7/2/07

 

Mồng 1 Tết năm nay (năm Đinh Hợi)

nhằm ngày 17 hay 18 tháng 2/2007?
Xem tiep...
Comments:
Trần Gia Phụng

Năm Bính Tuất sắp hết. Năm Đinh Hợi gần tới. Dư luận người Việt trong và ngoài nước xôn xao, vì các lịch mới phát hành vào đầu năm 2007 trong và ngoài nước khác nhau ngày đầu năm Đinh Hợi. Theo lịch trong nước, ngày Mồng Một Tết năm nay là ngày 17/2/2007 so với dương lịch. Theo lịch ngoài nước, ngày Mồng Một Tết năm nay là ngày 18/2/2007. Câu hỏi đặt ra là tại sao có sự khác biệt nầy?

Trước hết, cần chú ý là bên cạnh dương lịch, tính theo chu kỳ vận chuyển của quả đất quanh mặt trời, truyền thống dân Việt chúng ta còn dùng âm lịch, tính theo chu kỳ chuyển động của mặt trăng quanh quả đất, trong một số việc gia đình, nông tang…Âm lịch mỗi năm có 24 tiết, mỗi tiết trung bình khoảng 15 ngày. Kinh nghiệm cho thấy âm lịch sai lệch khá nhiều so với thực tế diễn biến của thời tiết, nên người ta phải dùng dương lịch để điều chỉnh, và âm lịch ngày nay không còn là âm lịch thuần túy, mà là âm dương lịch với những tháng nhuận khác nhau tùy theo từng năm.
Trong dương lịch, mỗi ngày có 24 giờ. Trong âm lịch, mỗi ngày có 12 giờ. Người xưa lấy tên 10 thiên can và 12 địa chi ghép lại với nhau để đặt tên giờ. Mười thiên can là giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỹ, canh, tân, nhâm, quý; và 12 địa chi là tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Bội số chung của 10 thiên can và 12 địa chi là 60. Do đó, cứ sau 60 ngày, thì có một ngày mang đầy đủ thiên can và địa chi giống nhau tái hiện. (Ví dụ ngày 1 là ngày giáp tý, thì ngày thứ 61, thứ 121, 181… cũng là ngày giáp tý. Ngày 2 là ất sửu, thì ngày thứ 62, thứ 122, 182 … là ngày ất sửu. Cứ thế xoay vần cho đến hết 60 ngày, là hết một lục thập hoa giáp, rồi bắt đầu trở lại.) Đó là quy ước chung về việc dùng 10 thiên can và 12 địa chi để đặt tên giờ, ngày, và năm theo âm lịch.

Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, trong bài nghiên cứu về “Lịch và lịch Việt Nam”, thì một ngày bắt đầu từ “nửa đêm nầy đến nửa đêm sau”, và ngày sóc là ngày đầu tháng (mồng một), bắt đầu từ nửa đêm mang điểm “định sóc”.(1) Về vấn đề giờ tý là giờ đầu ngày, cũng trong bài nghiên cứu trên, và trong mục “Giờ và khắc”, giáo sư Hoàng Xuân Hãn thêm rằng: “Có điều lạ là trong một ngày, có hai nửa giờ tý không liên tục: một nửa sau đứng vào đầu ngày, một nửa trước ở cuối. Có lẽ vì sự ấy, các giờ cũ khác cũng được chia làm đôi: nửa giờ đầu xưng tính rằng sơ, nửa sau rằng chính…”(2)

Lý luận của giáo sư Hoàng Xuân Hãn có vài điểm cần phải xét lại:

1) Thứ nhất chữ “sơ”, trong mỗi giờ (sơ tý, sơ ngọ…) không nhất thiết bắt nguồn từ việc có hai nửa giờ tý, các giờ khác mới được chia hai như thế. Thông thường, người xưa (Trung Hoa và Việt) thường dùng chữ “sơ” để chỉ phần khởi đầu của một giai đọan, hay thời khắc nào đó: Thời sơ Nguyễn (đầu đời nhà Nguyễn), sơ tuần tháng giêng (vào đầu tháng giêng)…, nên đầu giờ là sơ, và sơ tý chỉ có nghĩa là đầu giờ tý chứ không nhất thiết là “nửa đầu giờ tý”.

1) Nếu dựa vào lối chia giờ trong ngày theo âm lịch, một ngày chia thành 12 giờ, mà nói theo giáo sư Hãn, “có hai nửa giờ tý không liên tục: một nửa sau (chính tý) đứng vào đầu ngày, một nửa trước (sơ tý) ở cuối ...”, thì từ xưa đến nay, chưa có sử sách nào ghi theo cách nầy cả. Ví dụ: từ 11 giờ đêm đến 12 giờ đêm là sơ tý, vậy từ 11 giờ đêm đến 12 giờ đêm ngày mồng 1 là sơ tý của ngày nào? Nếu là của ngày trước, tức của ngày mồng 1, thì vô lý vì sơ sao lại cuối ngày? Sử sách chưa bao giờ viết rằng giờ Tý đầu ngày, hay giờ Tý cuối ngày, bởi vì như thế thì người ta sửa lại cách chia và đặt tên giờ cho dễ gọi, chứ không ai gọi giờ Tý đầu ngày và giờ Tý cuối ngày cho rắc rối

3) Từ khi có dương lịch, mới có việc chia mỗi ngày thành 24 giờ, chứ trước đây, khi sáng chế ra âm lịch, và chưa có dương lịch, người xưa đâu có tính giờ theo số học, và giờ tý là giờ bắt đầu trong ngày, dù sơ tý hay chính tý, cũng đều nằm trong giờ tý.

Riêng về việc tính lịch năm nay, trên nhật báo Nhân Dân ngày 19/6/2006, ông Trịnh Tiến Điều, Trưởng ban Lịch nhà nước thuộc Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam, đã trình bày về lý do tại sao lịch trong nước chọn ngày 17/2/2007 là ngày Mồng Một Tết như sau:
“Điểm sóc tính cho Mồng Một Tết là 16 giờ 15 phút 23 giây (giờ GMT), nếu cộng thêm bảy giờ (múi giờ Việt Nam) là 23 giờ 15 phút 23 giây, vẫn trong ngày, nên lịch Việt Nam ghi Mồng Một Tết âm ứng với 17 tháng 2 dương lịch là đúng. Nếu cộng tám giờ (múi giờ Bắc Kinh) thì sang ngày hôm sau, nên lịch Trung Quốc ghi Mồng Một Tết âm ứng với 18 tháng 2 dương lịch là đúng với âm lịch Trung Quốc. Ngày dương và ngày can chi vẫn như nhau.”
Lý luận theo ông Trịnh Tiến Điều, có điểm cần lưu ý: Đã tính ngày âm lịch, thì phải tính theo giờ âm lịch, chứ sao lại tính theo giờ dương lịch? Giờ âm lịch ở đây phải là giờ âm lịch Việt Nam. Nếu tính theo múi giờ 7 là múi giờ Hà Nội mà ông Trịnh Tiến Điều dùng, thì theo quy ước về âm lịch Việt Nam, giờ tý bắt đầu từ 11 giờ khuya (tức 23 giờ) đến 1 giờ sáng.(3) Nếu tính theo múi giờ 8 là múi giờ Bắc Kinh, thì giờ tý bắt đầu từ 12 giờ khuya (tức 0 giờ) đến 2 giờ sáng.(4)

Như thế, dù “Điểm sóc tính cho Mồng Một Tết là 16 giờ 15 phút 23 giây (giờ GMT), nếu cộng thêm bảy giờ (múi giờ Việt Nam) là 23 giờ 15 phút 23 giây” như lời ông Trịnh Tiến Điều, thì ở Việt Nam, dầu theo múi giờ 7 hay múi giờ 8, thì điểm sóc đã ra khỏi giờ hợi (cuối ngày) của ngày hôm trước, và rơi vào giờ tý (từ 11 giờ đến 1 giờ) đầu ngày của ngày hôm sau. Vậy dầu là múi giờ 7 hay múi giờ 8, đều là giờ tý của ngày Mồng Một Tết, mà tính theo dương lịch năm nay là ngày 18/2/2007.

Ngoài ra, theo kinh nghiệm của những người làm lịch thời xưa, muốn biết Mồng Một Tết năm sắp tới là ngày nào, thì cứ lục lại lịch cũ, tìm ngày rằm tháng 2 cách 8 năm trước, thì biết ngày Mồng Một Tết năm đó. Kinh nghiệm nầy được truyền miệng qua các câu phú sau đây:

“Tiền bát chi niên nhị nguyệt trung (Tám năm trước, giữa tháng 2)
Hậu gia nguyên đán tiện tương đồng (Ngày nguyên đán (người) sau tương đồng (với ngày nầy))
Mỗi nguyệt thập ngũ vi sơ nhất (Thường tháng (đó) ngày 15 làm ngày mồng một)
Thiên niên vạn tải bất sai phùng.” (Hàng ngàn vạn năm không sai được.)

Tám năm trước của năm 2007 (đinh hợi) là năm 1999 (kỷ mão). Ngày rằm tháng 2 năm kỷ mão là ngày “quý mùi”. Xét trong tháng 2/2007, ngày “quý mùi” rơi vào ngày 18/2/2007 dương lịch, đúng như lịch ở hải ngoại, chứ không phải là ngày 17/2/2007 như lịch phát hành ở trong nước hiện nay.

Sự khác biệt về âm lịch năm nay bắt nguồn từ việc đổi âm lịch từ năm 1968 ở Bắc Việt. Theo những nhà làm lịch của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam năm 1967, khi đổi âm lịch năm 1968, các ông cho biết: “Cụ thể là, từ năm 1968 đến năm 2000 có tất cả 29 ngày tiết và 26 tháng âm lịch thiếu, đủ khác với lịch cũ. Sự khác nhau đó đưa đến kết quả là, so với lịch cũ, ngày Tết Mậu Thân (1968) và Kỷ Dậu (1969) sớm hơn một ngày. Ngày Tết Ất Sửu (1985), sớm hơn một tháng…”(5)

Đổi âm lịch vì lý do chánh trị và quân sự là một việc đặc biệt (sẽ có bài viết sau), nhưng sau đó vẫn giữ âm lịch nầy đến nỗi “Ngày Tết Ất Sửu (1985), sớm hơn một tháng”, làm hại cho dân chúng trong nước không ít. Nông dân Việt Nam không được hướng dẫn thời tiết như các nước tiến bộ, nên thường căn cứ trên âm lịch để gieo trồng, cày cấy. Âm lịch năm 1985 lệch đi một tháng làm cho nông dân rất lúng túng. Sự thay đổi thời tiết trong năm đó rõ ràng không tương ứng với âm lịch do nhà nước ban hành.

Việc nầy thấy rõ trong các đồn điền (nông trường) cao su ở miền Nam năm 1985. Hằng năm, công nhân đồn điền cao su nghỉ Tết âm lịch một tháng. Có hai lý do chánh: Thứ nhất, công nhân cao su thường là dân tứ xứ, từ các nơi khác đến làm ăn. Nghỉ một tháng để cho công nhân có thời giờ về thăm gia đình, quê nhà ở xa. Thứ hai, năm nào cũng vậy, mùa Tết là mùa rụng lá cao-su. Khi cây cây cao-su rụng lá, chồi non bắt đầu nhú ra và lớn dần. Lúc đó, cây cao su rất yếu, cần nghỉ ngơi, nên không cạo mủ được. Vì vậy cần phải nghỉ một tháng để cây cao-su mạnh trở lại mới cạo mủ. Riêng năm 1985, sau khi nghỉ Tết một tháng (không lương), công nhân trở về lại sở làm, thì cây cao-su mới bắt đầu rụng lá, nghĩa là âm lịch năm nầy không phù hợp với sự thay đổi của thời tiết thiên nhiên, và Tết được tính sai khoảng một tháng. Công nhân phải nghỉ thêm một tháng (không lương) nữa. Đã nghèo đói lại càng nghèo đói thêm, vì lịch nhà nước tính sai. Điều nầy không phải chỉ là kinh nghiệm của một vài rẫy (đồn điền) cao su, mà cứ về Long Khánh, Bà Rịa hỏi toàn thể các rẫy cao-su thì sẽ được kể rõ hơn. Năm đó, người Việt hải ngọai chỉ chú trọng đến việc công an nhân dân bắt bớ những người vui Tết trễ một tháng ở thành phố, nhất là ở Chợ Lớn, nên ít chú ý đến đời sống ở các đồn điền xa thành phố.

Tóm lại, “ Điểm sóc tính cho Mồng Một Tết là 16 giờ 15 phút 23 giây (giờ GMT), nếu cộng thêm bảy giờ (múi giờ Việt Nam) là 23 giờ 15 phút 23 giây” là chuyện không có gì bàn cãi, nhưng vì lấy giờ “dương lịch” (23 giờ 15 phút 23 giây) để gán vào ngày âm lịch (Mồng Một Tết) nên những nhà lịch pháp nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã cho rằng 23 giờ 15 phút 23 giây, vẫn còn thuộc vào ngày 17/2/2007 (tương đương ngày nhâm ngọ), chứ không phải là giờ tý ngày quý mùi (tương đương ngày 18/2/2007).

Sự giải thích nầy của ban Lịch nhà nước thuộc Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam đưa đến việc năm nay lịch trong và lịch ngoài nước khác biệt một ngày, thì cũng ít tai hại. Tuy nhiên, nếu tiếp tục với lối tính toán nầy, theo chu kỳ tuần hoàn, đến một lúc nào đó sự sai biệt sẽ đưa đến việc sai biệt một tháng so với thời tiết thiên nhiên như năm 1985, thì nhà nước cộng sản thời WTO có lẽ nên xét lại thật kỹ cho bà con nông dân trong nước đỡ khổ, tránh tái diễn cảnh năm 1985. Nên nhớ rằng hiện nay, nông dân vẫn còn chiếm khoảng 70% dân số hoạt động ở Việt Nam, và vẫn còn lạc hậu, thiếu thông tin khí tượng để lo việc điền trang, nên vẫn cần phải nhờ vào âm lịch để làm việc.

Toronto, 5/1/2007

Copyright © 2006–2007 DCVOnline

1)Hoàng Xuân Hãn, “Lịch và lịch Việt Nam”, đăng trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 1, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tt. 860, 874.
(2) Hoàng Xuân Hãn, sđd. tr. 861. Câu “…có hai nửa giờ tý không liên tục…” do người viết in đậm.
(3) Vân Đàng Thái Thứ Lang, Tử vi đẩu số tân biên, Sài Gòn: Tín Đức Thư Xã, 1957, tr. 10.
(4) Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử vi ảo bí, Sài Gòn, 1972, tr. 12.
(5)Nha Khí Tượng Việt Nam, Lịch thế kỷ XX (1901-2000), Hà Nội: Nxb. Văn Hóa, 1982. “Lời giới thiệu của Nha Khí Tượng”, không ghi số trang.

***


Đoan Hùng
Lịch Ta, Lịch Tàu và sự khác biệt

“… sử học cần có sự chính xác nhất định của nó. Nhất là khi vấn đề cụ thể chúng ta đang bàn dính dáng về lịch pháp, một lĩnh vực có thể "đo" và "tính" được …”
Phạm Đỉnh: Bài viết của ông Trần Gia Phụng về một ngày tết gần gũi sắp đến hẳn nhiên là liên quan đến một vấn đề bao quát hơn là vấn đề lịch pháp Việt Nam. Dưới đây là một tiếng nói khác của tác giả Đoan Hùng. Bài viết ra mắt công chúng mạng đã khá lâu (năm 2001), Xin chuyển đến bạn đọc Thông Luận.
Ngày 8/8/1967 chính phủ VNDCCH ra quyết định cải cách âm lịch. Qua sự cải cách đó tết Mậu Thân ở miền Bắc tới sớm hơn ở miền Nam (theo lịch cũ) một ngày ( 29/1/68 và 30/1/68). Đúng vào đêm 30 tết Mậu Thân quân đội cộng sản bất ngờ tổng tấn công trên khắp miền Nam, lúc đó ở miền Bắc đã là đêm mồng một tháng giêng. Hai sự kiện đó được sử gia Trần Gia Phụng liên kết lại trong bài "Lịch và Thơ giết người". Sự kiện cải cách lịch được ông chứng minh như là một âm mưu quân sự nằm trong toàn bộ kế hoạch tổng tấn công này. Sự "tính toán" của các lịch gia Hà Nội được sử gia TGP xem là "sai quy luật thiên nhiên" và "nói trắng ra, nhà cầm quyền Bắc Việt ra lệnh cho Nha Khí tượng Hà Nội là phải bớt đi ngày năm Đinh Mão để Tết Mậu Thân ở Bắc Việt sớm hơn một ngày ở Nam Việt theo lịch cũ". Từ đó nhiều sự kiện tưởng như nhỏ nhặt và thông thường như sự nêu ra quyết định số 121/CP trong sách lịch được sử gia Trần Gia Phụng xem như là vì "nha khí tượng sợ trách nhiệm về sau này trước lịch sử" , hoặc sự kiện Nguyễn Xiển chỉ đạo việc sửa lịch được ông khẳng định là nhằm mục đích đen tối là trút trách nhiệm: "nếu có gì bất lợi phát hiện, thì Nguyễn Xiển và đảng Dân Chủ phải chịu trách nhiệm chứ Hồ Chí Minh và đảng LĐ không dính dáng đến việc sửa lịch". Việc sửa lịch theo sử gia Trần Gia Phụng "còn gây những ảnh hưởng tai hại về sau này.." vì "..Việt Nam là một nước nông nghiệp. Đối với nhà nông Việt Nam, sự ghi chép lịch không đúng với quy luật thiên nhiên, đưa đến việc dự đoán sai thời tiết, gây trở ngại và thiệt hại lớn lao cho nông dân".

Muốn biết Hà Nội làm thế nào để.. ăn gian mất một ngày và "dối trời" ra sao, thiết tưởng chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về lịch nói chung và lịch pháp Á Đông nói riêng cũng như mối liên hệ của nó đối với thời tiết và sự vận chuyển của thiên thể.

1. Đôi nét khái quát về lịch

Như ai nấy đều biết, đời sống của con người gắn bó mật thiết đến sự sáng tối, nóng lạnh, thời tiết và hiện tượng ấy bắt nguồn từ sự vận chuyển của trái đất, mặt trăng, và mặt trời. Sự vận chuyển "nghiêng góc" của trái đất quanh mặt trời quyết định thời tiết, mùa màng. Sự vận chuyển của mặt trăng quanh trái đất ảnh hưởng đến thủy triều, đến đời sống các sinh vật...Từ đó nảy sinh khái niệm ngày, tháng, năm, mà sự sắp xếp của nó theo một quy ước nào đó , hợp với thiên nhiên là lịch.

Giá như tạo hóa dựng nên trời đất với bàn tay chính xác của.. một người thợ đồng hồ để cho một tháng chẵn chòi 28 ngày, một năm chẵn 12 tháng thì hẳn "tiện" cho loài người biết bao! Đằng này mặt trăng quay quanh trái đất theo chu kì 29.530588 ngày, trái đất chu du quanh mặt trời mất 365.2422 ngày. Và dĩ nhiên là con người chẳng thể sống với quy định là "tháng x bắt đầu từ ngày y lúc z giờ" được! Tóm lại lịch phải "làm chẵn" các chu kì tự nhiên. Khi làm chẵn tất sinh ra sai lệch, và muốn lịch không sai với tự nhiên thì phải chỉnh lại sau một thời gian và ấy là phép "nhuận".

Dương lịch bỏ qua số lẻ của trăng mà chỉ giải quyết phần "dương". Một năm có 365 ngày, ngắn hơn năm thời tiết 0.2422 ngày. Cứ 4 năm thì bù thêm một ngày vào năm nhuận để chỉnh lại cho hợp thời tiết. Như thế thì lại hơi dài nên cứ 300 năm lại bỏ đi ba năm đáng nhuận trở thành năm thường. "Thuần" âm lịch, như lịch Á Rập, bỏ phần "dương" và chỉ làm chẵn phần lẻ của tuần trăng với quy định tháng đủ, tháng thiếu lần lượt bù trừ cho nhau. Một năm có 12 tháng và ngắn hơn năm thời tiết. Vì không được chỉnh lại, nên năm âm lịch không còn dính dáng đến thời tiết.

Âm lịch dùng ở Đông Á thực ra là âm-dương lịch. Bởi nó bao gồm cả hai yếu tố âm và dương. Các lịch gia trải qua bao đời đã tìm cách "khớp" cả hai số lẻ (số ngày trong tháng, số tháng trong năm). Và vì phải tìm ra phương cách để làm chẵn cả hai số lẻ (thay vì một như dương lịch) nên phép nhuận của âm-dương lịch phức tạp và khó nhớ hơn dương lịch. Năm âm lịch với 12 tháng ngắn hơn năm thời tiết khoảng 11 ngày, sau khoảng 2-3 năm thì phải chỉnh lại bằng cách thêm một tháng nhuận. Như thế năm ấy có 13 tháng.

Khi ta làm chẵn số lẻ, tức nhiên là đã chấp nhận một sai số tối đa là vào hàng đơn vị tính toán. Âm-dương lịch làm chẵn tháng với đơn vị ngày và năm với đơn vị tháng nên: Sai số tối đa của tháng đối với tuần trăng là một ngày và của năm đối với năm thời tiết là một tháng. Đơn vị nhuận của dương lịch là ngày, nên năm dương lịch chính là năm thời tiết với sai số một ngày. Như thế phải chăng âm-dương lịch thiếu chính xác so với dương lịch? Nếu chỉ căn cứ vào tháng theo kiểu "tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà.." thì hẳn cả thế giới Đông Á phải.. tiệt chủng vì đói do mất mùa liên tục!

2. Năm, Tháng, Ngày, Khí trong âm lịch

Thực ra âm-dương-lịch rất chính xác và chi li! Nói về tháng là chỉ nói chừng chừng, đại khái mà thôi. Còn chính xác hơn về thời tiết thì đó là các thời điểm KHÍ trong âm lịch mà người nông dân dùng nó làm mốc mà gieo, cấy, gặt... Chẳng hạn như giở âm-dương-lịch ra thì ngày hôm nay là ngày 14/2/2001 tức ngày Đinh Sửu, 20 tháng 12, Kỷ Sửu năm Canh Thìn, KHÍ Đại Hàn. Tìm hiểu kĩ hơn ta sẽ thấy trong âm dương lịch có hai hệ thống tháng: tháng tuần trăng và "tháng" thời tiết (giữa các điểm khí). Muốn hiểu rõ hơn về hai hệ thống này cũng như cách sắp xếp ngày, tháng, năm, nhuận của âm-dương-lịch thiết tưởng chúng ta nên đi sâu vào định nghĩa của các khái niệm này cũng như mối liên hệ của nó với sự vận chuyển của "trời đất".

Một ngày bắt đầu từ điểm nửa-đêm và chia làm 12 giờ (Tí-Hợi) . Một giờ lại được chia thành hai khoảng: Sơ và Chính. Một ngày không bắt đầu bằng giờ đầu tiên là giờ Tí mà ở điểm bắt đầu của chính Tí. Giờ Tí như thế có hai phần, nửa đầu thuộc ngày hôm trước. Nhìn kĩ lại ta thấy thực ra xưa cũng như nay ngày đều chia thành 24 khoảng. Chính Tí tương đương với 0 giờ, Sơ Sửu là 1 giờ sáng.

Tháng thể hiện sự vận chuyển của mặt trăng. Khi mặt trăng và mặt trời ở cùng một hướng đối với trái đất và xoay nửa tối về phía ta thì gọi là thời điểm SÓC (nghĩa là trăng sống lại). Khi nó ở hướng ngược lại và xoay nửa sáng về phía ta thì gọi là thời điểm VỌNG (nghĩa là trông). Khi người ta quan sát chuyển động biểu kiến trên tinh cầu thì thấy nó chạy trên quỹ đạo gọi là BẠCH ĐẠO. Chu kì của trăng để đi hết một vòng bạch đạo, từ điểm sóc này đến điểm sóc tới gọi là SÓC-SÁCH. Ngày chứa điểm SÓC là ngày mồng một, là điểm gốc để bắt đầu một tháng. Số ngày trong tháng được làm chẵn thành tháng đủ 30 ngày và tháng thiếu 29 ngày.

Năm thể hiện sự vận chuyển của trái đất quanh mặt trời, hay về mặt thiên văn biểu kiến mà nói, thì mặt trời chạy vòng trên tinh cầu theo quỹ đạo gọi là HOÀNG-ĐẠO. Trên hoàng đạo có bốn điểm chính là xuân phân, hạ chí, thu phân và đông chí là các điểm mốc để phân định thời tiết. — điểm "phân" cuả xuân và thu ngày và đêm dài bằng nhau. — điểm "chí" của hạ thì (đối với bắc bán cầu) ngày dài (nhất) so với đêm còn ở điểm đông chí thì ngược lại. Đứng về mặt vị trí trái đất mà nói thì ở điểm hạ chí trái đất nghiêng bắc bán cầu vào phía mặt trời và điểm đông chí thì ngược lại. Từ bốn điểm mốc đó người ta phân nhỏ hơn thành 24 thời điểm gọi là KHÍ là các điểm mốc về thời tiết. Khí được phân làm hai loại: TIẾT là ngăn chia, và TRUNG là giữa. Như vậy ta có 12 trung khí và tiết khí xen kẽ nhau. Chính ở khái niệm khí này mà ta thấy trong âm lịch có một hệ thống phân bổ "tháng" (khoảng giữa hai điểm trung hay tiết) song hành với dương lịch, nghĩa là với năm thời tiết. Mỗi điểm khí có một ngày tương ứng trong dương lịch. Tên gọi các khí mang ý nghĩa về thời tiết hay muà màng.

Sau đây là một vài điểm khí trong năm với ý nghĩa, tính chất và điểm tương ứng của nó trong dương lịch (với sai số 1 ngày): Đông Chí (trung, giữa đông, 22/12) ; Tiểu Hàn (tiết, rét vừa, 6/1) ; Đại Hàn (trung, rét gắt, 21/1).Lập Xuân (tiết, đầu xuân,5/2) ; Vũ Thuỷ (trung, mưa nước, 29/2) ; Kinh Trập (tiết, sâu bọ tỉnh dậy,5/3) ; Xuân Phân (trung, giữa xuân,20/3) ; Thanh Minh (tiết, trời trong,5/4) ...

Nếu xem 12 khoảng giữa các "tiết" hoặc "trung" như một hệ thống "tháng thời tiết" thì ta thấy âm-dương-lịch không khác gì với dương lịch. Ta có thể nói một cách khác là: trong âm-dương-lịch có hai hệ thống "tháng" : tháng tuần trăng và "tháng thời tiết" với độ dài hơi chênh nhau. Tuần trăng có 29.53 ngày và tháng thời tiết là 30.41 ngày (đây là số trung bình bởi vì mặt trăng và trái đất xoay có khoảng nhanh khoảng chậm, theo định luật thứ hai của Kepler). Vấn đề là đặt ra quy tắc để hai hệ thống tuần-trăng và thời-tiết song hành với nhau với độ chênh ít nhất như có thể. Quy tắc đó là phép NHUẬN.

Muốn hình dung ra phép nhuận chúng ta hãy tưởng tượng ra hai xâu chuỗi thời gian: chuỗi tuần trăng với các hạt là điểm sóc màu xanh, chuỗi thời tiết với các hạt là điểm trung-khí màu đỏ. Cầm hai chuỗi chập lên nhau ta sẽ thấy: mới đầu giữa hai hạt xanh thế nào cũng có một hạt đỏ, sau đó các hạt xanh do khoảng cách ngắn hơn dần dà di động thụt lui so với hạt đỏ, và đến một lúc nào đó sẽ có hai hạt xanh nằm gọn trong khoảng hai hạt đỏ. Khác với các khoảng khác, lúc này giữa hai hạt xanh không có một hạt đỏ nào. Nếu ta giả vờ "quên" không đếm khoảng ấy thì sự phân bổ các hạt cuả hai chuỗi bớt lệch đi và lại trở lại "song hành" như trước. Khoảng ấy gọi là "nhuận". Với nguyên tắc đó các lịch gia đặt ra quy tắc: Tháng không có trung khí là tháng nhuận. Tháng nhuận đó không tên gọi cũng như can chi riêng (nói cách khác: không được "đếm") mà mang tên của tháng trước với từ Nhuận ở kế bên. Thời xưa, ngày sóc tháng nhuận, vua không làm lễ cốc-sóc như mọi đầu tháng mà chỉ đứng ở cửa nhà cáo-miếu chứ không vào, vì thế chữ "nhuận" được viết là chữ "vương" là vua ở giữa chữ "môn" là cửa.

3. Do đâu có sự khác biệt?

Như thế ta thấy cách sắp xếp lịch dựa trên thời điểm của các "biến cố" về thiên văn. Các biến cố này tuy xảy ra cùng một lúc (thời gian tuyệt đối) nhưng lại được ghi lại bằng ngày, giờ là thời gian "tương đối", thay đổi theo vị trí (kinh độ) của điểm quan sát trên trái đất. Điều này dẫn đến tới vấn đề có tính nguyên tắc là: Cách ghi chép âm-dương lịch (sự phân bố ngày tháng năm) chịu ảnh hưởng bởi vị trí quan sát!

Lịch cho điểm A có thể khác biệt ( khác chứ không phải sai-biệt) với lịch cho điểm B nếu hai điểm không cùng kinh độ. Sở dĩ ở trên tôi dùng chữ "ghi" là cốt nhấn mạnh rằng cả hai tuy khác nhau nhưng không cái nào sai đối với thiên nhiên cả. "Khác" là khác cách ghi chép mà thôi! Nếu tôi nói nhật thực xảy ra lúc 15.20 phút (giờ California) thì người khác nói là nói xảy ra lúc 18.20 ở New York, thì không có ai sai ở đây cả. Tính chất này rất quan trọng mà ta cần biết khi muốn tìm hiểu âm-dương-lịch. — đây ta lại có vấn đề "sai số ở hàng đơn vị" khi "làm chẵn". Điều này dẫn tới: sự khác biệt của lịch ở hai nơi có thể lên đến một ngày hoặc thậm chí một tháng!

Thí dụ như thời điểm xảy ra SÓC được ghi nhận ở một điểm A vào lúc 15 giờ thì đối với điểm B cách đó 5 múi giờ về phía tây nó được ghi nhận là lúc 10 giờ. Điều đó không ảnh hưởng gì cả. Nhưng nếu nó xảy ra tại A vào lúc 2 giờ sáng thì đối với B lại là 9 giờ đêm ngày hôm trước. Điều này dẫn tới: Tháng này đối với B hụt mất trọn một ngày và trở nên tháng "thiếu" trong khi đó tháng lại "đủ" đối với B. Nếu tình cờ điểm "trung khí" cũng xảy ra ở ranh giới này thì sự khác biệt có thể là một tháng vì tại A là "nhuận" mà tại B thì không! Do sự khác biệt này xảy ra khi có sự trùng hợp khá đặc biệt của các biến cố thiên văn ở những điểm chuyển ngày, chuyển tháng. Vì thế về đại thể thì lịch tại hai nơi khác nhau phần lớn vẫn trùng hợp với nhau mà sự dị biệt chỉ là ngoại lệ.

Đến đây chúng ta có thể cùng nhau "lật tẩy" Việt cộng trong sự gian dối về ngày tháng vào thời điểm tết Mậu Thân theo nguyên tắc của lịch pháp "Ngày chứa điểm Sóc là ngày mồng một". Ta biết: điểm gốc quan sát của lịch mới là múi giờ thứ 7 và của lịch cũ theo giờ Bắc Kinh hoặc theo múi giờ thứ 8. Dựa theo đó trong năm 1968 điểm SÓC của tháng giêng xảy ra vào lúc nào? Bằng cách nào cộng sản đã tự tiện bớt đi một ngày của tháng chạp năm Đinh Mùi như sử gia Trần Gia Phụng khẳng định?

Không có gì dối trá được lâu dài dưới ánh sáng của.. internet! Chỉ cần vào Yahoo search engine kiếm khái niệm "new moon", chỉ sau 5 phút chúng ta có thể kiếm ra thời điểm SÓC vào đầu năm 1968 tại một web site của U.S. Naval Observatory với số liệu như sau: Jan 29 , 16.29 UT (Universal time).

Như vậy điểm SÓC xảy ra ở múi giờ 7 (kinh độ 105 đông) vào lúc 23.29 ngày 29/1 và ở múi giờ 8 (kinh độ 120 đông) vào lúc 0.29 ngày 30/1. Phiền quá! Chẳng lẽ các lịch gia Hà Nội tính... đúng theo thiên văn!? Ngày mồng một (chứa điểm SÓC) như thế ở múi giờ thứ 7 là ngày 29/1 dương lịch và theo múi giờ thứ 8 là ngày 30/1. Tháng chạp năm Đinh Mão theo giờ Việt Nam trở thành "thiếu" mà ở Bắc Kinh hay theo lịch "cũ" thì lại là "đủ".

Năm 1985 Tết Ất Sửu sớm hơn một tháng và theo sử gia Trần Gia Phụng điều đó khiến cho "lá cao su chưa rụng" và công nhân đồn điền phải nghỉ thêm một tháng. Điều này được sử gia xem như một minh chứng đó là "ảnh hưởng tai hại lâu dài về sau này" của "việc đổi lịch và chép lịch sai với những quy luật thiên nhiên". Nếu chấp nhận luận cứ của sử gia là đúng thì tất nảy ra một câu hỏi "cắc cớ" như sau: Nếu đằng nào cũng là sai với thiên nhiên mà lịch gia Hà Nội ăn gian bớt mất đi một ngày ở năm 1968 thì tại sao họ không rình lúc không ai để ý để mà... len lén nhét đại vào thêm một ngày một năm nào sau đó sao cho lịch trở lại như xưa? Ăn vụng thì phải biết chùi mép! Cớ sao họ lại để cho sự "sai lầm" tiếp diễn khiến cho đến 1985 nó "sai" hết một tháng! Vậy ta hãy kiểm lại thời gian 1984/1985 về mặt thiên văn.

Để dễ hiểu chúng ta cần nhớ lại quy định của lịch pháp "Tháng không có trung khí là tháng nhuận" và biết thêm quy tắc giả-nhuận: "nếu trong vòng 20 tháng trước đó đã có tháng nhuận thì tháng đó là giả-nhuận, nghĩa là không tính là nhuận nữa". Năm Giáp Tí (1984) theo múi giờ thứ 7 tất cả các thời điểm trung khí lọt vào tất cả khác tháng, nên ở VN năm đó là năm thường. Trong tháng 12/1984 có một sự "trùng hợp oái oăm" xảy ra:
1) Điểm SÓC xảy ra lúc 11.47 UT ngày 22/12 (theo web site [4]), tức là ở VN lúc 18.47 và ở TH 19.47 cùng ngày. Ngày 21/12 như thế là ngày cuối của tháng 11 âm lịch của ta cũng như tàu.

2) Trung khí Đông Chí (winter solstice) xảy ra vào lúc 16.23 (UT) ngày 21/12/84, có thể xem ở web site [5]. Như thế ở VN là lúc 23.23 ngày 23/12 tức ngày cuối tháng 11 âm lịch, mà ở bên TH đã là 0.23 ngày đầu tháng sau! Tháng 11 VN như thế có trung-khí mà ở TH thì KHÔNG! Bởi thế cùng tháng ấy mà ở VN là tháng 11 thường, ở TH là tháng 10 NHUẬN. Bước sang ngày 22/12 thì ở VN là đầu tháng chạp mà ở TH thì còn là đầu tháng 11! Ngày Tết do lẽ đó mà chênh nhau một tháng.
Quy luật "nhuận" có tính "bù trừ" nên lịch sẽ "tự chữa" sau đó không lâu. Trung khí xuân phân xảy ra ở Việt Nam vào lúc 23.08 giờ ngày cuối tháng hai, sang tháng sau thì lại không có trung khí nên Việt Nam có tháng hai nhuận. Cùng điểm xuân phân đó lại xảy ra ở Trung Hoa vào lúc 0.08 giờ ngày đầu tháng hai làm cho tháng giêng không có trung khí. Tháng giêng ở Trung Hoa lẽ ra cũng phải nhuận nhưng vì vừa mới nhuận ba tháng trước nên theo quy tắc giả-nhuận nó trở thành tháng thường. Do được bù trừ như thế mà từ tháng ba Ất Dậu trở đi hai lịch lại ăn khớp với nhau như trước. Xin tóm gọn sự khác biệt giữa hai lịch trong khoảng thời gian này theo một "chuỗi" như sau (mỗi ngoặc đơn là một tháng, số trước là tên tháng Việt Nam, số sau là Trung Hoa):
[ 10 - 10 ) - ( 11 - 10 Nhuận ) - ( 12 - 11 ) - ( 1 - 12 ) - ( 2 - 1) - ( 2 nhuận - 2 ) - ( 3 - 3 )

4. Đôi điều nhận xét

Tóm lại sự khác biệt của lịch là do điểm quan sát mà các lịch gia Hà Nội đã viết trong Lịch thế kỷ XX như sau:

"Phần này tính căn cứ theo quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội Đồng Chính Phủ. Đã tính tất cả 792 ngày tiết và 408 tháng âm lịch, trong đó có 217 tháng đủ, 191 tháng thiếu, 12 tháng nhuận. Trong thời gian 33 năm sắp tới trên thế giới sẽ xảy ra 73 nhật thực và 48 nguyệt thực: — nước ta sẽ trông thấy 10 nhật thực và 29 nguyệt thực. Ngày tháng âm lịch trong thời gian nói trên đều tính theo giờ chính thức của nước ta là múi giờ thứ 7. Nó khác với lịch cũ hoặc tính theo giờ Bắc Kinh (Vạn Niên Thư) hoặc tính theo múi giờ thứ 8 (Nhị bách niên lịch biểu). Cụ thể là từ 1968 đến năm 2000 có tất cả là 29 ngày tiết và 26 tháng âm lịch thiếu, đủ khác vời lịch cũ. Sự khác nhau đó đưa đến kết quả là, so với lịch cũ, ngày tết Mậu Thân (1968) và Kỷ Dậu (1969) sớm hơn một ngày. Ngày tết Ất Sửu (1985) sớm hơn một tháng... Các tư liệu lịch sử cũng như các phần tính toán trong lịch đã được thẩm tra qua nhiều tư liệu trong nước và nước ngoài..".

Tôi không có Lịch thế Kỷ XX trong tay và chỉ trích lại qua bài của sử gia Trần Gia Phụng. Đoạn văn trên khá chi tiết đủ để chúng ta nắm một cách đại lược công việc của các lịch gia cũng như điểm mốc mà họ dùng. Không hiểu sao sử gia TGP trích dẫn mà không hề chú ý đến những chi tiết rất quan trọng về mặt lịch pháp đó? Mà như ai nấy đều biết, lịch pháp là một "công cụ" vô cùng quan trọng trong sử học. Cần phải minh định rằng tôi không có ý định "bào chữa cho Hà Nội" hay khẳng định rằng sự sửa lịch và tổng tấn công Mậu Thân không có liên quan gì đến nhau. Tôi tôn trọng ý kiến của ông như một "nghi vấn lịch sử". Chỉ có điều là chúng ta đang bàn về lịch sử mà sử học cần có sự chính xác nhất định của nó. Nhất là khi vấn đề cụ thể chúng ta đang bàn dính dáng về lịch pháp, một lĩnh vực có thể "đo" và "tính" được. Chỉ xin phép được bàn phiếm thêm rằng, nếu như đó quả là một âm mưu có dự tính trước thì tất nó phải đến từ một "quân sư", và người này phải nắm vững quân sự, thiên văn học, lịch học để "biết trước" điểm sóc xảy ra vào cuối năm Kỷ Mùi là một trường hợp thiên văn khá hi hữu, lại phải kết hợp thêm điều kiện "múi giờ" thì.. vân vân.. và lợi dụng nó vào mục đích quân sự. Nếu như ta biết rằng điều đó chẳng phải là đơn giản mà chính các chuyên gia có thể không biết về nó, ngay cả "sau khi" đã đọc lịch. Một quân sư "trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lí" theo kiểu "tam quốc chí" như thế có thể có thực trên đời được chăng?

Cho dù các lịch gia Hà Nội có ý đồ hay âm mưu gì đi nữa thì họ vẫn viết lịch đúng theo lịch pháp và thiên nhiên. Chỉ có thể chứng minh rằng họ sai nếu như ta có thể xác quyết được rằng: lịch phải được tính từ điểm mốc là Bắc Kinh và không được dời đi đâu hết! Dời đi thì nó sai! Nhưng nếu như thế thì lịch pháp ấy chỉ đúng với… Trung Hoa mà thôi, và ta dùng nó làm gì? Ngay chính Trung Hoa cũng không ngần ngại gì khi thay đổi điểm quan sát, thí dụ như từ năm 1929 họ quy định lại mốc quan sát là múi giờ thứ 8 (kinh độ 120 Đông) thay vì Bắc Kinh ở kinh độ 116.466. Sự chênh lệch khoảng 3 độ rưỡi về kinh độ dẫn đến sự chênh lệch khoảng 14 phút về thời gian. Nếu như các biến cố thiên văn xảy ra trong khoảng nửa đêm +- 14 phút thì sự khác biệt về lịch mới, cũ cũng sẽ phải xảy ra ngay chính với bản thân Trung Hoa. Nhật Bản, từ năm 1684, cũng bắt đầu dùng kinh tuyến nước mình làm mốc cho lịch với sự tính toán của các lịch gia Shibukawa, Yashitomi.. Và nếu ta công nhận rằng có thể đổi điểm quan sát thì tất phải dẫn đến kết luận: Dùng múi giờ thứ 7 cho lịch Việt là hợp lí và không có gì là sái với thiên nhiên cũng như lịch pháp.

Trở lại mối liên hệ giữa năm và năm thời tiết thì như trên đã viết: Tháng chỉ có thính "chừng chừng đại khái" so với thời tiết. Trong một năm chỉ có tháng 11 (tháng Tí, đầu chi) là có thể nói là "khớp" nhất đối với thời tiết. Lịch pháp quy định: Ngày đông chí phải luôn luôn nằm trong tháng Tí. Muốn thế lại phải có ngoại lệ cho quy luật nhuận: Nếu tháng đáng nhuận lọt vào tháng 11 hay 12 (Tí,sửu) thì là giả-nhuận, tức là đẩy tháng nhuận ấy vào năm sau, ở tháng thứ ba. Làm như thế để "cột" tháng vào thời tiết, sao cho không chệch nhau quá đáng. Như thế ta thấy, ở khoảng đầu năm, nếu so với "trung bình" thì tháng sẽ du di, sớm trễ khoảng 15 ngày. Ngày tết bởi thế cũng xê dịch trong khoảng 21/1 đến 20/2 dương lịch. Để ý là trong năm Giáp Tí (1984) ngày đông chí rớt vào đầu tháng 11 ở Việt Nam và và ở Trung Hoa là vào cuối tháng. Do đấy mà tết ở Việt Nam sớm nhất và ở Trung Hoa trễ nhất trong khoảng "giới hạn cho phép". Nói cách khác không phải là theo lịch mới tết tới quá sớm so với cũ mà phải nói cả hai đều đi đến điểm giới hạn "sớm quá" và "trễ quá" so với trung bình. Cả hai đều "sai" khoảng +- 15 ngày. Kiểm sang các năm khác thì thấy theo lịch cũ tết năm 1966 cũng vào ngày 21/1 DL, và năm nay vào ngày 24/1 (cả cũ lẫn mới), đều đến rất sớm so với thời tiết. Cây cao su năm 1966 hay 2001 có chịu rụng lá chưa? Câu trả lời có lẽ nên dành cho các nhà thảo mộc học.

"Mới" và "cũ" chênh nhau như thế, cả hai đều chênh với thời tiết, vậy ta phải "đọc" lịch như thế nào cho đúng? Thiết tưởng rằng nếu có vấn đề nào đó liên hệ chỉ với mùa (tức là với mặt trời) như cấy, gặt.. thì người ta phải căn cứ vào khí, nếu chỉ liên hệ với trăng như thủy triều, con nước.. thì phải căn cứ vào tháng, và nếu liên hệ đến cả hai thì phải biết cách kết hợp. Ăn thua là biết cách đọc lịch, chứ cả hai đều ghi lại theo thiên nhiên cả. Xin lấy một ví dụ trên thực tế ở quê tôi, miền trung, thì trước khi có lúa thần nông, người nông dân căn cứ vào ngày đông chí để bắt đầu ngâm thóc giống mà gieo mạ. Sau một tháng năm ngày thì bắt đầu cấy mạ mất khoảng năm, mười ngày. Vị chi khoảng gần một tháng rưỡi khổ công dưới tiết mùa đông lạnh buốt. Xong việc thì cũng thường thường là vào mùa tết và "tháng giêng là tháng ăn chơi". Cứ theo quy trình đó thì ở năm 1985 theo lịch mới nông dân quê tôi phải cấy trong cả các ngày tết! Và theo lịch cũ họ lại ở không đến khoảng hai tuần chờ tết! Ấy là nói ví dụ thôi, chứ ở thời điểm 1985 thì đã có lúa thần nông và người ta đã có thể "xạ" thẳng mà không qua quá trình gieo mạ nữa.

Chúng ta đang ở vào mùa xuân, để làm cho bài bớt "khô" và nặng nề tôi xin kể cùng bạn đọc một ví dụ về lịch và.. thơ. Ai trong chúng ta chẳng biết câu thơ của thi hào Nguyễn Du: "Thanh Minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh". Lẩn thẩn tôi tự hỏi rằng.. Nguyễn Du nói có "đúng" không và lục tìm trong lịch [6] vào những năm mà nàng Kiều có thể sống, nghĩa là "rằng năm Gia Tĩnh triều Minh" ( 1522-1567 ) , thì thấy thi hào ta đã "sai" đến khoảng 25 % ! Nghĩa là trong khoảng 45 năm ấy có đến 12 năm tiết thanh minh nằm trong tháng hai! Hoặc giả nếu Nguyễn Du chỉ tả cụ thể ngày nàng Kiều du xuân thì ta có thể làm.. nhà trinh thám mà loại suy rằng nàng chẳng thể gặp chàng Kim vào các năm Gia Tĩnh thứ 5,7,10,12,14... Viết đến đây tôi nghe văng vẳng như có tiếng thi hào mắng mỏ: Kẻ hậu sinh láo toét! Chẳng lẽ mi muốn "hiệu đính" thơ ta thành "Thanh Minh trong tiết tháng hai.. cho đến đầu tháng ba"? Và tôi, mồ hôi toát đầy trán mà tạ rằng: Ấy là con nói nhăng về lịch thôi mà!

Nói về sự khác nhau giữa "mới" và "cũ" chúng ta có thể tự hỏi: "Cũ" là cũ thế nào? Phải chăng đây là lần đầu tiên lịch "ta" chệch với lịch "tàu"? Xem kĩ lại thì thấy "cũ" thật ra không cũ gì lắm! Nghĩa là chỉ từ năm 1813 khi triều Nguyễn quyết định dùng phương pháp Lịch Thời Hiến mà ban hành lịch Hiệp Kỷ. Sau 1945 không còn cơ quan "khâm thiên" nữa thì lịch "cũ" thực chất ra là lịch Tàu. "Cũ" hơn nữa thì Lịch Ta không hoàn toàn ăn khớp với lịch Tàu. Lịch thời Lí khác lịch Tống đương thời. Trong khoảng từ đầu thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XVII lịch hai nước giống nhau. Sau đó lại khác nhau cho đến 1813. Đó là kết quả một công trình nghiên cứu công phu của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn [2], mà người viết bài này hy vọng có dịp trình bày trong một bài khác.

Đoan Hùng

Thư Mục:

Tác phẩm [2] của GS HXH viết rất chi tiết về lịch pháp. Vấn đề năm 1985 được giáo sư đề cập trong [3]. Ngoài ra ta có thể tìm các quy tắc của âm lịch trên rất nhiều web site.

[1] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập I, NXB Giáo Dục, 1998
[2] Lịch và lịch Việt Nam, trong [1] trang 851.
[3] “Năm Ất Sửu cầm tinh con trâu hai đầu?”, trong [1] trang 357.
[4] http://riemann.usno.navy.mil/AA/data/docs/MoonPhase.html
[5] http://einstein.stcloudstate.edu/Dome/equiSol.html
[6] http://www.sinica.edu.tw/~tdbproj/sinocal/luso.html
 
Lịch tàu và lịch ta
Nguyễn Tiến Ích

“…quyết định của Việt Nam chọn ngày mồng một Tết năm Đinh Hợi là ngày 17 tháng 2 năm 2007 thay vì là ngày hôm sau 18 tháng 2 như quy định bởi lịch tàu là không có cơ sở kỹ thuật, căn cứ vào những quan sát thiên văn cũng như là lịch sử thiết lập âm lịch…”
Năm nay con heo sẽ nhẩy vào chuồng ngày thứ bảy 17 tháng 2 năm 2007 nếu là heo Việt Nam. Heo Trung quốc và những nước khác nhập cuộc trễ hơn một ngày. Kẻ viết bài này không biết gì về nguyên tắc làm lịch tàu cho nên chỉ xin nêu lên vài sự kiện có thể nói là khách quan.

Nếu lấy mặt trời làm chuẩn, thì thời gian mặt trăng đi hết một vòng quỹ đạo của nó là tháng mặt trời (synodic month) . Tháng mặt trời trung bình là 29,53 ngày và đó là tháng dùng cho âm lịch. Vì chu kì của mặt trăng quanh trái đất là hơn hai mươi chín ngày rưỡi và vì không thể chia một ngày ra làm hai được cho nên người ta phải xen kẽ tháng 30 ngày gọi là tháng đủ, chữ nho gọi là nguyệt đại với tháng 29 ngày gọi là tháng thiếu, chữ nho gọi là nguyệt tiểu.

Thiên văn Tây phương chia một chu kì mặt trăng quanh trái đất, ta gọi là một tuần trăng, ra làm bốn thời kì (phase). Tuần trăng bắt đầu khi trái đất, mặt trăng và mặt trời nằm trên cùng một đường thẳng với mặt trăng nằm án ngữ giữa trái đất và mặt trời, quay cái mặt được mặt trời chiếu vào về phía bên kia trái đất khiến cho từ mặt đất nhìn về phía mặt trăng thì chỉ thấy tối đen. Đó là ngày Trăng Mới (New Moon). Ngày âm lịch bắt đầu vào giờ Tý nhằm vào 23 giờ đêm hôm trước cho đến 01 giờ sáng hôm sau (ngày âm lịch có 12 giờ) của giờ dương lịch (một ngày chia làm 24 tiếng đồng hồ). Đêm hôm Trăng Mới có thể là bắt đầu cho ngày đầu tiên (ngày mồng một) hay ngày cuối cùng của một tháng âm lịch (30 nếu là tháng đủ hoặc 29 nếu là tháng thiếu). Tuần trăng mới nhằm vào ngày 17 tháng 2 năm 2007 sẽ là ngày 30 tháng chạp âm lịch nếu âm là lịch tầu hoặc là ngày mồng một, còn gọi là ngày Sóc nếu là âm lịch Việt Nam.

Dù lịch tàu và lịch ta có trùng nhau thì ngày Trăng Mới dương lịch vẫn có thể là ngày cuối tháng hay đầu tháng âm lịch. Lí do khiến cho ngày Trăng Mới không dứt khoát nằm vào một ngày đầu tháng hay cuối tháng là vì tháng âm lịch có thể có 29 hoặc 30 ngày và chuyển động của mặt trăng trên quỹ đạo quanh trái đất không phải là tròn đều.

Trong thời gian 6 đến 7 ngày sau ngày Trăng Mới là giai đoạn Trăng Lưỡi Liềm. Trong giai đoạn này, mặt trăng ngày càng ló thêm phía được mặt trời chiếu sáng về phía mặt đất, cho đến ngày 7 hoặc 8 âm lịch thì trên mặt đất nhìn lên ta thấy được một nửa vòng tròn. Đó là Trăng Non (First Quarter Moon). Lúc đó đướng thẳng nối trái đất với mặt trời làm thành một góc vuông với đường thẳng nối trái đất với mặt trăng. Kế đó, 6 hoặc 7 ngày sau, phần sáng của mặt trăng ngày một lớn cho đến khi ta thấy cả một vòng tròn sáng. Đêm trăng tròn và sáng nhất là Trăng Đầy (Full Moon). Trăng Đầy có thể trùng với ngày 15 âm lịch (còn gọi là ngày rằm hay là ngày Vọng) nhưng cũng có thể là ngày 14 hay 16, vẫn vì lí do tháng thiếu tháng đủ và chuyển động không đều của mặt trăng trên quỹ đạo của nó. Vào ngày Trăng Đầy, trái đất, mặt trăng và mặt trời lại nằm trên cùng một đường thẳng nhưng bây giờ là trái đất nằm giữa mặt trăng và mặt trời và tha hồ chiêm ngưỡng dung nhan chị Hằng. Sau Trăng Đầy thì phần sáng của mặt trăng ngày một thu nhỏ lại cho đến 6 hoặc 7 ngày sau thì phần sáng của mặt trăng chỉ còn là một nửa vòng tròn. Đó là Trăng Già (Last Quarter Moon), nhằm vào ngày 22 hoặc 23 âm lịch. Tiếp tục nốt hành trình quanh trái đất, 6 hoặc 7 ngày sau thì mặt trăng hoàn tất chu trình của nó quanh trái đất căn cứ vào mặt trời và ta lại bước vào vào một tuần trăng mới.

Một điều cũng nên nói thêm rằng lý do khiến cho đêm Trăng Tròn nào dưới đất nhìn lên vẫn chỉ thấy Chú Cuội ngồi gốc Cây Đa mà không thấy được gì về phía bên kia mặt trăng là vì trong khi di chuyển trên quỹ đạo của nó thì mặt trăng cũng quay quanh chính nó, một vòng trong một tháng, nghĩa là khi mặt trăng đi hết một vòng quỹ đạo của nó thì nó cũng đã quay được quanh chính nó đúng một vòng, thành ra tháng trước chú Cuội ở đâu thì tháng sau lại thấy chú lù lù ở đó.

Vì chu kì của mặt trăng quanh trái đất là 29,5 ngày cho nên một năm âm lịch chỉ có 354 ngày, thiếu mất 11 ngày. Vào thời thượng cổ khi vị vua của thần thoại Trung Hoa là vua Thần Nông dạy cho dân trồng lúa thì ngài hẳn đã phải biết rằng mặt trời là chủ trì mùa màng mà mùa màng thì gắn liền với nông nghiệp. Năm âm lịch với 12 tháng có thể ví như một chiếc đồng hồ chạy nhanh. Mới được 354 ngày nó đã đổi sang năm mới làm mùa màng trật hết cho nên lâu lâu phải vặn chậm nó xuống để nó ăn khớp lại với mùa màng. Do đó mà cứ lâu lâu lại có năm có đến 13 tháng gọi là năm nhuận nhờ đó mà từ mấy ngàn năm nay âm lịch vẫn ăn khớp được với mùa màng.

Muốn tìm ra một chu kì cho những năm nhuận thì ta phải tìm những bội số của 11 bao gồm một số nguyên lần 29 và 30. Thí dụ bội số nhỏ nhất của 11 là 33 nhưng lại là một lần 30 thừa 3 ngày. Một bội số khác là 88, có thể chia thành 2 tháng 29 ngày và 1 tháng 30 ngày, nghĩa là trong 8 năm thì ta sẽ có 3 năm nhuận, 2 năm có tháng nhuận là 29 ngày và 1 năm có tháng nhuận 30 ngày.

Tuy nhiên đó chỉ là những con số căn cứ vào một tháng trung bình có 29,5 ngày để thành ra số ngày trong 12 tháng là 29,5 x 12 = 354 ngày. Nếu lấy mỗi tháng là 29 ngày thì năm đó chỉ có 348 ngày còn nếu lấy một tháng là 30 ngày thì năm đó có 360 ngày. Như vậy một năm âm lịch có thể có môt số ngày trong khoảng từ 348 đến 360 và người ta phải du di theo con trăng để cho ngày cuối cùng hay ngày đầu tiên của tháng là ngày trăng mới.
Do đó người ta đã chọn số ngày trong một năm để cho cứ 5 năm thì có hai năm nhuận do từ câu “nhị niên nhất nhuận, ngũ niên nhị nhuận” nghĩa là trong một chu kì 5 năm thì năm thứ hai và năm thứ năm là những năm nhuận. Tính số ngày theo năm dương lịch thì trong 5 năm ta có (365 x 4 + 366) = 1826 ngày (trong 5 năm thì có 4 năm 365 ngày và một năm nhuận 366 ngày). Trong khi đó, với số ngày trong một năm âm lịch là 354 thì trong 5 năm ta có 1770 ngày, thiếu mất 56 ngày so với 5 năm dương lịch. Nếu chia đôi số ngày thiếu đó thì năm thứ hai và năm thứ năm của chu kì 5 năm phải có: 354+ 28 = 382 ngày, có thể chia một năm nhuận ra làm 8 tháng 29 ngày và 5 tháng 30 ngày (29 x 8 + 30 x 5 = 382) nhưng người ta có thể có những chọn lựa khác nếu những năm khác của chu kì 5 năm cũng tham gia vào việc làm chậm năm âm lịch cho trùng với mùa màng đồng thời những mùa trăng mới bao giờ cũng nhằm vào một ngày cuối tháng hay đầu tháng, vì ta thấy rằng số ngày trong một năm âm lịch có thể là từ 348 đến 360 ngày như đã trình bày ở trên. Đó chỉ là một cách suy đoán dựa vào mấy con số. Muốn chắc chắn thì phải tham khảo những tài liệu chỉ dẫn làm âm lịch.

Mùa màng có được vì trục quay tức là trục Bắc Nam của trái đất không trùng với pháp tuyến (tức là đường thẳng góc) với mặt phẳng của quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời (sau này sẽ gọi tắt là mặt phẳng quỹ đạo của trái đất) mà làm với đường đó một góc bằng 23 độ rưỡi (23,5 độ).

Trái đất của chúng ta có một hình dáng như một quả cầu hơi dẹt ở hai đầu Bắc, Nam. Trục quay đi qua hai cực Bắc Nam là một đường kính của trái đất, và là một trục đối xứng hình học. Trục đó cũng là đối xứng cơ học, vì trọng tâm của trái đất nằm trên trục đó và khối lượng trái đất được phân phối đại khái đồng đều chung quanh trục khiến cho trục đó cũng là một trục quán tính chính (principal axis of inertia) với trị số của mô men quán tính là lớn nhất [so với mômen quán tính của hai trục chính kia, một cố thể (solid) có 3 trục quán tính chính.]

Theo lý thuyết động lực con quay (gyrodynamics) thì với những đặc tính đó, chuyển động quay của trái đất quanh trục đó là ổn định (stable) và nếu không có ngoại lực nào tác động, và đó là trường hợp của trái đất, thì trục đó sẽ có một hướng cố định trong không gian. Sự cố định của hướng trục quay trong không gian làm cho trái đất, trong lúc di chuyển trên quỹ đạo quanh mặt trời, lúc thì Bắc cực gần mặt trời hơn là Nam cực khiến cho Bắc bán cầu nhận được nhiều quang năng từ mặt trời hơn là Nam bán cầu, đó là mùa hè ở Bắc bán cầu; lúc khác thì Nam cực gần mặt trời hơn là Bắc cực và Nam bán cầu nhận được nhiều quang năng hơn là Bắc bán cầu và đó là đến lượt hè về ở Nam bán cầu.

Hình phác họa dưới đây trình bày quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời. Trái đất trên hình đó có hai đường kính, vì đều xuyên qua tâm trái đất, một mang hai chữ S và N là trục Bắc Nam tức là trục quay của trái đất, đường kia có chữ P, được vẽ bằng những nét chấm chấm là đường pháp tuyền, tức là đường thẳng thẳng góc với mặt phẳng của quỹ đạo của trái đất. Hai đường đó làm với nhau một góc 23,5 độ và hướng của trục quay SN là không đổi trong không gian như đã trình bày ở trên.
< p>
Hình trích trong Encyclopedia Britannica CD-ROM,Standard Edition, 2006

Bây giờ ta hãy coi 2 vị trí đặc biệt của trái đất bên trái và bên phải của hình đó, cách nhau một nửa vòng quỹ đạo của trái đất. Ở những vị trí đó, trục Bắc Nam và đường pháp tuyến với mặt phẳng quỹ đạo của trái đất cùng nằm trong một mặt phẳng đi qua tâm điểm của quỹ đạo của trái đất, cũng kể như là tâm điểm mặt trời.

Ở vị trí bên trái thì Bắc cực nghiêng gần mặt trời nhất, trùng với ngày 21 hoặc 22 tháng 6 dương lịch. Dương lịch gọi ngày đó là ngày đứng mùa hè (summer solstice) vì từ trái đất nhìn lên mặt trời, ta thấy mặt trời hầu như đứng lặng ở vị trí cao nhất của nó ở phía Bắc đường xích đạo trước khi di chuyển xuống thấp, làm cho ngày hôm đó mặt trời ở bên trên chân trời lâu nhất tức là ngày dài nhất trong năm, nếu là ở Bắc bán cầu. Âm lịch gọi ngày đó là ngày Hạ chí.

Nửa năm sau, khi trái đất di chuyển sang đến hình lên tay phải thì tình thế đảo ngược lại: Nam cực nghiêng gần mặt trời nhất, trùng với ngày 22 hoặc 23 tháng 12 dương lịch. Ở Bắc bán cầu thì dương lịch gọi ngày đó là ngày đứng mùa đông (winter solstice) vì từ trái đất nhìn lên mặt trời, ta thấy mặt trời hầu như đứng lặng ở vị trí thấp nhất ở phía Nam đường xích đạo trước khi di chuyển lên cao gần đường xích đạo hơn làm cho ngày hôm đó mặt trời ở bên dưới chân trời lâu nhất trong năm. Nếu là ở Bắc bán cầu thì đêm đó là đêm dài nhất. Âm lịch gọi ngày đó là ngày Đông chí.

Ở giữa hai vị trí trái phải, tức là cách hai vị trí đó 90 độ, như ta thấy một vị trí của trái đất ở mặt tiền (front) của hình trên, [còn vị trí kia ở mặt hậu (back) thì không được trình bầy)] thì mặt trời ở ngay trên đường xích đạo. Nếu hướng di chuyển của trái đất trên quỹ đạo của nó là ngược chiều kim đồng hồ, như trên hình là từ trái sang phải qua mặt tiền thì nhìn từ trái đất ta thấy mặt trời đang trên đường di chuyển từ phía Bắc xuống phía Nam đường xích đạo, mùa hè đã hết đối với Bắc bán cầu. Cả dương lịch lẫn âm lịch đều gọi vị trí trên đường xích đạo đó là điểm thu phân (autumnal equinox). Ngày hôm đó là 22 hoặc 23 tháng 9 dương lịch. Ở vị trí đó thì thời gian mặt trời ở bên trên và bên đưới đường chân trời là bằng nhau, nghĩa là ngày đêm dài bằng nhau (equinox là gốc La tinh, equi là bằng, nox là đêm, túc là đêm dài bằng ngày).

Xuyên tâm đối với vị trí thu phân, về phía sau (back) là ngày xuân phân. Ngày hôm đó mặt trời cũng ở ngay trên đường xích đạo nhưng di chuyển từ phía Nam lên phía Bắc đường xích đạo, mùa đông đã hết đối với Bắc bán cầu. Cả dương lịch lẫn âm lịch đều gọi vị trí đó là điểm xuân phân (vernal equinox) vào ngày 20 hoặc 21 tháng 3 dương lịch . Cũng như ngày thu phân, ngày hôm đó đêm ngày dài bằng nhau.

Ở những ngày thu phân và xuân phân, trục Bắc Nam SN và pháp tuyến P với mặt phẳng quỹ đạo trái đất đều nằm trên mặt phẳng thẳng góc với quỹ đạo trái đất và tiếp xúc với quỹ đạo đó. Nếu ta vẽ đường kính của quỹ đạo trái đất qua những điểm thu phân và xuân phân thì đường kính đó thẳng góc với mặt phẳng pháp tuyến và tiếp xúc nói trên.
Dương lịch từ khi được điều chỉnh lại từ lịch Julian sang lịch Gregory thì ăn rất sát với mùa màng và mùa màng được đánh dấu bằng 4 ngày tiêu biểu của năm. Như đã trình bầy ở trên, đó là (ngày theo dương lịch):

-22 hoặc 23 tháng 12 : Đông chí hay Ngày Đứng mùa Đông,
-20 hoặc 21 tháng 3: Xuân phân,
-21 hoặc 22 tháng 6: Hạ chí hay Ngày Đứng mùa Hè,
-22 hoặc 23 tháng 9: Thu phân.

Sở dĩ có sự lấp lửng giữa hai ngày như trên là vì dương lịch cũng như âm lịch đều không có một số đúng ngày trong một tháng hay trong một năm mà còn kèm theo một số lẻ ngày. Tháng âm lịch thì có khoảng 29,5 ngày cho nên mới có tháng đủ tháng thiếu. Năm dương lịch thì có khoảng 365,25 ngày cho nên cứ 4 năm lại có một năm nhuận, và đó là những năm chia đúng cho 4, như những năm bầu Tổng thống của Hoa kỳ. Những năm nhuận dương lịch có tháng 2 gồm có 29 ngày để cho ngày tháng ăn khớp lại với mùa màng. Do đó mà có sự lấp lửng giữa một trong hai ngày của những ngày mốc đánh dấu mùa màng của một năm.

Nhưng vẫn còn có vấn đề vì một năm dương lịch, chính xác là gồm có 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây chứ không hẳn là 365 ngày 6 giờ 0 phút 0 giâylàm cho dương lịch như là một cái đồng hồ chạy chậm tuy sai biệt rất là nhỏ, chỉ có một ngày trong một thế kỷ, vì sau khi trái đất đã đi hết một vòng quanh quỹ đạo của nó và chuyển sang quỹ đạo mới thì dương lịch vẫn còn lẽo đẽo ở những giây phút cuối cùng của tháng 12.

Để điều chỉnh lại, những năm tận cùng bằng 2 con số 0, gọi là những năm thế kỷ (century year) , chẳng hạn 1900, 2000, 2100...theo quy định cũ (lich Julian) đều là những năm nhuận vì những số tận cùng bằng 2 con số 0 đều chia đúng cho 4, thì lịch Gregory (do giáo hoàng Gregory 13 công bố vào năm 1582) quy định lại là chỉ những năm thế kỷ chia đúng cho 400 mới là năm nhuận. Chẳng hạn 1900 không phải là năm nhuận, 2000 là năm nhuận, tháng 2 có 29 ngày. Thêm vào đó nữa, những thiên niên kỉ chia đúng cho 4000 không phải là những năm nhuận. Với lịch Gregorian thì ngày tháng rất đồng bộ với mùa màng, chỉ sai chệch không đến 1 ngày trong hai chục ngàn (20.000) năm .

Cũng nên nói thêm là lịch Julian được áp dụng từ năm 8 sau công nguyên và lịch này mỗi năm dài hơn năm mặt trời 11 phút 14 giây, như là một cái đồng hồ chạy chậm như đã trình bày ở trên. Qua hàng chục thế kỷ dùng lich Julian, những phút giây chậm đó tích lũy lên đến 14 ngày vào thời giáo hoàng Gregory.

Vì Công giáo có hai lễ quan trọng nhất là Giáng Sinh, căn cứ vào lịch và năm nào cũng là ngày 25 tháng 12 và Phục Sinh, căn cứ vào mùa. Công giáo La Mã lấy ngày lễ Phục Sinh là ngảy Chủ nhật tiếp theo ngay ngày Trăng Tròn (Full Moon), ngày Trăng Tròn đó là vào đúng hay ngay sau ngày Xuân Phân. Nếu ngày Trăng Tròn đó cũng là ngày chủ nhật thì lễ Phục Sinh sẽ là vào chủ nhật kế tiếp ngay đó. Nếu cứ theo lịch Julian thì ngày lễ Phục Sinh sẽ tiếp tục lùi dần và sẽ tới lúc đụng vào ngày Giáng Sinh mất.

Do đó giáo hoàng Gregory 13 đã thay đổi cách làm lịch qua một giáo lệnh (Bull) có tên là “Mối Quan Tâm Nặng Nhất” (In the gravest concern, “Inter gravissimas”) được công bố vào ngày 24 tháng 2 năm 1582. Giáo lệnh đó thiết lập những năm nhuận như đã trình bày ở trên. Ngoài ra, giáo lệnh quyết định lấy ngày xuân phân của năm 1582 là vào ngày 21 tháng 3, trùng với ngày xuân phân của công đồng Nicaea năm 325 sau công nguyên. Theo lịch Julian thì đó là ngày 11 tháng 3, nghĩa là cái đồng hồ dương lịch đã được giáo lệnh đó vặn nhanh lên 10 ngày.

Sự thay đổi lịch này được các nhà thiên văn học thời đó như Johannes Kepler, Tycho Brahe và các chức sắc Công giáo hoan nghênh. Nhưng nhiều giáo phái Tin Lành cho rằng đó là chống Chúa Kitô (Antichrist) và không chịu theo. Tại Nga thì lịch mới bị sự phản đối của giáo hội Chính Thống, và phải cho đến năm 1918, sau khi thành lập Liên Bang Xô Viết, mới chấp nhận lịch Gregory. Vì thế mà cuộc cách mạng lật đổ Nga Hoàng là vào ngày 07 tháng 11 theo lịch Gregory nhưng là ngày 25 tháng 10 lịch Julian cho nên Liên Bang Xô Viết trước khi tan rã, vẫn gọi cuộc chính biến này là Cách Mạng Tháng Mười vì khi nó xảy ra thì Nga chưa dùng lịch Gregory. Nước cuối cùng ở Âu châu đổi sang lịch Gregory là Hy Lạp, vào năm 1923. Hy lạp vốn là thánh địa của Chính Thống Giáo.

Tóm lại thì tuần trăng cũng như mùa màng đều không cho một gợi ý nào để biết ngày Tết, theo đúng những quy định của cách thiết lập âm lịch từ thời Thượng cổ hay Trung cổ, là ngày 17 hay 18.

Còn lại một nhân tố khác là múi giờ. Trái đất được chia thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau 15 độ kinh tuyến. Theo thỏa thuận quốc tế thì kinh tuyến gốc là kinh tuyến đi qua Greenwich, một ngoại ô của Luân đôn thuộc nước Anh. Ở 7,5 độ hai bên kinh tuyến đó là múi giờ Z. Đi về phía Đông của mùi giờ Z tức là đi về phía Pháp, Đức, Áo,..thì ta có những múi giờ A, B, C,...và mỗi lần qua phía đông như vậy thì múi giờ tăng lên 1, 2, 3,... giờ so với giờ ở Greenwich vì mặt trời di chuyển từ Đông sang Tây. Chẳng hạn khi ở Greenwich là nửa đêm (0 giơ) thì chính lúc đó là 1 giờ sáng ở múi giờ A, 2 giờ sáng ở múi giờ B ... vì mặt trời đã qua đó trước đây 1, 2 .. . tiếng đồng hồ rồi. Việt Nam ở múi giờ G, nhanh hơn giờ Greenwich 7 tiếng đồng hồ. Trung quốc ở vào múi giờ H, nhanh hơn giờ Greenwich 8 tiếng đồng hồ và như vậy giờ Trung quốc nhanh hơn giờ Việt Nam 1 tiếng. Do đó nếu có khắc biệt về ngày Tết thì Trung quốc phải nhanh hơn Việt Nam chứ. Còn nếu Trung quốc mà dở hơi, cũng bắt đầu ngày âm lịch là ngay sau 0 giờ, trễ hơn đầu giờ tý một tiếng đồng hồ thì 0 giờ ở Trung quốc trùng với 23 giờ ở Việt Nam nếu quy chiếu về múi giờ và như vậy là cùng bắt đầu cho một ngày mới.

Vậy tôi xin tạm kết luận bài này ở đây và cho rằng cái quyết định của Việt Nam chọn ngày mồng một Tết năm Đinh Hợi là ngày 17 tháng 2 năm 2007 thay vì là ngày hôm sau 18 tháng 2 như quy định bởi lịch tàu là không có cơ sở kỹ thuật, căn cứ vào những quan sát thiên văn cũng như là lịch sử thiết lập âm lịch. Có thể chỉ là một quyết định chính trị để phô trương khả năng trí tuệ của giới lãnh đạo Việt Nam vào lúc này mà thôi.
Nguyễn Tiến Ích

----------------------------------


Mồng Một Tết: Ngày 17 hay 18?
Trả lời ông Trần Gia Phụng
Đoan Hùng

“… Minh Mạng là một ông vua có tinh thần khoa học, tự ông nghiên cứu thiên văn, tự ông đo đạc “độ cao bắc cực” (tương đương với vĩ tuyến) và… đo sai. Và vua cũng không ngần ngại thú thật là mình sai!…”

Trước nhất tôi xin cảm ơn ông Trần Gia Phụng đã phản hồi bài viết của tôi. Tôi xin phép trả lời chất vấn của ông. Trước nhất về vấn đề “sơ” và “chính”.

1. “Sơ” và “chính”

Thứ nhất, thiết tưởng khi ông “xét lại” giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì chính ông phải đưa ra tài liệu chứng minh là giáo sư “có vấn đề” mới phải chứ! Đằng này ông chỉ bằng “suy luận” thế thôi, không có “chứng”!

Thứ hai, ông viết “Nếu dựa vào lối chia giờ trong ngày theo âm lịch, một ngày chia thành 12 giờ, mà nói theo giáo sư Hãn, “có hai nửa giờ tí không liên tục: một nửa sau [chính tí] đứng vào đầu ngày, một nửa trước [sơ tí] ở cuối ... “, thì từ xưa đến nay, chưa có sử sách nào ghi theo cách nầy cả”.

Tôi sợ ông hơi chủ quan khi viết “chưa có sử sách nào”, bởi chẳng lẽ ông đọc hết sách? Ông viết “Xin ông Đoan Hùng vui lòng cho biết có sách nào cũ của Việt hay Hoa trước khi người Tây phương đến, có nói đến giờ số học không”.

Nhưng ông đã hỏi thế thì tôi cũng xin thưa là .. có đấy! Điều ngạc nhiên đối với tôi là.. chính ông cũng có! Chẳng lẽ ông không biết? Nó nằm ngay trong bài “Lịch và Lịch Việt Nam” [2] mà ông “xét”!

Trong bài này giáo sư Hoàng Xuân Hãn có cẩn thận sao lại lịch Khâm Thụ triều Lê, lịch Hiệp Kỷ triều Nguyễn, Lịch Thì Hiến thờiThanh..
< p>
một trang Lịch Khâm Thụ

Bản lịch Khâm Thụ năm 1758 [8] viết về hai khí Mang Chủng, Hạ Chí xảy ra trong tháng 5 như sau:

“五月小丙戌二日丁亥寅初一刻芒種五月節 十七日壬寅辰正二刻夏至五月中”

Phiên âm: Ngũ nguyệt, tiểu, bính tuất, nhị nhật đinh hợi dần sơ nhất khắc mang chủng ngũ nguyệt, tiết; Thập thất nhật nhâm dần thìn chính nhị khắc hạ chí ngũ nguyệt, trung.

Nghĩa là: Tháng năm, thiếu, bính tuất, tiết khí Mang Chủng xảy ra vào ngày mồng 2, đinh hợi vào "DẦN SƠ NHẤT KHẮC" ( 3:15); Trung khí Hạ Chí xảy ra vào ngày mười bảy, nhâm dần, vào lúc "THÌN CHÍNH NHỊ KHẮC" (8:30).

Tôi không hiểu ông TGP có chịu "công nhận" rằng: "dần sơ nhất khắc" có là "giờ số học" hay không? Ông cho rằng “…đầu giờ là sơ, và sơ tí chỉ có nghĩa là đầu giờ tí chứ không nhất thiết là nửa đầu giờ tí.”

Trong tài liệu trên, rõ ràng là người ta chia hai giờ. Nửa là... NỬA! là ½ ! chứ không chỉ là .. sơ sơ vậy thôi! Nếu không là "nửa" thì tại sao người ta viết "thìn chính nhị khắc" mà không viết "thìn lục khắc"? Điểm "Chính" như thế rõ ràng là "chia hai" giờ "lớn" mà người ta gọi là "thời thần" (時辰). Một thời thần có hai "tiểu thời" (小時).

Ông quả quyết: “Ví dụ: từ 11 giờ đêm đến 12 giờ đêm là sơ tí, vậy từ 11 giờ đêm đến 12 giờ đêm ngày mồng 1 là sơ tí của ngày nào? Nếu là của ngày trước, tức cuối ngày mồng 1, thì vô lý vì sơ sao lại cuối ngày? Sử sách chưa bao giờ viết rằng giờ Tí đầu ngày, hay giờ Tí cuối ngày, bởi vì như thế thì người ta sửa lại cách chia và đặt tên giờ cho dễ gọi, chứ không ai gọi giờ Tí đầu ngày và giờ Tí cuối ngày cho rắc rối”.

Tiếc thay lịch lại.. rắc rối hơn ông tưởng! Trong lịch Hiệp Kỷ [9] về năm 1994 viết các "khí" như sau:
< p>
một trang Lịch Hiệp Kỷ

“二月小十一日戊辰夜子初三刻五分驚蟄二月節 二十一日甲申子正三刻九分春分二月中”

Phiên âm: Nhị nguyệt tiểu, thập nhất nhật mậu thìn DẠ TÍ SƠ tam khắc ngũ phân kinh trập nhị nguyệt tiết; nhị thập thất nhật giáp thân TÍ CHÍNH tam khắc cửu phân xuân phân nhị nguyệt trung.

Nghĩa là: Tháng hai, thiếu, Tiết khí Kinh Trập xảy ra vào ĐÊM của ngày mười bảy mậu thìn, giờ TÍ SƠ 3 khắc 5 phân; Trung khí Xuân Phân xảy ra vào ngày hai mươi bảy giáp thân, giờ TÍ CHÍNH 3 khắc 9 phân.

Ở giờ "Tí sơ" người ta thêm chữ DẠ còn "Tí chính" thì KHÔNG! Tại sao "rắc rối" thế nhỉ? Đó chính là: Tí sơ thuộc ĐÊM ngày đó. Nó không hề thuộc ngày hôm sau như ông Trần Gia Phụng hiểu: “…chứ không ai gọi giờ Tí đầu ngày và giờ Tí cuối ngày cho rắc rối”. Nếu Sơ hay Chính vẫn là “Tí đầu ngày” thì người ta hà tất phải thêm chữ DẠ. Nếu thêm chỉ vì cho rõ nghĩa mà thôi thì cả hai cũng phải thêm chữ DẠ mới phải.

Để tránh cho ông Trần Gia Phụng thắc mắc và “hỏi lại”, tôi xin tự “phản biện”! Có thể ông cho rằng lịch đời Nguyễn là “người Tây Phương” đã đến rồi! Thế thì xin ông kiểm lại lịch Khâm Thụ thời Lê về năm 1758:

Tháng bảy: “thất nguyệt.. tiểu, tứ nhật mậu tí TÍ CHÍNH sơ khắc Lập Xuân thất nguyệt tiết”.

Tháng mười một: “Thập nhất nguyệt.. tiểu.. nhị thập nhất nhật giáp thìn DẠ TÍ SƠ nhất khắc Đông Chí thập nhất nguyệt trung”.

Từ Lê sang Nguyễn, cách ghi DẠ TÍ SƠ và TÍ CHÍNH không đổi!

Dĩ nhiên ông có thể cho rằng ở thời điểm 1758 thì người Tây Phương cũng đã đến rồi. Xin trả lời ngay là theo kết quả nghiên cứu của GS HXH thì lịch pháp thời Lê dùng trong lịch Khâm Thụ cũng là lịch pháp Đại Thống triều Minh, và lịch này cũng vẫn cùng một lịch pháp với lịch Thụ Thời triều Nguyên. Và dĩ nhiên là thời Nguyên người Tây Phương cũng có thể.. đến rồi! Thế nhưng.. tôi xin phép dành việc tra cứu sử cho ông, việc chuyên môn của một sử gia. Sử Trung Hoa chép về lịch khá rõ, có thể đọc các “lịch thư” và “nhị thập tứ sử” cũng có trên mạng.

2. Ngày bắt đầu giờ Tí (23:00)?

Thật ra ngay trong thí dụ trên về lịch Hiệp Kỷ, Khâm Thụ ta có thể thấy ngay rằng ngày bắt đầu bằng nửa đêm “chính tí”. Thế nhưng vì ông đã hỏi thì tôi xin cung cấp thêm vài tài liệu, mong ông tham khảo. Ông có thể (1) đọc sách về lịch hay (2) tự kiểm nghiệm về “lý thuyết” của mình.

2.1 Tài liệu tham khảo:

Nếu không có sách về lịch (tôi sợ rằng thế, vì ngoại trừ tác phẩm của GS HXH, bài viết của ông tham khảo chỉ có sách tử vi, bói toán) thì ông có thể xem trong:

2.1.1 website anh ngữ như Calendars, trong đó L. E. Doggett viết: “Days are measured from midnight to midnight. The first day of a calendar month is the day on which the astronomical New Moon (i.e., conjunction) is calculated to occur”.

2.2.2 Các bài viết của giáo sư Aslaksen và học trò của ông tại Đại Học Singapore về lịch pháp.

2.2.3 Trong bộ Đại Nam Hội Điển Sự Lệ có quyển 259 và 260 viết về Khâm Thiên Giám là cơ quan chuyên trách về lịch và khí tượng triều Nguyễn. Nếu từng đọc quyển đó thì ông sẽ thấy người ta dùng “sơ” và “chính” để chỉ thời gian mặt trời mọc, lặn v.v một cách chính xác như: “Tiết Hạ Chí mặt trời mọc lúc Mão Chính 2 khắc 1 phân, lặn lúc Dậu Sơ 1 khắc 14 phân”.

2.2 Tự kiểm nghiệm

Thực ra quan niệm “ngày bắt đầu giờ tí (23.00)” tôi chỉ biết qua các sách bói toán. Tôi chưa thấy một tài liệu nào về lịch pháp viết như thế! Tất nhiên tôi không dám quả quyết là “không sách nào”! Chưa không có nghĩa là... không! Vậy xin ông chỉ ra cho một tài liệu nào như thế, để tôi học hỏi. Dĩ nhiên phải là một tài liệu “lịch pháp”!

Tạm thời tôi phải xem đó là một sự suy luận chủ quan của ông. Tinh thần khoa học là: nếu ta đưa ra một lý thuyết nào đó thì phải kiểm nghiệm. Trong trường hợp này sự kiểm nghiệm khá đơn giản. Điều này tôi đã viết trong bài trước, và ông Lê Bắc cũng đã đề cập. Xin phiền ông kiểm chứng lại: nếu dùng “lý thuyết” của ông và so sánh với Lịch thì nó... sai hoàn toàn! Cụ thể là xin ông trả lời cho vì lý do nào mà ngày 1 tết năm 1997 là ngày 7/2/1997 theo lịch Tàu, trong khi đó theo lý thuyết của ông nó phải là ngày 8/2! Ông Lê Bắc đưa ra thí dụ cho 6 ngày. Tất cả đều sai! Xin ông giải thích giùm cho!

3. Tết năm 1985 “hại nông dân”?

Một điều mà tôi không thể hiểu nổi là khi bàn về lịch mà ông không nắm được nguyên tắc rằng tính “thời tiết” trong Nông Lịch được ghi bằng “Khí” chứ không phải “ngày/tháng”!
Không hiểu được Nông Lịch đã là Âm-Dương-Lịch ngay từ đầu, và người nông dân canh tác dựa trên những thời điểm “khí” như đông chí, lập xuân.. được tính toán dựa trên sự chuyển động của trái đất quanh mặt trời (dương) chứ không dựa trên ngày, tháng (trăng/âm) như dân thành phố hiểu lầm!

Theo lịch “cũ” mà ông cho là đúng thì vào năm 2001 tết “cũ” là 24/1/2001 và năm 1966 là 21/1/1966. Sớm y hệt như năm tết 1985 theo lịch “mới”!

Xin ông giải thích cho tôi hiểu những vấn đề sau đây:

-Như thế ở tết năm 1966 và 2001 theo lịch cũ, cây cao su đã rụng lá chưa?

-Nếu ông trả lời là “chưa rụng” (như năm 1985) thì xin ông cho biết lịch cũ hợp “thời tiết” hơn lịch mới ở chỗ nào? Và người nông dân có bị lịch cũ “hại” hay không?

-Nếu lá “đã rụng” thì xin ông cho biết vì lý do nào?

Có cái gì “thần bí” trong lịch cũ khiến cho dù tết tới sớm so với thời tiết y hệt như năm 1985 mà lá nó vẫn cứ rụng!

Giáo sư Alaksen, đã thống kê ngày tết từ 1645 đến 2644. Nó phân bổ khá đều giữa 21/1 đến 21/2! Bởi thế có năm tết đến ta có hoa đào nở, có năm không!

Nếu căn cứ vào ngày tết mà nói chuyện khí hậu, và tết theo lịch cũ “hợp khí hậu” cho dù nó có du di trong vòng một tháng đối với dương lịch thì.. tết quả thực là một ngày.. thần kỳ!
Và kỳ diệu thay, không hiểu vì lý do thần bí nào đó nó chỉ “linh” khi lấy Bắc Kinh làm chuẩn, hay lấy giờ sơ tí làm mốc đầu ngày!

4. Râu ông nọ cắm cầm bà kia

Ông Trần Gia Phụng phàn nàn rằng: “Tôi chỉ nhấn mạnh một điểm mà những người phê bình bài viết của tôi thường tránh né: Đó là khi viết về âm lịch, nói đến âm lịch, thì xin hãy theo hệ thống năm, tháng ngày, giờ âm lịch, chứ đừng lấy một chi tiết dương lịch gán vào âm lịch, ví dụ lấy giờ dương lịch, gán vào ngày âm lịch, theo kiểu lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia.”.

Thế nhưng trong cùng bài, cách chỉ dăm hàng ông lại đề ra cái thuyết mới để “cắm râu”: “Vậy thứ nhất, đây là giờ tí, là giờ bắt đầu ngày. Thứ hai, 23 giờ 15 phút 23 giây ngày 17-2-2007 mới chỉ là BẮT ĐẦU ngày Mồng Một. Ngày Mồng Một kéo dài từ 23 giờ 15 phút 23 giây ngày 17-2-2007 đến 23 giờ 15 phút 23 giây ngày 18-2-2007 mới CHẤM DỨT. Như vậy có nghĩa là, ngày Mồng Một Tết năm nay rơi vào ngày 17-2-2007 chỉ có 44 phút 37 giây, xem như 45 phút, trong khi rơi vào ngày 18-2-2007 khỏang 23 giờ 15 phút. Vậy trên tinh thần khoa học, chúng ta nên sắp ngày Mồng Một Tết năm nay, tương đương với ngày nào bên dương lịch?”.

Tôi thật chẳng hiểu ông muốn gì!

Vấn đề không phải là “nên sắp… tương đương với ngày nào”! Dương và Nông Lịch đều có những quy tắc riêng của nó. Vấn đề là phải tính đúng Nông Lịch với những quy tắc ấy! Tính xong rồi mới xét đến chuyện “tương đương”. Và trong những quy tắc đó không hề có những quy tắc “ngày bắt đầu giờ Tí” như ông đặt ra một cách chủ quan!

Có lẽ sự góp ý đến đây cũng là đủ, tôi mong ông nghiên cứu kỹ lại Lịch Pháp một cách kỹ lưỡng, để nắm được những nguyên tắc cốt yếu của Nông Lịch thông qua các tài liệu chính xác và khoa học, bởi nếu không thì chỉ là sự suy luận chủ quan. Mặt khác, ông hay viết kiểu “trước khi người Tây Phương đến” hay “ từ khi có dương lịch”.. điều này có vẻ như ông không nắm vững về sự phát triển của Thiên Văn Học, Lịch Học Á Đông qua các thời đại.
Tác phẩm của giáo sư Hoàng Xuân Hãn mà ông có, và “xét lại” là một tác phẩm “bậc thầy” và đầy ắp tài liệu, kiến thức về lịch toán, thiên văn cũng như về lịch sử lịch. Tác phẩm này cũng được viết một cách rất “sư phạm”. Tôi nghĩ nghiên cứu nó một cách nghiêm túc sẽ giúp ích đưọc chúng ta rất nhiều. Thầy Hoàng Xuân Hãn đã bày ra tài liệu phong phú trước mắt ta. Không thấy, không dùng thì.. đành chịu chứ biết sao!

Chi tiết về Thiên Văn Học, Lịch sử khoa học Trung Hoa cũng được nghiên cứu tường tận bởi Joseph Needham, một tác phẩm [3] nên đọc vì qua nó chúng ta mới hiểu được những phương pháp quan trắc và những thuật toán dùng trong thiên văn, tính toán lịch. Không có những điều cơ bản đó, rất dễ sa vào suy luận chủ quan. Một sự ta cho rằng “vô lý!” có khi đơn giản là do ta chưa hiểu.

Vua Minh Mạng và Lịch

Trước khi chấm dứt bài này, tôi xin bàn về vấn đề: có phải là chỉ từ 1967 Việt Nam mới dùng kinh tuyến mình mà tính toán lịch hay không?

Thời Nguyễn Việt Nam dùng lịch Hiệp Kỷ, sau 1945 không còn cơ quan “Khâm Thiên Giám” nên thực chất cái người ta gọi “lịch ta” không có gì khác hơn là “lịch tàu”. Đơn giản lấy của Tàu rồi đem in lại!

Trong Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (ĐNHĐSL), quyển về “Khâm Thiên Giám” có viết về ý kiến của vua Minh Mạng về điểm “kinh tuyến” như sau:

“Cho nên phép nhà Thanh thì lấy Yên Kinh làm chính tuyến. Phép Tây Dương thì lấy Đại Tây làm chính tuyến đều tự nhận làm chính tuyến, sao đủ làm bằng. Nhưng theo phép tính nhà Thanh, tính từ Yên Kinh là độ đông kinh tây kinh thứ mấy, đối chiếu với phép Tây Dương về độ đông kinh, tây kinh thứ mấy, cũng có thể tính ra được. Nay cho lấy giữa kinh thành triều ta làm độ thứ nhất chính tuyến, thì theo phép Tây Dương tức là đường đông kinh độ 105. Bên tả kinh thành làm độ thứ hai đường tây kinh, tức là độ đông kinh 104 phép Tây Dương. Bên hữu kinh thành làm độ thứ hai đường đông kinh, tức là độ đông kinh 106 phép tây dương. Cứ theo đấy mà tính suy ra cũng vẫn hợp nhau cả. Vậy cho viện cơ mật đem địa đồ triều ta theo đấy mà biên rõ, để biết độ số. Về địa phương các tỉnh cũng theo đấy mà tính thì biết độ số chân chính. Khi làm lịch cũng theo đấy mà làm. Lịch mậu tuất năm Minh Mạng thứ 10, trót đã làm xong, không cần thay đổi cho tốn công. Để đến lịch kỷ hợi năm Minh Mạng thứ 20, theo độ số này mà đính chính cũng được”.

Như thế, việc lấy Kinh Tuyến nước ta (Huế, kinh độ 105.56 làm chuẩn) đã có từ thời Minh Mạng. Quy định năm 1967 cũng theo chiều hướng đó, điều khác biệt là kinh tuyến chuẩn là kinh tuyến của múi giờ thứ GMT+7 (105 độ). Đường kinh tuyến này ở gần chính giữa Việt Nam, không qua Huế, Hà Nội hay Sài Gòn mà qua ở vùng tỉnh Rạch Giá, Châu Đốc..

Vua Minh Mạng là một ông vua có tinh thần khoa học, tự ông nghiên cứu thiên văn, tự ông đo đạc “độ cao bắc cực” (tương đương với vĩ tuyến) và… đo sai. Và vua cũng không ngần ngại thú thật là mình sai! ĐNHĐSL chép:

“Trước vì Khâm thiên giám noi theo phép cũ, về độ cao bắc cực ở kinh chưa được đích xác, Trẫm bèn nhân khi nhàn rỗi xét nghiệm cải chính. Không ngờ cái thước đo trời lại là đồ cũ, chưa từng điều chỉnh, còn có sai lầm. Cho nên trước nói rằng: ở kinh bắc cực độ cao trên mặt đất là 18 độ 13 phân, mà gần đây trắc nghiệm kỹ lưỡng thì chỉ có 16 độ 22 phân 30 chiếu. Mới biết phép trước đã sai, lời nói trước của Trẫm cũng sai, sao đủ đính chính. Xét ra việc học thiên văn xưa nay vẫn cho là rất khó, mà nước ta họ học lẫn nhau vốn không tinh lắm. Hơn nữa Trẫm lúc bé chưa học thiên văn, vài năm nay lúc rỗi mới xem đến phép ấy, hơi biết một vài điều thôi, cho nên lúc trước đính chính chưa đúng, thực đáng xấu hổ. Nay cho Khâm thiên giám khi làm lịch, lấy độ cao Bắc cực trên mặt đất ở kinh là 16 độ 22 phân 30 diếu làm đích”. ( vĩ tuyến Huế ngày nay là 16 độ 28’ ).

Quả thật là một ông vua có tinh thần khoa học, thực sự cầu thị. Sống đúng với câu: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri!”

San Jose, 18/2/2007
Đoan Hùng

Tài liệu Tham khảo:

[1] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Yên Hồ, Tập I, NXB Giáo Dục, 1998
[2] Hoàng Xuân Hãn, Lịch và lịch Việt Nam, trong [1] trang 851.
[3] Joseph Needham, Science and Civilisation in China, Volume 3: Mathematics and the Sciences of the Heavens and the Earth. Cambridge University Press, 1959.
[4] Nội các triều Nguyễn, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, NXB Thuận Hoá, 1992.
[5] Trung Quốc cổ đại lịch pháp
[6] Calendars
[7] Trang mạng của Prof. Alaksen, Singapore
[8] Lịch Khâm Thụ
[9] Lịch Hiệp Kỷ
 
Đăng nhận xét



<< Home

This page is powered by Blogger. Isn't yours?