30/5/06
Comments:
<< Home
Nhà văn Vũ Thư Hiên: “Người Việt hải ngoại là nguồn hỗ trợ hữu hiệu cho phong trào dân chủ tại quê nhà”.
Bài phỏng vấn nhà văn Vũ Thư Hiên dưới tiêu đề “Cứ để sự thật xù xì, không cần đẽo gọt” trên trang nhà Đàn Chim Việt Online ngày 15/05/06 đã được rất nhiều độc giả sôi nổi tham gia ý kiến. Để tiếp tục đề tài về bước tiến mới của phong trào dân chủ Việt Nam trong tình hình hiện nay, Đinh Quang Anh Thái của Việt Tide đặt với ông Vũ Thư Hiên, tác giả quen thuộc của Việt Tide, một số câu hỏi mà trong bài phỏng vấn nói trên chưa được đề cập đến.
Việt Tide: Bản tuyên ngôn dân chủ 2006 có nhắc nhiều đến Hiến chương 77 của Tiệp khắc; phải chăng những nhà tranh đấu dân chủ tại quê nhà chúng ta khi nhận định tình hình Việt Nam thấy có những điểm tương đồng với tình hình Tiệp Khắc trong thời điểm cuối thập niên 70?
Vũ Thư Hiên: Tôi không nghĩ như vậy. Tình hình hai nước ở thời điểm Hiến chương 77 và Tuyên ngôn Dân chủ 2006 ra đời không có bao nhiêu tương đồng. Giữa Hiến chương 77 và Tuyên ngôn Dân chủ 2006 là một khoảng cách gần ba chục năm. Xã hội Việt Nam hôm nay và xã hội Tiệp Khắc (Czechoslovakia) năm 1977, tuy là một khoảng cách thời gian lớn, khác nhau rất nhiều. Tiệp Khắc (từ 1993 đã tách thành 2 nước: Cộng hoà Czech và Slovakia) là một nước châu Âu, ba chục năm trước đã là một nước công nghiệp khá phát triển, dân chúng có mức sống khá cao, dân trí so với các nước Tây Âu phát triển không đến nỗi kém, về truyền thống văn hoá có trường đại học nhiều tuổi nhất châu Âu. Việt Nam là một nước châu Á, đến năm 2006 vẫn còn là một nước nghèo, nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp chập chững, không có lấy một trường đại học đẳng cấp quốc tế. Trong hai thời điểm khác nhau ấy, hai nước chỉ có một cái chung, giống nhau, là ở cả hai nơi cùng có chế độ cai trị độc đảng. Không phải vì những điểm tương đồng giữa tình hình ở hai nước về các mặt kinh tế xã hội mà những nhà dân chủ Việt Nam muốn tìm thấy trong Hiến chương 77 những kinh nghiệm cho Việt Nam. Không phải. Cái chính làm cho các nhà dân chủ Việt Nam chú mục tới Tiệp Khắc, theo tôi nghĩ, đó là sự tương đồng về tính chất và về đường lối của hai phong trào - cả hai cùng chủ trương đấu tranh ôn hoà, bất bạo động nhằm chuyển hoá phương thức quản trị xã hội từ độc tài toàn trị sang dân chủ. Từ phong trào Hiến chương 77 Tiệp Khắc mở rộng ra thành cuộc đấu tranh của toàn dân Tiệp Khắc mới có cuộc “Cách Mạng Nhung” (Velvet Revolution) năm 1989. Những hình thức tổ chức quần chúng phản kháng như Diễn đàn Công dân (Civic Forum), Uỷ ban Bảo vệ Người oan ức (VONS), Công chúng chống Bạo lực (PAV) là những hình thức đấu tranh ôn hoà nhưng hiệu quả. Học tập kinh nghiệm Tiệp Khắc là học tập cách đoàn kết toàn dân đấu tranh bất bạo động. Khác với cuộc cách mạng dân chủ ở Ba Lan do công nhân được Nhà Thờ ủng hộ dẫn đầu, phong trào Hiến chương 77 do rất nhiều thành phần đối kháng cùng sát cánh bên nhau – nhân dân lao động, trí thức cấp tiến, tăng lữ, cựu cộng sản, đủ mặt. Năm 2000, nhờ các bạn dân chủ Việt Nam ở Tiệp tôi có dịp gặp một số người đã ký tên vào Hiến chương 77. Các bạn Tiệp đã kể cho một nghe nhiều chuyện thú vị về cuộc vận động toàn dân đứng chung với nhau trong một mặt trận chung xoá bỏ độc tài. Sau khi cuộc “Cách Mạng Nhung” thắng lợi, những “chiến sĩ dân chủ” của Hiến chương 77, nếu ta có thể gọi họ bằng cái tên như thế, ai trở về nhà người ấy và tiếp tục công việc nghề nghiệp của mình. Cái mạnh của họ là họ không để cuộc đấu tranh chính trị biến họ thành những nhà chính trị. Cái yếu của ta là chúng ta có quá nhiều nhà chính trị trước khi có cuộc đấu tranh chính trị hữu hiệu. Học kinh nghiệm của Tiệp Khắc là rất nên.
Việt Tide: Việt Tide: Cuộc Cách Mạng Mùa Xuân Praha 1968 của Tiệp Khắc bị Hồng quân Liên Xô đè bẹp; Cách Mạng Nhung 1989 thành công vì lúc bấy giờ Gorbachov án binh bất động, không can thiệp vào tình hình Tiệp Khắc. Với Việt Nam, nếu xẩy ra một cuộc nổi dậy của quần chúng và đảng cộng sản Việt Nam xin Trung Quốc can thiệp, liệu Bắc Kinh có đưa quân vào hay không? Nếu có, tình hình sẽ diễn ra theo chiều hướng nào?
Vũ Thư Hiên: Tôi nghĩ rằng chuyện đó ít có cơ hội xảy ra, rất ít, gần bằng không. Trước hết, tình hình thế giới hôm nay không giống tình hình năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình xua quân vượt biên giới để “cho Việt Nam một bài học”. Hồi đó, Đặng Tiểu Bình chỉ phải lo lắng nhìn về phía “người anh em phương Bắc” là Liên Xô để xem thái độ “người anh em” thế nào. Còn bây giờ các ông con Trời ở Trung Nam Hải phải láo liên nhìn cả thế giới, nhất là phải nghe ngóng xem siêu cường số 1 thế giới gật hay lắc. Đường lối bành trướng của Trung Nam Hải cũng khác trước, họ không thiên về dùng quân sự nữa, biết rằng dùng quân sự hại nhiều hơn lợi, ngay cả với các nước “phên dậu” phía Nam. Họ thiên về dùng sự khống chế bằng xâm nhập và đè bẹp bằng kinh tế và chỉ mở rộng biên cương khi có thể hăm doạ và mua chuộc những chính quyền hèn yếu, mà cũng chỉ mở rộng đến những chỗ rất cần mở rộng thôi, vì nhu cầu của nền kinh tế Trung Quốc (những nơi có khoáng sản quý mà nó nhất thiết phải chiếm lấy). Đưa quân vào Việt Nam là liều lĩnh. Hành động đó sẽ làm cho tất cả các nước Đông Nam Á bất bình và sợ hãi để đoàn kết lại chống chọi với con rồng điên. Nó còn kéo theo sự bất bình của cả thế giới vốn đang lo lắng về sức mạnh bành trướng của Trung Quốc nữa. Và điều quan trọng là trong sự lặng lẽ phân chia vùng ảnh hưởng, liệu Hoa Kỳ có để yên cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm không? Hơn thế, kinh nghiệm năm 1979 cho thấy không phải chỉ một mình Trung Quốc cho Việt Nam một bài học, mà chính Trung Quốc cũng được Việt Nam cho một bài học – không dễ gì đè bẹp được một Việt Nam toàn dân chung sức chống lại bọn xâm lược (hay can thiệp). Kinh nghiệm lịch sử đã cho người Tàu thấy lòng yêu nước của người Việt Nam là thế nào. Năm 1979 Trung Quốc đã thất bại trước sức đề kháng tự động của nhân dân Việt Nam mới chỉ ở riêng mấy tỉnh giáp biên giới, trong khi do sự hèn yếu của chính quyền Hà Nội quân đội chính quy chỉ tập trung ở phòng tuyến sông Cầu để chờ đợi quân Tàu ở đó. Bắc Kinh có thể gây rối ở biên giới để hỗ trợ cho chính quyền sắp sụp đổ, chứ đưa quân vượt biên giới là một hành động dại dột, khó có người tỉnh táo nào dám làm. Trong trường hợp này người Tàu sẽ quan tâm tới việc ủng hộ và cài đặt những người thân Trung Quốc vào chính quyền mới hơn là ủng hộ những kẻ thất thế.
Việt Tide: Từ Hiến chương 77 đến Cách Mạng Nhung là 12 năm; Việt Nam thì sao, liệu thời gian có kéo dài như vậy không?
Vũ Thư Hiên: Một đặc điểm của lịch sử là không bao giờ nó lặp lại i xì một bản cũ. Nó có thể giống về nội dung nhưng hình thức thì bao giờ cũng khác, thời gian ở đây cũng vậy. Tôi không nghĩ rằng sẽ có sự tương đồng về thời gian giữa Việt Nam và Tiệp Khắc trong sự chuyển hoá hoà bình từ độc tài qua dân chủ. Những biến chuyển trên trường quốc tế cho ta thấy chúng xảy ra với tốc độ nhanh chóng hơn nhiều so với những sự kiện lịch sử ở cuối thế kỷ trước, tần suất của những biến chuyển cũng cao hơn. Nước ta là nước nhỏ. Vận mệnh của nó, như ta thường thấy, lệ thuộc khá nhiều ở những biến chuyển quốc tế. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta cứ việc khoanh tay ngồi chờ cái gì đến sẽ đến. Chúng ta phải làm những việc mà chúng ta thấy cần phải làm. Bằng cách đó chúng ta sẽ thúc đẩy lịch sử đi nhanh thêm.
Việt Tide: Ông có cho rằng sau khi “nín thở qua sông” để vào được WTO cái đã, Hà Nội sẽ quay lại đàn áp phong trào dân chủ hay không?
Vũ Thư Hiên: Tôi nghĩ Hà Nội rất muốn thế. Nhưng ý muốn là một chuyện, khả năng là một chuyện khác. Khoảng cách giữa hai thứ đó có thể gần mà có thể xa. Trong tình hình cụ thể này khoảng cách ấy là xa. Khi anh đã vào sân chơi chung với cộng đồng nhân loại anh không thể cứ đóng cửa nhà anh lại để anh mặc sức muốn làm gì trong đó thì làm, nhất là trong trường hợp bùng nổ thông tin hiện nay. Mọi hành động của anh thiên hạ đều được biết rất nhanh chóng, và nhanh chóng có phản ứng đáp lại. Chính quyền Trung Quốc đã chơi cái bài như thế sau khi vào được WTO. Dư luận quốc tế đã nói nhiều về những vi phạm từ phía Trung Quốc đối với những ràng buộc chung cho mọi quốc gia thành viên. Một mặt, chính quyền Trung Quốc độc tài hăng hái đưa nước Trung Hoa hội nhập với thế giới để dùng giao thương đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, rồi dùng tăng trưởng kinh tế để thổi bùng lên tinh thần ái quốc vênh váo của người Tàu. Mặt khác, nó tiếp tục đàn áp bằng mọi cách, bằng mọi thủ đoạn che giấu và lộ liễu, tất cả các xu hướng dân chủ hoặc không hoàn toàn dân chủ nhưng có thể làm suy yếu vị thế của nhà cầm quyền. Sự đàn áp giáo phái Pháp Luân Công là một thí dụ. Hà Nội không thể làm như thế, hay không thể làm hoàn toàn theo bài bản của người đàn anh độc tài, theo tôi nghĩ. Đơn giản vì Hà Nội không phải là Bắc Kinh.
Việt Tide: Vừa qua, chúng ta thấy trong phong trào dân chủ ở Việt Nam có một số chuyện lủng củng. Ông có nghĩ đó là một bước lùi của phong trào này không?
Vũ Thư Hiên: Đây là một câu hỏi thường gặp ở nhiều người quan tâm và đặt hi vọng ở phong trào dân chủ. Những chuyện lủng củng là có, nhưng không phải những mâu thuẫn nội bộ về đường lối đấu tranh chống độc tài, xây dựng dân chủ. Không hề có mâu thuẫn đó. Tức là, nói cách khác, không có mâu thuẫn. Chỉ có những lục đục gây ra bởi một hai người có đầu óc ông tướng, thích làm lãnh tụ, thích diễu võ giương oai, thiếu đức khiêm cung. Tôi cho rằng cái sự lủng củng ấy thậm chí không đáng được gọi là cơn sốt vỡ da của phong trào dân chủ, nó chỉ là một mụn ghẻ, một cái nhọt chắc chắn chóng vỡ. Còn phong trào dân chủ nói chung thì đang lớn lên, lớn lên trông thấy, với số quần chúng tham gia ngày một đông đảo. Trong thế công khai đối đầu. Chưa bao giờ kể từ khi chế độ độc tài được thiết lập có hiện tượng này. Đó là điều rất đáng mừng. Phong trào dân chủ có được sức mạnh ấy một phần nhờ sự ủng hộ của người Việt hải ngoại – một chỗ dựa đáng tin cậy, một nguồn hỗ trợ hữu hiệu về nhiều mặt.
Việt Tide: Xin cảm ơn ông Vũ Thư Hiên đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn này. Xin chúc ông sức khoẻ để đóng góp cho cuộc đấu tranh dân chủ.
Vũ Thư Hiên: Xin cảm ơn ông và xin nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới quý độc giả Việt Tide.
Bài phỏng vấn nhà văn Vũ Thư Hiên dưới tiêu đề “Cứ để sự thật xù xì, không cần đẽo gọt” trên trang nhà Đàn Chim Việt Online ngày 15/05/06 đã được rất nhiều độc giả sôi nổi tham gia ý kiến. Để tiếp tục đề tài về bước tiến mới của phong trào dân chủ Việt Nam trong tình hình hiện nay, Đinh Quang Anh Thái của Việt Tide đặt với ông Vũ Thư Hiên, tác giả quen thuộc của Việt Tide, một số câu hỏi mà trong bài phỏng vấn nói trên chưa được đề cập đến.
Việt Tide: Bản tuyên ngôn dân chủ 2006 có nhắc nhiều đến Hiến chương 77 của Tiệp khắc; phải chăng những nhà tranh đấu dân chủ tại quê nhà chúng ta khi nhận định tình hình Việt Nam thấy có những điểm tương đồng với tình hình Tiệp Khắc trong thời điểm cuối thập niên 70?
Vũ Thư Hiên: Tôi không nghĩ như vậy. Tình hình hai nước ở thời điểm Hiến chương 77 và Tuyên ngôn Dân chủ 2006 ra đời không có bao nhiêu tương đồng. Giữa Hiến chương 77 và Tuyên ngôn Dân chủ 2006 là một khoảng cách gần ba chục năm. Xã hội Việt Nam hôm nay và xã hội Tiệp Khắc (Czechoslovakia) năm 1977, tuy là một khoảng cách thời gian lớn, khác nhau rất nhiều. Tiệp Khắc (từ 1993 đã tách thành 2 nước: Cộng hoà Czech và Slovakia) là một nước châu Âu, ba chục năm trước đã là một nước công nghiệp khá phát triển, dân chúng có mức sống khá cao, dân trí so với các nước Tây Âu phát triển không đến nỗi kém, về truyền thống văn hoá có trường đại học nhiều tuổi nhất châu Âu. Việt Nam là một nước châu Á, đến năm 2006 vẫn còn là một nước nghèo, nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp chập chững, không có lấy một trường đại học đẳng cấp quốc tế. Trong hai thời điểm khác nhau ấy, hai nước chỉ có một cái chung, giống nhau, là ở cả hai nơi cùng có chế độ cai trị độc đảng. Không phải vì những điểm tương đồng giữa tình hình ở hai nước về các mặt kinh tế xã hội mà những nhà dân chủ Việt Nam muốn tìm thấy trong Hiến chương 77 những kinh nghiệm cho Việt Nam. Không phải. Cái chính làm cho các nhà dân chủ Việt Nam chú mục tới Tiệp Khắc, theo tôi nghĩ, đó là sự tương đồng về tính chất và về đường lối của hai phong trào - cả hai cùng chủ trương đấu tranh ôn hoà, bất bạo động nhằm chuyển hoá phương thức quản trị xã hội từ độc tài toàn trị sang dân chủ. Từ phong trào Hiến chương 77 Tiệp Khắc mở rộng ra thành cuộc đấu tranh của toàn dân Tiệp Khắc mới có cuộc “Cách Mạng Nhung” (Velvet Revolution) năm 1989. Những hình thức tổ chức quần chúng phản kháng như Diễn đàn Công dân (Civic Forum), Uỷ ban Bảo vệ Người oan ức (VONS), Công chúng chống Bạo lực (PAV) là những hình thức đấu tranh ôn hoà nhưng hiệu quả. Học tập kinh nghiệm Tiệp Khắc là học tập cách đoàn kết toàn dân đấu tranh bất bạo động. Khác với cuộc cách mạng dân chủ ở Ba Lan do công nhân được Nhà Thờ ủng hộ dẫn đầu, phong trào Hiến chương 77 do rất nhiều thành phần đối kháng cùng sát cánh bên nhau – nhân dân lao động, trí thức cấp tiến, tăng lữ, cựu cộng sản, đủ mặt. Năm 2000, nhờ các bạn dân chủ Việt Nam ở Tiệp tôi có dịp gặp một số người đã ký tên vào Hiến chương 77. Các bạn Tiệp đã kể cho một nghe nhiều chuyện thú vị về cuộc vận động toàn dân đứng chung với nhau trong một mặt trận chung xoá bỏ độc tài. Sau khi cuộc “Cách Mạng Nhung” thắng lợi, những “chiến sĩ dân chủ” của Hiến chương 77, nếu ta có thể gọi họ bằng cái tên như thế, ai trở về nhà người ấy và tiếp tục công việc nghề nghiệp của mình. Cái mạnh của họ là họ không để cuộc đấu tranh chính trị biến họ thành những nhà chính trị. Cái yếu của ta là chúng ta có quá nhiều nhà chính trị trước khi có cuộc đấu tranh chính trị hữu hiệu. Học kinh nghiệm của Tiệp Khắc là rất nên.
Việt Tide: Việt Tide: Cuộc Cách Mạng Mùa Xuân Praha 1968 của Tiệp Khắc bị Hồng quân Liên Xô đè bẹp; Cách Mạng Nhung 1989 thành công vì lúc bấy giờ Gorbachov án binh bất động, không can thiệp vào tình hình Tiệp Khắc. Với Việt Nam, nếu xẩy ra một cuộc nổi dậy của quần chúng và đảng cộng sản Việt Nam xin Trung Quốc can thiệp, liệu Bắc Kinh có đưa quân vào hay không? Nếu có, tình hình sẽ diễn ra theo chiều hướng nào?
Vũ Thư Hiên: Tôi nghĩ rằng chuyện đó ít có cơ hội xảy ra, rất ít, gần bằng không. Trước hết, tình hình thế giới hôm nay không giống tình hình năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình xua quân vượt biên giới để “cho Việt Nam một bài học”. Hồi đó, Đặng Tiểu Bình chỉ phải lo lắng nhìn về phía “người anh em phương Bắc” là Liên Xô để xem thái độ “người anh em” thế nào. Còn bây giờ các ông con Trời ở Trung Nam Hải phải láo liên nhìn cả thế giới, nhất là phải nghe ngóng xem siêu cường số 1 thế giới gật hay lắc. Đường lối bành trướng của Trung Nam Hải cũng khác trước, họ không thiên về dùng quân sự nữa, biết rằng dùng quân sự hại nhiều hơn lợi, ngay cả với các nước “phên dậu” phía Nam. Họ thiên về dùng sự khống chế bằng xâm nhập và đè bẹp bằng kinh tế và chỉ mở rộng biên cương khi có thể hăm doạ và mua chuộc những chính quyền hèn yếu, mà cũng chỉ mở rộng đến những chỗ rất cần mở rộng thôi, vì nhu cầu của nền kinh tế Trung Quốc (những nơi có khoáng sản quý mà nó nhất thiết phải chiếm lấy). Đưa quân vào Việt Nam là liều lĩnh. Hành động đó sẽ làm cho tất cả các nước Đông Nam Á bất bình và sợ hãi để đoàn kết lại chống chọi với con rồng điên. Nó còn kéo theo sự bất bình của cả thế giới vốn đang lo lắng về sức mạnh bành trướng của Trung Quốc nữa. Và điều quan trọng là trong sự lặng lẽ phân chia vùng ảnh hưởng, liệu Hoa Kỳ có để yên cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm không? Hơn thế, kinh nghiệm năm 1979 cho thấy không phải chỉ một mình Trung Quốc cho Việt Nam một bài học, mà chính Trung Quốc cũng được Việt Nam cho một bài học – không dễ gì đè bẹp được một Việt Nam toàn dân chung sức chống lại bọn xâm lược (hay can thiệp). Kinh nghiệm lịch sử đã cho người Tàu thấy lòng yêu nước của người Việt Nam là thế nào. Năm 1979 Trung Quốc đã thất bại trước sức đề kháng tự động của nhân dân Việt Nam mới chỉ ở riêng mấy tỉnh giáp biên giới, trong khi do sự hèn yếu của chính quyền Hà Nội quân đội chính quy chỉ tập trung ở phòng tuyến sông Cầu để chờ đợi quân Tàu ở đó. Bắc Kinh có thể gây rối ở biên giới để hỗ trợ cho chính quyền sắp sụp đổ, chứ đưa quân vượt biên giới là một hành động dại dột, khó có người tỉnh táo nào dám làm. Trong trường hợp này người Tàu sẽ quan tâm tới việc ủng hộ và cài đặt những người thân Trung Quốc vào chính quyền mới hơn là ủng hộ những kẻ thất thế.
Việt Tide: Từ Hiến chương 77 đến Cách Mạng Nhung là 12 năm; Việt Nam thì sao, liệu thời gian có kéo dài như vậy không?
Vũ Thư Hiên: Một đặc điểm của lịch sử là không bao giờ nó lặp lại i xì một bản cũ. Nó có thể giống về nội dung nhưng hình thức thì bao giờ cũng khác, thời gian ở đây cũng vậy. Tôi không nghĩ rằng sẽ có sự tương đồng về thời gian giữa Việt Nam và Tiệp Khắc trong sự chuyển hoá hoà bình từ độc tài qua dân chủ. Những biến chuyển trên trường quốc tế cho ta thấy chúng xảy ra với tốc độ nhanh chóng hơn nhiều so với những sự kiện lịch sử ở cuối thế kỷ trước, tần suất của những biến chuyển cũng cao hơn. Nước ta là nước nhỏ. Vận mệnh của nó, như ta thường thấy, lệ thuộc khá nhiều ở những biến chuyển quốc tế. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta cứ việc khoanh tay ngồi chờ cái gì đến sẽ đến. Chúng ta phải làm những việc mà chúng ta thấy cần phải làm. Bằng cách đó chúng ta sẽ thúc đẩy lịch sử đi nhanh thêm.
Việt Tide: Ông có cho rằng sau khi “nín thở qua sông” để vào được WTO cái đã, Hà Nội sẽ quay lại đàn áp phong trào dân chủ hay không?
Vũ Thư Hiên: Tôi nghĩ Hà Nội rất muốn thế. Nhưng ý muốn là một chuyện, khả năng là một chuyện khác. Khoảng cách giữa hai thứ đó có thể gần mà có thể xa. Trong tình hình cụ thể này khoảng cách ấy là xa. Khi anh đã vào sân chơi chung với cộng đồng nhân loại anh không thể cứ đóng cửa nhà anh lại để anh mặc sức muốn làm gì trong đó thì làm, nhất là trong trường hợp bùng nổ thông tin hiện nay. Mọi hành động của anh thiên hạ đều được biết rất nhanh chóng, và nhanh chóng có phản ứng đáp lại. Chính quyền Trung Quốc đã chơi cái bài như thế sau khi vào được WTO. Dư luận quốc tế đã nói nhiều về những vi phạm từ phía Trung Quốc đối với những ràng buộc chung cho mọi quốc gia thành viên. Một mặt, chính quyền Trung Quốc độc tài hăng hái đưa nước Trung Hoa hội nhập với thế giới để dùng giao thương đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, rồi dùng tăng trưởng kinh tế để thổi bùng lên tinh thần ái quốc vênh váo của người Tàu. Mặt khác, nó tiếp tục đàn áp bằng mọi cách, bằng mọi thủ đoạn che giấu và lộ liễu, tất cả các xu hướng dân chủ hoặc không hoàn toàn dân chủ nhưng có thể làm suy yếu vị thế của nhà cầm quyền. Sự đàn áp giáo phái Pháp Luân Công là một thí dụ. Hà Nội không thể làm như thế, hay không thể làm hoàn toàn theo bài bản của người đàn anh độc tài, theo tôi nghĩ. Đơn giản vì Hà Nội không phải là Bắc Kinh.
Việt Tide: Vừa qua, chúng ta thấy trong phong trào dân chủ ở Việt Nam có một số chuyện lủng củng. Ông có nghĩ đó là một bước lùi của phong trào này không?
Vũ Thư Hiên: Đây là một câu hỏi thường gặp ở nhiều người quan tâm và đặt hi vọng ở phong trào dân chủ. Những chuyện lủng củng là có, nhưng không phải những mâu thuẫn nội bộ về đường lối đấu tranh chống độc tài, xây dựng dân chủ. Không hề có mâu thuẫn đó. Tức là, nói cách khác, không có mâu thuẫn. Chỉ có những lục đục gây ra bởi một hai người có đầu óc ông tướng, thích làm lãnh tụ, thích diễu võ giương oai, thiếu đức khiêm cung. Tôi cho rằng cái sự lủng củng ấy thậm chí không đáng được gọi là cơn sốt vỡ da của phong trào dân chủ, nó chỉ là một mụn ghẻ, một cái nhọt chắc chắn chóng vỡ. Còn phong trào dân chủ nói chung thì đang lớn lên, lớn lên trông thấy, với số quần chúng tham gia ngày một đông đảo. Trong thế công khai đối đầu. Chưa bao giờ kể từ khi chế độ độc tài được thiết lập có hiện tượng này. Đó là điều rất đáng mừng. Phong trào dân chủ có được sức mạnh ấy một phần nhờ sự ủng hộ của người Việt hải ngoại – một chỗ dựa đáng tin cậy, một nguồn hỗ trợ hữu hiệu về nhiều mặt.
Việt Tide: Xin cảm ơn ông Vũ Thư Hiên đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn này. Xin chúc ông sức khoẻ để đóng góp cho cuộc đấu tranh dân chủ.
Vũ Thư Hiên: Xin cảm ơn ông và xin nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới quý độc giả Việt Tide.
Cứ để sự thật xù xì, không cần đẽo gọt
DCVOnline - Phỏng vấn Vũ Thư Hiên, Lã Mạnh Hùng thực hiện
Đàn Chim Việt (ĐCV) : Là người thường xuyên theo dõi và tham gia vào cuộc vận động dân chủ, xin ông nhận định về ảnh hưởng của Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, gọi tắt là Tuyên Ngôn 2006 với sự phát triển của phong trào dân chủ (như một phong trào, không phải như một tổ chức).
Vũ Thư Hiên: Trong câu hỏi của bạn đã có sẵn câu trả lời. Bạn ra câu hỏi như thế là tôi biết bạn nghĩ không khác tôi: ảnh hưởng của Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 là lớn. Lớn lắm. Nó là một bước tiến vọt của phong trào dân chủ. Tôi chờ bước tiến này từ lâu. Tôi biết nó sẽ có, tôi chờ. Sốt ruột chờ. Nay thì sự chờ đợi ấy đã được đền bù. Sướng nhất là khi tôi được thấy ở dưới Tuyên ngôn có hơn 100 người ký tên. Không sướng sao được? Hơn 100 con người là con số không lớn, đúng thế, cho dù lớn và nhỏ là những khái niệm tương đối, tuỳ theo quan niệm của mỗi người vào mỗi lúc mỗi nơi, nhưng trong một thời gian ngắn kỷ lục, vẻn vẹn có mấy ngày, tính từ khi Phương Nam hoàn tất bản thảo theo ý kiến của tập thể rồi gửi cho mọi người đọc lại góp ý kiến, mà có được bằng ấy người ký là con số lớn, rất lớn đấy. Con số ấy nói to rằng cái sự sợ hãi mà Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dày công vun xới đã bắt đầu hết linh. Bắt đầu thôi, nhưng là sự bắt đầu có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Đấy là ý nghĩa trọng đại của nó. Trước đó không thể có con số ấy, mặc dầu con số ẩn thì lớn vô cùng, chỉ có thể phỏng đoán mà không thể nói chắc.
Có nhiều chuyện vui dính dáng đến con số nọ, tôi xin kể một chuyện làm thí dụ. Ngay lập tức khi bản Tuyên ngôn vừa được công bố, có hai công an viên đến nhà một người ký tên, một anh bạn tôi. Anh mời họ vào nhà. Hai người khách được mời vào nhà, được mời hút thuốc, uống trà. Vào đề, khách nói tràng giang đại hải không cần biết chủ có nghe hay không về vai trò và sứ mệnh của Đảng cộng sản, rằng Đảng dù cho có không muốn cũng phải giữ cho chặt vị trí độc tôn lãnh đạo đất nước, chứ không ấy à, nước Việt Nam ta đã rã bành tô như mấy nước Đông Âu khốn khổ khốn nạn từ lâu rồi, nhân dân ta đã nheo nhóc, đã không cơm ăn, không áo mặc từ lâu rồi. Đại khái cũng giống như lời cảnh báo của ông cựu đại sứ Nguyễn Trung ấy. Ông Trung gọi sự thay đổi sang thể chế dân chủ ở mấy nước đó là “hiểm hoạ đen”, ông ấy thấy thế lấy làm lo cho Việt Nam lắm, ông vội khuyên đảng cộng sản lấy đó làm gương, chớ để đất nước đi vào vết xe đổ. Anh bạn tôi khiêm tốn gật gù. Hai anh công an ân cần khuyên: thôi, đã trót dại ký rồi thì cứ việc tuyên bố rút ra là xong, chuyện ấy là khuyết điểm nhất thời, đảng cho qua, không tính. Anh bạn tôi lịch sự đáp: “Các anh ạ, thấy người ta nói phải thì tôi nghe, tôi ký, chứ nếu Đảng cộng sản của các anh cũng nói phải như họ thì tôi cũng ký ngay”. Hai anh công an ngao ngán cáo lui. Lạ một cái là lần này họ không gây gổ, không doạ nạt. Hiền lành, lễ độ. Nếu không vận cảnh phục chưa chừng hai anh này dám nói khác cũng nên, ai đời có một bài đảng vĩ đại mà nhai đi nhai lại hết năm này sang năm khác, hết đời cha đến đời con, đứa chó nào không ngán, anh bạn tôi nhận xét thế.
Đọc Tuyên ngôn 2006, tôi ứa nước mắt. Không phải những câu chữ trong bản Tuyên ngôn làm tôi xúc động đâu, những câu chữ ấy, những chữ ấy, chúng ta đã từng biết, chúng ta đã từng đọc, chúng không mới, không lạ. Không, không phải vì cái đó. Tôi xúc động là vì sự ra đời của bản Tuyên ngôn kia, vì chữ ký của những con người can đảm kia. Mừng lắm lắm.
ĐCV: Phong trào dân chủ ảnh hưởng thế nào khi có một hay nhiều bản tuyên ngôn khác theo sau?
Vũ Thư Hiên: Tôi hiểu bạn muốn hỏi gì. Thì cứ nói toạc ra với nhau cho tiện. Tức là đã có bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, sao lại còn có sự ra mắt một bản Tuyên ngôn Dân chủ khác, bản thứ hai? Chuyện này có chút rắc rối thật, không phải là không có. Bạn đã đọc bức thư đầy nhân ái của ông Nguyễn Chính Kết gửi ông Nguyễn Khắc Toàn chưa? Gọi là gửi cho ông Toàn, chứ thực ra ông Kết muốn gửi cho tất cả mọi người. Trong bức thư ông Kết cố giải thích nguồn gốc sự trục trặc liên quan đến bản Tuyên ngôn 2006, để nói rằng không có mâu thuẫn gì trầm trọng trong hàng ngũ dân chủ đâu, chẳng qua có sự hiểu nhầm, là do có sự chật chưỡng về thời gian soạn thảo, lấy ý kiến, và cả trong mấy ngày sau đó, lại cũng là chuyện vặt vãnh thôi. Tất cả những gì ông Kết nói trong bức thư đều có thật, theo chỗ tôi được biết, nhưng bức thư không có sức thuyết phục đối với những người quan tâm. Sự thật lằng nhằng hơn, rối rắm hơn, kể ra cho hết đầu đuôi mọi sự thì dài dòng văn tự lắm, tôi xin phép không nói ở đây, nó lạc đề.
Với tất cả mọi người, chuyện đã rồi là chuyện đã rồi, người ta không cần biết chi tiết. Người ta chỉ ghi nhận cái sự thật hiển hiện: ấy là Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 đã ra đời. Nó xuất hiện như một văn kiện lịch sử. Lịch sử đã ghi nhận cái thứ nhất, thì cái thứ hai chỉ là một phó bản muộn màng. Tôi xin nói thêm: Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 có thể chưa toàn bích, có thể ở chỗ này chỗ kia chưa chỉnh về câu chữ, nhưng nội dung của nó có đủ những gì tôi muốn thấy, thì tôi ủng hộ nó, tôi mong mọi người ủng hộ nó, ủng hộ hết lòng. Cần phải thấy rằng cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ là cuộc đấu tranh giữa hai thế lực không thể cộng tồn, không thể hoà giải hoà hợp. Đâu có phải là cuộc thi Tuyên ngôn, để chờ quần chúng chấm cho cái nào đỗ. Không, cái sự loạn tuyên ngôn chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho phong trào dân chủ đâu, các bạn ơi, ngược lại thì có. Tôi đồng ý với bạn – phong trào mà ta đang nói tới ở đây có nghĩa một cuộc vận động lớn, một trào lưu lớn, trong đó có tất tần tật những nhóm, những cá nhân, có chung một đồng thuận – xoá bỏ chế độ độc tài, xây dựng thể chế dân chủ. Không phải một tổ chức. Chưa phải một tổ chức. Tuyên ngôn 2006 là tài sản của cái phong trào như thế. Nó chẳng là của riêng ai. Không có cái Tôi ở đây. Chỉ có cái Chúng ta. Tuyên ngôn Tự do Dân chủ do sự đóng góp của nhiều người mà thành, kể từ bản phác thảo của Hoàng Minh Chính, cuộc đi từ Sài Gòn ra Hà Nội của Trần Khuê và Phương Nam để nghe ý kiến của anh em dân chủ ở Hà Nội, đến bản thảo đầu tiên của Phương Nam được gửi đi để anh em hai miền Trung và Nam đóng góp thêm. Tôi có trong tay hầu như đầy đủ mấy bản ấy, tôi dám nói câu khẳng định rằng đúng nó là như thế.
Lại nói chuyện một tổ chức dân chủ thống nhất. Trong giai đoạn này cái đó chắc chưa thể có. Từ cái phong trào dân chủ rộng rãi ấy sau này ta sẽ thấy xuất hiện một số tổ chức của những người dân chủ, đại diện cho những nhóm khác nhau về giới tính, về quyền lợi, về niềm tin, về phương pháp đấu tranh… : Phụ nữ Dân chủ, Thanh niên Tự do, Công đoàn Đoàn kết, Phật tử Truyền thống, Giáo dân Vì nước chẳng hạn. Trong điều kiện chính quyền độc tài ra sức ngăn chặn, cắt đứt liên lạc, xé lẻ những nhóm dân chủ trên địa bàn cả nước để họ không thể kết lại với nhau thì có nhiều tổ chức không phải là xấu. Ngược lại, còn tốt nữa. Nó sẽ làm cho tính năng động, tính tự quyết của các tổ chức nhỏ được nâng cao, gộp tất cả lại sẽ có một sức mạnh tổng thể liên tục lấn sân, giành giật các quyền dân chủ về tay, liên tục mở rộng các thành quả đã đạt được để mau chóng đi tới mục tiêu xoá bỏ độc tài. Nhiều tổ chức dân chủ không phải là điều đáng sợ. Đáng sợ là khi các tổ chức ấy không biết đoàn kết với nhau để làm công việc chung. Mà cái công việc ấy khó khăn lắm, gian nan lắm, đâu có dễ dàng. Bây giờ không phải lúc cãi nhau, không phải lúc xưng cái Tôi đáng ghét ra, làm thiệt hại cho cái mà chúng ta đang ra sức đấu tranh để có.
ĐCV: Trong phong trào dân chủ hiện nay có hai khuynh hướng về chữ ký trên tuyên ngôn 2006: một cho là cần để học hàm, học vị, nghề nghiệp bên cạnh chữ ký, hai cho là mọi chữ ký của mọi công dân Việt Nam đều có ảnh hưởng đến phong trào như nhau. Ông quan niệm thế nào và tại sao?
Vũ Thư Hiên: Cái chuyện ấy mà dùng chữ khuynh hướng thì hơi to đấy, không nên. Nói về khuynh hướng thì nó thế này: quả là trong phong trào dân chủ có hai khuynh hướng thật, nhưng là ở lĩnh vực khác kia. Tình hình là thế này: giữa những người dân chủ có sự đồng thuận hoàn toàn về mục tiêu, nhưng về sách lược thì còn đôi điểm chưa nhất trí. Sự không nhất trí ấy, hay gọi là bất đồng cũng được, nhưng hơi to, nằm ở chỗ: một bên muốn lôi kéo những người cộng sản có xu hướng ly khai với nhà nước độc tài về với mình, kêu gọi sự hợp tác của họ. Bên kia, chủ trương ngược lại – cộng sản là cộng sản, chấm hết, không thể trông cậy bất cứ điều gì tốt lành ở những người cộng sản, họ chỉ muốn cải tiến chế độ độc tài của đảng cộng sản cho nó trường tồn mà thôi. Cả hai khuynh hướng, theo tôi nghĩ, đều có cái không có lý của họ. Đây là vấn đề sách lược đồng minh trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, trong chuyện này phải tuỳ thời điểm cụ thể mà lấy quyết định thích hợp. Tôi không nghĩ cái đó là điểm bất đồng nặng nề, nó chỉ là vấn đề đặt nặng vế này hay vế kia trong sự nhận định vai trò đồng minh. Đặt nặng trọng tâm vận động vào những người cộng sản là sai, họ chỉ là một bộ phận của khối nhân dân đông đảo cần vận động; nhưng gạt họ hoàn toàn cũng không đúng, nằm trong hệ thống quyền lực họ có thể có tác động tốt cho vận động dân chủ lắm nếu họ nghiêng về phía dân chủ. Trong thực tế sự suy nghĩ khác nhau này chưa có gì sâu sắc đâu, chưa có gì trầm trọng đâu. Khốn nỗi trong khi ý kiến về chuyện đó chưa được thống nhất thì có người thích làm ầm lên, bé xé ra to. Nguồn gốc chuyện lủng củng này là do tính tự cao tự đại, không biết khiêm cung, tính ông tướng, óc lãnh tụ ở người này người kia, lúc hăng máu vịt lên, họ không còn thấy cái đại đồng ở đâu nữa, chỉ thấy có cái tiểu dị lồ lộ, cái ấy cũng có đấy. Từ chỗ thích làm ông tướng đi đến chỗ chia rẽ, công kích nhau, chửi bới nhau, tự quyền loại nhau ra khỏi hàng ngũ, chẳng phải là bước dài lắm. Nói là nói phòng xa thế thôi, chứ trong cuộc đấu tranh này kẻ nào làm bậy, kẻ đó tự khai trừ mình khỏi hàng ngũ dân chủ.
Còn chuyện trưng học hàm học vị hoặc không trưng học hàm học vị thì chẳng có thể gọi được là bất đồng giữa hai khuynh hướng. Chẳng qua là chuyện giữa mấy ông mấy bà có những quan niệm, những ý thích khác nhau thôi. Ông A khoái trưng học hàm học vị thì bảo: trước khi tham gia quần chúng cần được biết có những ông nào bà nào đã có mặt, họ danh tiếng đến thế mà họ vẫn đấu tranh cho dân chủ, thì ta nên đi với họ. Dân mình lại vốn sính học hàm học vị, chiều họ tí đã sao? Ông B không thích cái cách trưng học hàm học vị thì bảo: làm như thế quần chúng sẽ coi cuộc đấu tranh cho dân chủ là của bọn giáo sư, tiến sĩ… không phải việc của tụi dân đen ta, chờ xem đám dân chủ cổ cồn kia làm được gì cái đã, chẳng đi đâu mà vội. Lại một lần nữa, cả hai đều có cái lý của họ. Cũng có lúc phải gắn học hàm học vị vào, khi ông A bà B thuyết trình trong giới chuyên môn của họ, hoặc để biết ai là ai nếu có sự trùng tên. Chứ còn trong cuộc đấu tranh cho dân chủ cụ thể đang diễn ra hôm nay, ngay bây giờ đây, thì trưng học hàm học vị ra để mà làm gì? Để khoe mẽ rằng trong hàng ngũ dân chủ ta nhiều bậc chức sắc à? Quan điểm của tôi là như vậy. Vị thế công dân (hay vị thế con dân của đất nước, tôi muốn nói trong thời kỳ nước ta còn bị đô hộ) là vị thế cao nhất trong trách nhiệm của con người trước vận mệnh đất nước. Thay vì phải trưng học hàm học vị ra, trong bản Tuyên ngôn chẳng hạn, ta cứ để ông này bà kia, ở đâu, làm nghề gì. Bác sĩ, kỹ sư, nông dân, công nhân, thương gia không phải là học hàm, học vị, chỉ là nói về nghề nghiệp thì cứ để, nhưng đừng tâng một anh mới tốt nghiệp đại học luật lên thành luật sư, nghe chướng lắm. Cứ giở sách sử ra mà xem, những anh hùng liệt sĩ của đất nước trong thời kỳ thuộc Pháp chẳng là giáo sư, tiến sĩ gì hết. Nhưng sử sách vinh danh họ. Chúng ta đều biết họ là ai. Bởi lòng yêu nước của họ. Bởi đức hy sinh của họ. Nào có phải họ là giáo sư hay tiến sĩ.
ĐCV: Tình hình thực tế của phong trào dân chủ Việt Nam khiến Tuyên Ngôn 2006 thiếu chữ ký của một số người đang vận động dân chủ và tự do tín ngưỡng trong và ngoài nước. Theo ông, liệu những người thuộc các nhóm dân chủ này sẽ ký tên vào bản Tuyên Ngôn 2006 trên web hay trên giấy trong nước trong tương lai gần, và đây có phải là điều cần thiết hay không?
Vũ Thư Hiên: Tôi không thấy có gì quan trọng lắm trong sự thiếu vắng chữ ký của một số người mà chúng ta thường được nghe tên. Bản Tuyên ngôn 2006 ra đời, theo tôi biết, đúng là trong sự vội vã. Có cần vội vã thế không là chuyện khác, có những nhận định khác nhau trong vụ này. Vì sự vội vã ấy, số chữ ký ta muốn được thấy chưa đủ. Trong một thời gian gấp rút như thế rõ ràng không thể có sự thông tin rộng khắp cho mọi người đều biết để ký. Lại trong điều kiện phải giữ bí mật nữa chứ. Thôi thì ai tán thành sau này ký cũng chẳng muộn. Nhưng cũng có những trường hợp khác. Chẳng hạn, có người do tính cẩn trọng thái quá, có người còn cẩn trọng đến mức xét nét nữa ấy chứ, họ thấy chưa hài lòng với những câu chữ nào đó trong Tuyên ngôn ấy thì họ không ký. Lại có người không ký chỉ vì thấy trong số người đã ký có tên những người mà họ không ưa. Lôi thôi lắm. Bạn hỏi tôi: vậy thì liệu rồi đây họ có ký không? Làm sao tôi trả lời được. Tôi không thể trả lời thay cho bất cứ ai. Tôi không có cái quyền ấy. Trong sự trả lời phỏng vấn này cũng vậy, tôi chỉ đại diện cho chính tôi mà thôi.
Tôi nghĩ sự ra đời của bản Tuyên ngôn 2006 là tất yếu, sự kiện ấy tất phải xảy ra vào một lúc nào đó, nó không thể không xảy ra, nhưng trong đó cũng có yếu tố ngẫu nhiên, tại sao nó lại xảy ra đúng vào ngày 8 tháng 4, mà không phải sớm hơn một hôm hay muộn hơn một hôm. Trường hợp ra đời của nó cũng giống như bất cứ văn kiện lịch sử nào khác, nó là nó, vừa đủ, vừa chưa đủ, đẹp rồi đấy mà xem kỹ vẫn thấy có chỗ chưa chỉnh, nói nó chưa toàn bích là như vậy. Tôi ủng hộ Tuyên ngôn 2006 ngay lập tức dù nó chưa toàn bích vì tôi thấy nội dung nó như thế là đủ những cái tôi muốn rồi, cứ thế đã là tốt rồi, tôi không cần cái tốt hơn. Nhưng người khác thì không, họ muốn nó phải được viết lại cơ, cứ là phải theo ý họ cơ, mới thật là tốt. Rồi đây những nhóm, những cá nhân không hài lòng ấy có ký hay không, là chuyện của họ. Có chữ ký của họ thì tốt, không có cũng không sao. Mong sao đừng vì thế mà họ xa rời cuộc đấu tranh chung. Có người từng đóng vai trò que diêm nhóm lên ngọn lửa dân chủ. Nhưng khi đã có cả đống lửa rồi mà vẫn cứ loay hoay với sự tự khoe vai trò que diêm của mình thì buồn cười lắm. Nói tóm lại, trong mọi cuộc đấu tranh, không phải ai đã lên đường thì người đó sẽ đi tới đích. Cái sự nửa đường đứt gánh là chuyện bình thường. Sự rơi rụng trên đường cũng là chuyện bình thường. Đừng chạy sang phía bên kia là được rồi.
ĐCV: Mới đây DCVOnline, trong loạt bài về Tuyên ngôn 2006, đăng bài “Tranh nhau miếng bánh Nhà Dân Chủ Lớn” của Lưu Vũ và “Tuyên ngôn 2006 và não trạng sứ quân” của Trần Trung Việt gây khá nhiều tranh luận cả bên ngoài (trên diễn đàn DCVOnline) và cả ở bên trong phong trào nhất là bài “Tranh nhau miếng bánh Nhà Dân Chủ Lớn”. Ông nhận xét thế nào về quan điểm của tác giả trong hai bài vừa nêu? Có bánh nhà dân chủ lớn và có não trạng sứ quân trong phong trào dân chủ không thưa ông?
Vũ Thư Hiên: Tôi có đọc hai bài của anh Lưu Vũ và của anh Trần Trung Việt. Tôi thấy gì trong hai bài ấy? Tôi thấy được tình cảm thiết tha của tác giả đối với phong trào dân chủ, cảm giác đau xót của họ trước những lủng củng trong đó. Không có sự công kích phong trào dân chủ đâu, hoàn toàn không. Cái đó rõ lắm, đáng quý lắm. Họ trong sáng trong khi cầm bút viết hai bài đó, tôi nói khẳng định. Đấy là về nội dung. Tôi chỉ đặc biệt khó chịu với bức hình con khỉ minh hoạ cho bài của anh Lưu Vũ. Thật quá tệ, ai lại đi làm như thế cơ chứ! Tấm hình đó gây ngay phản cảm và đã đưa đến sự ngộ nhận của nhiều người, mặc dù khi hỏi, tôi được người biên tập ảnh cho hay rằng, anh ấy làm cái hình ấy chỉ để nhắm vào kẻ "Ngụy Dân Chủ", chứ hoàn toàn không có bất kỳ ý gì xúc phạm đến những nhà dân chủ chân chính.
Những nhà dân chủ trong nước có thể kém hiểu biết về mặt nào đó do thiếu thông tin, họ có thể mắc sai lầm này sai lầm khác, có người lại còn bị mắc độc kế của chính quyền nữa, nhưng đó là những người đang đứng đầu sóng ngọn gió trong cuộc đấu tranh của cả dân tộc, họ cần đến sự ủng hộ, sự đồng cảm, cả tình yêu nữa, nếu có thể nói như thế, của tất cả chúng ta. Giễu cợt - thậm chí vì vô tình hay do thiếu thận trọng, thiếu khéo léo trong việc chuyển tải thông tin mà gây nên điều này - là điều rất không nên.
Việc đặt tên cho bài viết cũng không đạt. Tôi nói thế với tư cách độc giả thôi, tôi nói cảm tưởng của tôi thôi, tôi không phải nhà phê bình nói về nghiệp vụ báo chí, cảm tưởng thế nào tôi nói thế ấy, mong hai tác giả không giận. Tên bài thì kêu, nhưng không thích hợp, các bạn ạ. Làm gì có miếng bánh Nhà dân chủ Lớn để người ta tranh nhau cơ chứ? Chưa đến lúc ấy đâu. Nếu bây giờ đã có miếng bánh ấy rồi thì nó đang ở đâu nào? Trong Bắc bộ phủ chăng? Không phải. Trong những nhà tù, trong những phòng thẩm vấn, vâng, ở những chỗ ấy. Làm gì đã có những vùng dân chủ cát cứ với những sứ quân cân đai mũ áo để mà có não trạng sứ quân? Nguyên nhân những lủng củng ấy ở chỗ khác kia, bạn ơi, không phải ở miếng bánh mà anh Lưu Vũ chỉ ra đâu, cũng không phải ở những sứ quân đâu. Giá mà ở nước ta bây giờ có được thập nhị sứ quân dân chủ nhỉ? Thì rồi sẽ có một Đinh Bộ Lĩnh dân chủ thâu gồm họ lại, khỏi lo. Những sứ quân dân chủ có thể gây lộn với nhau, nhưng chỉ trong những cuộc chiến tranh nước bọt thôi, có gì đáng sợ. Dân chủ lủng củng vẫn còn hơn độc tài toàn trị không lủng củng, nó hơn hẳn, hơn không so sánh được. Anh Trần Trung Việt rất sắc sảo khi miêu tả tình trạng:
“Cờ phe tao đẹp hơn cờ phe mày. Lãnh tụ của chúng tôi xứng đáng hơn lãnh tụ của các anh. Tuyên ngôn chúng tôi ngon lành hơn tuyên ngôn của các anh. Sáng kiến của chúng tôi tuyệt vời hơn sáng kiến của các anh. Chữ nghĩa của chúng tôi hùng hồn hơn chữ nghĩa của các anh. Cương lĩnh của chúng tôi đúng đắn hơn cương lĩnh của các anh. Và hàng trăm cái để hơn thua khác. Đó là chưa kể đến những cáo buộc ác ý, chụp mũ nếu không công khai thì cũng được rỉ tai trong nội bộ của các tổ chức, các nhóm”.
“Chúng ta quý những anh hùng, nhưng họ phải là anh hùng không có rận”, Erich Maria Remarque (1898-1970) — Nguồn: cdhm.de
Tình hình phong trào dân chủ ở trong nước, theo chỗ tôi được biết, không đến nỗi tệ đến thế đâu. Tình hình mà anh Việt miêu tả giống ở hải ngoại nhiều hơn. Ở trong nước, ngoài mấy người có thể đếm trên đầu ngón tay còn thừa, chỉ có mấy người ấy thôi, là hăng hái tán phát những bản photocopy (không nhiều lắm vì khá tốn kém), bằng cách gửi lên internet (rẻ rề) những lời mạ lị nhau, bới móc đời tư của nhau, bằng nhiều thủ đoạn, không từ cả bịa đặt trắng trợn. Thậm chí người ta bịa chuyện ông Trần Khuê ăn chặn tiền giải thưởng của tổ chức Quan sát Nhân quyền (HRW) tặng bà Nguyễn Thị Thanh Xuân. Chuyện này hoàn toàn không có. Tôi có đủ chứng cứ để nói rằng nó là chuyện bịa đặt. Ai không tin có thể hỏi thẳng HRW. Hay là chuyện ông Nguyễn Thanh Giang nhận tiền ủng hộ anh em dân chủ để xây nhà nữa. Cũng lại bịa nốt. Những người này không tranh luận về cách thức đấu tranh, mà chỉ trích, chửi bới nhau, chỉ vì thái độ đối xử của anh này đối với anh kia trịch thượng, vì những tự ái vặt. Không, đại đa số những người dân chủ không sa lầy trong vũng bùn ấy. Họ vẫn đoàn kết trong cuộc đấu tranh nhiều tai vạ hơn là giành được “miếng bánh Nhà Dân chủ Lớn” hoặc cái danh vọng lãnh tụ hão huyền.
Làm sao được, những người thích cãi nhau nọ cũng là những con người mà, với tất cả những chỗ yếu thường có. Ta phải thừa nhận sự thật ấy thôi, phải chịu nó thôi, không thừa nhận nó vẫn cứ tồn tại. Lại có một sự thật này nữa, như là một nghịch lý: mấy ông chửi nhau ấy, vâng, chính những ông ấy, vẫn là những người đấu tranh cho dân chủ, mới buồn, tôi biết họ cả mà. Cái sự cãi nhau rất tầm phào ấy làm cho họ xuống giá thê thảm trong con mắt quần chúng, làm cho những việc họ làm mất hết tác dụng. Mà say máu cãi nhau, họ nào có biết. Đành phải thừa nhận sự thật này với niềm mong ước tình trạng ấy chóng qua. Nhân vô thập toàn, cổ nhân đã dạy. Tôi chợt nhớ đến một câu thật là hay của Erik Maria Remark trong cuốn “Biểu Tượng Đen”: “Chúng ta quý những anh hùng, nhưng họ phải là anh hùng không có rận”.
ĐCV: Được biết ông vừa tham dự một hội nghị của Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế (ISHR) tại Đức, xin ông trình bày sơ qua về hội nghị, thành quả và những điểm thú vị, tích cực có thể phát triển và sử dụng trong cuộc vận động, đẩy mạnh phong trào dân chủ Việt Nam.
Huber Matos: 2006, người vận động dân chủ; 1959 Comandante chống nhà độc tài Fulgencio Batista — Nguồn: DCVOnline & dicrystal.com
Vũ Thư Hiên: Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế là một tổ chức phi chính phủ và bất vụ lợi. Như tên gọi của nó, hiệp hội này được thành lập chỉ để bảo vệ nhân quyền. Nó bảo vệ bất cứ ai, ở bất cứ đâu, là nạn nhân của sự chà đạp nhân quyền, không trừ cả người cộng sản bị chế độ thần quyền truy bức. Nó không nhận bất cứ tài trợ nào của các chính phủ, giữ tư cách độc lập với các chính quyền, chỉ tồn tại bằng các khoản ủng hộ của các hội đoàn phi chính phủ và cá nhân. Mà tồn tại được từ năm 1972 tới giờ, vẫn vững vàng, vẫn hoạt động có hiệu quả, mới tài. Đại hội đồng của ISHR họp năm nay có mời khách. Lần đầu tiên tôi được đến dự để tham gia đề tài “Bảo vệ quyền tự do ngôn luận và báo chí”. Cựu tổng thống Tiệp, ông Vaclav Havel không tới dự được vì sức khoẻ kém có gửi tới lời chào mừng bằng videomail. Tôi được thấy hình hai ông Havel, một ông tù trong bộ áo xọc với hai công an viên kẹp hai bên, một ông tổng thống khi nền dân chủ thắng lợi. Cũng như ở mọi cuộc hội thảo quốc tế, trong các forum mỗi diễn giả nói về tình hình nhân quyền nước người ấy. Tôi được gặp nhiều khách mời từ Trung Quốc, Cuba, Albania, Croatia… Người Trung Quốc đông hơn cả, có cả người Hoa Lục, người Đài Loan. Những người thuộc giáo phái Pháp Luân Công hoạt động mạnh nhất. Họ tranh thủ từng phút để tố cáo sự đàn áp nhân quyền, đàn áp tự do tín ngưỡng của Bắc Kinh, trên bục diễn giả, trong những cuộc gặp riêng với các đoàn. Họ chiếm lĩnh cả những phút giải lao bằng cách cống hiến những tiết mục đặc sắc: một giáo sư nhạc viện Bắc Kinh thổi tiêu, các cô gái trình diễn các màn múa hoa sen, múa lụa… Cứ như là văn công chuyên nghiệp. Hăng hái lắm. Đáng để chúng ta học tập.
Đoàn phụ nữ mặc đồ trắng trên đường đến trụ sở nghiệp đoàn ký giả báo nhà nước tại thủ đô Havana (18/3/2005) — Nguồn/Ảnh: canf.org & AP Photo/Jorge Rey
Ấn tượng mạnh hơn cả đối với tôi là cuộc gặp gỡ với hai người. Một là nhà cách mạng Huber Matos của Cuba. Ông này chống chế độ Batista từ năm 1952, sống lưu vong ở Costa Rica để tiếp tế súng đạn cho chiến khu Sierre Maestra, sát cánh cùng Fidel Castro, Che Guevara, Raul Castro… trong cuộc cách mạng lật đổ chính quyền Batista để xây dựng một nước Cuba mới. Nhưng nước Cuba mới này vừa thanh toán xong độc tài Batista thì lại thành độc tài cộng sản. Van nài “đồng chí Fidel, đồng chí đừng thiêu rụi cuộc cách mạng” không được, ông bị Fidel Castro cho 22 năm tù. Chịu án xong ông ra nước ngoài, viết cuốn “Đêm Đã Đến Cách Nào” kêu gọi người Cuba chống cộng. “Một nhà cách mạng kiên cường” theo chính lời Fidel Castro nói về ông trở thành “tên phản động nguy hiểm”. Bây giờ Matos là một ông già hiền từ, ít nói, nhưng ngọn lửa yêu nước tiếp tục sáng rực trong ánh mắt. Hai là cuộc gặp gỡ với Yolanda Huera Madenha – một người đàn bà nhỏ nhắn, xinh đẹp, một trong những người khởi xướng phong trào “Những người đàn bà vận đồ trắng” (Women in White). Họ là những người mẹ, người vợ của những người đàn ông chống Castro rồi bị Castro cầm tù. Họ xuống đường biểu tình đòi thả chồng con họ, bắt đầu bằng vài chục người, rồi đông lên hàng trăm người, kéo theo cả những người không có chồng con ở tù. Gặp hai người từ Cuba ấy, tôi có cảm giác xấu hổ. Tôi thấy tôi, chúng tôi, những người từng sống ở miền Bắc Việt Nam kém họ. Kém xa. Chúng tôi biết cả đấy, như họ, hoặc chẳng kém gì họ, nhưng chúng tôi cam chịu. Cam chịu dài dài. Đoàn khách từ Croatia đến cũng để lại ấn tượng mạnh – những người bảo vệ nhân quyền (họ xưng là human rights defenders chứ không thích ai gọi họ là chiến sĩ nhân quyền) trẻ măng, có một người ngồi xe lăn, rất quan tâm đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ đề nghị một cuộc gặp riêng trước giờ tôi lên tàu trở lại Paris để hỏi về số phận những người bảo vệ nhân quyền Việt Nam. Hoá ra họ biết về Việt Nam nhiều, hơn là tôi hình dung. Thật cảm động. Nhưng thôi, tôi nói đã dài về cuộc họp mặt này. Chỉ xin thêm một câu: trong tổ chức của ISHR có một người Việt Nam rất năng động, hoạt động rất hiệu quả là anh Vũ Quốc Dụng. Xin các bạn liên hệ với anh ấy trong các công việc liên quan tới nhân quyền.
ĐCV: Trước những phát triển chung, cả tích cực và tiêu cực, trong tiến trình vận động dân chủ những ngày gần đây, và kết quả (không nổi cộm) từ Đại hội X của ĐCSVN, ông hình dung phong trào dân chủ những ngày sắp đến sẽ ra sao?
Vũ Thư Hiên: Nước ta là nước nhỏ. Vận mệnh của Việt Nam lệ thuộc khá nhiều ở những biến chuyển trên trường quốc tế. Nếu không có sự sụp đổ của Liên Xô và gần hết phe xã hội chủ nghĩa, chắc Việt Nam không thay đổi được như ngày nay. Phải thừa nhận rằng ở Việt Nam đã có những thay đổi về mặt đời sống theo chiều hướng tốt lên, tốt là một khái niệm tương đối, tôi nhắc lại, nhưng có tốt. Trong tình hình chế độ độc tài vẫn còn đó, các quyền tự do cơ bản cho con người vẫn chưa có. Các chính sách kinh tế thay đổi đã thay đổi bộ mặt xã hội, nhưng không có gì do định hướng xã hội chủ nghĩa sinh ra như người ta quảng cáo, cái định hướng lẩm cẩm ấy chỉ làm cho sự phát triển chậm hơn thôi, vì thế trong sự giàu lên của xã hội, thu nhập quốc dân tăng, thì bất công xã hội và chênh lệch giàu nghèo còn tệ hơn bất cứ lúc nào trong thời kỳ trị vì của đảng cộng sản... Đảng cộng sản có biết thế là thế không? Biết đấy, biết tốt, nhưng nó chỉ cần giữ chặt sự ổn định vị thế kẻ cai trị độc tôn, cho nên trong chính trị không có gì thay đổi cho phù hợp với phát triển kinh tế. Từ đây tất yếu sẽ sinh ra những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi. Cũng nhờ những biến chuyển của tình hình thế giới trong đó Việt Nam bắt buộc phải hội nhập và tìm cách thích ứng, đã có sự cởi mở hơn thời cực thịnh của chế độ toàn trị. Vào thời cực thịnh ấy những người ký tên dưới bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 chắc chắn bây giờ đang ở trong các trại tập trung. Nhưng đó là những bước lùi bắt buộc, không thể cưỡng lại, chứ ý chí của nhà cầm quyền thì rắn lắm - trong chính trị thì bất di bất dịch, họ không nhả ra cho ai cái gì đâu. Chỉ có thể đấu tranh mà giành lấy thôi.
Tôi không theo chủ nghĩa vô chính phủ, nhưng tôi chán cái chính trị xơ cứng cố thủ của đảng cộng sản lắm. Cho nên chẳng phải bây giờ, các thứ Đại hội của đảng cộng sản trước đây cũng vậy, chúng chẳng có ý nghĩa gì với tôi hết. Tôi chẳng chờ đợi bất cứ điều gì mới mỗi lần đảng cộng sản họp Đại hội. Đại Hôi X thì cũng thế. Nó chẳng là cái gì, nó chẳng mang lại cái gì mới cho đất nước ta đâu. Chẳng có chuyện phe siêu bảo thủ thắng lớn, phe cấp tiến đại bại đâu. Họ đều là một đồng một cốt, nếu tiếng chập choeng của dàn nhạc bị lỗi nhịp thì không phải là giữa họ với nhau có mâu thuẫn. Tôi chờ đợi sự thức tỉnh của nhân dân. Chỉ có cái đó mới mang lại sự thay đổi. Kẻ nắm quyền cai trị chẳng bao giờ tự nguyện rời bỏ ngai vàng, chân lý này xưa như trái đất. Con đường dân chủ đã được khai phá, chỉ còn cách tiến lên thôi, bạn ơi. Chẳng có cách nào khác. Không lùi được nữa rồi. Lùi là chấp nhận cái nguyên trạng tồi tệ làm cho đất nước lụn bại bên cạnh nhân loại đang đi nhanh vùn vụt. Cũng không thể chần chừ. Chấp nhận hy sinh mà tiến. Thời gian ủng hộ chúng ta.
Montréal - Paris, 14/05/2006
Đăng nhận xét
DCVOnline - Phỏng vấn Vũ Thư Hiên, Lã Mạnh Hùng thực hiện
Đàn Chim Việt (ĐCV) : Là người thường xuyên theo dõi và tham gia vào cuộc vận động dân chủ, xin ông nhận định về ảnh hưởng của Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, gọi tắt là Tuyên Ngôn 2006 với sự phát triển của phong trào dân chủ (như một phong trào, không phải như một tổ chức).
Vũ Thư Hiên: Trong câu hỏi của bạn đã có sẵn câu trả lời. Bạn ra câu hỏi như thế là tôi biết bạn nghĩ không khác tôi: ảnh hưởng của Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 là lớn. Lớn lắm. Nó là một bước tiến vọt của phong trào dân chủ. Tôi chờ bước tiến này từ lâu. Tôi biết nó sẽ có, tôi chờ. Sốt ruột chờ. Nay thì sự chờ đợi ấy đã được đền bù. Sướng nhất là khi tôi được thấy ở dưới Tuyên ngôn có hơn 100 người ký tên. Không sướng sao được? Hơn 100 con người là con số không lớn, đúng thế, cho dù lớn và nhỏ là những khái niệm tương đối, tuỳ theo quan niệm của mỗi người vào mỗi lúc mỗi nơi, nhưng trong một thời gian ngắn kỷ lục, vẻn vẹn có mấy ngày, tính từ khi Phương Nam hoàn tất bản thảo theo ý kiến của tập thể rồi gửi cho mọi người đọc lại góp ý kiến, mà có được bằng ấy người ký là con số lớn, rất lớn đấy. Con số ấy nói to rằng cái sự sợ hãi mà Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dày công vun xới đã bắt đầu hết linh. Bắt đầu thôi, nhưng là sự bắt đầu có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Đấy là ý nghĩa trọng đại của nó. Trước đó không thể có con số ấy, mặc dầu con số ẩn thì lớn vô cùng, chỉ có thể phỏng đoán mà không thể nói chắc.
Có nhiều chuyện vui dính dáng đến con số nọ, tôi xin kể một chuyện làm thí dụ. Ngay lập tức khi bản Tuyên ngôn vừa được công bố, có hai công an viên đến nhà một người ký tên, một anh bạn tôi. Anh mời họ vào nhà. Hai người khách được mời vào nhà, được mời hút thuốc, uống trà. Vào đề, khách nói tràng giang đại hải không cần biết chủ có nghe hay không về vai trò và sứ mệnh của Đảng cộng sản, rằng Đảng dù cho có không muốn cũng phải giữ cho chặt vị trí độc tôn lãnh đạo đất nước, chứ không ấy à, nước Việt Nam ta đã rã bành tô như mấy nước Đông Âu khốn khổ khốn nạn từ lâu rồi, nhân dân ta đã nheo nhóc, đã không cơm ăn, không áo mặc từ lâu rồi. Đại khái cũng giống như lời cảnh báo của ông cựu đại sứ Nguyễn Trung ấy. Ông Trung gọi sự thay đổi sang thể chế dân chủ ở mấy nước đó là “hiểm hoạ đen”, ông ấy thấy thế lấy làm lo cho Việt Nam lắm, ông vội khuyên đảng cộng sản lấy đó làm gương, chớ để đất nước đi vào vết xe đổ. Anh bạn tôi khiêm tốn gật gù. Hai anh công an ân cần khuyên: thôi, đã trót dại ký rồi thì cứ việc tuyên bố rút ra là xong, chuyện ấy là khuyết điểm nhất thời, đảng cho qua, không tính. Anh bạn tôi lịch sự đáp: “Các anh ạ, thấy người ta nói phải thì tôi nghe, tôi ký, chứ nếu Đảng cộng sản của các anh cũng nói phải như họ thì tôi cũng ký ngay”. Hai anh công an ngao ngán cáo lui. Lạ một cái là lần này họ không gây gổ, không doạ nạt. Hiền lành, lễ độ. Nếu không vận cảnh phục chưa chừng hai anh này dám nói khác cũng nên, ai đời có một bài đảng vĩ đại mà nhai đi nhai lại hết năm này sang năm khác, hết đời cha đến đời con, đứa chó nào không ngán, anh bạn tôi nhận xét thế.
Đọc Tuyên ngôn 2006, tôi ứa nước mắt. Không phải những câu chữ trong bản Tuyên ngôn làm tôi xúc động đâu, những câu chữ ấy, những chữ ấy, chúng ta đã từng biết, chúng ta đã từng đọc, chúng không mới, không lạ. Không, không phải vì cái đó. Tôi xúc động là vì sự ra đời của bản Tuyên ngôn kia, vì chữ ký của những con người can đảm kia. Mừng lắm lắm.
ĐCV: Phong trào dân chủ ảnh hưởng thế nào khi có một hay nhiều bản tuyên ngôn khác theo sau?
Vũ Thư Hiên: Tôi hiểu bạn muốn hỏi gì. Thì cứ nói toạc ra với nhau cho tiện. Tức là đã có bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, sao lại còn có sự ra mắt một bản Tuyên ngôn Dân chủ khác, bản thứ hai? Chuyện này có chút rắc rối thật, không phải là không có. Bạn đã đọc bức thư đầy nhân ái của ông Nguyễn Chính Kết gửi ông Nguyễn Khắc Toàn chưa? Gọi là gửi cho ông Toàn, chứ thực ra ông Kết muốn gửi cho tất cả mọi người. Trong bức thư ông Kết cố giải thích nguồn gốc sự trục trặc liên quan đến bản Tuyên ngôn 2006, để nói rằng không có mâu thuẫn gì trầm trọng trong hàng ngũ dân chủ đâu, chẳng qua có sự hiểu nhầm, là do có sự chật chưỡng về thời gian soạn thảo, lấy ý kiến, và cả trong mấy ngày sau đó, lại cũng là chuyện vặt vãnh thôi. Tất cả những gì ông Kết nói trong bức thư đều có thật, theo chỗ tôi được biết, nhưng bức thư không có sức thuyết phục đối với những người quan tâm. Sự thật lằng nhằng hơn, rối rắm hơn, kể ra cho hết đầu đuôi mọi sự thì dài dòng văn tự lắm, tôi xin phép không nói ở đây, nó lạc đề.
Với tất cả mọi người, chuyện đã rồi là chuyện đã rồi, người ta không cần biết chi tiết. Người ta chỉ ghi nhận cái sự thật hiển hiện: ấy là Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 đã ra đời. Nó xuất hiện như một văn kiện lịch sử. Lịch sử đã ghi nhận cái thứ nhất, thì cái thứ hai chỉ là một phó bản muộn màng. Tôi xin nói thêm: Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 có thể chưa toàn bích, có thể ở chỗ này chỗ kia chưa chỉnh về câu chữ, nhưng nội dung của nó có đủ những gì tôi muốn thấy, thì tôi ủng hộ nó, tôi mong mọi người ủng hộ nó, ủng hộ hết lòng. Cần phải thấy rằng cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ là cuộc đấu tranh giữa hai thế lực không thể cộng tồn, không thể hoà giải hoà hợp. Đâu có phải là cuộc thi Tuyên ngôn, để chờ quần chúng chấm cho cái nào đỗ. Không, cái sự loạn tuyên ngôn chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho phong trào dân chủ đâu, các bạn ơi, ngược lại thì có. Tôi đồng ý với bạn – phong trào mà ta đang nói tới ở đây có nghĩa một cuộc vận động lớn, một trào lưu lớn, trong đó có tất tần tật những nhóm, những cá nhân, có chung một đồng thuận – xoá bỏ chế độ độc tài, xây dựng thể chế dân chủ. Không phải một tổ chức. Chưa phải một tổ chức. Tuyên ngôn 2006 là tài sản của cái phong trào như thế. Nó chẳng là của riêng ai. Không có cái Tôi ở đây. Chỉ có cái Chúng ta. Tuyên ngôn Tự do Dân chủ do sự đóng góp của nhiều người mà thành, kể từ bản phác thảo của Hoàng Minh Chính, cuộc đi từ Sài Gòn ra Hà Nội của Trần Khuê và Phương Nam để nghe ý kiến của anh em dân chủ ở Hà Nội, đến bản thảo đầu tiên của Phương Nam được gửi đi để anh em hai miền Trung và Nam đóng góp thêm. Tôi có trong tay hầu như đầy đủ mấy bản ấy, tôi dám nói câu khẳng định rằng đúng nó là như thế.
Lại nói chuyện một tổ chức dân chủ thống nhất. Trong giai đoạn này cái đó chắc chưa thể có. Từ cái phong trào dân chủ rộng rãi ấy sau này ta sẽ thấy xuất hiện một số tổ chức của những người dân chủ, đại diện cho những nhóm khác nhau về giới tính, về quyền lợi, về niềm tin, về phương pháp đấu tranh… : Phụ nữ Dân chủ, Thanh niên Tự do, Công đoàn Đoàn kết, Phật tử Truyền thống, Giáo dân Vì nước chẳng hạn. Trong điều kiện chính quyền độc tài ra sức ngăn chặn, cắt đứt liên lạc, xé lẻ những nhóm dân chủ trên địa bàn cả nước để họ không thể kết lại với nhau thì có nhiều tổ chức không phải là xấu. Ngược lại, còn tốt nữa. Nó sẽ làm cho tính năng động, tính tự quyết của các tổ chức nhỏ được nâng cao, gộp tất cả lại sẽ có một sức mạnh tổng thể liên tục lấn sân, giành giật các quyền dân chủ về tay, liên tục mở rộng các thành quả đã đạt được để mau chóng đi tới mục tiêu xoá bỏ độc tài. Nhiều tổ chức dân chủ không phải là điều đáng sợ. Đáng sợ là khi các tổ chức ấy không biết đoàn kết với nhau để làm công việc chung. Mà cái công việc ấy khó khăn lắm, gian nan lắm, đâu có dễ dàng. Bây giờ không phải lúc cãi nhau, không phải lúc xưng cái Tôi đáng ghét ra, làm thiệt hại cho cái mà chúng ta đang ra sức đấu tranh để có.
ĐCV: Trong phong trào dân chủ hiện nay có hai khuynh hướng về chữ ký trên tuyên ngôn 2006: một cho là cần để học hàm, học vị, nghề nghiệp bên cạnh chữ ký, hai cho là mọi chữ ký của mọi công dân Việt Nam đều có ảnh hưởng đến phong trào như nhau. Ông quan niệm thế nào và tại sao?
Vũ Thư Hiên: Cái chuyện ấy mà dùng chữ khuynh hướng thì hơi to đấy, không nên. Nói về khuynh hướng thì nó thế này: quả là trong phong trào dân chủ có hai khuynh hướng thật, nhưng là ở lĩnh vực khác kia. Tình hình là thế này: giữa những người dân chủ có sự đồng thuận hoàn toàn về mục tiêu, nhưng về sách lược thì còn đôi điểm chưa nhất trí. Sự không nhất trí ấy, hay gọi là bất đồng cũng được, nhưng hơi to, nằm ở chỗ: một bên muốn lôi kéo những người cộng sản có xu hướng ly khai với nhà nước độc tài về với mình, kêu gọi sự hợp tác của họ. Bên kia, chủ trương ngược lại – cộng sản là cộng sản, chấm hết, không thể trông cậy bất cứ điều gì tốt lành ở những người cộng sản, họ chỉ muốn cải tiến chế độ độc tài của đảng cộng sản cho nó trường tồn mà thôi. Cả hai khuynh hướng, theo tôi nghĩ, đều có cái không có lý của họ. Đây là vấn đề sách lược đồng minh trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, trong chuyện này phải tuỳ thời điểm cụ thể mà lấy quyết định thích hợp. Tôi không nghĩ cái đó là điểm bất đồng nặng nề, nó chỉ là vấn đề đặt nặng vế này hay vế kia trong sự nhận định vai trò đồng minh. Đặt nặng trọng tâm vận động vào những người cộng sản là sai, họ chỉ là một bộ phận của khối nhân dân đông đảo cần vận động; nhưng gạt họ hoàn toàn cũng không đúng, nằm trong hệ thống quyền lực họ có thể có tác động tốt cho vận động dân chủ lắm nếu họ nghiêng về phía dân chủ. Trong thực tế sự suy nghĩ khác nhau này chưa có gì sâu sắc đâu, chưa có gì trầm trọng đâu. Khốn nỗi trong khi ý kiến về chuyện đó chưa được thống nhất thì có người thích làm ầm lên, bé xé ra to. Nguồn gốc chuyện lủng củng này là do tính tự cao tự đại, không biết khiêm cung, tính ông tướng, óc lãnh tụ ở người này người kia, lúc hăng máu vịt lên, họ không còn thấy cái đại đồng ở đâu nữa, chỉ thấy có cái tiểu dị lồ lộ, cái ấy cũng có đấy. Từ chỗ thích làm ông tướng đi đến chỗ chia rẽ, công kích nhau, chửi bới nhau, tự quyền loại nhau ra khỏi hàng ngũ, chẳng phải là bước dài lắm. Nói là nói phòng xa thế thôi, chứ trong cuộc đấu tranh này kẻ nào làm bậy, kẻ đó tự khai trừ mình khỏi hàng ngũ dân chủ.
Còn chuyện trưng học hàm học vị hoặc không trưng học hàm học vị thì chẳng có thể gọi được là bất đồng giữa hai khuynh hướng. Chẳng qua là chuyện giữa mấy ông mấy bà có những quan niệm, những ý thích khác nhau thôi. Ông A khoái trưng học hàm học vị thì bảo: trước khi tham gia quần chúng cần được biết có những ông nào bà nào đã có mặt, họ danh tiếng đến thế mà họ vẫn đấu tranh cho dân chủ, thì ta nên đi với họ. Dân mình lại vốn sính học hàm học vị, chiều họ tí đã sao? Ông B không thích cái cách trưng học hàm học vị thì bảo: làm như thế quần chúng sẽ coi cuộc đấu tranh cho dân chủ là của bọn giáo sư, tiến sĩ… không phải việc của tụi dân đen ta, chờ xem đám dân chủ cổ cồn kia làm được gì cái đã, chẳng đi đâu mà vội. Lại một lần nữa, cả hai đều có cái lý của họ. Cũng có lúc phải gắn học hàm học vị vào, khi ông A bà B thuyết trình trong giới chuyên môn của họ, hoặc để biết ai là ai nếu có sự trùng tên. Chứ còn trong cuộc đấu tranh cho dân chủ cụ thể đang diễn ra hôm nay, ngay bây giờ đây, thì trưng học hàm học vị ra để mà làm gì? Để khoe mẽ rằng trong hàng ngũ dân chủ ta nhiều bậc chức sắc à? Quan điểm của tôi là như vậy. Vị thế công dân (hay vị thế con dân của đất nước, tôi muốn nói trong thời kỳ nước ta còn bị đô hộ) là vị thế cao nhất trong trách nhiệm của con người trước vận mệnh đất nước. Thay vì phải trưng học hàm học vị ra, trong bản Tuyên ngôn chẳng hạn, ta cứ để ông này bà kia, ở đâu, làm nghề gì. Bác sĩ, kỹ sư, nông dân, công nhân, thương gia không phải là học hàm, học vị, chỉ là nói về nghề nghiệp thì cứ để, nhưng đừng tâng một anh mới tốt nghiệp đại học luật lên thành luật sư, nghe chướng lắm. Cứ giở sách sử ra mà xem, những anh hùng liệt sĩ của đất nước trong thời kỳ thuộc Pháp chẳng là giáo sư, tiến sĩ gì hết. Nhưng sử sách vinh danh họ. Chúng ta đều biết họ là ai. Bởi lòng yêu nước của họ. Bởi đức hy sinh của họ. Nào có phải họ là giáo sư hay tiến sĩ.
ĐCV: Tình hình thực tế của phong trào dân chủ Việt Nam khiến Tuyên Ngôn 2006 thiếu chữ ký của một số người đang vận động dân chủ và tự do tín ngưỡng trong và ngoài nước. Theo ông, liệu những người thuộc các nhóm dân chủ này sẽ ký tên vào bản Tuyên Ngôn 2006 trên web hay trên giấy trong nước trong tương lai gần, và đây có phải là điều cần thiết hay không?
Vũ Thư Hiên: Tôi không thấy có gì quan trọng lắm trong sự thiếu vắng chữ ký của một số người mà chúng ta thường được nghe tên. Bản Tuyên ngôn 2006 ra đời, theo tôi biết, đúng là trong sự vội vã. Có cần vội vã thế không là chuyện khác, có những nhận định khác nhau trong vụ này. Vì sự vội vã ấy, số chữ ký ta muốn được thấy chưa đủ. Trong một thời gian gấp rút như thế rõ ràng không thể có sự thông tin rộng khắp cho mọi người đều biết để ký. Lại trong điều kiện phải giữ bí mật nữa chứ. Thôi thì ai tán thành sau này ký cũng chẳng muộn. Nhưng cũng có những trường hợp khác. Chẳng hạn, có người do tính cẩn trọng thái quá, có người còn cẩn trọng đến mức xét nét nữa ấy chứ, họ thấy chưa hài lòng với những câu chữ nào đó trong Tuyên ngôn ấy thì họ không ký. Lại có người không ký chỉ vì thấy trong số người đã ký có tên những người mà họ không ưa. Lôi thôi lắm. Bạn hỏi tôi: vậy thì liệu rồi đây họ có ký không? Làm sao tôi trả lời được. Tôi không thể trả lời thay cho bất cứ ai. Tôi không có cái quyền ấy. Trong sự trả lời phỏng vấn này cũng vậy, tôi chỉ đại diện cho chính tôi mà thôi.
Tôi nghĩ sự ra đời của bản Tuyên ngôn 2006 là tất yếu, sự kiện ấy tất phải xảy ra vào một lúc nào đó, nó không thể không xảy ra, nhưng trong đó cũng có yếu tố ngẫu nhiên, tại sao nó lại xảy ra đúng vào ngày 8 tháng 4, mà không phải sớm hơn một hôm hay muộn hơn một hôm. Trường hợp ra đời của nó cũng giống như bất cứ văn kiện lịch sử nào khác, nó là nó, vừa đủ, vừa chưa đủ, đẹp rồi đấy mà xem kỹ vẫn thấy có chỗ chưa chỉnh, nói nó chưa toàn bích là như vậy. Tôi ủng hộ Tuyên ngôn 2006 ngay lập tức dù nó chưa toàn bích vì tôi thấy nội dung nó như thế là đủ những cái tôi muốn rồi, cứ thế đã là tốt rồi, tôi không cần cái tốt hơn. Nhưng người khác thì không, họ muốn nó phải được viết lại cơ, cứ là phải theo ý họ cơ, mới thật là tốt. Rồi đây những nhóm, những cá nhân không hài lòng ấy có ký hay không, là chuyện của họ. Có chữ ký của họ thì tốt, không có cũng không sao. Mong sao đừng vì thế mà họ xa rời cuộc đấu tranh chung. Có người từng đóng vai trò que diêm nhóm lên ngọn lửa dân chủ. Nhưng khi đã có cả đống lửa rồi mà vẫn cứ loay hoay với sự tự khoe vai trò que diêm của mình thì buồn cười lắm. Nói tóm lại, trong mọi cuộc đấu tranh, không phải ai đã lên đường thì người đó sẽ đi tới đích. Cái sự nửa đường đứt gánh là chuyện bình thường. Sự rơi rụng trên đường cũng là chuyện bình thường. Đừng chạy sang phía bên kia là được rồi.
ĐCV: Mới đây DCVOnline, trong loạt bài về Tuyên ngôn 2006, đăng bài “Tranh nhau miếng bánh Nhà Dân Chủ Lớn” của Lưu Vũ và “Tuyên ngôn 2006 và não trạng sứ quân” của Trần Trung Việt gây khá nhiều tranh luận cả bên ngoài (trên diễn đàn DCVOnline) và cả ở bên trong phong trào nhất là bài “Tranh nhau miếng bánh Nhà Dân Chủ Lớn”. Ông nhận xét thế nào về quan điểm của tác giả trong hai bài vừa nêu? Có bánh nhà dân chủ lớn và có não trạng sứ quân trong phong trào dân chủ không thưa ông?
Vũ Thư Hiên: Tôi có đọc hai bài của anh Lưu Vũ và của anh Trần Trung Việt. Tôi thấy gì trong hai bài ấy? Tôi thấy được tình cảm thiết tha của tác giả đối với phong trào dân chủ, cảm giác đau xót của họ trước những lủng củng trong đó. Không có sự công kích phong trào dân chủ đâu, hoàn toàn không. Cái đó rõ lắm, đáng quý lắm. Họ trong sáng trong khi cầm bút viết hai bài đó, tôi nói khẳng định. Đấy là về nội dung. Tôi chỉ đặc biệt khó chịu với bức hình con khỉ minh hoạ cho bài của anh Lưu Vũ. Thật quá tệ, ai lại đi làm như thế cơ chứ! Tấm hình đó gây ngay phản cảm và đã đưa đến sự ngộ nhận của nhiều người, mặc dù khi hỏi, tôi được người biên tập ảnh cho hay rằng, anh ấy làm cái hình ấy chỉ để nhắm vào kẻ "Ngụy Dân Chủ", chứ hoàn toàn không có bất kỳ ý gì xúc phạm đến những nhà dân chủ chân chính.
Những nhà dân chủ trong nước có thể kém hiểu biết về mặt nào đó do thiếu thông tin, họ có thể mắc sai lầm này sai lầm khác, có người lại còn bị mắc độc kế của chính quyền nữa, nhưng đó là những người đang đứng đầu sóng ngọn gió trong cuộc đấu tranh của cả dân tộc, họ cần đến sự ủng hộ, sự đồng cảm, cả tình yêu nữa, nếu có thể nói như thế, của tất cả chúng ta. Giễu cợt - thậm chí vì vô tình hay do thiếu thận trọng, thiếu khéo léo trong việc chuyển tải thông tin mà gây nên điều này - là điều rất không nên.
Việc đặt tên cho bài viết cũng không đạt. Tôi nói thế với tư cách độc giả thôi, tôi nói cảm tưởng của tôi thôi, tôi không phải nhà phê bình nói về nghiệp vụ báo chí, cảm tưởng thế nào tôi nói thế ấy, mong hai tác giả không giận. Tên bài thì kêu, nhưng không thích hợp, các bạn ạ. Làm gì có miếng bánh Nhà dân chủ Lớn để người ta tranh nhau cơ chứ? Chưa đến lúc ấy đâu. Nếu bây giờ đã có miếng bánh ấy rồi thì nó đang ở đâu nào? Trong Bắc bộ phủ chăng? Không phải. Trong những nhà tù, trong những phòng thẩm vấn, vâng, ở những chỗ ấy. Làm gì đã có những vùng dân chủ cát cứ với những sứ quân cân đai mũ áo để mà có não trạng sứ quân? Nguyên nhân những lủng củng ấy ở chỗ khác kia, bạn ơi, không phải ở miếng bánh mà anh Lưu Vũ chỉ ra đâu, cũng không phải ở những sứ quân đâu. Giá mà ở nước ta bây giờ có được thập nhị sứ quân dân chủ nhỉ? Thì rồi sẽ có một Đinh Bộ Lĩnh dân chủ thâu gồm họ lại, khỏi lo. Những sứ quân dân chủ có thể gây lộn với nhau, nhưng chỉ trong những cuộc chiến tranh nước bọt thôi, có gì đáng sợ. Dân chủ lủng củng vẫn còn hơn độc tài toàn trị không lủng củng, nó hơn hẳn, hơn không so sánh được. Anh Trần Trung Việt rất sắc sảo khi miêu tả tình trạng:
“Cờ phe tao đẹp hơn cờ phe mày. Lãnh tụ của chúng tôi xứng đáng hơn lãnh tụ của các anh. Tuyên ngôn chúng tôi ngon lành hơn tuyên ngôn của các anh. Sáng kiến của chúng tôi tuyệt vời hơn sáng kiến của các anh. Chữ nghĩa của chúng tôi hùng hồn hơn chữ nghĩa của các anh. Cương lĩnh của chúng tôi đúng đắn hơn cương lĩnh của các anh. Và hàng trăm cái để hơn thua khác. Đó là chưa kể đến những cáo buộc ác ý, chụp mũ nếu không công khai thì cũng được rỉ tai trong nội bộ của các tổ chức, các nhóm”.
“Chúng ta quý những anh hùng, nhưng họ phải là anh hùng không có rận”, Erich Maria Remarque (1898-1970) — Nguồn: cdhm.de
Tình hình phong trào dân chủ ở trong nước, theo chỗ tôi được biết, không đến nỗi tệ đến thế đâu. Tình hình mà anh Việt miêu tả giống ở hải ngoại nhiều hơn. Ở trong nước, ngoài mấy người có thể đếm trên đầu ngón tay còn thừa, chỉ có mấy người ấy thôi, là hăng hái tán phát những bản photocopy (không nhiều lắm vì khá tốn kém), bằng cách gửi lên internet (rẻ rề) những lời mạ lị nhau, bới móc đời tư của nhau, bằng nhiều thủ đoạn, không từ cả bịa đặt trắng trợn. Thậm chí người ta bịa chuyện ông Trần Khuê ăn chặn tiền giải thưởng của tổ chức Quan sát Nhân quyền (HRW) tặng bà Nguyễn Thị Thanh Xuân. Chuyện này hoàn toàn không có. Tôi có đủ chứng cứ để nói rằng nó là chuyện bịa đặt. Ai không tin có thể hỏi thẳng HRW. Hay là chuyện ông Nguyễn Thanh Giang nhận tiền ủng hộ anh em dân chủ để xây nhà nữa. Cũng lại bịa nốt. Những người này không tranh luận về cách thức đấu tranh, mà chỉ trích, chửi bới nhau, chỉ vì thái độ đối xử của anh này đối với anh kia trịch thượng, vì những tự ái vặt. Không, đại đa số những người dân chủ không sa lầy trong vũng bùn ấy. Họ vẫn đoàn kết trong cuộc đấu tranh nhiều tai vạ hơn là giành được “miếng bánh Nhà Dân chủ Lớn” hoặc cái danh vọng lãnh tụ hão huyền.
Làm sao được, những người thích cãi nhau nọ cũng là những con người mà, với tất cả những chỗ yếu thường có. Ta phải thừa nhận sự thật ấy thôi, phải chịu nó thôi, không thừa nhận nó vẫn cứ tồn tại. Lại có một sự thật này nữa, như là một nghịch lý: mấy ông chửi nhau ấy, vâng, chính những ông ấy, vẫn là những người đấu tranh cho dân chủ, mới buồn, tôi biết họ cả mà. Cái sự cãi nhau rất tầm phào ấy làm cho họ xuống giá thê thảm trong con mắt quần chúng, làm cho những việc họ làm mất hết tác dụng. Mà say máu cãi nhau, họ nào có biết. Đành phải thừa nhận sự thật này với niềm mong ước tình trạng ấy chóng qua. Nhân vô thập toàn, cổ nhân đã dạy. Tôi chợt nhớ đến một câu thật là hay của Erik Maria Remark trong cuốn “Biểu Tượng Đen”: “Chúng ta quý những anh hùng, nhưng họ phải là anh hùng không có rận”.
ĐCV: Được biết ông vừa tham dự một hội nghị của Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế (ISHR) tại Đức, xin ông trình bày sơ qua về hội nghị, thành quả và những điểm thú vị, tích cực có thể phát triển và sử dụng trong cuộc vận động, đẩy mạnh phong trào dân chủ Việt Nam.
Huber Matos: 2006, người vận động dân chủ; 1959 Comandante chống nhà độc tài Fulgencio Batista — Nguồn: DCVOnline & dicrystal.com
Vũ Thư Hiên: Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế là một tổ chức phi chính phủ và bất vụ lợi. Như tên gọi của nó, hiệp hội này được thành lập chỉ để bảo vệ nhân quyền. Nó bảo vệ bất cứ ai, ở bất cứ đâu, là nạn nhân của sự chà đạp nhân quyền, không trừ cả người cộng sản bị chế độ thần quyền truy bức. Nó không nhận bất cứ tài trợ nào của các chính phủ, giữ tư cách độc lập với các chính quyền, chỉ tồn tại bằng các khoản ủng hộ của các hội đoàn phi chính phủ và cá nhân. Mà tồn tại được từ năm 1972 tới giờ, vẫn vững vàng, vẫn hoạt động có hiệu quả, mới tài. Đại hội đồng của ISHR họp năm nay có mời khách. Lần đầu tiên tôi được đến dự để tham gia đề tài “Bảo vệ quyền tự do ngôn luận và báo chí”. Cựu tổng thống Tiệp, ông Vaclav Havel không tới dự được vì sức khoẻ kém có gửi tới lời chào mừng bằng videomail. Tôi được thấy hình hai ông Havel, một ông tù trong bộ áo xọc với hai công an viên kẹp hai bên, một ông tổng thống khi nền dân chủ thắng lợi. Cũng như ở mọi cuộc hội thảo quốc tế, trong các forum mỗi diễn giả nói về tình hình nhân quyền nước người ấy. Tôi được gặp nhiều khách mời từ Trung Quốc, Cuba, Albania, Croatia… Người Trung Quốc đông hơn cả, có cả người Hoa Lục, người Đài Loan. Những người thuộc giáo phái Pháp Luân Công hoạt động mạnh nhất. Họ tranh thủ từng phút để tố cáo sự đàn áp nhân quyền, đàn áp tự do tín ngưỡng của Bắc Kinh, trên bục diễn giả, trong những cuộc gặp riêng với các đoàn. Họ chiếm lĩnh cả những phút giải lao bằng cách cống hiến những tiết mục đặc sắc: một giáo sư nhạc viện Bắc Kinh thổi tiêu, các cô gái trình diễn các màn múa hoa sen, múa lụa… Cứ như là văn công chuyên nghiệp. Hăng hái lắm. Đáng để chúng ta học tập.
Đoàn phụ nữ mặc đồ trắng trên đường đến trụ sở nghiệp đoàn ký giả báo nhà nước tại thủ đô Havana (18/3/2005) — Nguồn/Ảnh: canf.org & AP Photo/Jorge Rey
Ấn tượng mạnh hơn cả đối với tôi là cuộc gặp gỡ với hai người. Một là nhà cách mạng Huber Matos của Cuba. Ông này chống chế độ Batista từ năm 1952, sống lưu vong ở Costa Rica để tiếp tế súng đạn cho chiến khu Sierre Maestra, sát cánh cùng Fidel Castro, Che Guevara, Raul Castro… trong cuộc cách mạng lật đổ chính quyền Batista để xây dựng một nước Cuba mới. Nhưng nước Cuba mới này vừa thanh toán xong độc tài Batista thì lại thành độc tài cộng sản. Van nài “đồng chí Fidel, đồng chí đừng thiêu rụi cuộc cách mạng” không được, ông bị Fidel Castro cho 22 năm tù. Chịu án xong ông ra nước ngoài, viết cuốn “Đêm Đã Đến Cách Nào” kêu gọi người Cuba chống cộng. “Một nhà cách mạng kiên cường” theo chính lời Fidel Castro nói về ông trở thành “tên phản động nguy hiểm”. Bây giờ Matos là một ông già hiền từ, ít nói, nhưng ngọn lửa yêu nước tiếp tục sáng rực trong ánh mắt. Hai là cuộc gặp gỡ với Yolanda Huera Madenha – một người đàn bà nhỏ nhắn, xinh đẹp, một trong những người khởi xướng phong trào “Những người đàn bà vận đồ trắng” (Women in White). Họ là những người mẹ, người vợ của những người đàn ông chống Castro rồi bị Castro cầm tù. Họ xuống đường biểu tình đòi thả chồng con họ, bắt đầu bằng vài chục người, rồi đông lên hàng trăm người, kéo theo cả những người không có chồng con ở tù. Gặp hai người từ Cuba ấy, tôi có cảm giác xấu hổ. Tôi thấy tôi, chúng tôi, những người từng sống ở miền Bắc Việt Nam kém họ. Kém xa. Chúng tôi biết cả đấy, như họ, hoặc chẳng kém gì họ, nhưng chúng tôi cam chịu. Cam chịu dài dài. Đoàn khách từ Croatia đến cũng để lại ấn tượng mạnh – những người bảo vệ nhân quyền (họ xưng là human rights defenders chứ không thích ai gọi họ là chiến sĩ nhân quyền) trẻ măng, có một người ngồi xe lăn, rất quan tâm đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ đề nghị một cuộc gặp riêng trước giờ tôi lên tàu trở lại Paris để hỏi về số phận những người bảo vệ nhân quyền Việt Nam. Hoá ra họ biết về Việt Nam nhiều, hơn là tôi hình dung. Thật cảm động. Nhưng thôi, tôi nói đã dài về cuộc họp mặt này. Chỉ xin thêm một câu: trong tổ chức của ISHR có một người Việt Nam rất năng động, hoạt động rất hiệu quả là anh Vũ Quốc Dụng. Xin các bạn liên hệ với anh ấy trong các công việc liên quan tới nhân quyền.
ĐCV: Trước những phát triển chung, cả tích cực và tiêu cực, trong tiến trình vận động dân chủ những ngày gần đây, và kết quả (không nổi cộm) từ Đại hội X của ĐCSVN, ông hình dung phong trào dân chủ những ngày sắp đến sẽ ra sao?
Vũ Thư Hiên: Nước ta là nước nhỏ. Vận mệnh của Việt Nam lệ thuộc khá nhiều ở những biến chuyển trên trường quốc tế. Nếu không có sự sụp đổ của Liên Xô và gần hết phe xã hội chủ nghĩa, chắc Việt Nam không thay đổi được như ngày nay. Phải thừa nhận rằng ở Việt Nam đã có những thay đổi về mặt đời sống theo chiều hướng tốt lên, tốt là một khái niệm tương đối, tôi nhắc lại, nhưng có tốt. Trong tình hình chế độ độc tài vẫn còn đó, các quyền tự do cơ bản cho con người vẫn chưa có. Các chính sách kinh tế thay đổi đã thay đổi bộ mặt xã hội, nhưng không có gì do định hướng xã hội chủ nghĩa sinh ra như người ta quảng cáo, cái định hướng lẩm cẩm ấy chỉ làm cho sự phát triển chậm hơn thôi, vì thế trong sự giàu lên của xã hội, thu nhập quốc dân tăng, thì bất công xã hội và chênh lệch giàu nghèo còn tệ hơn bất cứ lúc nào trong thời kỳ trị vì của đảng cộng sản... Đảng cộng sản có biết thế là thế không? Biết đấy, biết tốt, nhưng nó chỉ cần giữ chặt sự ổn định vị thế kẻ cai trị độc tôn, cho nên trong chính trị không có gì thay đổi cho phù hợp với phát triển kinh tế. Từ đây tất yếu sẽ sinh ra những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi. Cũng nhờ những biến chuyển của tình hình thế giới trong đó Việt Nam bắt buộc phải hội nhập và tìm cách thích ứng, đã có sự cởi mở hơn thời cực thịnh của chế độ toàn trị. Vào thời cực thịnh ấy những người ký tên dưới bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 chắc chắn bây giờ đang ở trong các trại tập trung. Nhưng đó là những bước lùi bắt buộc, không thể cưỡng lại, chứ ý chí của nhà cầm quyền thì rắn lắm - trong chính trị thì bất di bất dịch, họ không nhả ra cho ai cái gì đâu. Chỉ có thể đấu tranh mà giành lấy thôi.
Tôi không theo chủ nghĩa vô chính phủ, nhưng tôi chán cái chính trị xơ cứng cố thủ của đảng cộng sản lắm. Cho nên chẳng phải bây giờ, các thứ Đại hội của đảng cộng sản trước đây cũng vậy, chúng chẳng có ý nghĩa gì với tôi hết. Tôi chẳng chờ đợi bất cứ điều gì mới mỗi lần đảng cộng sản họp Đại hội. Đại Hôi X thì cũng thế. Nó chẳng là cái gì, nó chẳng mang lại cái gì mới cho đất nước ta đâu. Chẳng có chuyện phe siêu bảo thủ thắng lớn, phe cấp tiến đại bại đâu. Họ đều là một đồng một cốt, nếu tiếng chập choeng của dàn nhạc bị lỗi nhịp thì không phải là giữa họ với nhau có mâu thuẫn. Tôi chờ đợi sự thức tỉnh của nhân dân. Chỉ có cái đó mới mang lại sự thay đổi. Kẻ nắm quyền cai trị chẳng bao giờ tự nguyện rời bỏ ngai vàng, chân lý này xưa như trái đất. Con đường dân chủ đã được khai phá, chỉ còn cách tiến lên thôi, bạn ơi. Chẳng có cách nào khác. Không lùi được nữa rồi. Lùi là chấp nhận cái nguyên trạng tồi tệ làm cho đất nước lụn bại bên cạnh nhân loại đang đi nhanh vùn vụt. Cũng không thể chần chừ. Chấp nhận hy sinh mà tiến. Thời gian ủng hộ chúng ta.
Montréal - Paris, 14/05/2006
<< Home
