4/3/07
Comments:
<< Home
Có oan thì phải giải. Đó là lẽ thông thường. Nhưng trong một cái nhìn toàn cục, nhất thiết không thể có sự oan ức trong công cuộc lập đàn giải oan cho tập thể nhiều người, dù ở bên này hay bên kia.
Những người lính Việt Nam Cộng Hòa xả thân, liều mình giữ đất giữ biển trước sự xâm lăng của bên ngoài thì cái chết anh hùng của họ không thể coi là những cái chết oan ức.
Những bộ đội, chiến sĩ khi vào Nam chiến đấu đã được trang bị bằng tinh thần “Chống Mỹ xâm lược”, thì cái chết của họ cũng không thể được coi là những cái chết oan ức, vì họ đã hy sinh theo tiếng gọi của truyền thống dân tộc chống xâm lăng. Còn sự kiện có “xâm lăng” hay không lại là một vấn đề khác.
Hàng trăm ngàn đồng bào tự nguyện đóng tầu ra khơi để trốn chạy một chế độ hà khắc mà trước đó, mọi người đều đã biết những nỗi hiểm nguy đang chờ đợi ngoài biển cả. Nhưng ai cũng nghĩ thà bỏ thây trong bụng cá còn hơn kéo dài cuộc sống trong một xã hội đầy hận thù và mông muội của thời buổi ấy. Những cái chết vì mưu tìm tự do đó của đồng bào cũng không thể coi là cái chết oan ức.
Như thế, tính sổ lại, hàng triệu con người dù trong Nam hay ngoài Bắùc, dù là trước hay sau chiến tranh, dù là chết trong khói lửa, bom đạn hay bỏ mình trong rừng sâu núi thẳm, trong đồng ruộng hay ngoài biển khơi, thì nhìn chung tất cả đều chỉ là nạn nhân của một mối oan khiên của dân tộc.
Cho nên giải oan ở đây là giải đi mối oan khiên của dân tộc.
Lập đàn giải oan không có nghĩa là xí xóa tất cả mọi chuyện. Những thủ phạm đã từng nhúng tay gây nên mối oan khiên kéo dài hàng mấy thập kỷ này tất sẽ phải nêu tên và bị kết án trước lịch sử. Vấn đề ở đây là những di họa của mối oan khiên đó, dù đã hơn ba mươi năm sau cuộc chiến, cho tới nay hậu quả khắc nghiệt của nó vẫn còn.
Nếu oan khiên không còn thì Nghĩa trang Quân đội ở Biên Hòa đã chẳng phải chịu đựng cái cảnh mồ không lún thì cũng chịu cảnh hương tàn, khói lạnh, cỏ hoang đây đó tiêu điều.
Nếu oan khiên không còn thì hai tấm bia tưởng niệm của thuyền nhân ở Malaysia và Phillipines đã chẳng đến nỗi phải bị đập bỏ một cách tàn nhẫn và phi nhân do chính áp lực của nhà cầm quyền Hà Nội.
Nếu oan khiên không còn thì đã chẳng thể tồn tại những phòng triển lãm “tội ác Mỹ Ngụy”, những ngày kỷ niệm ồn ào chiến thắng “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” vẫn được tổ chức rầm rộ hằng năm cùng với những luận điệu huyênh hoang, mục hạ vô nhân hiện vẫn còn đầy rẫy trong sách, báo.
Vân vân...và.. vân vân...
Cũng vì mối oan khiên còn đó mà tình trạng một thiểu số ít ỏi đã nhân danh ba triệu đảng viên, nhân danh cả nước, nhân danh cái lý tưởng đã bị thế giới đào thải để cứ tiếp tục lãnh đạo độc quyền đất nước và gạt ra ngoài tài năng, trí tuệ, tâm huyết của biết bao nhiêu con người ở cả trong lẫn ngoài nước. Điều này đã khiến cho đất nước đã bị bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội vận dụng được toàn thể tiềm năng trong công cuộc phục hưng xứ sở sau cuộc chiến, và đã khiến đất nước tụt lùi đến nỗi nhân vật Lý Quang Diệu gần đây đã phải tuyên bố: Việt Nam phải 20,30 năm nữa mới theo kịp được Mã Lai Á.
Và cũng vì mối oan khiên còn đó mà thế hệ trẻ bây giờ, thế hệ sinh ra sau khi cuộc chiến đã chấm dứt vẫn còn phải nhìn các bậc cha anh trong ánh mắt bối rối, ngại ngần, thậm chí nghi ngờ, oán hận vì không biết những gì đã thực sự xẩy ra trên quê hương của mình để mà bây giờ họ vẫn còn phải lúng túng với mầu cờ, vẫn còn phải nghe những lời thóa mạ, chửi rủa khi, hoặc đặt chân lên phần đất bên này hay bên kia. Quả là nỗi oan khiên của dân tộc đã bao trùm lên đầu óc non nớt và trong trắng của họ một cuộc hỏa mù không lối thoát, đến nỗi có nhiều tuổi trẻ đã phải lựa chọn con đường chối bỏ gốc gác của mình, dĩ vãng của ông cha mình để cho lòng khỏi vướng bận những hệ lụy mà bản thân họ không hề tạo dựng nên.
Cho nên để cho đất nước này được tiến lên, để cho con người Việt Nam dù là trong hay ngoài nước có cơ hội nhìn nhau mà lòng không vướng bận tàn tích của quá khứ, sẵn sàng chung tay góp sức trong những công trình xây dựng và phát triển xứ sở và để cho những anh hồn của các tử sĩ từ Bắc chí Nam, của các thuyền nhân chết vùi thây nơi biển cả được vinh danh, được yên nghỉ bình đẳng với nhau trong cõi vĩnh hằng, thì công cuộc lập đàn giải oan hóa giải những mối oan khiên của dân tộc cần phải được thực hiện. Ngoài ra, chuyện lập đàn giải oan chỉ là một hình thức “tượng trưng”, mang một ý nghĩa kêu gọi, thúc đẩy. Chuyện chính vẫn là nhà nước VN phải có những hành động cụ thể. Chỉ có những việc làm cụ thể với một ý thức chân thành tháo gỡ mối oan khiên của dân tộc thì những nỗ lực, những thiện chí của nhiều người, nhiều phía mới có cơ thành tựu.
Trong những ý nghĩ đó, tôi xin bầy tỏ sự ủng hộ những cuộc vận động “giải oan”, đặc biệt là nỗ lực đầu tiên của tăng đoàn Làng Mai sắp tới đây sẽ tổ chức Trai Đàn Giải Oan trên cả ba Miền đất nước. Dĩ nhiên cuộc lập Trai Đàn Giải Oan lần này chỉ mang ý nghĩa mà trong “Phổ cáo Quốc Dân cùng đồng bào Phật tử”, ban tổ chức đã cho biết, là để “chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết đi một cách oan ức, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trong trại tù, ngoài côn đảo và dưới những hố chôn tập thể.”. Hy vọng đây là một bước khởi đầu để đi tới những cuộc “giải oan” trên nhiều khía cạnh khác, trong những ý nghĩa khác, để qua đó, vận hội mới của đất nước sẽ thực sự được khai mở.
Xin cầu chúc cho những thiện chí nặng tình nước non, nặng nghĩa đồng bào sẽ đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
Tác giả Nhật Tiến hiện cư ngụ tại California Hoa Kỳ. Bài do báo Việt Tide gửi đến DCVOnline.
*********
Hòa giải
DCVOnline
Nhân dịp thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam lập Trai đàn giải oan, Đàn Chim Việt xin giới thiệu đến bạn đọc một bài viết của người trong nước trước sự kiện này. Ngay dưới bài viết của tác giả Huy Đức, báo Sài Gòn Tiếp Thị cũng đăng luôn sáng kiến của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt gởi Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch UB TƯ Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ông Kiệt đột ngột nảy ra sáng kiến và biên thư cho ông Duyệt ngày 29 tháng 3 năm 2005, cùng lúc thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam lần đâu (12/1 đến 11/4, 2005). Trai đàn giải oan, một phương pháp trị liệu của thiền sư Nhất Hạnh và ý nghĩa chính trị lớn của cựu thủ tướng CSVN, trở thành sự thật vào năm 2007. Chí lớn gặp nhau? DCVOnline gạch dưới và in đậm một vài đoạn trong thư của ông Võ Văn Kiệt.
Huy Đức
Chuyến trở về thứ 2 của thiền sư Thích Nhất Hạnh ngay ngày mùng 4 Tết được các báo trong nước đồng loạt đưa tin. Cùng với Tăng Đoàn Làng Mai, thiền sư về Việt Nam lần này là để lập ba đại Trai đàn Chẩn tế tại ba trung tâm phật giáo lớn nhất ở Việt Nam. Đại diện của Thiền sư nói trên báo Tuổi Trẻ rằng, Trai Đàn sẽ cầu siêu cho: “Tất cả những đồng bào tử nạn trong chiến tranh, trong đó có những chiến sĩ trận vong; nạn nhân chiến tranh; những người bị mất tích mà hài cốt chưa tìm ra được; những người đã chết trong tù ngục và những thuyền nhân không may bỏ mình trên biển cả”.
Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho những vong hồn không có ai thờ tự. Nghi thức Trai đàn nhằm cầu siêu cho người chết được siêu thoát nhưng qua đó cũng cầu an cho người sống được an lạc, hoá giải mọi tai ương, hận thù. Tập tục này, tin rằng, được truyền qua Viện Nam từ thời Lý. Năm 1789, sau khi “đại phá quân Thanh”, vua Quang Trung đã ban sắc lệnh làm lễ cúng cô hồn tử sĩ, kể cả cho mấy vạn quân Thanh tử trận. Năm 1802, sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long cũng thiết lập đàn siêu độ cho “tướng sĩ trận vong và cô hồn thập loại”.
Những người tử trận trong cuộc chiến tranh được nói tới trong đại lễ cầu siêu mà thiền sư Nhất Hạnh được phép tổ chức cùng với Giáo hội Phật giáo Việt Nam này là cuộc chiến đã chấm dứt cách đây sắp sửa đúng 32 năm. Ngay trong những ngày kết thúc chiến tranh, 1-5-1975, khi gặp Đại tướng Dương Văn Minh, vị Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà cuối cùng, tại dinh Độc Lập, Thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố: “Giữa chúng ta không có kẻ thắng người thua, chỉ có nhân dân Việt Nam thắng Mỹ”. Tuyên bố đó không chỉ là của riêng Tướng Trà mà là của một tầm nhìn. Thống nhất giang sơn đã khó, thống nhất lòng người sau mấy chục năm chiến tranh còn bội phần khó hơn.
Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt kể rằng, khi ông được điều về lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Miền Tây Nam Bộ, anh em binh vận ở đó gọi những gia đình có con em đi lính cho Chế độ Sài Gòn là gia đình “nguỵ quân” khiến cho bà con rất buồn. Ông Võ Văn Kiệt lúc đó đã yêu cầu các cán bộ thuộc quyền không được gọi như vậy nữa. Sau ngày đất nước thống nhất, Cục Báo chí- Xuất bản cũng đã có văn thư số 06/BCXB, ngày 17-2-1976 lưu ý vấn đề này: Kính gửi các cơ quan Thông tấn xã, Đài phát thanh và Đài truyền hình, các báo chí Miền, Thành phố và các tỉnh. Chấp hành ý kiến của lãnh đạo, chúng tôi xin thông báo đến các đồng chí được rõ: Kể từ nay, các bài viết đăng trên báo và trên đài, ta nên thống nhất dùng chữ “những người trong quân đội và chánh quyền của chế độ cũ” thay cho chữ “nguỵ quân và nguỵ quyền Sài Gòn” đã dùng trước đây. Với một cuộc chiến tranh mà như Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng mô tả, “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình Việt Nam vào tình thế vừa có người ở phía bên này, vừa ở phía bên kia”, thì đấy không chỉ là một cách dùng từ, đấy là một thái độ chính trị đối với hàng triệu đồng bào.
Lịch sử của không ít quốc gia cũng đã từng phải trải qua những tình huống tương tự. Tại bảo tàng cuộc chiến Bắc- Nam, 1961-1965, của Mỹ, tướng bại trận Miền Nam Robert Lee, vẫn được miêu tả và được biểu thị sự kính trọng như một người hùng. Người Mỹ kính trọng tướng Lee không chỉ vì quyết định đầu hàng của ông đã giúp cho cuộc chiến tranh kết thúc có hậu và sự kính trọng đó không chỉ dành cho cá nhân ông, mà còn dành cho tinh thần chiến đấu của một người Mỹ. Nhưng với cả người Mỹ, mọi chuyện cũng không đơn giản. Abraham Lincoln, vị Tổng thống lãnh đạo cuộc chiến tranh 1861-1865, người mà ngay sau cuộc chiến đã đưa ra những tuyên bố mang tính hoà giải Bắc- Nam, đã bị ám sát chưa đầy một tuần sau chiến thắng.
Trai đàn Giải oan “Không thuần tuý là vấn đề tôn giáo” mà còn là một phương pháp trị liệu. Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói với báo chí trong nước: “Tôi đã đi qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tôi biết ở phía nào cũng có người trực tiếp hoặc gián tiếp gánh chịu đau khổ. Những vết thương lòng nếu không trị liệu có thể sẽ truyền lại cho con cháu”. Lịch sử thống nhất lòng người Việt Nam cũng đã không giản đơn như những tuyên bố trong những ngày chiến thắng. Có vô số “vết thương” trong lòng người Việt đã xảy ra trong chiến tranh và cũng có những “vết thương”, rất tiếc, vẫn còn xảy ra những năm sau đó.
Hai năm trước đây, trong một bức thư gửi Chủ tịch UBTU Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt, Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đặt ra vấn đề tổ chức một “Lễ cầu siêu cho vong linh những người đã chết trong chiến tranh”. Ông Võ Văn Kiệt cũng đã nhắc lại điều này trên báo chí khi ông làm lễ trồng cây Bồ Đề nhân ngày xá tội vong nhân hồi tháng 7 năm 2006. Ngày 27-11-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một quyết định quan trọng, đồng ý chuyển 58 hecta đất thuộc nghĩa địa Bình An, vốn là khu nghĩa địa của quân đội Việt Nam Cộng Hoà trước đây sang mục đích dân sự. Quyết định này giúp cho, ngoài Trai đàn Chẩn tế, các nhà sư còn có thể tiến hành “lễ rước linh tại các nghĩa trang liệt sĩ cũng như nghĩa trang quân đội chính quyền cũ”. Nhưng, không chỉ dựa trên những quyết định ấy- sự chuyển mình của đất nước và những thay đổi về chính sách đã khiến cho những người Việt Nam, dù đang ở trong nước hay vài thập kỷ trước từng phải cất bước ra đi, không còn nhìn thấy quá nhiều khác biệt nữa- mới chính là điều kiện để những tăng ni, phật tử thiết lập được một Trai đàn Giải oan quy mô như thế này.
Đúng như thiền sư Thích Nhất Hạnh nói, Trai đàn Giải oan “không thuần tuý là vấn đề tôn giáo”. Sự xuất hiện của những hoạt động như vậy ở trong nước là tín hiệu cho một cách nhìn mới giữa người Việt với nhau. Không phải rồi vết thương nào cũng có thể lành ngay sau một Trai đàn Chẩn tế. Thậm chí nó vẫn có thể khơi thêm một chút ngậm ngùi cho một số ít người. Nhưng những hoạt động như vậy chắc chắn sẽ mang đến nhiều hy vọng. Rồi có lẽ sẽ có một ngày, các bà mẹ Việt Nam sẽ đưa những đứa con đã mất của mình về nằm cạnh bên nhau và những đứa con lưu lạc, cũng sẽ lần lượt trở về, ngồi lại với nhau.
(theo Sài Gòn Tiếp Thị)
Sài Gòn Tiếp Thị — Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa ra sáng kiến tổ chức một "Lễ cầu siêu cho vong linh những người đã chết trong chiến tranh" từ hơn hai năm trước trong một bức thư riêng ông gửi Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Được sự chấp thuận của ông, SGTT xin trích đăng sau đây bức thư quan trọng này
TP. HCM, ngày 29 tháng 3 năm 2005
Kính gửi: Anh Phạm Thế Duyệt
Có một vấn đề tôi suy nghĩ đã lâu nhân dịp 30 năm đất nước thống nhất và cả dân tộc xây dựng cuộc sống mới trong hoà bình xin được trao đổi với anh. Tôi cho rằng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên đặt ra, trao đổi trước với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, ngoài ra là một số tổ chức tôn giáo lớn khác trong Mặt trận tổ chức một lễ cầu siêu cho vong linh các người đã chết trong chiến tranh (bất cứ người Việt Nam nào và cả người có quốc tịch nước ngoài). Theo tôi, vấn đề này có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và ý nghĩa chính trị lớn, rất hợp đạo lý của người Việt Nam “nghĩa tử là nghĩa tận”. Chiến tranh đã kết thúc 30 năm rồi, có nhiều người trong gia đình, bè bạn những người có người thân đã mất có ước nguyện nếu Cơ quan Trung ương Mặt trận đề xuất điều này thì rất phù hợp.
Chúng ta đã rất quan tâm tới những người có thân nhân hy sinh cho cuộc chiến tranh chính nghĩa giành độc lập thể hiện qua sự quan tâm tới gia đình, người thân thường xuyên và trong dịp lễ tết, và đặc biệt có dành một ngày trong năm để tưởng nhớ đó là Ngày Thương binh liệt sĩ 27.7, điều này hoàn toàn thoả đáng.
Tuy nhiên, gia đình, bè bạn những người đã chết trong chiến tranh (không ở phía ta) không khỏi mủi lòng, đương nhiên, họ cũng biết lẽ phải là ở đâu và không có đòi hỏi gì. Nếu chúng ta chủ động tổ chức được lễ cầu siêu một lần như nói trên sẽ có ý nghĩa rất lớn. Đây coi như một vấn đề nhân đạo như chúng ta đã thực hiện công tác tìm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA).
Xin trao đổi với anh.
Võ Văn Kiệt
Đăng nhận xét
Những người lính Việt Nam Cộng Hòa xả thân, liều mình giữ đất giữ biển trước sự xâm lăng của bên ngoài thì cái chết anh hùng của họ không thể coi là những cái chết oan ức.
Những bộ đội, chiến sĩ khi vào Nam chiến đấu đã được trang bị bằng tinh thần “Chống Mỹ xâm lược”, thì cái chết của họ cũng không thể được coi là những cái chết oan ức, vì họ đã hy sinh theo tiếng gọi của truyền thống dân tộc chống xâm lăng. Còn sự kiện có “xâm lăng” hay không lại là một vấn đề khác.
Hàng trăm ngàn đồng bào tự nguyện đóng tầu ra khơi để trốn chạy một chế độ hà khắc mà trước đó, mọi người đều đã biết những nỗi hiểm nguy đang chờ đợi ngoài biển cả. Nhưng ai cũng nghĩ thà bỏ thây trong bụng cá còn hơn kéo dài cuộc sống trong một xã hội đầy hận thù và mông muội của thời buổi ấy. Những cái chết vì mưu tìm tự do đó của đồng bào cũng không thể coi là cái chết oan ức.
Như thế, tính sổ lại, hàng triệu con người dù trong Nam hay ngoài Bắùc, dù là trước hay sau chiến tranh, dù là chết trong khói lửa, bom đạn hay bỏ mình trong rừng sâu núi thẳm, trong đồng ruộng hay ngoài biển khơi, thì nhìn chung tất cả đều chỉ là nạn nhân của một mối oan khiên của dân tộc.
Cho nên giải oan ở đây là giải đi mối oan khiên của dân tộc.
Lập đàn giải oan không có nghĩa là xí xóa tất cả mọi chuyện. Những thủ phạm đã từng nhúng tay gây nên mối oan khiên kéo dài hàng mấy thập kỷ này tất sẽ phải nêu tên và bị kết án trước lịch sử. Vấn đề ở đây là những di họa của mối oan khiên đó, dù đã hơn ba mươi năm sau cuộc chiến, cho tới nay hậu quả khắc nghiệt của nó vẫn còn.
Nếu oan khiên không còn thì Nghĩa trang Quân đội ở Biên Hòa đã chẳng phải chịu đựng cái cảnh mồ không lún thì cũng chịu cảnh hương tàn, khói lạnh, cỏ hoang đây đó tiêu điều.
Nếu oan khiên không còn thì hai tấm bia tưởng niệm của thuyền nhân ở Malaysia và Phillipines đã chẳng đến nỗi phải bị đập bỏ một cách tàn nhẫn và phi nhân do chính áp lực của nhà cầm quyền Hà Nội.
Nếu oan khiên không còn thì đã chẳng thể tồn tại những phòng triển lãm “tội ác Mỹ Ngụy”, những ngày kỷ niệm ồn ào chiến thắng “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” vẫn được tổ chức rầm rộ hằng năm cùng với những luận điệu huyênh hoang, mục hạ vô nhân hiện vẫn còn đầy rẫy trong sách, báo.
Vân vân...và.. vân vân...
Cũng vì mối oan khiên còn đó mà tình trạng một thiểu số ít ỏi đã nhân danh ba triệu đảng viên, nhân danh cả nước, nhân danh cái lý tưởng đã bị thế giới đào thải để cứ tiếp tục lãnh đạo độc quyền đất nước và gạt ra ngoài tài năng, trí tuệ, tâm huyết của biết bao nhiêu con người ở cả trong lẫn ngoài nước. Điều này đã khiến cho đất nước đã bị bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội vận dụng được toàn thể tiềm năng trong công cuộc phục hưng xứ sở sau cuộc chiến, và đã khiến đất nước tụt lùi đến nỗi nhân vật Lý Quang Diệu gần đây đã phải tuyên bố: Việt Nam phải 20,30 năm nữa mới theo kịp được Mã Lai Á.
Và cũng vì mối oan khiên còn đó mà thế hệ trẻ bây giờ, thế hệ sinh ra sau khi cuộc chiến đã chấm dứt vẫn còn phải nhìn các bậc cha anh trong ánh mắt bối rối, ngại ngần, thậm chí nghi ngờ, oán hận vì không biết những gì đã thực sự xẩy ra trên quê hương của mình để mà bây giờ họ vẫn còn phải lúng túng với mầu cờ, vẫn còn phải nghe những lời thóa mạ, chửi rủa khi, hoặc đặt chân lên phần đất bên này hay bên kia. Quả là nỗi oan khiên của dân tộc đã bao trùm lên đầu óc non nớt và trong trắng của họ một cuộc hỏa mù không lối thoát, đến nỗi có nhiều tuổi trẻ đã phải lựa chọn con đường chối bỏ gốc gác của mình, dĩ vãng của ông cha mình để cho lòng khỏi vướng bận những hệ lụy mà bản thân họ không hề tạo dựng nên.
Cho nên để cho đất nước này được tiến lên, để cho con người Việt Nam dù là trong hay ngoài nước có cơ hội nhìn nhau mà lòng không vướng bận tàn tích của quá khứ, sẵn sàng chung tay góp sức trong những công trình xây dựng và phát triển xứ sở và để cho những anh hồn của các tử sĩ từ Bắc chí Nam, của các thuyền nhân chết vùi thây nơi biển cả được vinh danh, được yên nghỉ bình đẳng với nhau trong cõi vĩnh hằng, thì công cuộc lập đàn giải oan hóa giải những mối oan khiên của dân tộc cần phải được thực hiện. Ngoài ra, chuyện lập đàn giải oan chỉ là một hình thức “tượng trưng”, mang một ý nghĩa kêu gọi, thúc đẩy. Chuyện chính vẫn là nhà nước VN phải có những hành động cụ thể. Chỉ có những việc làm cụ thể với một ý thức chân thành tháo gỡ mối oan khiên của dân tộc thì những nỗ lực, những thiện chí của nhiều người, nhiều phía mới có cơ thành tựu.
Trong những ý nghĩ đó, tôi xin bầy tỏ sự ủng hộ những cuộc vận động “giải oan”, đặc biệt là nỗ lực đầu tiên của tăng đoàn Làng Mai sắp tới đây sẽ tổ chức Trai Đàn Giải Oan trên cả ba Miền đất nước. Dĩ nhiên cuộc lập Trai Đàn Giải Oan lần này chỉ mang ý nghĩa mà trong “Phổ cáo Quốc Dân cùng đồng bào Phật tử”, ban tổ chức đã cho biết, là để “chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết đi một cách oan ức, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trong trại tù, ngoài côn đảo và dưới những hố chôn tập thể.”. Hy vọng đây là một bước khởi đầu để đi tới những cuộc “giải oan” trên nhiều khía cạnh khác, trong những ý nghĩa khác, để qua đó, vận hội mới của đất nước sẽ thực sự được khai mở.
Xin cầu chúc cho những thiện chí nặng tình nước non, nặng nghĩa đồng bào sẽ đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
Tác giả Nhật Tiến hiện cư ngụ tại California Hoa Kỳ. Bài do báo Việt Tide gửi đến DCVOnline.
*********
Hòa giải
DCVOnline
Nhân dịp thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam lập Trai đàn giải oan, Đàn Chim Việt xin giới thiệu đến bạn đọc một bài viết của người trong nước trước sự kiện này. Ngay dưới bài viết của tác giả Huy Đức, báo Sài Gòn Tiếp Thị cũng đăng luôn sáng kiến của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt gởi Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch UB TƯ Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ông Kiệt đột ngột nảy ra sáng kiến và biên thư cho ông Duyệt ngày 29 tháng 3 năm 2005, cùng lúc thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam lần đâu (12/1 đến 11/4, 2005). Trai đàn giải oan, một phương pháp trị liệu của thiền sư Nhất Hạnh và ý nghĩa chính trị lớn của cựu thủ tướng CSVN, trở thành sự thật vào năm 2007. Chí lớn gặp nhau? DCVOnline gạch dưới và in đậm một vài đoạn trong thư của ông Võ Văn Kiệt.
Huy Đức
Chuyến trở về thứ 2 của thiền sư Thích Nhất Hạnh ngay ngày mùng 4 Tết được các báo trong nước đồng loạt đưa tin. Cùng với Tăng Đoàn Làng Mai, thiền sư về Việt Nam lần này là để lập ba đại Trai đàn Chẩn tế tại ba trung tâm phật giáo lớn nhất ở Việt Nam. Đại diện của Thiền sư nói trên báo Tuổi Trẻ rằng, Trai Đàn sẽ cầu siêu cho: “Tất cả những đồng bào tử nạn trong chiến tranh, trong đó có những chiến sĩ trận vong; nạn nhân chiến tranh; những người bị mất tích mà hài cốt chưa tìm ra được; những người đã chết trong tù ngục và những thuyền nhân không may bỏ mình trên biển cả”.
Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho những vong hồn không có ai thờ tự. Nghi thức Trai đàn nhằm cầu siêu cho người chết được siêu thoát nhưng qua đó cũng cầu an cho người sống được an lạc, hoá giải mọi tai ương, hận thù. Tập tục này, tin rằng, được truyền qua Viện Nam từ thời Lý. Năm 1789, sau khi “đại phá quân Thanh”, vua Quang Trung đã ban sắc lệnh làm lễ cúng cô hồn tử sĩ, kể cả cho mấy vạn quân Thanh tử trận. Năm 1802, sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long cũng thiết lập đàn siêu độ cho “tướng sĩ trận vong và cô hồn thập loại”.
Những người tử trận trong cuộc chiến tranh được nói tới trong đại lễ cầu siêu mà thiền sư Nhất Hạnh được phép tổ chức cùng với Giáo hội Phật giáo Việt Nam này là cuộc chiến đã chấm dứt cách đây sắp sửa đúng 32 năm. Ngay trong những ngày kết thúc chiến tranh, 1-5-1975, khi gặp Đại tướng Dương Văn Minh, vị Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà cuối cùng, tại dinh Độc Lập, Thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố: “Giữa chúng ta không có kẻ thắng người thua, chỉ có nhân dân Việt Nam thắng Mỹ”. Tuyên bố đó không chỉ là của riêng Tướng Trà mà là của một tầm nhìn. Thống nhất giang sơn đã khó, thống nhất lòng người sau mấy chục năm chiến tranh còn bội phần khó hơn.
Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt kể rằng, khi ông được điều về lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Miền Tây Nam Bộ, anh em binh vận ở đó gọi những gia đình có con em đi lính cho Chế độ Sài Gòn là gia đình “nguỵ quân” khiến cho bà con rất buồn. Ông Võ Văn Kiệt lúc đó đã yêu cầu các cán bộ thuộc quyền không được gọi như vậy nữa. Sau ngày đất nước thống nhất, Cục Báo chí- Xuất bản cũng đã có văn thư số 06/BCXB, ngày 17-2-1976 lưu ý vấn đề này: Kính gửi các cơ quan Thông tấn xã, Đài phát thanh và Đài truyền hình, các báo chí Miền, Thành phố và các tỉnh. Chấp hành ý kiến của lãnh đạo, chúng tôi xin thông báo đến các đồng chí được rõ: Kể từ nay, các bài viết đăng trên báo và trên đài, ta nên thống nhất dùng chữ “những người trong quân đội và chánh quyền của chế độ cũ” thay cho chữ “nguỵ quân và nguỵ quyền Sài Gòn” đã dùng trước đây. Với một cuộc chiến tranh mà như Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng mô tả, “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình Việt Nam vào tình thế vừa có người ở phía bên này, vừa ở phía bên kia”, thì đấy không chỉ là một cách dùng từ, đấy là một thái độ chính trị đối với hàng triệu đồng bào.
Lịch sử của không ít quốc gia cũng đã từng phải trải qua những tình huống tương tự. Tại bảo tàng cuộc chiến Bắc- Nam, 1961-1965, của Mỹ, tướng bại trận Miền Nam Robert Lee, vẫn được miêu tả và được biểu thị sự kính trọng như một người hùng. Người Mỹ kính trọng tướng Lee không chỉ vì quyết định đầu hàng của ông đã giúp cho cuộc chiến tranh kết thúc có hậu và sự kính trọng đó không chỉ dành cho cá nhân ông, mà còn dành cho tinh thần chiến đấu của một người Mỹ. Nhưng với cả người Mỹ, mọi chuyện cũng không đơn giản. Abraham Lincoln, vị Tổng thống lãnh đạo cuộc chiến tranh 1861-1865, người mà ngay sau cuộc chiến đã đưa ra những tuyên bố mang tính hoà giải Bắc- Nam, đã bị ám sát chưa đầy một tuần sau chiến thắng.
Trai đàn Giải oan “Không thuần tuý là vấn đề tôn giáo” mà còn là một phương pháp trị liệu. Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói với báo chí trong nước: “Tôi đã đi qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tôi biết ở phía nào cũng có người trực tiếp hoặc gián tiếp gánh chịu đau khổ. Những vết thương lòng nếu không trị liệu có thể sẽ truyền lại cho con cháu”. Lịch sử thống nhất lòng người Việt Nam cũng đã không giản đơn như những tuyên bố trong những ngày chiến thắng. Có vô số “vết thương” trong lòng người Việt đã xảy ra trong chiến tranh và cũng có những “vết thương”, rất tiếc, vẫn còn xảy ra những năm sau đó.
Hai năm trước đây, trong một bức thư gửi Chủ tịch UBTU Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt, Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đặt ra vấn đề tổ chức một “Lễ cầu siêu cho vong linh những người đã chết trong chiến tranh”. Ông Võ Văn Kiệt cũng đã nhắc lại điều này trên báo chí khi ông làm lễ trồng cây Bồ Đề nhân ngày xá tội vong nhân hồi tháng 7 năm 2006. Ngày 27-11-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một quyết định quan trọng, đồng ý chuyển 58 hecta đất thuộc nghĩa địa Bình An, vốn là khu nghĩa địa của quân đội Việt Nam Cộng Hoà trước đây sang mục đích dân sự. Quyết định này giúp cho, ngoài Trai đàn Chẩn tế, các nhà sư còn có thể tiến hành “lễ rước linh tại các nghĩa trang liệt sĩ cũng như nghĩa trang quân đội chính quyền cũ”. Nhưng, không chỉ dựa trên những quyết định ấy- sự chuyển mình của đất nước và những thay đổi về chính sách đã khiến cho những người Việt Nam, dù đang ở trong nước hay vài thập kỷ trước từng phải cất bước ra đi, không còn nhìn thấy quá nhiều khác biệt nữa- mới chính là điều kiện để những tăng ni, phật tử thiết lập được một Trai đàn Giải oan quy mô như thế này.
Đúng như thiền sư Thích Nhất Hạnh nói, Trai đàn Giải oan “không thuần tuý là vấn đề tôn giáo”. Sự xuất hiện của những hoạt động như vậy ở trong nước là tín hiệu cho một cách nhìn mới giữa người Việt với nhau. Không phải rồi vết thương nào cũng có thể lành ngay sau một Trai đàn Chẩn tế. Thậm chí nó vẫn có thể khơi thêm một chút ngậm ngùi cho một số ít người. Nhưng những hoạt động như vậy chắc chắn sẽ mang đến nhiều hy vọng. Rồi có lẽ sẽ có một ngày, các bà mẹ Việt Nam sẽ đưa những đứa con đã mất của mình về nằm cạnh bên nhau và những đứa con lưu lạc, cũng sẽ lần lượt trở về, ngồi lại với nhau.
(theo Sài Gòn Tiếp Thị)
Sài Gòn Tiếp Thị — Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa ra sáng kiến tổ chức một "Lễ cầu siêu cho vong linh những người đã chết trong chiến tranh" từ hơn hai năm trước trong một bức thư riêng ông gửi Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Được sự chấp thuận của ông, SGTT xin trích đăng sau đây bức thư quan trọng này
TP. HCM, ngày 29 tháng 3 năm 2005
Kính gửi: Anh Phạm Thế Duyệt
Có một vấn đề tôi suy nghĩ đã lâu nhân dịp 30 năm đất nước thống nhất và cả dân tộc xây dựng cuộc sống mới trong hoà bình xin được trao đổi với anh. Tôi cho rằng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên đặt ra, trao đổi trước với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, ngoài ra là một số tổ chức tôn giáo lớn khác trong Mặt trận tổ chức một lễ cầu siêu cho vong linh các người đã chết trong chiến tranh (bất cứ người Việt Nam nào và cả người có quốc tịch nước ngoài). Theo tôi, vấn đề này có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và ý nghĩa chính trị lớn, rất hợp đạo lý của người Việt Nam “nghĩa tử là nghĩa tận”. Chiến tranh đã kết thúc 30 năm rồi, có nhiều người trong gia đình, bè bạn những người có người thân đã mất có ước nguyện nếu Cơ quan Trung ương Mặt trận đề xuất điều này thì rất phù hợp.
Chúng ta đã rất quan tâm tới những người có thân nhân hy sinh cho cuộc chiến tranh chính nghĩa giành độc lập thể hiện qua sự quan tâm tới gia đình, người thân thường xuyên và trong dịp lễ tết, và đặc biệt có dành một ngày trong năm để tưởng nhớ đó là Ngày Thương binh liệt sĩ 27.7, điều này hoàn toàn thoả đáng.
Tuy nhiên, gia đình, bè bạn những người đã chết trong chiến tranh (không ở phía ta) không khỏi mủi lòng, đương nhiên, họ cũng biết lẽ phải là ở đâu và không có đòi hỏi gì. Nếu chúng ta chủ động tổ chức được lễ cầu siêu một lần như nói trên sẽ có ý nghĩa rất lớn. Đây coi như một vấn đề nhân đạo như chúng ta đã thực hiện công tác tìm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA).
Xin trao đổi với anh.
Võ Văn Kiệt
<< Home
