nhiều ngoại ngữ, là một người thông minh, dám nghĩ dám làm, ông ta là một biểu tượng của giới lãnh đạo trí thức. Do đó ông Minh rất không vừa lòng với sự "can thiệp thô bạo", "hình sự hóa các quan hệ dân sự" của cơ quan công an. Lại là một người mang đậm bản chất Nam bộ, rất trực tính và thẳng thắn, ông Minh đã không hề giấu diếm sự khó chịu đó. Thậm chí, có lần vì bực giận trước những hành động của cơ quan công an, ông Minh đã không kềm chế được và đứng từ văn phòng Ủy ban chỉ sang bên cơ quan công an nói rằng "tụi chó đẻ đó (công an) nó có chừa ai đâu, không có tội nó cũng ép cho có để bắt bớ, làm tiền". Những lời nói này cùng với thái độ bộc trực của ông Minh đều đến tai cơ quan công an. Dù trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh và trụ sở công an cùng nằm trên một con đường và chỉ cách nhau có chưa đầy ba phút đi bộ nhưng một không khí đối lập rất nặng nề đã bao phủ lên hai cơ quan này. Chính vào giai đoạn đã nắm được một số chứng cứ cụ thể trong tay, Phó giám đốc công an, thủ trưởng cơ quan điều tra - Lâm Minh Chiến (sau này lên Giám đốc công an tỉnh) đã đứng giữa hội trường tuyên bố sau cuộc họp: "chủ tịch với phó chủ tịch cái gì, sắp bắt cả đến nơi bây giờ". Với Ngô Chí Đan thì lại là một âm mưu khác, được công nhận là khôn khéo và sắc sảo nhất trong đám "chó săn" đó, Ngô Chí Đan đang âm thầm bàn bạc cùng Phạm Văn Phương bày mưu hạm hại Trịnh Vĩnh Bình, Nguyễn Trọng Minh mà cái đích đạt được sẽ vừa là chính trị vừa là kinh tế, vừa là việc công vừa là thủ lợi cá nhân. Và cuối cùng cái màn kịch thứ nhất đã được hạ xuống như mọi người đã biết: Trịnh Vĩnh Bình thì bị kết án 11 năm tù giam, còn Nguyễn Trọng Minh thì bị kỉ luật, cách chức Chủ tịch tỉnh. Cũng cần phải nói thêm về sự việc này, trên phương tiện thông tin tuyên truyền và thông báo công khai, Bộ chính trị cộng sản chỉ nói đến việc kỉ luật Nguyễn Trọng Minh là do để mất đoàn kết nội bộ (giữa Minh và Lê Văn Dỹ - bí thư tỉnh ủy) chứ không dám nói đến nguyên nhân chính là do việc nhận hối lộ và quan hệ với Bình Hà Lan (mà thật ra là một đòn thanh trừng lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo cộng sản).
Lại nói thêm, trước khi "hạ" được Nguyễn Trọng Minh, Phạm Văn Phương đã tuyên bố sẽ "bố trí" cho Nguyễn Tuấn Minh lên thay chức Chủ tịch tỉnh, và sự thật đã diễn ra đúng như vậy, không biết chính xác trong "phi vụ" này Phương và Đan kiếm được bao nhiêu ? Chỉ biết rằng sau đó Phạm Văn Phương còn tiếp tục "bố trí" cho Nguyễn Tuấn Minh vào tới Trung ương ủy viên, mà riêng vụ này Phương đã công khai là Nguyễn Tuấn Minh mang đến tận nhà Phương số tiền tương đương 100.000 Mĩ kim, có lẽ việc này thì những người công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Bà Rịa - Vũng Tàu và Hà Nội không ai là không biết. Cũng chính vì thế, sau khi kết thúc "vụ án Phương Vicarrent" thì Nguyễn Tuấn Minh cũng bị kỉ luật và cách chức Chủ tịch. (Thật đúng là một chuỗi những vụ việc có gắn kết với nhau rất lo-gíc và cũng là một bằng chứng rất sinh động của luật nhân quả.)
Vậy là Nguyễn Trọng Minh đã bị Phạm Văn Phương cho một "vố" đau, chỉ một "chiêu" là đã tiêu tan mọi tiền đồ, sự nghiệp (bởi vì Minh là một cán bộ có năng lực, độ tuổi còn nằm trong cơ cấu, đang chuẩn bị đưa vào Ủy viên trung ương Đảng cộng sản và sẽ đảm nhiệm vị trí lãnh đạo cao hơn). Và mối thù này chắc chắn sẽ không thể hóa giải. Chính từ đây câu chuyện được "viết" tiếp với màn kịch thứ hai.
Sau khi bị cơ quan công an cho "đo ván" và "hạ nhục", cái chí của "kẻ quân tử" lúc này chắc chắn sẽ là phải báo thù. Mà "quân tử báo thù mười năm chưa muộn". Minh đã cắn răng chịu nhục, chấp nhận bỏ ngoài tai mọi điều tiếng và làm ra mặt bình thản, bằng lòng với mọi việc. Trong thời gian đó chính là lúc Minh đang qui tụ lại lực lượng, tay chân tin cậy, ngấm ngầm sử dụng những kẻ thân tín nhất và những kẻ trước đây đã nhận những ơn huệ của Minh trong thời gian tại vị để âm mưu một kế hoạch báo thù.
Trong số những kẻ chịu ơn huệ của Nguyễn Trọng Minh trước đây có một người tên là Nguyễn Minh Hoàng - giám đốc Công ty xây dựng và phát triển đô thị (UDEC). Nghe thì tưởng là Hoàng cũng chỉ bình thường như hàng trăm ngàn các vị giám đốc doanh nghiệp khác, nhưng thật ra không phải vậy. Chỉ cần nhìn vào số tài sản mà Công ty xây dựng và phát triển đô thị của Hoàng đã là chủ sở hữu lên đến hàng vài nghìn tỉ đồng, làm Chủ đầu tư hoặc tham gia thực hiện những dự án trị giá hàng trăm tỉ, hàng nghìn tỉ đồng, thì đủ hiểu rằng Hoàng không phải tay vừa (chỉ riêng hai dự án, trong số hàng trăm dự án mà UDEC đã thực hiện, là khu công nghiệp Đông Xuyên và Phú Mĩ I thì tổng giá trị dự án đã là 1.370 tỉ - một nghìn ba trăm bảy mươi tỉ đồng). Quan hệ của Hoàng có thể đến thẳng một số vị Bộ trưởng và Thủ tướng, phó thủ tướng Chính phủ (người viết tự thấy rằng không cần thiết phải dẫn chứng ra đây những sự việc cụ thể, nếu độc giả nào còn cảm thấy nghi ngờ về chi tiết này thì quả thật là đã không am hiểu tình hình thực tế trong nước: tại Việt Nam, là một doanh nghiệp sở hữu những khoản tiền lớn như vậy mà không "mua" được hoặc không "ăn chia" được với mấy vị ấy thì mới là lạ!). Thấy rằng sức mạnh của Hoàng đã ghê ghớm như vậy, vậy mà Hoàng cũng chỉ là "nạn nhân" trong "vụ án Phương Vicarrent", đủ biết rằng thế lực và phe cánh của Phạm Văn Phương mạnh như thế nào.
Và cũng vì một nguyên nhân nữa nằm đằng sau đó, đấy chính là sự bàn bạc của Nguyễn Trọng Minh và Nguyễn Minh Hoàng để đưa Phạm Văn Phương cùng Ngô Chí Đan vào vòng lao lí. Có những lí do khác nhau để Minh và Hoàng cùng nhau thực hiện "vụ án" này, trong đó phải kể đến hai nguyên nhân chính, thứ nhất: dù là những người nắm trong tay những sức mạnh kinh tế và chính trị mạnh nhất của địa phương Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng cả Minh và Hoàng đều là những nạn nhân trực tiếp của Phạm Văn Phương, cho nên cùng có một mối thù chung với Phạm Văn Phương; thứ hai là: trước đây khi Minh còn đương chức, đương quyền thì Công ty xây dựng và phát triển đô thị của Hoàng chính là đơn vị nhận được nhiều ưu ái và bổng lộc của Minh nhất. Hàng loạt các công trình chỉ định thầu hoặc đã được thu xếp trước cho Công ty xây dựng và phát triển đô thị với giá trị cao gấp rưỡi tới gấp hai, ba lần giá trị thi công thực tế. Để độc giả hiểu rõ hơn, xin lấy ví dụ điển hình cụ thể như dự án khu công nghiệp Đông Xuyên và Phú Mĩ I, ngay giai đoạn ban đầu đã bị phát hiện giá trị thực hiện là 531 tỉ (531.000.000.000 vnđ) không qua đấu thầu. Sau này Chính phủ cộng sản lại cùng Hoàng "xẻ thịt" và "xoá sổ" vụ tham nhũng mấy trăm tỉ đó bằng một "tuyệt chiêu" rất đẹp mắt là: để công ty UDEC bị thua lỗ, thực hiện dự án không hiệu quả, không thể tiếp tục thực hiện dự án (có một cụm từ rất "hay" được sử dụng trong văn bản này là: "UDEC đã không nhiệt tình công tác"), sau đó họ lại "đẻ" ra một cơ quan tên là IZICO để nhận bàn giao lại tất cả những hậu quả này, thế là "xí xoá", thế là "chìm xuồng". Quí độc giả có thể tham khảo qua sự việc trên ở các báo chí Việt Nam, hoặc báo điện tử Việt Nam net ngày 12/6/2004 (con số mà Việt Nam net đưa ra là 400 tỉ là không chính xác, con số được xác định lại sau này là 531 tỉ đồng). Còn "đẹp mắt" hơn nữa là sau khi đã rút ruột toàn bộ những số tiền khổng lồ mà UDEC tham nhũng trong suốt cả một quá trình dài, để lại hàng trăm vụ bê bối và một cái tài khoản mang dấu âm (-), họ lại đạo diễn tiếp để xoá sạch dấu vết và cùng nhau "hạ cánh an toàn" bằng cách cổ phần hoá UDEC. Cái chế độ cộng sản đã ăn cướp trắng trợn và tàn bạo mồ hôi, nước mắt và cả máu của người lao động Việt Nam như thế đấy. Khi chế độ cộng sản sụp đổ thì chỉ riêng cái khoản tham nhũng của Minh Hoàng ở Bà Rịa - Vũng Tàu người ta cũng có thể thống kê lên đến hàng nghìn tỉ đồng. Vì vậy, làm sao mà Hoàng lại không xả thân vì Nguyễn Trọng Minh được.
Sau cùng, lại vẫn phải nói đến vai trò của Tổng cục II. Như trước đây đã nói, quan hệ của Phạm Văn Phương là cực kì rộng, đặc biệt là trong các cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án (chưa cần đề cập đến các quan hệ với bên Quốc hội, Chính phủ và Đảng cộng sản). Phương đã chơi là phải quan hệ với cỡ Bộ trưởng, thứ trưởng, Viện trưởng chứ không phải nhỏ. Trước đây, khi Bùi Thiện Ngộ còn là Bộ trưởng công an, đã không ít lần Phương từng đánh xe riêng chở ba Ngộ đi chơi. Phương đi lại với Nguyễn Khánh Toàn, Lê Thế Tiệm, Hoàng Ngọc Nhất còn hơn người trong gia đình, đến tận nhà riêng ăn uống, nghỉ ngơi. Nhiều lần người ta cũng nhìn thấy Phương gặp gỡ, ăn cơm với Hà Mạnh Trí (viện trưởng Viện kiểm sát tối cao), được biết Trí cũng rất quí Phương về tài ăn nói và giao thiệp (tất nhiên quí nhất là cái khoản "bao thư"). Với Trịnh Hồng Dương (chánh án Tòa tối cao trước đây) thì quan hệ lại càng dễ dàng, đơn giản hơn. Còn các cán bộ cấp dưới khác ở trong nghành công an, kiểm sát, tòa án thì chỉ coi như đàn em để Phương sai bảo. Chính vì vậy để "đụng" được vào Phương thật cũng không phải dễ. Minh và Hoàng đã phải nghĩ nát óc về vấn đề này, nếu dùng đến mấy cái cơ quan bảo vệ pháp luật trên để đánh Phương thì chẳng khác nào đưa mình nộp mạng cho Phương, nhất là cạnh Phương lại luôn có Ngô Chí Đan trấn giữ một vị trí cực kì quan trọng trong công an Bà Rịa - Vũng Tàu để làm tai mắt bảo vệ Phương. Đối đầu với Phương mà sảy tay thì coi như là chui vào miệng cọp. Vậy là Minh và Hoàng đã đi đến bài toán quyết định: phải dùng Tổng cục II - Bộ quốc phòng.
Ở đây, chúng ta cũng cần hiểu thêm về quan hệ giữa quân đội và công an ở Việt Nam từ trước tới giờ lúc nào cũng như nước với lửa. Hai cơ quan này mang tiếng là hỗ trợ với nhau và cùng mang một trách nhiệm là bảo vệ an ninh đất nước, nhưng thực chất họ chỉ "bằng mặt chứ không bằng lòng" với nhau. Việc Phạm Văn Phương có quan hệ thân thiết với các quan chức trong nghành công an lại cũng chính là chỗ làm cho Phương rất khó kết thân được với các quan chức của Tổng cục II - Bộ quốc phòng. Thật ra là Phương cũng đã nhiều lần tìm cách tiếp xúc và kết thân, song đều bị từ chối, cuối cùng thì Phương cũng chỉ biết được vài ba "con tép riu" trong Tổng cục II để thỉnh thoảng "hóng hớt" các thông tin và đem ra dọa nạt những kẻ yếu bóng vía. Ngược lại, Tổng cục II đã có một thời gian nắm được các thông tin báo về các quan hệ của Phạm Văn Phương với rất nhiều quan chức cao cấp nhất trong Chính phủ, Đảng cộng sản nên họ đã có ngấm ngầm theo dõi những hành tung của Phương mà Phương lại không hề biết.
Trong khoảng thời gian dài làm lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Trưởng ban kinh tế đối ngoại, phó chủ tịch và chủ tịch), Nguyễn Trọng Minh đã có biết được những báo cáo của cơ quan an ninh quân đội về Phạm Văn Phương (trong một báo cáo họ ghi rõ: "Phương là một phần tử cơ hội ...", "... lợi dụng uy tín của các lãnh đạo cấp cao"). Từ đó, Minh và Hoàng khẳng định rằng: muốn "hạ" được Phương thì rứt khoát phải dùng lực lượng của Tổng cục II. Nguyễn Minh Hoàng đã bỏ ra một số tiền khá lớn (theo thông tin người viết được biết là trên 200.000 Mĩ kim, hơn 3 tỉ đồng Việt Nam) để đặt vấn đề "thịt" Phương Vicarrent với lãnh đạo Tổng cục II. Đồng thời với số tiền trên là hàng loạt các chứng cứ liên quan đến các hoạt động phạm pháp của Phương mà Minh, Hoàng và các "tay chân" của mình thu thập được để hòng "hại chết" Phương. Bởi vì cả Minh và Hoàng đều hiểu rằng trong cuộc chơi này nếu chỉ sơ xuất một chút, hoặc không thẳng tay "hại chết" Phương thì đồng nghĩa với việc tự kết án tử hình cho mình. Ở thời điểm cuối năm 2001, đầu năm 2002 Hoàng đã nhiều lần bay ra Hà Nội để lo vụ này, Hoàng đã tiếp xúc được với lãnh đạo của Tổng cục II qua mối quan hệ của một người có tên là D. (người viết chưa kiểm chứng được có chính xác là tên này hay không?). Và tất nhiên với một khoản thù lao rộng rãi như vậy cùng với hàng loạt chứng cớ tội lỗi rất rõ ràng của Phương, Tổng cục II không thể từ chối "hợp đồng" này.
Và cũng là do "luật nhân quả", kẻ "gieo gió" là Phương thì cũng có ngày Phương phải "gặt bão". Đã quen với kiểu ăn cướp tiền thiên hạ rồi nên Phương cũng không thể tha cho Hoàng, đầu tiên là "xin đểu" ít tiền rồi sau đó lòng tham đã đẩy Phương đến mục đích "ăn cướp" của Hoàng số tiền lớn hơn. Không biết "trời xui đất khiến" thế nào mà Phạm Văn Phương lại bày ra cái cái trò ấy vào đúng lúc Hoàng và Minh đang ngồi "đợi thời" để ụp cái bẫy đó xuống đầu Phương.
Cơ hội ngàn năm mới có một lần cho Minh, Hoàng và Tổng cục II. Nhưng Tổng cục II mà đã làm thì kín lắm, không rườm rà, lộ liễu và "non tay" như bên công an khi "xía" vào vụ Trịnh Vĩnh Bình. Khi Phương cùng đồng phạm của mình là Nguyễn Thành Sơn giăng ra một cái bẫy để "làm tiền" Minh Hoàng là: có nhiều thông tin bất lợi cho Hoàng và công ty UDEC, nếu Hoàng muốn Phương can thiệp giúp để giải quyết êm mọi việc thì phải chi ra 100.000 USD để Phương "lo" giúp. Ngoài những tội trạng khác của Phương mà họ đã nắm trong tay, đây là cơ hội bằng vàng để Tổng cục II đưa Phương vào chỗ chết. Tổng cục II quyết định để Hoàng trực tiếp vào "cuộc chơi". Sự việc này binh pháp gọi là "gậy ông lại đập lưng ông", trong công việc thì người ta cho là "tai nạn nghề nghiệp", còn dân gian thì vẫn gọi là "chơi dao có ngày đứt tay", có nghĩa là cái bẫy mà Phương đưa ra với Hoàng sẽ sập xuống chính Phương. Với những phương tiện, thiết bị kĩ thuật đầy đủ, mạng lưới an ninh dày đặc, họ rất ung dung, từ từ để đưa con mồi vào tròng, với những chứng cớ quá chi tiết và thuyết phục mà một con "cáo già" như Phương cũng phải cúi đầu chịu tội. Cho đến khi bị những chiếc còng số tám khóa vào tay, Phương vẫn chưa hề biết được chuyện gì đã xảy ra với mình, tám cuốn băng ghi âm cùng với cả nhiều nhân chứng, vật chứng đều xuất hiện để kết tội Phương.
Lại phải nói thêm và làm sáng tỏ những chi tiết này. Ngày 23/3/2002, khi báo chí cộng sản đồng loại đưa tin là Phạm Văn Phương đã bị cơ quan công an bắt quả tang tại nhà hàng Song Ngư, số 70 đường Sương Nguyệt Anh, Sài Gòn, những người đã một lần từng được nghe đến danh của Phương đều giật mình. Trong nội bộ công an cũng bất ngờ, từ các vị thứ trưởng đến các vị Tổng cục trưởng, cục trưởng hàng ngày còn nhậu nhẹt, "chén chú chén anh" với Phương, còn cầm hàng đống tiền của Phương nghe thấy tin này mà toát mồ hôi, "nhột nhạt" trong người. Các lực lượng nghiệp vụ thì nháo nhác không biết bên bộ phận nào làm vụ này? Bên an ninh điều tra (A24) thì không hề biết gì, thôi thì cũng phải, việc này thì những người trong nghành cũng hiểu rồi, Đan còn đang ngồi đó thì làm sao để A24 làm được. Hay là lãnh đạo sợ để A24 biết nên bên an ninh kinh tế (A17) phải "chộp" ngay cho xong rồi mới chuyển hồ sơ sang cho cơ quan điều tra, thế nhưng A17 cũng có biết gì đâu. Hay là bên khối cảnh sát làm? Lại có người đoán là bên cảnh sát điều tra (C16) làm, nhưng bên cảnh sát điều tra cũng hoàn toàn không biết gì. Thế là lại phải gọi điện tìm hiểu khắp nơi, cả bên cảnh sát kinh tế (C15), cả bên cảnh sát hình sự (C14) (mà thật ra không bao giờ những vụ thế này mà lại để các cơ quan đó tham gia), rồi đến hỏi cả trinh sát ngoại tuyến cũng ngớ người ra, chẳng hiểu là bộ phận nào làm cả. Thế là, hết địa phương thì lại bảo là Bộ làm, Bộ lại bảo địa phương làm, chẳng biết đường nào mà lần cả. Mà chắc chắn rằng đến bây giờ nhiều bộ phận nghiệp vụ bên công an vẫn không hề biết đơn vị nào tham gia vụ này, hoặc là chỉ đoán già, đoán non lung tung. Các báo chí cũng chộp được vài tấm ảnh với mấy cái sắc phục màu xanh của bên an ninh, nhưng thật ra chỉ là mấy cái áo an ninh giả của nhân viên Tổng cục II mặc lên để "lòe bịp" Phương và mấy nhân vật công an nữa thì là được Tổng cục II gọi đến để hoàn tất nốt màn kịch sau khi họ đã kéo phông "hạ màn".
Cần phải tố cáo thêm về hành động bao che, thông cung của các báo chí của nghành công an. Tất cả các báo của bên công an từ Công an nhân dân, An ninh thủ đô, An ninh thế giới đến Công an TPHCM viết về vụ này đều có vẻ đầy đủ, khách quan, song thật ra chỉ có những người trong nội bộ mới biết rằng do vụ việc này là một vụ "đánh úp", "đánh lén", "đánh thuê"; mà tội phạm lại chính là những kẻ có quan hệ rất rộng với nghành công an và đang công tác trong nghành, cho nên các báo chí trong nghành công an lập tức đưa ngay những chi tiết rất quan trọng và đáng lẽ chưa thể công bố báo chí trong giai đoạn điều tra để Ngô Chí Đan và những kẻ đồng lõa, giúp đỡ, "bảo kê" cho Phương trong vụ này biết được và tìm cách "thoát thân" trước.
Các tờ báo khác như tờ Thanh Niên ra ngày 25/3/2002 viết về nội dung trong lệnh tạm giam của cơ quan công an đã ghi rõ tội danh của Phương: "hành vi lừa đảo đối tác trong hoạt động kinh doanh và có hành vi tống tiền". Chỉ một dòng này thôi thì đã lộ rõ âm mưu của một tổ chức đứng đằng sau vụ án này. Có nghĩa là ban đầu họ âm mưu với nhau định "hạ" Phương Vicarrent bằng các chứng cứ mà họ đã thu thập được là của "hành vi lừa đảo đối tác trong kinh doanh", giữa lúc đó thì lại phát sinh ra việc Phương bày ra màn kịch để ăn tiền của Hoàng, thế là họ bắt Phương vì chứng cứ của "có hành vi tống tiền". Cho nên sau này phiên tòa xử Phương Vicarrent có nói gì đến tội danh thứ nhất đâu mà chỉ khép vào tội chiếm đoạt tài sản thôi. Đây cũng là một sơ xuất đáng xấu hổ của Tổng cục II và Bộ công an, và cũng là một sơ xuất khó tránh khỏi trong hàng nghìn chi tiết của một vụ án. Chi tiết này là một bằng chứng xác thực cho sự thật mà nội dung bài viết này nêu ra.
Còn rất lâu sau đó thì báo Nhân Dân đã viết như thế nào ? Cần xem lại về bài viết trên báo Nhân Dân ra ngày 12/3/2004 của tác giả Vũ Hoàng Long. Cần phải trích nguyên văn một vài đoạn trong bài báo để độc giả sẽ thấy rõ được tác giả là một nhân viên của Tổng cục II (có thể bút danh giả hoặc mượn bút danh), và đã bị "lộ đuôi" về cái bản chất thật sự của vụ án bởi những chi tiết này: "Bối cảnh Nguyễn Minh Hoàng bị Phương lừa đảo bắt đầu từ cuối năm 1998, khi ông Nguyễn Trọng Minh thôi giữ chức Chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." (không ai "khảo" tự nhiên sao lại "khai" ra việc của ông Nguyễn Trọng Minh để làm gì thế? Có liên quan gì đến nội dung bài báo và có liên quan gì đến vụ án này đâu?); và đoạn này nữa: "Những vụ lừa đảo, cưỡng đoạt tài sản của Phương chỉ là một phần trong những hành vi phạm tội của y. Nhưng chỉ những hành vi phạm tội nói trên cũng đủ căn cứ để cơ quan chức năng truy tố y theo khung hình phạt cao nhất của hai tội danh: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cưỡng đoạt tài sản" (lại lòi cái đuôi của kẻ đang âm mưu hại người với những tội danh khác, song lại may mắn nắm được chứng cứ quan trọng hơn đủ để hại chết, thế là đã đủ để hoàn thành "hợp đồng đánh thuê" rồi nhé). Người viết khẳng định bài báo này phải là của những nhân viên Tổng cục II, những người đã mưu đồ dựng lên "vụ án Phương Vicarrent" và nắm rõ sự thật của vụ án. Mục đích của bài báo là để chống chế, bao biện cho cái điều vô lí mà họ đã làm và đang bị dư luận thắc mắc.
Thế là bản án 27 năm tù giam cho kẻ phạm nhân tóc chỉ còn một màu bạc trắng được hoàn thành. Nguyễn Trọng Minh và Nguyễn Minh Hoàng đã dùng Tổng cục II để chấm dứt cuộc đời của "Phương Vicarrent" ở trong tù như vậy đó.
Người dân Việt Nam thì có mấy ai biết được lại có vai trò của Nguyễn Trọng Minh trong vụ án này đâu. Thậm chí, đến bài viết này đã đưa toàn bộ sự thật ra ánh sáng, người đọc cũng chỉ thấy rất ít chi tiết đề cập đến tên ông ta. Rõ ràng trong vụ này Nguyễn Trọng Minh vừa là chủ mưu vừa là kẻ "ném đá dấu tay". Sự tính toán, sắp xếp và thực hiện của Minh rất kín đáo và khôn ngoan. Thế nhưng, có một điều mà không thể "khôn ngoan" được, đó chính là Minh đã "chơi" với Tổng cục II, mà "chơi dao thì sẽ có ngày đứt tay". Ngay sau khi Nguyễn Minh Hoàng tiếp cận và "ký hợp đồng" được với Tổng cục II thì cũng từ lúc đó toàn bộ mọi sự bàn tính, gặp gỡ của Minh với Hoàng cũng đã được Tổng cục II theo dõi, ghi chép rất đầy đủ. Đấy chính là những bằng chứng mà khiến Minh phải chịu làm con tin cho Tổng cục II suốt quãng đời còn lại của mình (có lẽ cái đám lãnh đạo cộng sản thì có đến hơn 90% phải chấp nhận làm con tin cho Tổng cục II tương tự như Minh, cho nên đến bây giờ có kẻ nào dám động đến nó đâu).
Nhưng mà, ở đời này có cái gì giữ kín được mãi đâu, "cái kim trong bọc lâu ngày cũng phải lòi ra". Những điều vô lí lại càng không thể lòe bịp thiên hạ được. Những người có trình độ về pháp luật chắc chắn đều nhận thấy: "có một cái gì đó không ổn" (mà thật ra là vô lí, trái pháp luật) trong vụ này. Rõ ràng trong vụ việc này Phạm Văn Phương là kẻ có tội và pháp luật phải trừng trị Phương, thế nhưng tất cả những người có trình độ pháp luật và cả toàn bộ các cơ quan tham gia tố tụng đều nhận thấy rằng: các tội danh ghép cho Phương (cưỡng đoạt tài sản và lừa đảo) là vô lí, không đúng bản chất sự việc, không đúng với những chứng cứ và lời khai của các bên (Viện kiểm sát và Tòa án cũng đành phải đọc cáo trạng và tuyên án theo cái bản của Tổng cục II đã viết sẵn mà thôi). Cả Phạm Văn Phương và luật sư của mình là ông Phan Trung Hoài ở cả hai phiên tòa sơ phẩm và phúc thẩm đều không công nhận tội danh này. Sự vô lí đó nằm ở chỗ nào? Cũng như sự vô lí ở trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình mà nếu như không tìm ra vai trò của Tổng cục II thì người ta đều không nhận ra được cái vô lí đó. Tất cả những sự thật trên đây đã trả lời cho cái sự vô lí đó. Bản chất của vụ án không phải là cưỡng đoạt tài sản, không phải là tống tiền, Nguyễn Minh Hoàng tự nguyện đưa tiền cho Phương cơ mà, vậy làm sao gọi là cưỡng đoạt được? Nói là Phương tống tiền Hoàng, điều này là không có cơ sở, Hoàng về kinh tế thì mạnh hơn Phương, chức vụ thì lớn hơn Phương, Phương lại không phải là quan chức nhà nước, không phải là cơ quan bảo vệ pháp luật, lại cũng không hề dùng đến sức mạnh hay quyền lực nào để đe dọa Hoàng (mặc dù là Phương có dùng Đan để "bóng gió" dọa Hoàng nhưng thực chất vị trí như Đan thì chưa thể dọa được Hoàng, và trong quá trình xét xử Đan cũng phủ nhận toàn bộ điều này, bằng chứng rõ nhất là cơ quan tố tụng không khởi tố Đan) vậy thì làm sao mà tống tiền được? Phương chỉ nói với Hoàng một cách rất thân thiện là: "có nghe dư luận thanh tra Chính phủ định thanh tra công ty và công an định bắt chú, chú nên đưa cho anh 100.000 USD để anh chạy giúp cho chú thoát tội", thế là Hoàng đưa tiền. Vậy thì rõ ràng rằng ở đây động cơ và bản chất của sự việc là "chạy tội", mà danh từ của pháp luật gọi là tội "hối lộ". Nhưng tội hối lộ lại phải có các yếu tố đưa hối lộ, nhận hối lộ và môi giới hối lộ. Từ đây nhận thấy rõ rằng Phương chính là kẻ "môi giới hối lộ", nhưng cái khó là vậy thì lại phải tìm cho ra cho được ông "đưa" và ông "nhận" hối lộ. Nếu như vậy thì lại hỏng mất vở kịch của Minh, Hoàng và Tổng cục II đã dựng ra, bởi vì như vậy thì chính Nguyễn Minh Hoàng phải chịu tội đưa hối lộ, mà Hoàng lại đang đứng trên cương vị "chủ hợp đồng" thuê Tổng cục II làm vụ này cơ mà. Lại còn mấy ông lớn nào nhận hối lộ ở đây nữa chứ? Không thể khui lung tung ra như thế được, lại loạn hết cả triều đình lên. Chắc chắn Tổng cục II không thể để xảy ra như vậy. Do vậy chỉ có cách "biến hóa" thành tội cưỡng đoạt tài sản, chỉ có một bên bị cáo và một bên bị hại mà thôi, chỉ có một mình Phạm Văn Phương là kẻ có tội mà thôi (chắc thằng cha Hoàng này bị "mát" quá, không có tội tình gì và người ta cũng không xin xỏ, ép buộc gì mình vậy mà tự dưng lại đưa 100.000 Mĩ kim để biếu không).
Đấy là xét trên hồ sơ, bút lục và những chứng cứ trước tòa, đấy là xét về góc độ pháp luật. Còn bản chất thật sự và cái "bí mật" của nó thì đã được bài viết này tố cáo rõ ràng ở trên đây. Tất cả cái bản chất lưu manh, xảo trá và vô lí của "vụ án Phương Vicarrent" cũng chính là bản chất của chế độ cộng sản. Mọi lo-gíc chỉ có thể tìm ra từ sự thật, và sự thật thì không thể che dấu mãi được. Hàng triệu triệu điều vô lí đã và đang tồn tại và phát sinh ra trong xã hội Việt Nam, đó chính bởi vì chế độ cộng sản cầm quyền đã bóp méo sự thật, che dấu sự thật, thêu dệt sự thật. Nhà nước cộng sản ghét bỏ sự thật, không muốn nghe những lời nói thật, bỏ ngoài tai những lời nói tâm huyết của những người trung thành nhất, yêu nước nhất, dũng cảm nhất, kể cả những người đã từng mất những phần thân thể và đổ máu cho cái mảnh đất Việt Nam này, để xây dựng nên cái chế độ cộng sản này. Họ chỉ thích nghe những lời khen ngợi, tán dương, nịnh hót, lừa dối của những đám tôi tớ giúp việc cơ hội, nịnh thần, đấy là sự thật mà lãnh đạo cộng sản nghe được. Nhà nước cộng sản cũng không cần nhận thấy sự thật. Sự thật tất yếu là chế độ cộng sản trên toàn Thế giới sẽ phải sụp đổ hoàn toàn, nếu họ không lập tức hối cải và phục thiện thì toàn bộ bộ máy của họ, bản thân họ, và cả dòng họ gia đình của họ sẽ phải chứng kiến cái cảnh đứng trước đoạn đầu đài. Nhà nước cộng sản không cần nhìn thấy những cảnh đời đau khổ, những gia đình nông dân đang lao động cật lực cả cuộc đời cũng chỉ có được cuộc sống bữa no bữa đói, không có điều kiện học hành, đau ốm không thuốc men. Họ không nhìn thấy cảnh hàng triệu con người chịu áp bức bóc lột ở khắp nơi, những cảnh sống không còn một tấc đất để cắm dùi, những cảnh đời li tán tha phương cầu thực, những cảnh đời phải bán thân nuôi miệng ở đất khách, xứ người, rồi còn hàng triệu những nỗi oan khuất mà chỉ biết đành chịu ôm hận xuống suối vàng. Họ chỉ biết đến những báo cáo thành tích phát triển đứng trên mồ hôi của đồng bào mình và trong sự rút cạn kiệt tài nguyên của đất nước, phá tàn lụi cả thiên nhiên, hủy hoại mọi nền tảng xã hội; những "thành tích phát triển" mà mãi mãi không bao giờ theo kịp những nước quanh khu vực. Họ chỉ biết đến những bữa ăn đắt giá bằng tiền công mấy năm lao động của một người dân, biết đến những biệt thự đắt tiền và những nhãn hiệu xe hơi nổi tiếng (mà mỗi cái xe tính tương đương ra bằng đến 3000 con trâu) mà họ đang sở hữu, đấy là sự thật của lãnh đạo cộng sản. Đã không nghe, không thấy lại càng không cần nói đến sự thật, sự thật nào có được khi mà bên tai của Đảng, Chính phủ còn có Ban tư tưởng - văn hóa trung ương, họ cưỡng bức luôn hơn 80 triệu con người phải hàng ngày lắng nghe những điều họ tuyên truyền, nhồi nhét. Họ thích những điều hoa mỹ, vô nghĩa như: "đại hội thành công tốt đẹp" (chưa có một cái hội nghị nào của cộng sản lại không "thành công tốt đẹp"), "theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại" (ổng đã "nghẻo" hơn 36 năm nay rồi vẫn còn bắt cả dân tộc đi theo cái tư tưởng ấy mãi, làm cái việc bắt người chết chỉ đường cho người sống, định để cho cả dân tộc quay về thế kỉ 19 hay sao?), "Việt Nam cực lực lên án" (chẳng làm gì được ai cả, chỉ cứ "cực lực phản đối" hay "lên án" thế là xong) ..., hay là trẻ em thì có những danh hiệu "cháu ngoan Bác Hồ" (sao không phải là "cháu ngoan bác Franklin" thì có tốt hơn không, ít nhất cũng gấp được hơn mười lăm ngàn lần "bác Hồ" đấy!), rồi các "bà mẹ Việt Nam anh hùng" (đồng nghĩa với trao tặng danh hiệu là việc phải cứu đói các mẹ đang sống lay lắt và bao nhiêu người mẹ khác cũng đã "ngậm cười nơi chín suối" để nhận danh hiệu ấy do Diêm vương trao tặng; mà cũng lạ là tại sao chẳng có "ông bố Việt Nam anh hùng" nhỉ?), họ nhồi nhét tất cả những điều đó vào đầu những người dân nô lệ của họ (nhà báo người Pháp Jean Lacouture - đã nói đúng: cộng sản đã áp dụng chính sách thực dân với chính đồng bào của mình) kể từ đứa trẻ lúc mới chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cộng sản triền miên suốt 60 năm trời nói những điều vô lí, trống rỗng, xuyên tạc mà không cảm thấy xấu hổ, không biết ngượng miệng, nói cho sướng miệng mình còn có ai nghe và ai tin không thì cũng "kệ xác mày", đấy là sự thật của chế độ cộng sản. Nhân dân Việt Nam không bao giờ còn tin những điều cộng sản nói và càng không thể chấp nhận được những gì cộng sản đã và đang làm. Nhân dân chỉ còn một cơ hội duy nhất và tất yếu là phải lật đổ chế độ cộng sản cầm quyền; đòi lại dân chủ, nhân quyền cho chính mình; xoá bỏ mọi bất công, đòi lại công bằng cho xã hội; xây dựng lại đất nước Việt Nam, cải thiện lại hình ảnh của dân tộc Việt Nam.
Đọc bài viết này hẳn độc giả sẽ thắc mắc là: vậy bản chất của vụ án rõ ràng cũng là những cuộc "đâm thuê, chém mướn" của các thế lực Mafia cộng sản mà nếu làm rõ ra thì có lẽ còn liên quan đến cả vài chục vị ở trung ương và Bộ chính trị có quan hệ với Phương và đứng đằng sau Phương Vicarrent nữa chứ, rồi còn lực lượng bóng tối của phe bên kia gồm Nguyễn Trọng Minh, Nguyễn Minh Hoàng và Tổng cục II thì ra sao? Tất nhiên, trong một chế độ dân chủ, trong một chính phủ minh bạch nếu cứ bắt đầu từ đấy để chứng minh "bàn tay sạch" thì như trong "vụ án Phương Vicarrent" người ta sẽ còn liệt kê được thêm vài chục vị nữa từ Tổng bí thư, Thủ tướng, phó thủ tướng đến các vị Chủ nhiệm văn phòng chính phủ, bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Kế hoạch đầu tư, Xây dựng, Thương mại, ... rất rất nhiều, người viết không thể biết hết được và cũng không thể liệt kê hết ra đây được, cần phải hẹn lại độc giả ở những bài viết khác nói đến những sự việc cụ thể và từng danh tánh cá nhân sẽ được nêu lên chính xác, rõ ràng để những kẻ "đày tớ hút máu dân" đó sẽ không thể chối cãi được nữa.
Cuối cùng, xin nói thêm, để khẳng định và giải thích nhiều chi tiết trong bài viết, người viết đã phải dẫn chứng quá nhiều những tình tiết rườm rà, những ngoặc đơn, ngoặc kép làm phiền lòng độc giả. Xin các quí độc giả tìm xem thêm những bài viết của "vụ án Phương Vicarrent" ở những bài báo và tài liệu khác để hiểu rõ hơn.
Xin hẹn lại độc giả ở một bài viết khác. Xin chân thành cảm ơn!
Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 10/6/2005
<< Home
