7/3/07
Comments:
<< Home
DCVOnline: Sự kiện nhà sư Thích Nhất Hạnh về nước lập Trai Đàn Giải Oan trong tháng 3 và tháng 4 năm 2007 đã được nhiều tác giả người Việt bày tỏ nhận định và quan điểm qua nhiều bài viết trên DCVOnline và được đóng góp ý kiến của đông đảo bạn đọc từ một tháng nay. Biểu thị sự ủng hộ có, không ủng hộ có hoặc đặt mục đích chuyến trở về của nhà sư Thích Nhất Hạnh dưới những góc độ thế giới quan và nhìn nhận khác nhau.
DCVOnline giới thiệu với bạn đọc bài viết dưới đây của ký giả Justin Huggle, báo The Independent, đăng trên Portal Onet.pl, ngày 7 tháng 3 năm 2007, để chúng ta có thêm một cách nhìn khác, khách quan từ phía báo chí nước ngoài.
‘‘The Independent” là một nhật báo lớn, khuynh hướng cấp tiến (liberal) của Anh quốc, với 230 ngàn ấn bản/ngày. Bài do Lưu Vũ dịch từ tiếng Ba Lan.
Thiền sư Nhất Hạnh sẽ cầu nguyện cho những người bị chết trong cuộc chiến đã kết thúc cách đây 30 năm. Nỗi hoài niệm về nó vẫn day dứt người dân của đất nước này.
Nhà sư, tín đồ Phật giáo 80 tuổi này sống ở nước ngoài từ bốn mươi năm nay. Bất kỳ nơi đâu, khi ông xuất hiện đều có những đám đông chào đón. Nhà sư Nhất Hạnh là người Việt Nam nổi tiếng nhất trong việc bảo vệ hoà bình và là nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo có ảnh hưởng nhất trên thế giới, sau Dalailama.
Giống như Dalailama, nhà sư đã trải qua nửa cuộc đời tha hương. Những cuốn sách của ông được dư luận xã hội tiếp nhận hồ hởi, nhà sư cũng được tiếp đón chân tình ở châu Âu và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tác phẩm của ông bị cấm xuất bản ngay tại nước của mình, trước hết là bởi chính phủ miền Nam ủng hộ Mỹ và bởi chế độ cộng sản chiến thắng sau đó.
Chính nhà sư Thích Nhất Hạnh đã yêu cầu Martin Luther King tuyên bố chống lại chiến tranh Việt Nam trước công luận. Nhà sư cũng là người bạn của Thích Quảng Đức, một tín đồ Phật giáo đã tự thiêu trong năm 1963 nhằm đánh thức thế giới chống lại sự đàn áp Phật giáo Việt Nam.
Nhất Hạnh trở về nước không phải để đứng đầu các cuộc phản đối chính quyền. Mục đích của ông – như tu viện tại Pháp, nơi nhà sư đang sống, khẳng định – là hoà giải. Những sự kiện trung tâm của chuyến viếng thăm hai tháng là những buổi lễ cầu nguyện lớn đối với nạn nhân chiến tranh. Những người ủng hộ ý tưởng của ông đã kêu gọi sự tham dự của các tôn giáo khác, thậm chí họ mời cả những người vô thần cộng sản diễn thuyết những đoạn trích ưa thích từ di sản của Marx.
Trong năm 2005, lần đầu tiên người ta cho phép nhà sư Nhất Hạnh về Việt Nam, kể từ lúc máy bay hạ cánh, ông được hâm mộ như một ngôi sao nhạc rock. Dân chúng bao quanh để sờ vào bờ vai chiếc áo choàng của ông. Thế nhưng chính phủ cộng sản không cho phép ông được ở lâu hơn. Người ta chỉ đồng ý cho ông ba tháng với những cuộc gặp gỡ tại các chùa nhỏ, không được tụ tập quần chúng. Nhưng giờ thì chính quyền bước dài hơn một tý và đồng ý để ông chủ trì các buổi lễ cầu nguyện với đông đảo quần chúng.
- Sau cuộc viếng thăm đầu tiên thì sự cởi mở rõ rệt hơn. Tôi không dám nói chắc một trăm phần trăm, nhưng đã có một tiến bộ lớn – tu sĩ Phap Hay của Plum Village, tu viện do Nhất Hạnh sáng lập, đã nói như thế.
- Chính quyền đã làm nhiều điều ác, tạo nên vô số bất công – Nhất Hạnh nói trong cuộc thăm viếng đầu tiên vào năm 2005 – Sự đồng ý cho chuyến thăm của tôi không có nghĩa là chính quyền hiểu tôi hoặc họ có cách nhìn thiện cảm với tôi. Họ làm điều này vì những mưu đồ chính trị. Đồng ý cho chuyến trở về với những người như tôi, họ sẽ nhận được một cái gì đó. Tôi hoàn toàn ý thức được điều này. Nhưng tôi trở về với mục đích giúp đỡ… không chỉ những người dân vô tội, nạn nhân của bạo lực và bất công, mà cũng giúp cả những người đã tạo nên những bất công với người khác.
Là một tín đồ Phật giáo nhà sư Nhất Hạnh đã bị xem là kẻ thù của cả hai phía trong cuộc chiến Việt Nam. Mặc dù Phật giáo là tôn giáo lớn nhất, nhưng vẫn bị đàn áp bởi chính phủ công giáo miền Nam Việt Nam.
Khi trở thành người bảo vệ hoà bình, trong năm 1966 Nhất Hạnh qua Hoa Kỳ với sứ mệnh thuyết phục chấm dứt chiến tranh. Chính quyền miền Nam bấy giờ từ chối không cho ông quay về. Sau khi Sài Gòn thất thủ vào năm 1975 những người cộng sản cũng phát tín hiệu rõ ràng rằng, họ không muốn nhìn thấy sự có mặt của ông. Ông qua Pháp và thành lập Plum Village.
Ngày hôm nay, ông là giảng viên về Phật học được quý trọng tại châu Âu và Hoa Kỳ, nơi ông cũng đã thành lập hai tu viện. Ông được người ta xưng gọi bằng Thầy, trong tiếng Việt có nghĩa là thầy giáo.
Nhất Hạnh là người đầu tiên đặt nền móng cho cách diễn đạt “Đạo Phật liên kết”. Theo đó trong đức tin của nó thì làm việc công ích và những hành động thiện nguyện tạo nên một phần không thể tách rời với thiền định của Phật giáo. Tuy nhiều người xác nhận ông là người tạo ra ý tưởng này và cả thời hạn, nhưng ông nói rằng, ông mượn nó từ ý tưởng của một vị vua Việt Nam thế kỷ 8.
Trước ngày rời Việt Nam Nhất Hạnh đã thành lập Trường Thanh niên Lao động Xã hội, liên đoàn những nhà hoạt động cho phong trào hoà bình, những người đã xây dựng ở vùng thôn quê trường học, nhà thương và giúp đỡ nông dân xây dựng lại nhà ở bị tàn phá.
Ông vẫn tiếp tục là người bảo vệ hoà bình. Ông đã dẫn đầu cuộc tuần hành chống chiến tranh Iraq và tuyên bố trước công luận ủng hộ Cindy Sheehan, mẹ của người lính tử vong đã phản đối trước trang trại của tổng thống George Bush ở Crawford, thuộc tiểu bang Texas.
Ở phương Tây nhà sư không phải luôn luôn được bao quanh bằng sự ngưỡng mộ. Khi Luther King đề cử ông vào ứng viên giải thưởng Hoà Bình Nobel trong năm 1967, Hội đồng Giải thưởng Nobel đã quyết định không thừa nhận bất kỳ một giải thưởng nào trong lĩnh vực này. Luther King đã coi nhẹ vấn đề giữ bí mật họ tên ứng cử viên của Hội đồng và đã công bố trước dư luận.
Cho dù những người ủng hộ Nhất Hạnh xem ông như một ngôi sao, không phải tất cả người Việt Nam đều phấn chấn với những chuyến về nước của ông. Người Việt chống cộng thì chỉ trích ông lập trường phản chiến và tuyên bố rằng, trở về nước chính là đưa vào tay cộng sản con át chủ bài cho việc tuyên truyền.
- Mục đích của Thiền sư là hoà giải – tăng ni Phật. Hay nói – Chúng tôi muốn hoà giải những người chống Cộng với những người cộng sản. Chúng tôi muốn hoà giải toàn bộ quá khứ, để có thể cùng nhau đi tới tương lai.
© DCVOnline
********************
Đại Trai Đàn Giải Oan
Trần Khải
Đó là chuyện cực kỳ tế nhị. Nói ra sơ xuất đều có thể làm thương tổn, không người này thì cũng người kia. Dù có cẩn trọng thế nào đi nữa. Bởi vì cuộc chiến tuy đã qua hơn ba thập niên, nhưng nhiều vết thương vẫn còn chưa lành nổi. Người thắng thì phần nhiều kiêu căng, xem tài nguyên cả nước như tiệc rượu chưa ngừng; còn người thua thì ngậm ngùi, có khi đã bỏ xác trong tù, may mắn ra được thì cũng thân tàn, vợ tần tảo mệt nhọc, con thì bỏ học giữa đàng.
Một lý do bài này được viết chỉ vì tạp chí Time trong số Thứ Sáu 2/3/2007, có bài viết của phóng viên Kay Johnson từ Hà Nội, tưạ đề “The Fighting Monks of Vietnam” – ngay tựa đề “Các Nhà Sư Tác Chiến Của Việt Nam” đã thấy đầy vẻ kiếm hiệp Kim Dung, kiểu như các sư Thiếu Lâm trong phong trào Phản Thanh Phục Minh bên Trung Hoa thời xưa. Đâu có như vậy. Chuyện không có như vậy.
Điều đặc biệt trong bài viết của báo Time là việc diễn giải linh tinh về tình hình hai thầy Thích Huyền Quang và thầy Thích Quảng Độ không chịu gặp mặt Thiền sư Nhất Hạnh trong chuyến đi năm 2005. Tất nhiên là ai cũng có quyền diễn giải theo kiểu suy nghĩ riêng, vì quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu là điều hết sức lành mạnh. Nhưng thực tế, trong cương vị của người thọ trì Phật Pháp, thì người ta chỉ nên ghi nhận rằng không gặp chỉ có nghĩa là không gặp, và không cần bàn hay giải thích gì. Không nên bàn gì, chỉ cần thấy các pháp như các pháp là... Thế thôi.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất trong bài viết ở báo Time là cách nhìn từ phía nhà nước về nghi thức Giải Oan. Bài báo có đoạn như sau:
“Các môn đồ của Thiền Sư Nhất Hạnh nói là thầy cũng phải chịu thích ứng với ngăn trở từ phía nhà nước CS. Lúc đầu, nghi lễ Đại Trai Đàn viết trong tiếng Việt là Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan. Nhưng cán bộ CSVN bác bỏ, nói chữ “bình đẳng” không thích hợp khi phải cầu nguyện “bình đẳng” cho chiến sĩ Miền Nam Việt Nam, chứ đừng nói gì tới chiến binh Hoa Kỳ. Bùi Hữu Được, Chủ Tịch Ủy Ban Tôn Giáo về Phật Giáo, nói, “Tinh thần của dân tộc Việt Nam không đồng ý với chuyện cầu nguyện cho bọn đế quốc nước ngoài vào để giết hàng triệu người Việt.” Do vậy, Thiền Sư Nhất Hạnh đồng ý sửa danh xưng nghi lễ là Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan cho dù các Phật Tử ủng hộ thầy nói rằng tinh thần nghi lễ vẫn như nhau...”
Nghĩa là, cầu nguyện cho người chết thì được, nhưng bên kia chiến tuyến thì đừng.... Đó là ý có thể hiểu qua lời của ông Bùi Hữu Được. Ông này, chắc chắn không phải Phật Tử, cho dù ông giữ chức Trưởng Ban Tôn Giáo Phật Giáo.
Bởi vì Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan trước tiên là một nghi thức trong chùa. Mà thực tế, hàng ngày, trong các lễ cầu nguyện hàng ngày, trong sách Nhị Khóa Hiệp Giải đều buộc phải hồi hướng sức cầu nguyện cho khắp pháp giới chúng sinh, hoàn toàn không phân biệt và không kỳ thị gì, dù là da màu, tính phaí, quốc gia, vân vân. Trong nhà Phật còn ưa nhắc tới câu “oán thân bình đẳng” – nghĩa là, dù người oán hay kẻ thân gì đều bình đẳng dưới ánh sáng từ bi của chư Phật.
Nói như vậy mới thấy, việc Thầy Nhất Hạnh về làm Đại Trai Đàn là đúng chánh pháp. Ít nhất, nghi thức này cũng cho người Cộng Sản có một chút suy nghĩ về cách nhà Phật tiếp cận với chúng sinh. Tuy nhiên, nhìn dưới khía cạnh chính trị thì tất nhiên nhiều người không đồng ý. Và chúng ta đã thấy rồi, những ý kiến dị biệt khắp nơi, trên Internet, trên các báo, các đài.
Chỗ này cũng nên nói rằng, Sư Cô Chân Không trên Đài BBC trước khi về VN có nói rằng Hòa Thượng Quảng Độ từng nói rằng người CS không có Tánh Phật. Bản thân tôi từng là học trò của Thầy Quảng Độ tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975, từng học bộ sách 3 tập do Thầy Quảng Độ dịch về Lịch Sử Phật Giáo... và sau năm 1975 còn có cơ duyên tiếp cận với Thầy trong một hoàn cảnh đặc biệt, xin nói rằng tôi không tin Thầy Quảng Độ nói như thế. Tôi tin Sư Cô Chân Không đã nhầm với ai đó, nhầm từ chuyện nào đó sang chuyện này... Phủ nhận Phật Tánh trong bất kỳ ai đều sẽ tự làm hỏng Bồ Tát Giới của mình. Nhưng trí nhớ có nhầm lẫn thì vẫn là chuyện thường.
Có điều nữa, Sư Cô nói là nhiều Thầy nói muốn về theo Thầy Nhất Hạnh, mà không dám vì sợ bị người chống Cộng “đập”. Thực sự, theo tôi thấy, trong vùng Quận Cam, người chống việc Thầy Nhất Hạnh về cũng có, nhưng người ủng hộ Thầy vẫn đông hơn; thế nên, người bênh đông hơn người chống. Mà tôi thấy có sư nào sợ bị đập đâu? Như các thầy và các sư cô vẫn về VN làm từ thiện liên tục, và các báo vẫn loan tin và mời đóng góp từ thiện, đâu có gì ngại đâu.
Thực tế, nhiều thầy ủng hộ Thầy Nhất Hạnh, nhưng về 3 tháng là cả nan đề. Nếu quý thầy, quý cô đang giảng dạy hay đang đi học ở Mỹ thì có đi một tuần cũng không nổi. Đâu có phải mùa nghỉ hè đâu mà muốn đi là đi. Thêm nữa, nếu không bận việc làm, không bận học, thì khi về cũng phải thu xếp với thầy khác, hay tìm người giữ chùa chứ. Không lẽ đóng cửa chùa 3 tháng.
Mà nếu có thầy nào có thể về 3 tháng, thì có nhiều việc khác cũng cần làm, thí dụ như thăm Thầy Tổ, thăm bạn cũ, đi nơi này nơi kia... chứ còn đi trong phaí đoàn của Thầy Nhất Hạnh thì đâu có tự do, còn phải theo lịch trình của Thầy Nhất Hạnh thì chưa chắc đã phù hợp sơn môn của mình.
Còn một thực tế khác, dù ủng hộ Thầy Nhất Hạnh, các thầy cũng thấy có khi bất tiện khi cùng thực hiện nghi lễ với pháí đoàn Làng Mai, vì trong khi mình nói “Niệm Phật” thì bên pháí đoàn nói “Niệm Bụt.” Rồi chuyện chuông mõ cũng khác.
Thế nên, ủng hộ Thầy Nhất Hạnh là một chuyện. Còn mỗi người có một hạnh riêng mà hành trì.
Việc Thầy Nhất Hạnh về là phải lẽ, phù hợp chánh pháp. Bất kể những hạn chế vì hoàn cảnh và chế độ.
Hãy hình dung hình ảnh sắp xảy ra: nhiều ngàn người cùng với Thầy Nhất Hạnh tới tụng kinh cầu siêu tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, và rồi sau đó cũng sẽ tụng kinh ở một nghĩa trang các bộ đội. Hình ảnh đó cực kỳ cảm động.
Thực sự, chuyện đó trong nhà chùa là bình thường lắm. Bạn cứ thử bước vào một ngôi chùa ở các vùng một thời là xôi đậu, hay nơi từng trải qua nhiều cuộc giao tranh, như Bến Tre, Tây Ninh, Pleiku, Quảng Trị, và vân vân. Bạn hãy nhìn lên bàn thờ vong của các chùa này xem, nơi có ảnh người chết được thân nhân đưa vào thờ đó, có ảnh của các du kích VC bây giờ được gọi là liệt sĩ, có ảnh của các chiến binh VNCH một thời được gọi là tử sĩ. Họ đang ngồi chung trên bàn thờ đó, và các chùa mỗi ngày đều tụng kinh bình đẳng cho họ.
Bây giờ chỉ còn một việc là về phía nhà nước thôi, nếu chúng ta nhớ lời ông Bùi Hữu Được nói ở trên. Và bạn hãy hình dung, và thử đoán xem: ông Nông Đức Mạnh lần này có ghi tên ông Hồ Chí Minh vào danh sách cầu siêu do Thầy Nhất Hạnh tụng kinh hay không? Thử đoán xem.
Đăng nhận xét
DCVOnline giới thiệu với bạn đọc bài viết dưới đây của ký giả Justin Huggle, báo The Independent, đăng trên Portal Onet.pl, ngày 7 tháng 3 năm 2007, để chúng ta có thêm một cách nhìn khác, khách quan từ phía báo chí nước ngoài.
‘‘The Independent” là một nhật báo lớn, khuynh hướng cấp tiến (liberal) của Anh quốc, với 230 ngàn ấn bản/ngày. Bài do Lưu Vũ dịch từ tiếng Ba Lan.
Thiền sư Nhất Hạnh sẽ cầu nguyện cho những người bị chết trong cuộc chiến đã kết thúc cách đây 30 năm. Nỗi hoài niệm về nó vẫn day dứt người dân của đất nước này.
Nhà sư, tín đồ Phật giáo 80 tuổi này sống ở nước ngoài từ bốn mươi năm nay. Bất kỳ nơi đâu, khi ông xuất hiện đều có những đám đông chào đón. Nhà sư Nhất Hạnh là người Việt Nam nổi tiếng nhất trong việc bảo vệ hoà bình và là nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo có ảnh hưởng nhất trên thế giới, sau Dalailama.
Giống như Dalailama, nhà sư đã trải qua nửa cuộc đời tha hương. Những cuốn sách của ông được dư luận xã hội tiếp nhận hồ hởi, nhà sư cũng được tiếp đón chân tình ở châu Âu và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tác phẩm của ông bị cấm xuất bản ngay tại nước của mình, trước hết là bởi chính phủ miền Nam ủng hộ Mỹ và bởi chế độ cộng sản chiến thắng sau đó.
Chính nhà sư Thích Nhất Hạnh đã yêu cầu Martin Luther King tuyên bố chống lại chiến tranh Việt Nam trước công luận. Nhà sư cũng là người bạn của Thích Quảng Đức, một tín đồ Phật giáo đã tự thiêu trong năm 1963 nhằm đánh thức thế giới chống lại sự đàn áp Phật giáo Việt Nam.
Nhất Hạnh trở về nước không phải để đứng đầu các cuộc phản đối chính quyền. Mục đích của ông – như tu viện tại Pháp, nơi nhà sư đang sống, khẳng định – là hoà giải. Những sự kiện trung tâm của chuyến viếng thăm hai tháng là những buổi lễ cầu nguyện lớn đối với nạn nhân chiến tranh. Những người ủng hộ ý tưởng của ông đã kêu gọi sự tham dự của các tôn giáo khác, thậm chí họ mời cả những người vô thần cộng sản diễn thuyết những đoạn trích ưa thích từ di sản của Marx.
Trong năm 2005, lần đầu tiên người ta cho phép nhà sư Nhất Hạnh về Việt Nam, kể từ lúc máy bay hạ cánh, ông được hâm mộ như một ngôi sao nhạc rock. Dân chúng bao quanh để sờ vào bờ vai chiếc áo choàng của ông. Thế nhưng chính phủ cộng sản không cho phép ông được ở lâu hơn. Người ta chỉ đồng ý cho ông ba tháng với những cuộc gặp gỡ tại các chùa nhỏ, không được tụ tập quần chúng. Nhưng giờ thì chính quyền bước dài hơn một tý và đồng ý để ông chủ trì các buổi lễ cầu nguyện với đông đảo quần chúng.
- Sau cuộc viếng thăm đầu tiên thì sự cởi mở rõ rệt hơn. Tôi không dám nói chắc một trăm phần trăm, nhưng đã có một tiến bộ lớn – tu sĩ Phap Hay của Plum Village, tu viện do Nhất Hạnh sáng lập, đã nói như thế.
- Chính quyền đã làm nhiều điều ác, tạo nên vô số bất công – Nhất Hạnh nói trong cuộc thăm viếng đầu tiên vào năm 2005 – Sự đồng ý cho chuyến thăm của tôi không có nghĩa là chính quyền hiểu tôi hoặc họ có cách nhìn thiện cảm với tôi. Họ làm điều này vì những mưu đồ chính trị. Đồng ý cho chuyến trở về với những người như tôi, họ sẽ nhận được một cái gì đó. Tôi hoàn toàn ý thức được điều này. Nhưng tôi trở về với mục đích giúp đỡ… không chỉ những người dân vô tội, nạn nhân của bạo lực và bất công, mà cũng giúp cả những người đã tạo nên những bất công với người khác.
Là một tín đồ Phật giáo nhà sư Nhất Hạnh đã bị xem là kẻ thù của cả hai phía trong cuộc chiến Việt Nam. Mặc dù Phật giáo là tôn giáo lớn nhất, nhưng vẫn bị đàn áp bởi chính phủ công giáo miền Nam Việt Nam.
Khi trở thành người bảo vệ hoà bình, trong năm 1966 Nhất Hạnh qua Hoa Kỳ với sứ mệnh thuyết phục chấm dứt chiến tranh. Chính quyền miền Nam bấy giờ từ chối không cho ông quay về. Sau khi Sài Gòn thất thủ vào năm 1975 những người cộng sản cũng phát tín hiệu rõ ràng rằng, họ không muốn nhìn thấy sự có mặt của ông. Ông qua Pháp và thành lập Plum Village.
Ngày hôm nay, ông là giảng viên về Phật học được quý trọng tại châu Âu và Hoa Kỳ, nơi ông cũng đã thành lập hai tu viện. Ông được người ta xưng gọi bằng Thầy, trong tiếng Việt có nghĩa là thầy giáo.
Nhất Hạnh là người đầu tiên đặt nền móng cho cách diễn đạt “Đạo Phật liên kết”. Theo đó trong đức tin của nó thì làm việc công ích và những hành động thiện nguyện tạo nên một phần không thể tách rời với thiền định của Phật giáo. Tuy nhiều người xác nhận ông là người tạo ra ý tưởng này và cả thời hạn, nhưng ông nói rằng, ông mượn nó từ ý tưởng của một vị vua Việt Nam thế kỷ 8.
Trước ngày rời Việt Nam Nhất Hạnh đã thành lập Trường Thanh niên Lao động Xã hội, liên đoàn những nhà hoạt động cho phong trào hoà bình, những người đã xây dựng ở vùng thôn quê trường học, nhà thương và giúp đỡ nông dân xây dựng lại nhà ở bị tàn phá.
Ông vẫn tiếp tục là người bảo vệ hoà bình. Ông đã dẫn đầu cuộc tuần hành chống chiến tranh Iraq và tuyên bố trước công luận ủng hộ Cindy Sheehan, mẹ của người lính tử vong đã phản đối trước trang trại của tổng thống George Bush ở Crawford, thuộc tiểu bang Texas.
Ở phương Tây nhà sư không phải luôn luôn được bao quanh bằng sự ngưỡng mộ. Khi Luther King đề cử ông vào ứng viên giải thưởng Hoà Bình Nobel trong năm 1967, Hội đồng Giải thưởng Nobel đã quyết định không thừa nhận bất kỳ một giải thưởng nào trong lĩnh vực này. Luther King đã coi nhẹ vấn đề giữ bí mật họ tên ứng cử viên của Hội đồng và đã công bố trước dư luận.
Cho dù những người ủng hộ Nhất Hạnh xem ông như một ngôi sao, không phải tất cả người Việt Nam đều phấn chấn với những chuyến về nước của ông. Người Việt chống cộng thì chỉ trích ông lập trường phản chiến và tuyên bố rằng, trở về nước chính là đưa vào tay cộng sản con át chủ bài cho việc tuyên truyền.
- Mục đích của Thiền sư là hoà giải – tăng ni Phật. Hay nói – Chúng tôi muốn hoà giải những người chống Cộng với những người cộng sản. Chúng tôi muốn hoà giải toàn bộ quá khứ, để có thể cùng nhau đi tới tương lai.
© DCVOnline
********************
Đại Trai Đàn Giải Oan
Trần Khải
Đó là chuyện cực kỳ tế nhị. Nói ra sơ xuất đều có thể làm thương tổn, không người này thì cũng người kia. Dù có cẩn trọng thế nào đi nữa. Bởi vì cuộc chiến tuy đã qua hơn ba thập niên, nhưng nhiều vết thương vẫn còn chưa lành nổi. Người thắng thì phần nhiều kiêu căng, xem tài nguyên cả nước như tiệc rượu chưa ngừng; còn người thua thì ngậm ngùi, có khi đã bỏ xác trong tù, may mắn ra được thì cũng thân tàn, vợ tần tảo mệt nhọc, con thì bỏ học giữa đàng.
Một lý do bài này được viết chỉ vì tạp chí Time trong số Thứ Sáu 2/3/2007, có bài viết của phóng viên Kay Johnson từ Hà Nội, tưạ đề “The Fighting Monks of Vietnam” – ngay tựa đề “Các Nhà Sư Tác Chiến Của Việt Nam” đã thấy đầy vẻ kiếm hiệp Kim Dung, kiểu như các sư Thiếu Lâm trong phong trào Phản Thanh Phục Minh bên Trung Hoa thời xưa. Đâu có như vậy. Chuyện không có như vậy.
Điều đặc biệt trong bài viết của báo Time là việc diễn giải linh tinh về tình hình hai thầy Thích Huyền Quang và thầy Thích Quảng Độ không chịu gặp mặt Thiền sư Nhất Hạnh trong chuyến đi năm 2005. Tất nhiên là ai cũng có quyền diễn giải theo kiểu suy nghĩ riêng, vì quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu là điều hết sức lành mạnh. Nhưng thực tế, trong cương vị của người thọ trì Phật Pháp, thì người ta chỉ nên ghi nhận rằng không gặp chỉ có nghĩa là không gặp, và không cần bàn hay giải thích gì. Không nên bàn gì, chỉ cần thấy các pháp như các pháp là... Thế thôi.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất trong bài viết ở báo Time là cách nhìn từ phía nhà nước về nghi thức Giải Oan. Bài báo có đoạn như sau:
“Các môn đồ của Thiền Sư Nhất Hạnh nói là thầy cũng phải chịu thích ứng với ngăn trở từ phía nhà nước CS. Lúc đầu, nghi lễ Đại Trai Đàn viết trong tiếng Việt là Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan. Nhưng cán bộ CSVN bác bỏ, nói chữ “bình đẳng” không thích hợp khi phải cầu nguyện “bình đẳng” cho chiến sĩ Miền Nam Việt Nam, chứ đừng nói gì tới chiến binh Hoa Kỳ. Bùi Hữu Được, Chủ Tịch Ủy Ban Tôn Giáo về Phật Giáo, nói, “Tinh thần của dân tộc Việt Nam không đồng ý với chuyện cầu nguyện cho bọn đế quốc nước ngoài vào để giết hàng triệu người Việt.” Do vậy, Thiền Sư Nhất Hạnh đồng ý sửa danh xưng nghi lễ là Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan cho dù các Phật Tử ủng hộ thầy nói rằng tinh thần nghi lễ vẫn như nhau...”
Nghĩa là, cầu nguyện cho người chết thì được, nhưng bên kia chiến tuyến thì đừng.... Đó là ý có thể hiểu qua lời của ông Bùi Hữu Được. Ông này, chắc chắn không phải Phật Tử, cho dù ông giữ chức Trưởng Ban Tôn Giáo Phật Giáo.
Bởi vì Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan trước tiên là một nghi thức trong chùa. Mà thực tế, hàng ngày, trong các lễ cầu nguyện hàng ngày, trong sách Nhị Khóa Hiệp Giải đều buộc phải hồi hướng sức cầu nguyện cho khắp pháp giới chúng sinh, hoàn toàn không phân biệt và không kỳ thị gì, dù là da màu, tính phaí, quốc gia, vân vân. Trong nhà Phật còn ưa nhắc tới câu “oán thân bình đẳng” – nghĩa là, dù người oán hay kẻ thân gì đều bình đẳng dưới ánh sáng từ bi của chư Phật.
Nói như vậy mới thấy, việc Thầy Nhất Hạnh về làm Đại Trai Đàn là đúng chánh pháp. Ít nhất, nghi thức này cũng cho người Cộng Sản có một chút suy nghĩ về cách nhà Phật tiếp cận với chúng sinh. Tuy nhiên, nhìn dưới khía cạnh chính trị thì tất nhiên nhiều người không đồng ý. Và chúng ta đã thấy rồi, những ý kiến dị biệt khắp nơi, trên Internet, trên các báo, các đài.
Chỗ này cũng nên nói rằng, Sư Cô Chân Không trên Đài BBC trước khi về VN có nói rằng Hòa Thượng Quảng Độ từng nói rằng người CS không có Tánh Phật. Bản thân tôi từng là học trò của Thầy Quảng Độ tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975, từng học bộ sách 3 tập do Thầy Quảng Độ dịch về Lịch Sử Phật Giáo... và sau năm 1975 còn có cơ duyên tiếp cận với Thầy trong một hoàn cảnh đặc biệt, xin nói rằng tôi không tin Thầy Quảng Độ nói như thế. Tôi tin Sư Cô Chân Không đã nhầm với ai đó, nhầm từ chuyện nào đó sang chuyện này... Phủ nhận Phật Tánh trong bất kỳ ai đều sẽ tự làm hỏng Bồ Tát Giới của mình. Nhưng trí nhớ có nhầm lẫn thì vẫn là chuyện thường.
Có điều nữa, Sư Cô nói là nhiều Thầy nói muốn về theo Thầy Nhất Hạnh, mà không dám vì sợ bị người chống Cộng “đập”. Thực sự, theo tôi thấy, trong vùng Quận Cam, người chống việc Thầy Nhất Hạnh về cũng có, nhưng người ủng hộ Thầy vẫn đông hơn; thế nên, người bênh đông hơn người chống. Mà tôi thấy có sư nào sợ bị đập đâu? Như các thầy và các sư cô vẫn về VN làm từ thiện liên tục, và các báo vẫn loan tin và mời đóng góp từ thiện, đâu có gì ngại đâu.
Thực tế, nhiều thầy ủng hộ Thầy Nhất Hạnh, nhưng về 3 tháng là cả nan đề. Nếu quý thầy, quý cô đang giảng dạy hay đang đi học ở Mỹ thì có đi một tuần cũng không nổi. Đâu có phải mùa nghỉ hè đâu mà muốn đi là đi. Thêm nữa, nếu không bận việc làm, không bận học, thì khi về cũng phải thu xếp với thầy khác, hay tìm người giữ chùa chứ. Không lẽ đóng cửa chùa 3 tháng.
Mà nếu có thầy nào có thể về 3 tháng, thì có nhiều việc khác cũng cần làm, thí dụ như thăm Thầy Tổ, thăm bạn cũ, đi nơi này nơi kia... chứ còn đi trong phaí đoàn của Thầy Nhất Hạnh thì đâu có tự do, còn phải theo lịch trình của Thầy Nhất Hạnh thì chưa chắc đã phù hợp sơn môn của mình.
Còn một thực tế khác, dù ủng hộ Thầy Nhất Hạnh, các thầy cũng thấy có khi bất tiện khi cùng thực hiện nghi lễ với pháí đoàn Làng Mai, vì trong khi mình nói “Niệm Phật” thì bên pháí đoàn nói “Niệm Bụt.” Rồi chuyện chuông mõ cũng khác.
Thế nên, ủng hộ Thầy Nhất Hạnh là một chuyện. Còn mỗi người có một hạnh riêng mà hành trì.
Việc Thầy Nhất Hạnh về là phải lẽ, phù hợp chánh pháp. Bất kể những hạn chế vì hoàn cảnh và chế độ.
Hãy hình dung hình ảnh sắp xảy ra: nhiều ngàn người cùng với Thầy Nhất Hạnh tới tụng kinh cầu siêu tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, và rồi sau đó cũng sẽ tụng kinh ở một nghĩa trang các bộ đội. Hình ảnh đó cực kỳ cảm động.
Thực sự, chuyện đó trong nhà chùa là bình thường lắm. Bạn cứ thử bước vào một ngôi chùa ở các vùng một thời là xôi đậu, hay nơi từng trải qua nhiều cuộc giao tranh, như Bến Tre, Tây Ninh, Pleiku, Quảng Trị, và vân vân. Bạn hãy nhìn lên bàn thờ vong của các chùa này xem, nơi có ảnh người chết được thân nhân đưa vào thờ đó, có ảnh của các du kích VC bây giờ được gọi là liệt sĩ, có ảnh của các chiến binh VNCH một thời được gọi là tử sĩ. Họ đang ngồi chung trên bàn thờ đó, và các chùa mỗi ngày đều tụng kinh bình đẳng cho họ.
Bây giờ chỉ còn một việc là về phía nhà nước thôi, nếu chúng ta nhớ lời ông Bùi Hữu Được nói ở trên. Và bạn hãy hình dung, và thử đoán xem: ông Nông Đức Mạnh lần này có ghi tên ông Hồ Chí Minh vào danh sách cầu siêu do Thầy Nhất Hạnh tụng kinh hay không? Thử đoán xem.
<< Home
