18/6/06

 

Trương Nhân Tuấn

Nhận-định sơ-lược về nhân-sự lãnh-đạo, chiến-lược phát-triển quốc-gia và đường-lối chính-trị của đảng CSVN sau đại-hội X.
Ðề-nghị một phương-hướng tranh-đấu (cho những nhà dân-chủ tiền-phong) nhằm thúc-đẩy tiến-trình dân-chủ hóa Việt-Nam.

Xem tiep...
Comments:
Ðại-hội lần thứ X của đảng CSVN vừa kết-thúc. Thành-phần nhân-sự cấp lãnh-đạo được lựa-chọn (hay sa-thải) theo thực-tiễn và theo tiêu-chuẩn của người cộng-sản. Ba bản báo-cáo chính-trị quan-trọng về đảng và đường-lối đảng, về nguyên-tắc lãnh-đạo và phương-hướng phát-triển đất nước trong thời-kỳ đổi mới được đại-hội đại-biểu lần thứ X thông qua. Ba văn-kiện này được lần-lượt công-bố trên báo Nhân-Dân. Bản thứ nhứt dài 30 trang A4, đăng vào ngày 6 tháng 6, là bản « báo-cáo chính-trị của ban chấp-hành trung-ương đảng khoá IX tại đại-hội đại-biểu toàn-quốc lần thứ X của đảng CSVN ». Ðây là văn-kiện quan-trọng nhứt, có tựa đề viết như một biểu-ngữ tuyên-truyền : «Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển ». Bản thứ hai dài khoảng 46 trang A4, đăng vào ngày 7 tháng 6, đề tựa : « kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Ðại hội lần thứ IX của Ðảng về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược 10 năm 2001 - 2010, xây dựng nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. » Bản thứ ba dài khoảng 24 trang A 4, đăng vào ngày 10 tháng 6, tựa : « Báo cáo công tác xây dựng Ðảng kiểm điểm, đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Ðại hội IX, đồng thời đánh giá khái quát về tình hình Ðảng và công tác xây dựng Ðảng qua 20 năm đổi mới, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của nhiệm kỳ tới. » Cùng lúc bản « điều-lệ nội qui » mới của đảng CSVN cũng được công-bố. Ðây cũng là một yếu-tố quan-trọng đáng chú ý. Các văn-kiện trên đây được đóng lại thành nhiều tập-sách (5 tập).
So-sánh văn-kiện thứ nhứt và bản dự-thảo đại-hội đã công-bố vào khoảng tháng 3 năm 2006 ta thấy không có sai biệt lớn. Văn-kiện thứ nhứt là do bản dự-thảo sửa-đổi chút ít kết-thành. Ðây là văn-kiện chủ-yếu, có tính tổng-quát, nội-dung gồm hai phần : phần nói về quốc-gia và phần nói về đảng. Hai phần này được hai văn-kiện sau khai-triển rộng-rãi. Văn-kiện thứ hai nói về phát-triển quốc-gia và thành-quả 5 năm vừa qua. Văn-kiện được trình-bày theo lối « phê-bình và tự phê-bình », đưa ra những thành-tựu và những yếu-kém về các mặt kinh-tế, văn-hóa xã-hội và an-ninh quốc-phòng. Việc trình-bày bề mặt tưởng như khách quan, khoa-học, nhưng nhìn sâu thì thấy đầy dẫy thói kiêu-ngạo, chủ-quan cộng-sản, mị-dân v.v… Luận-điệu « mất mùa thì tại thiên tai, được mùa nhờ bởi thiên tài đảng ta » vẫn còn thể-hiện rõ-rệt. Văn-kiện này cũng đưa ra những nhận-định chiến-lược phát-triển quốc-gia cho 5 năm (và tới năm 2020) nhưng rất chung chung. Các phương-hướng và mục-tiêu về kinh-tế, xã-hội tuy cao xa nhưng chúng không có tính thuyết-phục ; khó có thể đạt được vì những lý-do như khả-năng chuyên-môn nhân-sự lãnh-đạo quá kém-cõi, hành-chánh cồng-kềnh, kinh-tế kềm-hãm do sức trì « xã-hội chủ-nghĩa », nạn tham-nhũng, hạ-tầng cơ-sở lạc-hậu, chuyên-viên và công-nhân tay nghề không đạt tiêu-chuẩn, thiếu vốn chất xám cũng như vốn tư-bản v.v…. Văn-kiện thứ ba nói về đảng. Có một số điều đáng chú ý trong văn-kiện này như đảng CSVN tiếp-tục « kiên-định chủ-nghĩa Mác-Lênin và tư-tưởng Hồ Chí Minh, kiên-định mục-tiêu độc-lập dân-tộc và chủ-nghĩa xã-hội, không đa-nguyên, đa đảng », đảng viên được phép làm kinh-tế tư-nhân v.v..
Phần thứ nhứt : nhân-sự lãnh-đạo.
Nhân-sự được lựa-chọn vào ban chấp-hành trung-ương đảng khóa X gồm có 160 ủy-viên chính-trức và 21 ủy-viên dự-khuyết. Bộ chính-trị gồm có 14 người. Đó là : Nông Đức Mạnh (Bắc-Cạn), Lê Hồng Anh (Kiên-Giang), Nguyễn Tấn Dũng (Cà-Mau), Nguyễn Minh Triết (Bình-Dương), Trương Tấn Sang (Long-An), Nguyễn Phú Trọng (Hà-Nội), Phạm Gia Khiêm (Hà-Nội), Phùng Quang Thanh (Vĩnh-Phúc), Trương Vĩnh Trọng (Bến-Tre), Lê Thanh Hải (Tiền-Giang), Nguyễn Sinh Hùng (Nghệ-An), Nguyễn Văn Chi (Đà-Nẵng), Hồ Đức Việt (Nghệ-An) và Phạm Quang Nghị (Thanh-Hóa). Phe miền Nam chiếm đa-số 6 người, Trung có 4 người và Bắc có 3 người. Phe miền Bắc nắm tổng bí-thư đảng (Nông Đức Mạnh) và quân-đội (Phùng Quang Thanh). Phe miền Nam, nếu không có gì thay đổi, sẽ nắm Thủ-Tướng (Nguyễn Tấn Dũng) và công-an (Lê Hồng Anh). 4 người miền Trung được sắp hạng chót bảng danh-sách. Ông Lê Hồng Anh thứ nhì và Nguyễn Tấn Dũng thứ ba. Chủ-tịch nước có thể sẽ về tay phe miền Nam (Lê Hồng Anh hay Nguyễn Minh Triết) và chủ-tịch Quốc-Hội vào tay phe miền Bắc (Nguyễn Phú Trọng).
Những người được ngồi lại từ bộ chính-trị khoá 9 là các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh (từ hạng 9 lên hạng 2) và Trương Tấn Sang. Ngoài ông Nông Đức Mạnh, những người còn lại là người miền Nam.
I. Nhận-xét về nhân-sự ở một số bộ sau 5 năm làm việc : Những ổ sâu dân, mọt nước.
1/ Nhân-sự Bộ Ngoại-Giao : Tập-đoàn làm nhục quốc thể :
Không có người nào thuộc bộ Ngoại-Giao vô trung-ương đảng. Có người giải-thích rằng những người không vô được trung-ương đảng vì quá hạn tuổi như các ông Lê Công Phụng, Lê Văn Bàng, hay Nguyễn Phú Bình… Người viết nghĩ khác. Toàn-bộ nhân-sự bộ ngoại-giao không ai vô được trung-ương vì nhân-sự bộ này trong 5 năm qua đã không làm được việc nào hữu-ích. Ngược lại, họ đã gây thiệt hại rất nhiều cho Việt-Nam, nhất là các hiệp-ước về biên-giới. Ông bộ-trưởng Nguyễn Dy Niên có trách-nhiệm về hiệp-ước phân-định vịnh Bắc-Việt làm VN thiệt hại 11.000 km². Thứ-trưởng Lê Công Phụng trách-nhiệm không nhỏ về hiệp-ước phân-định biên-giới trên đất liền. Về các mặt khác cũng không khá hơn. Ông Vũ Khoan tỏ ra bất-lực trong vụ thương-lượng WTO. Đến sau khi đại-hội X bế-mạc thì mới có những cuộc chạy nước rút. Nhưng theo những chuyên-gia kinh-tế, những gì VN đã thỏa-thuận với Hoa-Kỳ đều bất-lợi cho phía Việt-Nam, nhất về nông-nghiệp.
Bộ ngoại-giao cũng đã thất-bại, đem lại nhục-nhã cho dân-tộc VN, trong vụ hải-quân Trung-Cộng bắn giết ngư-dân VN tháng 3 năm 2005 trong vịnh Bắc-Việt. Đến nay gia-đình nạn-nhân không nhận được một đồng bồi-thường, thậm-chí không một lời xin lỗi từ phía Trung-Cộng. Thực-tế cho thấy bộ Ngoại-Giao VN đứng ngoài vụ sát-nhân này.
Vấn-đề phụ-nữ VN bị bán hay gạt qua Đài-Loan làm nô-lệ tình-dục, nhục-nhã đủ điều, nhục luôn quốc-thể. Đàn-bà Việt-Nam đã trở thành món hàng đem bán đấu giá trên mạng internet, trong lồng kính tại chợ Singapour, ở chợ trời xứ Mã-Lai v.v… Thế-giới lên tiếng, nhưng bộ ngoại-giao VN chưa có lần lên tiếng. Các vụ công-nhân VN bị ngược-đãi tại Samoa, tại Indonesie, Mã-Lai … cũng không hề nghe một lời can-thiệp từ bộ ngoại-giao VN. Trẻ em VN bị bán sang các nước để làm nô-lệ tình-dục, như bên Kampuchia, thế-giới lên án, bộ Ngoại-Giao không hề lên tiếng can-thiệp hay bênh-vực. Hầu hết các tòa đại-sứ VN (trực-thuộc bộ ngoại-giao) ở các nước đều dửng-dưng trước những khó khăn của những người Việt sang nước ngoài theo diện hợp-tác lao-động. Ai cần, muốn giúp gì thì phải đưa tiền. Nhân-viên sứ-quán tìm cách làm khó dễ kiều-bào để ăn hối-lộ trong dịch-vụ Visa. Đây là bộ Ngọai-Giao hay là bộ Làm-Khó nhân-dân ? Nhân-viên bộ Ngoại-Giao VN còn nổi-danh về các vụ buôn lậu. Khốn-nạn hơn, bộ Ngoại-Giao VN đã liên-hệ với bộ ngoại-giao các nước Nam-Dương và Mã-Lai yêu-cầu đập bỏ các bia tưởng-niệm những thuyền-nhân bỏ mình trên đường đi tìm tự-do của đồng-bào hải-ngoại dựng lên.
Nhân-viên cao-cấp bộ ngoại-giao kẻ thì ăn cắp, kẻ thì mò trộm sò, người thì giở trò tồi bại với phụ-nữ ngoài công-chúng… Báo-chí quốc-tế loan-tải, nhà nước Việt-Nam ngậm tăm, thật là nhục cho quốc-thể.
Nhìn lại kết-quả 5 năm, bộ ngoại-giao có cũng như không. Không ai làm được việc gì hết, ngoài việc làm bậy. Vì thế, toàn-bộ nhân-sự bộ Ngoại-Giao không ai được vào trung-ương kỳ này là đúng. Nếu ở xứ tự-do dân-chủ, toàn-bộ nhân-sự bộ ngoại-giao phải trả lời trước quốc-hội và luật-pháp về các việc làm thiệt-hại cho đất nước cũng như các việc làm nhục quốc thể.
2/ Nhân-sự Bộ Giáo-Dục : cũng không ai được vào lại trung-ương. Bởi vì nhân-viên bộ này không làm được việc gì ngoài các vụ tai tiếng. Khảo-sát trình-độ học-sinh, sinh-viên là biết học-đường dạy thế nào. Sinh-viên VN tốt-nghiệp nhưng không có việc làm vì khả-năng làm việc không phù-hợp hay không đúng tiêu-chuẩn xí-nghiệp đòi hỏi. Bằng-cấp giả lan-tràn, ông cán-bộ nào bây giờ cũng là tiến sĩ. Giáo-trình không giúp cho học trò khai-trí mà chỉ là một phương-pháp cho cán-bộ bòn rút tiền nhà nước. Báo-chí trong nước nói giáo-dục VN xuống cấp. Thực ra giáo-dục VN không có cấp nào nữa để xuống. Đã ở tận đáy rồi.
Báo-chí trong nước đăng quá đủ, người viết không nhắc lại. Nói chung, bộ Giáo-Dục có cũng như không, nó chỉ là một gánh nặng cho người dân
3/ Bộ Công-An và Quốc-Phòng : Đây là hai bộ có nhiều nhân-sự vô được trung-ương. Ông Lê Hồng Anh khi thay-thế Lê Minh Hương bị đột tử lên làm bộ-trưởng bộ Công-An thì có nhiều người phê-bình đảng CSVN hết người nên chọn một người không rành về công-an lên lãnh-đạo công-an. Đây là một nhận-định hết sức sai-lầm. Xem nội-qui CSVN, chương VI, điều 25 thì sẽ thấy việc bổ-nhiệm ông Lê Hồng Anh lên làm bộ trưởng bộ Công-An là một việc rất bình-thường. Thực-tế chứng-minh ông Anh đã làm việc này rất có kết-quả. Tất-cả sinh-hoạt xã-hội đều nằm trong kiểm-soát của công-an. Nghe nói sắp tới bộ Công-An có thể sẽ phân ra làm hai, gồm bộ công-an và bộ an-ninh. Ông Lê Hồng Anh sẽ nắm cả hai bộ, trở thành « siêu bộ-trưởng ». Nếu vậy thì Việt-Nam có thể chuyển sang chế-độ công-an trị do ông Lê Hồng Anh lãnh-đạo.
Về quân-đội thì lúc nào cũng « bí-mật quốc-phòng » nên không thể biết ra sao. Không có một vụ Lý Tống thứ hai để biết khả-năng không-quân thế nào. Riêng hải-quân thì qua vụ ngư-dân bị thảm-sát trong vịnh Bắc-Việt năm 2005 cho thấy họ không hiện-hữu. Hơn nữa, cơn bão Trân-Châu vừa qua, hàng trăm ngư dân Việt-Nam bị thiệt mạng do tin-tức thời-tiết sai lầm, không cập-nhật. Hiện nay có một số nhân-vật trong nước bị khiển-trách. Thực ra hải-quân VN cũng có trách-nhiệm lớn nhưng không nghe nói tới. Nhân đó hải-quân cũng giữ luôn im-lặng. Cũng nghe nói Hải-Quân VN được trang-bị chiến-hạm mới, nhưng là chiến hạm… mới thải của hải-quân Nga. Vụ này cũng như vụ hàng-không Việt-Nam, trả tiền « đồ xịn » nhưng nhận « đồ dổm », hoặc kiểu « bê-tông cốt tre » của vụ PMU 18. Không biết vụ này đã điều-tra tới đâu ? Bờ biển VN thì dài, hải-quân như thế làm sao giữ được lãnh-thổ, lãnh-hải ?
4/ Bộ Y-Tế : cũng không có người nào được ở lại. Đây cũng là một ổ tham-nhũng, bòn-rút của cải người dân. Báo-chí trong nước không dám bươi móc. Cô ký-giả Lan-Anh, là nạn-nhân của bộ Y-Tế, khi cô này viết về một bê-bối thuốc men của bà bộ-trưởng. Tham-nhũng có thật nhưng không bị pháp-luật trừng-phạt, người tố-cáo tham-nhũng thì bị. Một đất nước quái-đản ! Hy-vọng báo-chí trong nước quay lại soi vào cái ổ sâu mọt này để người dân khi bệnh còn có thể mua thuốc uống.
Các bộ khác như bộ GTVT với vụ án trứ-danh PMU 18 điển-hình là những ổ tham-nhũng lớn, những con mọt nước. Báo-chí trong nước đã nói nhiều, người viết miễn bàn thêm.
II. Nhận-xét về tổng bí-thư Nông Đức Mạnh : Thời-thế tạo anh hùng.
Ông Nông Ðức Mạnh lại được « bầu » làm Tổng Bí-Thư thêm một « nhiệm-kỳ ». Đây là một điều ngạc-nhiên. Nhưng so với năm 2001, đại-hội IX bầu ông Mạnh lên để thay thế Lê Khả Phiêu, đây không phải là ngạc-nhiên mà là một điều bí-ẩn.
Đến nay vẫn chưa thấy ai đưa ra nguyên-do thuyết-phục, có thể lý-giải vì sao một đảng-viên bình-thường gốc dân-tộc thiểu-số Tày, không có công-trạng nào với đảng, không tham-gia chiến-tranh 54-75 ở chiến-trường miền Nam, bị phê-bình là không có khả-năng lãnh-đạo, không có phe cánh trong đảng, không được mọi người biết đến… lại được các đảng-viên bầu lên cấp lãnh-đạo tối-cao của đảng. Bầu đến hai lần. Lạ-lùng hơn, năm 2006, ông Mạnh đã quá tiêu-chuẩn 65 tuổi để ở lại trung-ương. Ông Mạnh năm nay đã 66 tuổi. Ông Lê Khả Phiêu bị loại năm 2001 vì quá tiêu-chuẩn tuổi.
Hoạn-lộ của ông Mạnh hanh-thông, vượt qua mọi trở-ngại, tiến nhanh-chóng như diều gặp gió. Nguyên-do vì đâu ?
Người viết xin đưa một giả-thuyết thử lý-giải việc này.
1/ Tiểu sử :
Tiểu-sử ông Mạnh được các cơ-quan truyền-thông trong nước công-bố như sau :
Ông Nông Đức Mạnh sinh ngày 11/9/1940 tại xã Cường Lợi, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn, xuất thân trong gia đình nông dân, dân tộc Tày.
Năm 1958 -1961: Học viên Trường trung cấp nông lâm Trung ương, Hà Nội.
1962 - 1963: Công nhân lâm nghiệp, Kỹ thuật viên điều tra rừng Ty Lâm nghiệp Bắc Cạn. Vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1963.
1963-1965: Đội phó đội khai thác gỗ Bạch Thông.
1966-1971: Sinh viên Học viện Lâm nghiệp Lê-nin-grát, Liên Xô.
1972-1973: Phó Ban Thanh tra, Ty Lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái.
1973-1974: Giám đốc Lâm trường Phú Lương, Bắc Thái.
1974-1976: Học viên Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.
1976-1980: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái, Phó Ty Lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái kiêm Chủ nhiệm Công ty Xây dựng Lâm nghiệp rồi Trưởng ty Lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái.
1980-1983: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Thái.
1984-10/1986: Phó bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Thái.
11/1986-2/1989: Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái.
12/1986: Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI.
3/1989: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
8/1989: Trưởng ban Dân tộc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
1l/1989: Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội
6/1991: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
9/1992: Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX.
6/1996: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII.
9/1997: Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X.
1/1998: Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII.
4/2001: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
4/2006: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2/ Ðặt vấn-đề :
Một số thời-điểm có thể gọi là quan-trọng, là khúc ngoặc thay đổi cuộc đời ông Mạnh, là các năm : 1963, 1974, 1986, 1989, 1991, 1992, 1997, 2001, 2006.
Ông Mạnh được đào-tạo để trở thành một kỹ-sư lâm-học. Vào đảng năm 1963. Đi du-học Liên-Xô, ra trường được bổ làm công-chức lâm-nghiệp vùng quê-hương của ông. Ðến năm 1974 ông Mạnh làm Giám-Ðốc Lâm-Trường Bắc-Thái. Ðây là một chức-vụ bình-thường, phù-hợp khả-năng của một kỹ-sư lâm-nghiệp như nhiều trường-hợp của các chuyên-gia bậc kỹ-sư khác. Sự-nghiệp những người này cho đến cuối đời, cao nhất chỉ có thể đến bậc tương-đương thứ-trưởng trong bộ liên-quan. Nhưng đến năm 1974 ông Mạnh được đưa đi học trường đảng cao-cấp Nguyễn Ái Quốc. Ðây là trường đào-tạo cán-bộ cao-cấp của đảng CSVN. Nhờ vậy mà ông Mạnh đảm-nhiệm những chức-vụ lãnh-đạo cao hơn sau này.
Ông Mạnh vào trung-ương đảng dự-khuyết năm 1986 và ủy-viên chính-thức năm 1989. Yếu-tố quan-trọng, ông Mạnh làm trưởng ban Dân-Tộc BCHTU năm 1989. Nắm chức-vụ này ông Mạnh phụ-trách mọi vấn-đề liên-quan đến các dân-tộc thiểu-số.
Năm 1991 ông Mạnh lên làm chủ-tịch Quốc-Hội hai khóa liên-tiếp (khoá IX và khóa X) cho đến năm 2001. Ðây là lần đầu tiên một người thuộc dân-tộc thiểu-số lên làm một chức-vụ quan-trọng hàng thứ 4 của nước CHXHCN Việt-Nam.
Ðại-hội IX, diễn ra từ 19 đến 22 tháng 4 năm 2001, ông Lê Khả Phiêu bị ông Nông Ðức Mạnh thay thế. Ở thời-điểm này người ta đưa ra nhiều lý-do vì sao ông Lê Khả Phiêu bị hạ-bệ nhưng ít ai đưa ra được lý-do thuyết phục vì sao đảng CSVN lại chọn ông Nông Ðức Mạnh.
Ngày 24 tháng 4 năm 2006 đại-hội X đảng CSVN bầu ban chấp-hành. 160 ủy-viên trung-ương chính-thức và 21 ủy-viên dự-khuyết được chọn. Ông Nông Ðức Mạnh lại được bầu chọn làm tổng Bí-Thư đảng CSVN thêm một nhiệm-kỳ.
Việc một người thuộc nhóm dân-tộc thiểu-số lên vị-trí lãnh-đạo tối-cao đảng và nhà nước CSVN là một điều chưa bao giờ xảy ra. Tỉ-lệ ủy-viên trung-ương thuộc gốc dân-tộc thiểu-số chiếm khoảng 3 - 5% tổng-số ủy-viên trung-ương. Số ủy-viên trung-ương đại-hội X là 5 trên tổng-số 160 và 3 trên tổng số 21 ủy-viên dự khuyết. Không biết tỉ-lệ đảng viên thuộc dân-tộc thiểu-số là bao nhiêu trên tổng số đảng-viên đảng CSVN. Tổng-số dân-tộc thiểu-số nước Việt-Nam khoảng 3 triệu dân trên tổng-số cả nước khoảng 82 triệu. Như thế tỉ-lệ khoảng trên dưới 3 - 5% thì tương-đối cân-xứng trên bình-diện cả nước.
Dân Tày có khoảng 1 triệu dân, sống rải-rác ở các vùng Cao-Bằng, Lạng-Sơn, Thái-Nguyên, Hà-Giang, Bắc-Kạn và Hải-Ninh (Việt Bắc). Tày là một dân tộc có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc, hiện nay có khoảng hơn hai triệu người sống tại Việt Nam và khoảng 24 triệu sống tại Trung Quốc. Do có nhiều ảnh hưởng của văn hoá Hán nên các phong tục tập quán của dân tộc Tày đều giống như người Hoa, người Ngái, người Sán Dìu (nguồn wikipedia). Chấp-nhận rằng dân-tộc Tày đại-diện cho toàn dân thiểu-số (trên 50 nhóm). Khó có một chế-độ dân-chủ nào mà đại-diện nhóm thiểu-số (3%) là đại-diện cho cả nhóm đại đa-số (97%), ngoại trừ có một « phép lạ » hay người đó chứng-tỏ một khả-năng lãnh-đạo xuất-chúng. Như đã nói trên, ông Mạnh được nhiều người phê-bình là không có khả-năng lãnh-đạo, không có sáng-kiến, cũng không thấy có công với đất nước, nói chung, ông ta là một người như thế hết sức bình-thường.
Nhưng tại sao lại chọn ông Nông Đức Mạnh và chọn đến hai lần ?
3/ Những giả-thuyết đã được đưa ra:
3.1 Ông Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh.
Ðây là một giả-thuyết đã đưa ra từ trong nước.
Sau khi tin đồn này lan-truyền rộng-rải, một nhà báo có dịp gặp ông Mạnh đã đặt câu hỏi (mà người viết quên nguồn) có phải ông Mạnh là con của ông Hồ hay không. Ông này trả lời chung chung toàn dân Việt-Nam đều là con cháu của ông Hồ. Tuy nhiên, nếu đem yếu-tố huyết-thống để giải-thích thì không biết khi nào thì ông Vũ Trung lên chức tổng Bí-Thư ? Không phải ông Vũ Trung là con rơi ông Hồ được thư-ký riêng là Vũ Kỳ nuôi nấng hay sao ? Và chắc-chắn không phải chỉ có một ông Vũ Trung mà còn có nhiều ông Vũ Trung khác chưa lộ-diện. Vì thế yếu-tố hậu-duệ của Hồ Chí Minh không thuyết-phục. Nhưng dầu thế nào, lý-thuyết này cần phải có bằng-chứng cụ-thể chứng-minh liên-hệ huyết-thống giữa hai người.
3.2 Ông Mạnh thân Tàu và được sự đỡ đầu của « thiên-tử ».
Nếu xét về nguồn-gốc chủng-tộc thì dân Tày là một giống dân chịu nhiều ảnh-hưởng văn-hóa của Tàu. Sắc dân này sống trên vùng biên-giới giữa Việt-Nam và Trung-Hoa. Nhưng ông Mạnh thay ông Lê Khả Phiêu năm 2001, một phần là do ông Phiêu thân Tàu, đã nhượng-bộ Tàu trong hai hiệp-ước về biên-giới. Không lẽ đưa một người thân Tàu lên thế một người bị hạ-bệ vì lý-do thân Tàu ? Mặt khác, ông Mạnh là người đã được đào-tạo tại Liên-Xô (nay là Nga).
Vào khoảng thời-gian tiền đại-hội đảng IX, có nhiều bài viết trong nước tố-cáo CSVN « bán đất nhượng biển », nhưng mũi dùi nhắm vào Lê Khả Phiêu. Sau này người viết có đưa ra bằng-chứng cho thấy việc « bán đất nhượng biển » là việc có thật và Hồ Chí Minh là người có trách-nhiệm nhiều nhất trong vụ này. Hai hiệp-ước nhượng đất và biển ký năm 1999 và 2000, CSVN chỉ hợp-thức-hóa những vùng đất mà ông Hồ Chí Minh đã hứa-hẹn cho Tàu mà thôi (xem quyển Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 Lịch-Sử Thành-Hình Và Những Tranh-Chấp, Trương Nhân Tuấn, 2005). Nhưng trách-nhiệm của ông Phiêu không nhỏ. Hai hiệp-ước được ký dưới thời Lê Khả Phiêu làm tổng Bí-Thư. Ông Mạnh cũng có trách-nhiệm vì với vai trò Chủ-Tịch Quốc-Hội ông đã ký tên sau khi các đại-biểu thông qua hai hiệp-ước. Nếu ông Phiêu bị hạ xuống vì « bán đất nhượng biển » thì không có lý-do nào lại đưa ông Mạnh lên thế ông Phiêu. Ông Mạnh cũng có trách-nhiệm trong vụ này ngang như ông Phiêu.
Ông Lê Khả Phiêu bị Thiến-Sĩ Đỗ Mười hạ-bệ qua câu nói trứ-danh : Nó hạ tao thì tao hạ nó. « Nó » ở đây là Lê Khả Phiêu và « tao » là TS Ðỗ Mười . TS Đỗ Mười cùng với hai cố-vấn Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt hạ-bệ Lê Khả Phiêu. Hạ ông Phiêu thì dễ hiểu nhưng vì sao đưa ông Mạnh ?
Nguyên-do vì sao thì ba ông cố-vấn, trước khi làm cố cố-vấn về hầu « cụ Mác và cụ Lê » như ông Hồ, thì nên trối-trăn lại. Người sau cần biết chi-tiết này để viết sử.
Sau năm năm lãnh-đạo của ông Mạnh (4-2001 đến 4-2006) quả thực mối giao-hảo hai nước Việt-Trung ngày thêm hòa-ái. Nhưng cũng không thể nói là do ông Mạnh thân Tàu. Ðó chỉ là hậu-quả của một sự tiến-triển ngoại-giao bình-thường. Người cộng-sản hay không cộng-sản, vì nhu-cầu phát-triển đất nước, ở vị-trí lãnh-đạo cũng đều chủ-trương đường-hướng tương-tự. Không ai muốn hiềm-khích với Tàu trong lúc này.
Nếu chỉ dựa vào yếu-tố « thân Tàu » để kết-luận nhờ đó mà ông Mạnh lên Tổng Bí-Thư thì quả không đủ để giải-thích. Ông Mạnh chưa chắc đã thân Tàu. Trong đảng CSVN không thiếu những người thân Tàu hơn ông Mạnh, sẵn-sàng ngả vào lòng Tàu và « ngoan-ngoãn như con chó nhỏ ». Họ sẵn-sàng dâng trọn biển Đông cùng các hải-đảo cho Tàu. Tại sao đấng con trời không chọn những người này ?
3.3 Ông Nông Ðức Mạnh là người có khuynh-hướng trung-dung.
Nhiều nguồn tin trong nước cho rằng giải-pháp chọn ông Mạnh lên làm Tổng Bí-Thư là một giải-pháp dung-hòa giữa hai thế-lực bảo-thủ thân Tàu và cởi mở thân Hoa-Kỳ trong đảng. Ông Mạnh là người Tày, bản-chất hiền-lành chất-phác, không có thói kiên-định lập-trường, chết cũng phải tiến lên xã-hội chủ-nghĩa như đa-số đảng-viên gốc miền Trung hay gốc Bắc, cho dầu những người này vẫn chưa hình-dung ra được cái xã-hội « Xã-Hội Chủ-Nghĩa » đó mặt mày ra sao. Ông Mạnh không có cái « sát máu » của Lê Duẩn (Quảng-Trị), không có cái bình-dân học-vụ « nó hạ tao thì tao hạ nó » của Thiến-Sĩ Nguyễn Duy Cống, tức TS Đỗ Mười (Hà-Nội), cũng không thấy có cái đạo-đức giả của ông Hồ Chí Minh (Nghệ-An).
Một ghi nhận, làm sao có thể gọi một phần đảng CSVN « thân Mỹ » trong khi sự-nghiệp của toàn đảng CSVN được xây-dựng trên ngọn cờ « chống Mỹ » ? Không thể có phe « thân Mỹ » trong đảng CSVN. Có thể có nhiều phe trong đảng CSVN nhưng hai phe chính là : phe thực-tiễn phi đạo-đức và phe của những người cộng-sản chân-chính. Vì thế không thể có tranh-chấp giữa phe thân Tàu và phe thân Mỹ trong đảng CSVN được.
Phe thực-tiễn phi đạo-đức chiếm đa-số trong đảng. Phe này thân ai cũng được, miễn có lợi cho đảng và cho bản thân. Họ tìm mọi cách để giữ quyền, cách nào cũng được. Hiện nay họ sử-dụng lý-thuyết Mác-Lênin và tư-tưởng Hồ Chí Minh như một cái bình-phong và lấy « định-hướng xã-hội chủ-nghĩa » để khẳng-định tính chuyên-chính nhằm giữ độc-quyền lãnh-đạo đất nước. Nhưng thực-sự những người này phong-kiến còn hơn vua, bóc-lột còn hơn tư-bản ban-sơ. Nhìn lối sống của họ thì biết : ăn chơi theo kiểu nhứt dạ đế vương, cờ bạc đặt một cây hàng triệu đô-la, nhậu-nhẹt gái-gung… đủ cả. Cái « định-hướng xã-hội chủ-nghĩa » không một ai biết hướng đó là hướng nào, không phải vì nó nhiều hướng mà vì đi hướng nào cũng đúng. Ba bản báo-cáo chính-trị mà người viết sẽ khai-triển ở phần sau là sản-phẩm cưỡng-từ đoạt-lý của nhóm này.
Những người này tụ-hợp lại thành những nhóm quyền-thế trong đảng. Từ đó họ khuynh-đảo cả quốc-gia. Vấn đề mua quan bán chức ngày nay không kém thời nhà Nguyễn lúc mạt thời. Vì quyền-lợi những người này có thể buôn cả dân và bán cả nước. Họ có cái mặt cộng-sản, có trái tim vô tổ-quốc và có lý-trí của tư-bản quốc-tế. Những nhóm quyền-thế trong đảng vì mâu-thuẩn quyền-lợi nên tranh-chấp với nhau để dành quyền. Mỗi nhóm có « đại-ca » lãnh-đạo, y như băng-đảng mafia. Hiện nay có ba nhóm do ba đại-ca, tượng-trưng cho ba miền là ba ông cố-vấn Mười, Anh, Kiệt. Mỗi nhóm ủng-hộ « gà » của mình, khi « gà » được lên thì phải đưa « gà nhà » vào các vị-trí béo-bỡ.
Phe thứ hai là phe cộng-sản chân-chính, có đạo-đức của người cộng-sản. Ðáng tiếc là phe này không còn có mấy người trong đảng. Gương mặt điển-hình thật tội-nghiệp của phe này là GS Nguyễn Ðức Bình. Nhưng cũng có thể những người này chỉ đạo-đức ở cái miệng và chuyên-chính trên giấy-tờ
Ông Nông Ðức Mạnh ở phe nào ?
Những ngày gần đây người ta thấy một sự cởi-mở có thật, nhưng còn giới-hạn, cho giới báo-chí trong nước, nhất là vào khoảng thời-gian tiền đại-hội. Có những bài viết chỉ-trích đảng hay liên-quan đến quốc-gia được đăng trong khoảng thời-gian này. Người ta cũng thấy báo-chí mạnh-dạn phanh-phui các vụ tham-nhũng. Nhờ vậy người ta mới thấy sự thật con đường cách-mạng gái-gung, mánh-mung của các quan-thầy. Đây chắc-chắn không phải là quyền « tự-do ngôn-luận » thực-sự như đã từng thấy thấy tại miền Nam trước 1975 nhưng các việc này chưa từng có từ trước đến nay trong chế-độ XHCN Việt-Nam. Mặt khác, sinh-hoạt xã-hội, từ khi ông Mạnh lên lãnh-đạo, tương-đối người dân « dễ thở » hơn. Hiện nay các vụ đàn-áp những nhân-vật tranh-đấu cho dân-chủ vẫn chỉ ở mức răn-đe, không phải bị tử-hình hay bị cãi-tạo mút mùa như dưới thời Lê Duẩn, Đỗ Mười, mặc dầu những sinh-hoạt tôn-giáo như của Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhứt, Phật-Giáo Hòa-Hảo, Tin-Lành… còn rất khó-khăn. Chư-vị Hòa-Thượng Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, lãnh-đạo PGVNTN vẫn còn bị « quản-lý tại địa-phương » và bị cấm-chỉ nhiều sinh-hoạt tôn-giáo. Các anh Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn cũng như rất nhiều tù-nhân chính-trị vẫn chưa được trả tự-do. Dầu vậy, thời-gian 5 năm qua do Nông Đức Mạnh lãnh-đạo, Việt-Nam đã có những dấu-hiệu khá hơn so với những vị lãnh-đạo tiền-nhiệm.
Ông Mạnh cũng bị tố là tham-nhũng và lạm dụng quyền-chức như cho trải nhựa con đường dẫn về quê của ông hay cho xây phi-trường trực-thăng tại làng của ông tại Bắc-Cạn. Việc ông Mạnh cho làm đường trải nhựa dẫn về quê của ông không thể cho là hành-động lạm-quyền. Ngược lại đây là một việc tốt nằm trong lãnh-vực phát-triển quốc-gia và vì có nhiều lý-do để nhà nước quan-tâm đến các dân-tộc thiểu-số. Việc xây phi-trường cho trực-thăng ở quê của ông Mạnh cũng không có gì quá đáng. An-ninh và tiết-kiệm thời-gian quan-trọng hơn. Người viết cho rằng việc thường-xuyên về thăm cha mẹ, họ-hàng, lối-xóm của ông Mạnh là việc đáng khen. Ông Mạnh nhân-bản, thấm-nhuần đạo-lý dân-tộc, coi trọng liên-hệ huyết-thống gia-đình, hơn hẳn ông Hồ Chí Minh. Về mặt này ông Hồ là người bất-nghĩa, vô-nghì. Vấn-đề đáng chú ý là những chi-phí cho phi-trường và con đường có phù-hợp với thực-tế hay không ? Nhưng vụ thân-nhân ông Mạnh có thể liên-can đến vụ tham-nhũng PMU 18, việc này cần phải soi sáng thêm.
Như viết trên, ba nhóm tranh-dành quyền-hành với nhau. Rất có thể ông Mạnh không theo phe nào (hay thuộc phe… thứ tư). Vào thời-kỳ đại-hội IX thì ba ông cố-vấn nhứt-định đòi tiếp-tục làm thái thượng-hoàng mà ông Phiêu không muốn. Không ai chịu ai, « tao không được thì mày cũng không được ». Một, hai, ba… chúng ta cùng rút. Rốt-cục chức tổng bí-thư lọt vào tay ông Mạnh.
Giả-thuyết này thuyết-phục hơn các giả-thuyết trên nhưng chắc-chắn không phải là lý-do chính-yếu và duy-nhất, chỉ hợp-lý cho nhiệm-kỳ đầu 2001. Năm 2006 ông Mạnh bị tố tham-nhũng, lại quá tiêu-chuẩn tuổi và ông cũng bị cho là nhu-nhược, thiếu sáng-kiến, không có khả-năng lãnh-đạo. Nhưng tại sao vẫn là ông Mạnh ?
4. Giả-thuyết « thời-thế tạo anh hùng ».
Giả-thuyết này được đặt trên nền-tảng thực-tiễn và truyền-thống lịch-sử dân-tộc Việt-Nam.
Khoảng tháng 5 năm 1955, ông Hồ Chí Minh cho thành-lập các khu tự-trị cho các sắc dân thiểu-số sống ở vùng biên-giới Việt-Trung (khu tự-trị Việt-Bắc, Tây-Bắc, Thái-Mèo v.v..). Điều này không mới-mẻ gì, các vua triều Lê, Nguyễn và trước đó, đều xem các vùng đất do các bộ-tộc thiểu-số sinh-sống là vùng « phên-dậu ». Dưới thời Pháp thuộc, các bộ-tộc này cũng được quyền tự-trị trong các khu nhất-định.
Ngày xưa các bộ-tộc này sống tự-trị trong các vùng đất mà họ sinh sống và mỗi bộ-tộc có nhân-vật lãnh-đạo theo lối cha truyền con nối. Các bộ-tộc này có khi thần-phục Việt-Nam, có khi thần-phục Tàu. Các triều vua Việt-Nam thường phong quan « thổ-ty » cho những tù-trưởng các bộ-tộc và cho họ có quyền cha truyền con nối để giữ họ lại trong vương quốc hay để họ không quấy-nhiễu. Đôi khi còn gả những công-nương, quận-chúa trong hoàng-tộc cho các thổ-ty hay con trai thổ-ty để thắt-chặt giao-hảo. Trong lịch-sử Việt-Nam có nhiều lần Việt-Nam được đất do những lần làm « xuôi gia » như thế này nhưng cũng có nhiều lần mất đất vì viên thổ-ty đem dân đi thần-phục nước Tàu.
Một số dân-tộc thiểu-số hiện nay có mặt tại vùng biên-giới Việt-Trung là do họ di-cư từ vùng từ các tỉnh vùng Hoa-Nam (Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quí-Châu…) vào khoảng giữa thế-kỷ 19 do giặc Thái-Bình Thiên-Quốc hay do sự đàn-áp của quân triều-đình lên người theo đạo Hồi sau khi những người này nổi loạn.
Sau khi người Pháp đến, vì các dân-tộc này bị người Tàu khinh-bỉ (gọi là Mán) và cũng bị người Việt kỳ-thị, coi thường cho nên có nhiều bộ-tộc hợp-tác với Pháp. Cũng nhờ sự hợp-tác này mà Việt-Nam lấy được vùng đất hữu ngạn sông Đà. Đất này của họ Đèo, do tù-trưởng người Thái tên Đèo Văn Trị lãnh-đạo. Ông này thần-phục Pháp năm 1893 qua đại-diện là ông August Pavie. Vùng đất của Đèo Văn Trị theo Công-Ước Phân-Định Biên-Giới 1887 thì thuộc về Vân-Nam. Đến năm 1895, ông Gérard mới ký thêm công-ước bổ-túc mới lấy được vùng đất này lại cho Việt-Nam (xem thêm sách Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000, Trương Nhân Tuấn, 2005).
Vì thế trong quân-đội Pháp có rất nhiều lính gốc người thiểu-số như Thái, Nùng, Tày v.v.. Đến khi thua trận Điện-Biên-Phủ và rút về Pháp, một số đông người Thái, Tày, Nùng… đi theo về Pháp. Những người này có người là sĩ-quan cao-cấp.
Sau khi dành được chính-quyền miền Bắc, Hồ Chí Minh cũng cho các dân-tộc thiểu số này sống thành khu tự-trị. Tuy-nhiên một số các bộ-tộc thường-xuyên bị nghi-ngờ « làm tay sai cho địch » như trường họp dân Hmong. Các dân-tộc Thái, Tày, Nùng… bị nghi-kỵ vì có nhiều người làm việc cho Pháp, mặc dầu cũng có nhiều đầu-lĩnh các dân-tộc thiểu-số nổi lên chống Pháp (như Hoàng Hoa Thám là người Nùng). Đời sống của các dân-tộc này rất khó-khăn vì không được sự lo-lắng của chính-quyền mặc dầu hiện nay dân-số của họ tổng-cộng trên 2 triệu người và họ chiếm đa số ở các tỉnh ven biên-giới Việt-Trung.
Đến tháng 8 năm 1975 các khu tự-trị bị bãi bỏ. Việc này gây bất-mãn cho nhiều thủ-lĩnh của các dân-tộc thiểu-số. CSVN tìm cách kiểm-soát chặt-chẽ các dân-tộc thiểu-số bằng phương-pháp đảng-hóa những thủ-lĩnh dân thiểu-số. Nhờ vào sách-lược này mà ông Nông Đức Mạnh, vốn là người gốc Tày trong một gia-đình đầu-lĩnh, được chọn vào đảng. Vì vậy ông Mạnh mới không đi B như hàng triệu thanh-niên miền Bắc và được cân-nhắc vào các chức-vụ quan-trọng. Ông Mạnh học trường đảng dành cho cán-bộ cao-cấp vào các năm 1974-1976.
Sau năm 1975, người Tàu nhận thấy đã có những mâu-thuẫn với CSVN vì Việt-Nam bỏ Tàu, thân Nga. Họ tìm cách tuyên-truyền và dụ-dỗ các bộ-tộc thiểu-số, cho rằng họ có gốc Tàu, kêu gọi gia-nhập hộ-khẩu Tàu hay đổi quốc-tịch Tàu. Họ thâu-phục bằng cách cho ưu-đãi về khẩu-phần lương-thực hay vải-vóc hơn khẩu-phần ở bên Việt-Nam. Không ít bản-làng của người Nùng, người Tày, người Thái …. trở thành đất của Tàu.
Đến thời-điểm VN có mâu-thuẫn với Khmer đỏ thì Trung-Cộng đã có đủ lý do để cho Việt-Nam một bài học. Đặng Tiểu Bình chuẩn-bị đánh chiếm một số đất của Việt-Nam. Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng" đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc (tin BBC, 22 tháng 2 năm 2006). « Lãnh-thổ bị quân Việt-Nam chiếm đóng » là các vùng nào ? Trong đó chắc phải có Trường-Sa, nhưng cũng có các tỉnh Lạng-Sơn, Cao-Bằng, Hà-Giang… Vùng này là địa-bàn sinh-hoạt của dân Tày, Nùng v.v... Trung-Cộng cho rằng các sắc dân thiểu-số vùng biên-giới là người Hoa vì vậy các vùng đất họ sinh-sống là của Tàu. Họ muốn lấy sông Kỳ-Cùng làm biên-giới mới. « Cách giải-quyết » vấn-đề lãnh-thổ là cách nào ? Đó là cách đem quân sang đánh VN chiếm các vùng đất đó lại. Tuy-nhiên Trung-Cộng đã thất-bại, học lại CSVN một bài học.
Cuộc chiến biên-giới 1979 giữa Việt-Nam và Trung-Cộng kết-thúc mau chóng, quân Tàu thua phải rút về nhưng cuộc chiến lấn đất dành dân âm-thầm diễn ra. Đôi khi hai bên có những cuộc xung-đột đẫm máu. Theo tin của quân-đội Trung-Cộng trên internet thì có nhiều trận đánh diễn ra giữa quân-đội Tàu và quân-đội Việt-Nam từ 1979 đến 1989. Nguyên nhân do tranh-chấp đất-đai, có trận lớn ở cấp trung-đoàn, trận núi Lão-Sơn là một thí-dụ. Tuy-nhiên tin-tức tuyên-truyền một chiều của Tàu thì nên thận-trọng. Không phải họ nói ra mọi cái đều đúng.
Để giữ đất và giữ dân, nhiều nhân-vật gốc thiểu-số được trọng-dụng. Điển-hình là Nông Đức Mạnh. Ông này được vào trung-ương dự-khuyết năm 1986, đến năm 1989 vào trung-ương thực-thụ và phụ-trách toàn-bộ vấn-đề dân-tộc thiểu-số.
Phải nhìn-nhận ông Mạnh đã giải-quyết vấn-đề này rất thành-công nhưng quyền-hạn ông này vẫn còn rất giới-hạn trong những quyết-định. Ông Mạnh lên làm chủ-tịch Quốc Hội, hàng thứ 4 sau tổng bí-thư đảng, chủ-tịch nước và thủ-tướng. Ông làm hai nhiệm kỳ từ 1991 đến 2001. Các dân-tộc đòi ly-khai một phần được xoa dịu, nhưng ý-tưởng ly-khai vẫn chưa dứt bỏ.
Vấn-đề tranh-chấp đất và dân được hai nước giải-quyết qua Hiệp-Định Phân-Định Biên-Giới Trên Đất Liền, ký kết tháng 12 năm 1999. Để không bị mang tiếng bán nước, đảng CSVN phải bầu ông Mạnh lên tổng bí-thư. Chỉ có ông Mạnh với cương-vị lãnh-đạo đảng và đất nước mới có thể thuyết-phục các dân-tộc thiểu-số. Các dân-tộc này cảm thấy hãnh-diện vì người của họ lên làm « vua » nước Việt-Nam. Không lẽ họ bỏ thủ-lĩnh của mình để sang đầu Trung-Cộng ?
Đây là một tính-toán khéo-léo của đảng CSVN, tạo sự đoàn-kết với các dân-tộc thiểu-số. Việc này đã thấy tương-tự trong lịch-sử như phong-quan hay gã con cho các đầu-lĩnh các bộ-tộc. Ông Mạnh được ở lại chức tổng Bí-Thư lần hai vì vấn-đề biên-giới vẫn chưa hoàn-toàn giải-quyết (dự-trù kết-thúc năm 2008). Nhưng những tính-toán của CSVN chỉ có tính xoa-dịu nhất-thời. Dưới thời cộng-sản, không chỉ có các sắc dân biên-giới mới bỏ nước. Hơn hai triệu người Việt hải-ngoại cũng bỏ nước vì chính-sách hà-khắc. Những người này bỏ đi không đem theo đất như các dân-tộc thiểu-số, không phải không muốn nhưng vì không thể. Những người thiểu-số bỏ nước không có nghĩa là bỏ làng-quê, đất đai. Họ bỏ nước là họ nhập-tịch Tàu. Đất họ đang sinh-sống cũng thuộc về Tàu. Khi ông Mạnh xuống thì không có gì bảo-đảm nhũng người này chọn ở lại Việt-Nam.
Tóm lại, lý-do quan-trọng mà CSVN cho ông Mạnh lên lãnh-đạo tối-cao là do vấn-đề ly-khai của các dân-tộc vùng biên-giới. Không ai hiện nay, ngoài ông Mạnh, có thể giải-quyết được các đòi hỏi ly-khai của những dân-tộc thiểu-số sống vùng biên-giới Việt-Trung.
Thời-thế tạo ra anh hùng Nông Đức Mạnh là vì vậy.
Đến nay thực-tế cho thấy ông Mạnh đã có công (trong nhất-thời) vì đã giữ được dân, tức là giữ được đất. Đây chắc-chắn là một điểm son trong sự-nghiệp chính-trị của ông, lịch-sử sẽ công-bằng ghi chép. Nhưng vấn-đề dân-tộc là trường-tồn, phải có một sách-lược đứng-đắn, không thể như hiện nay cột đèn biết đi thì nó cũng bỏ nước mà đi. Hỏi thử nguyện-vọng của tuổi trẻ VN hiện nay ao-ước gì ? Ứớc muốn lớn nhất của họ là được sống bên Hoa-Kỳ, tức bỏ nước. Tuổi trẻ là tương-lai đất nước. Tương-lai như thế thì đất nước này còn gì ? Đất nước sẽ ghi công lớn ông Mạnh nếu ông Mạnh có những quyết-định đột-phá để cứu nước. Đó là quyết-định dân-chủ-hóa chế-độ. Chỉ có dân-chủ hóa chế-độ mới tạo được thế đại-đoàn-kết-dân-tộc thực sự. Và khi dân-tộc ta đoàn-kết thì ta không mất dân, tức không mất đất và cũng không có thế-lực nào có thể xâm-lăng được nước ta. Cũng chỉ có dân-chủ hóa chế-độ thì đất nước mới có thể phát-triển lành-mạnh, phúc-lợi được phân-phối đồng-đều qua nhiều hình-thức đến tận tay từng người dân chứ không tập-trung vào một số người như hiện nay. Người viết sẽ phân-tích kỹ vấn-đề này trong phần II và III. Ông Mạnh có khả-năng làm việc này hay không ? Toàn dân đang chờ đợi.

Bài viết tạm ngừng ở đây. Phần hai phê-bình « chiến-lược phát-triển quốc-gia và đường-lối chính-trị của đảng CSVN sau đại-hội X. » và phần ba « Ðề-nghị một phương-hướng tranh-đấu (cho những nhà dân-chủ tiền-phong) nhằm thúc-đẩy tiến-trình dân-chủ hóa Việt-Nam. » sẽ đến cùng bạn đọc vào tháng 7. Tác-giả trân-trọng thông-báo.

Trương Nhân Tuấn
 
Đăng nhận xét



<< Home

This page is powered by Blogger. Isn't yours?