18/6/07

 

Hà Sĩ Phu
Tư tưởng và dân trí là nền móng xã hội

(Mạn đàm cùng các ông Lê Hồng Hà, Bùi Tín, Võ Văn Kiệt)
Xem tiep...
Comments:
Phần I: Mấy lời trước khi tham luận
Phần II: Mấy nhược điểm chính trong tính cách của Dân tộc ta, và cách ứng xử cần thiết hiện nay
Phần III: Mác-Lênin là cái nền móng không dùng được nữa
Phần IV: Nhân vật lịch sử Phan Chu Trinh và những bài học cho hôm nay

--------------------------

PHẦN I: Mấy lời trước khi tham luận.

Xã hội Việt Nam lúc này, hơn bao giờ hết cần sự động tâm, động não… của mỗi người dân Việt.
Nếu chỉ lấy dấu mốc từ 1975 khi chiến tranh kết thúc đến nay thôi thì tình hình xã hội Việt Nam cũng đã cho thấy những tính chất rất phức tạp. Từ phía đảng cầm quyền đã có một hệ thống lý luận cung cấp một cách nhìn toàn cảnh, cho thấy đất nước đã vượt qua hàng loạt khó khăn một cách thắng lợi, đã hội nhập được vào nền kinh tế toàn cầu, bộ mặt kinh tế đất nước và đời sống nhân dân đã được cải thiện một cách căn bản và đang phát triển với tốc độ cao; những thành tích ấy là do có một cái nền ổn định về chính trị, có sự đoàn kết nhất trí của toàn dân, được quốc tế ủng hộ, nhất là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của đảng CSVN với phương châm chiến lược tuyệt đối đúng là kiên trì định hướng Xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là con tàu Việt Nam đã được đặt vào đúng quỹ đạo, hành khách có thể hoàn toàn yên tâm.

Đấy cũng là sự thật, song mới là "sự thật một nửa", một mặt của sự thật. Chỉ cần “hành khách” không thuộc loại “vô lo vô nghĩ” để có thể cứ yên tâm ngủ gà ngủ gật, mà lại tỉnh ngủ để nhìn rõ những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài đoàn tàu thì lập tức thấy không thể yên tâm, không thể phó mặc, mà tự nhiên thấy lo âu, và có phần sinh nghi.

Những thực tiễn trái chiều và nhận định trái chiều với quan điểm chính thống thì nhiều vô kể, nhưng điều đáng nói nhất là sự tích lũy những sự kiện ấy đã dẫn đến chỗ buộc phải "xét lại” vấn đề một cách hệ thống. Bởi có nhãn quan hệ thống mới có thể lần ra đầu mối một thực tế phức tạp, tốt xấu đan cài, với nhiều ảo ảnh, nhiều vùng ngụy trang để đánh giá đúng và có những quyết định đúng và thái độ ứng xử đúng.

Những quan điểm trái chiều có tính hệ thống ở Việt Nam đã xuất hiện khá sớm, trên dưới 20 năm nay. Nhưng theo thời gian, mâu thuẫn ấy không giảm để đi vào ổn định, trái lại ngày càng tăng lên.

Chỉ cần lấy ba bài viết gần đây, từ ba nhân vật đã hoặc đang là những đảng viên khá cao cấp của đảng CSVN, mang tính “xét lại” một cách hệ thống làm ví dụ: bài “Góp ý với Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới” (1) của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt công bố cuối tháng 5 -2006, bài “Những vấn đề cần làm rõ về cách mạng dân tộc-dân chủ ở Việt Nam” (2) của nhà báo Bùi Tín ngày 24-3-2007, và bài trao đổi của ông Lê Hồng Hà với Hà Sĩ Phu ngày 10-3-2007 (3).

Ba nhân vật này đều đã là ba đảng viên Cộng sản cấp khá cao nhưng nằm trong ba trường hợp diễn biến rất khác nhau, nên khá tiêu biểu cho bức tranh phân ly tất yếu phát sinh từ trong đảng Cộng sản (một ông cựu thủ tướng vẫn đang là đảng viên có vai vế cao trong đảng, một ông bị đảng khai trừ và bỏ tù vì trái quan điểm nhưng vẫn gắn bó mật thiết với nội tình của đảng, một ông đã ra khỏi nước và chính thức đối lập với đảng).

Ba bài viết đều toát lên nhu cầu phải dân chủ hoá xã hội, nhưng thuộc ba cung bậc khác nhau, và cả những ưu điểm cũng như nhược điểm của các bài ấy đều kích thích người ta bàn luận, nên ngẫu nhiên hợp lại có thể coi như một “đề dẫn” khơi mào cho một cuộc thảo luận mang tính hệ thống. Quan điểm trái chiều của những trí thức không phải đảng viên Cộng sản tất nhiên mạnh mẽ hơn nhiều, nhưng hãy chỉ kể thêm một tài liệu nữa, từ những người đứng giữa, là “Nghị quyết số 1481” của Hội đồng Nghị viện châu Âu PACE ngày 25/1/2006 (4), một bản đúc kết có tính quốc tế, khái quát và khách quan.

Đọc xong các tài liệu ấy, một người Việt có hiểu biết không thể không đặt ra những câu hỏi từ tổng quát đến cụ thể:

- Sự chọn lý thuyết Cộng sản vừa làm mục đích vừa làm phương tiện có phải là sự lựa chọn đúng, khoa học và khôn ngoan không?

- Trên con đường Cộng sản ấy Việt Nam đã đi được đến đâu, và sẽ đi đến đâu, những hiệu quả chính trị và xã hội (cả tích cực và tiêu cực) của sự lựa chọn ấy đối với quá khứ, hiện tại và tương lai tốt xấu ra sao? ĐCSVN hiện nay có thực trung thành với chủ nghĩa Cộng sản không, hay trung thành với cái gì khác?

- Nên tóm tắt diễn biến của xã hội Việt Nam 32 năm qua như thế nào cho đúng thực chất?

- Nên xử lý thế nào trước thực tiễn lịch sử rất không đơn giản này để phát triển đất nước một cách trong sáng, xứng với tầm thời đại? Cứ yên tâm như hiện nay mà đi tiếp hay phải thoát ra khỏi tình trạng này, và ra bằng lối nào?

- Có thể áp dụng kinh nghiệm các nước khác vào Việt Nam không, Việt Nam có tính cách đặc biệt gì trong tư duy và trong ứng xử?

- Những người trí thức có trách nhiệm thế nào trong những diễn biến ấy?

… vân vân…

Mặc dù mọi vấn đề đều có liên quan với nhau, nhưng muốn ngồi lại với nhau để thảo luận được, trước hết phải tách thành hai lĩnh vực: lĩnh vực nhận thức, lý luận khoa học và lĩnh vực hoạt động chính trị. Bấy lâu nay không thể thảo luận gì được vì cứ vội vã nhập hai lĩnh vực này làm một, tư duy cứ bị cái chính trị của bên này hay bên kia chụp mũ thô bạo nên “chết ngắc”, mất hẳn thiên chức khách quan, nhạy cảm chỉ đường của nó.

Nhận thức khoa học và hoạt động chính trị là hai lĩnh vực khác hẳn nhau, một bên lấy chuẩn là sự thật, là chân lý khách quan , một bên lấy chuẩn là lợi ích, mà lợi ích luôn có tính chủ quan (dù là lợi ích lớn của một dân tộc cũng vậy). Vì khác nhau về xuất phát điểm nên cũng khác hẳn nhau về tính chất: đã là tư duy khoa học để tìm chân lý khách quan thì phải đi đến cùng, phải nhất quán, phải triệt để, để xác định xem cuối cùng “bản chất nó là cái gì”? Không thể nhân nhượng, không thể pha trộn cho vừa lòng, không được “nói dựa” theo thực tế mà còn phải đi trước thực tế.

Còn hoạt động chính trị thì khác hẳn. Dẫu có dựa trên một chân lý khoa học khúc triết và triệt để đến đâu thì người hoạt động chính trị vẫn phải căn cứ vào thực tế, phải xuất phát từ hiện trạng, phải thích nghi và điều chỉnh thái độ từng bước theo thực tế, thích nghi với quần chúng, sẵn sàng mềm dẻo, thương lượng để tìm sự đồng thuận, cốt sao vận động được quần chúng thành sức mạnh để thực hiện mục đích. Mà mục đích lại phải chia thành nhiều giai đoạn từ thấp lên cao. Có lúc tiến, có lúc lui, tuỳ tương quan về thế và về lực. Trong khi khoa học không chấp nhận thủ đoạn, luôn phải nói thẳng, nói đúng sự thật, thì người hoạt động chính trị có thể dùng “thủ đoạn chính trị”, không phải bao giờ cũng nói hết sự thật hay toàn bộ tiến trình. Đánh giá người hoạt động chính trị là ở kết quả cuối cùng đối với xã hội. Nghệ thuật chính trị là vậy, nếu người hoạt động chính trị lại hành xử giống như một nhà khoa học hay hành xử theo xúc cảm chủ quan thì đều là “vô chính trị”.

Bởi hai lĩnh vực khác hẳn nhau như vậy nên nếu ta đem cả hai dạng đối chọi ấy vào một cuộc hội thảo thì khó có thể dung hòa.

Theo sự liên quan đến hai lĩnh vực này, mỗi chúng ta có thể gần gũi với một trong năm trường hợp:

1. Hoặc là một người duy lý, chỉ quan tâm đến những vấn đề lý luận khoa học và nhận thức (kể cả khoa học chính trị và nhận thức chính trị).

2. Hoặc là một người hoạt động chính trị, một người duy lợi, chỉ quan tâm đến lợi ích, thắng thua.

3. Hoặc là người quan tâm đến cả hai lĩnh vực trên, vừa tôn trọng lý luận khoa học để tìm chân lý khách quan, vừa muốn có hoạt động xã hội để góp phần thực hiện chân lý đó (có thể nặng về mặt này nhiều hơn hay mặt kia nhiều hơn).

4. Hoặc là một người cũng quan tâm đến lý luận chính trị-xã hội nhưng từ các góc nhìn khác, từ những nhu cầu khác (duy tín, duy mỹ, duy ngã...).

5. Cuối cùng, đương nhiên có những người không quan tâm gì hết, coi ngôn luận là trò bỏ đi.

Mỗi “type” người nói trên có kiểu ngôn luận riêng. Nhưng trong một không khí bao trùm bởi độc quyền chính trị thì mỗi “type” ấy đều phải biến dạng. Nhà khoa học cũng khó có thể bộc lộ quan điểm khoa học một cách hoàn toàn thoải mái, tự do. Một nhà chính trị khôn ngoan thì vốn ít khi “nói thẳng ruột ngựa”. Một nhà văn thì lại có cách cảm thụ, cách diễn đạt riêng, với uẩn khúc riêng. Nhưng dù có bị che mờ đi thì rồi người đọc vẫn có thể nhận ra động cơ và hàm ý cốt lõi của người viết.

Điều quan trọng là: Hãy cứ nhận thức vấn đề cho thấu đáo, cho khoa học, cho thoải mái, cho khách quan trước đã! Rồi vận dụng nhận thức ấy vào hoạt động chính trị, vào cuộc sống thế nào là việc về sau của mỗi người, là quyền của mỗi người, mỗi phe phái. Nếu biết tách thành hai “công đoạn” như vậy thì hai mặt mâu thuẫn vẫn tìm được chỗ thống nhất. Một nhà khoa học rất triệt để trong nhận thức vẫn có thể là người rất mềm dẻo trong ứng xử, kể cả ứng xử chính trị.

Vậy muốn đi tìm một nhận thức đúng thì đừng vội gò mình và gò người khác vào nhu cầu chính trị, đừng vội quy kết chính trị. Nếu tôn trọng điều này chắc cuộc thảo luận về nhận thức có thể đem lại nhiều điều bổ ích chung và bổ ích cho mỗi người (tất nhiên trừ những người ngay từ đầu đã có nhu cầu tránh né sự thật!).

Vậy ta hãy bộc lộ nhận thức một cách thẳng thắn theo tinh thần khoa học.


PHẦN II . Mấy nhược điểm chính trong tính cách của Dân tộc ta, và cách ứng xử cần thiết hiện nay.

Người Việt mình bản tính chỉ ưa những gì thiết thực. Nhưng ưu điểm ấy thái quá thì thành thực dụng, tiện dụng. Trong bộ ba Chân Thiện Mỹ ta thường say mê Thiện và Mỹ, trong đó Thiện là tốt, là tử tế, là có ích, có lợi. Mỹ là cái đẹp. Thiện và Mỹ thì dùng được ngay, thưởng thức được ngay. Còn Chân là để biết cái thực chất, cái bản chất của sự vật đúng như nó vốn có, thì phải truy nguyên, truy cứu đến cùng; việc này rất tốn công lại thường gây rắc rối nên số đông thường tránh né, thường bỏ ngoài tai.

Việc truy nguyên, truy cứu ấy ta thường “nhường” cho người khác, cho những người “dư lực”, cho những nước giàu có-văn minh, hoặc giả lại khoán trắng cho người có quyền. Sự lảng tránh, không chịu mất công tìm cái gốc sâu xa ấy một phần do tính “khôn lỏi”, một phần do mặc cảm tự ty, ngại khó, không dám bỏ công thiết kế cái nền tảng cho mình, cứ nương theo cái nền có sẵn mà phụ họa, mà khai thác thôi. Cái gì đã có sẵn, đã du nhập vào, đã thành chính thống là chấp nhận hết, tận dụng hết, nếu thấy có gì còn chênh, còn sượng, thì xào xáo lại, hoặc cố kê cho bằng, cố chắp nối vào cho khớp. Vì thế mà không thể có một Tư tưởng cho ra Tư tưởng, một cái nền nào cho ra cái nền.

Nhặt một chút Lão, một chút Khổng, một chút Thích Ca, một chút Giê su, một chút Tôn Trung Sơn…, lại gò hết cả vào cho lọt cái chảo Mác xít thì thành Tư tưởng sao được? Một sự kết hợp chủ động và có sàng lọc thông minh, sáng tạo như của Phan Chu Trinh là trường hợp hiếm thấy (xin đề cập nhân vật lịch sử này trong một mục khác).

Người Việt mình tuy rất thông minh, nhạy cảm nhưng chỉ giỏi thứ văn thơ “tầm tầm”, chơi vơi, mà không đóng góp được cho nhân loại một triết gia hay một nhà bác học nào về khoa học chính xác là bởi cái tính lưng chừng, không triệt để ấy. Khi cái Thiện cái Mỹ đã đứng trên cái nền vay mượn, thì văn hóa khó thoát khỏi tính chất ký sinh, mà chính trị cũng dễ bị trào lưu đưa đẩy. Người cầm cờ thì chạy theo trào lưu, nhân dân thì đổ xô theo người cầm cờ. Thế là cả cộng đồng không biết nắm đằng chuôi , cứ nắm đằng lưỡi (lưỡi là bộ phận hào nhoáng, tiện dùng), thì bị người ta “dắt tựa trâu bò” (lời thơ Hồ Chí Minh) là lẽ đương nhiên, đã dính vào rồi thì về sau có tỉnh ngộ ra cũng không cưỡng lại được nữa, cưỡng lại thì đứt mũi, đứt tay.

Người thực dụng, cảm tính, ăn xổi như vậy trước mắt tưởng là khôn nhưng suốt đời mắc những cái dại lớn. “Hớt váng nổi” mãi cũng không được, hớt mãi sẽ cạn và đụng đến cái bế tắc. Khi bế tắc đáng lẽ phải đi lại từ đầu, nhưng vốn không có sự kiên trì dũng cảm ấy nên đương nhiên lại chọn cách sửa chữa vá víu, tu sửa vặt, thế là mãi mãi không có một cái nền nào vững chắc.

Nền không vững thì nhà không thể xây cao, Tư tưởng không được định hình vững chắc và chính xác thì dân tộc không thể đi xa. Đến những việc trọng đại của dân tộc mình, không ai làm hộ được mà ai cũng “khoán trắng” cho người khác thì mong chi làm chủ được cơ đồ? Hàng nghìn năm phụ thuộc Trung Quốc là do phụ thuộc về ý thức hệ. Mấy chục năm phụ thuộc phe Xã hội Chủ nghĩa cũng vì phụ thuộc ý thức hệ. Đến bây giờ dân phụ thuộc vào Đảng cũng vì bị ý thức hệ dắt đi. Cái giá phải trả cho sự ỷ lại, lười nhác về tư duy là như vậy đấy.

Khi nhấn mạnh vai trò nền tảng của Tư tưởng, phải hiểu rằng ai chiếm lĩnh được nền tảng ấy là làm chủ được xu thế xã hội. Có Tư tưởng đúng mới xây dựng được một Dân trí cao.

Một dân tộc không có Tư tưởng hay coi nhẹ Tư tưởng thì cũng tự đánh mất luôn quyền làm chủ xã hội của mình.

Ngược lại, áp đặt một Tư tưởng cho nhân dân, dẫu cho Tư tưởng ấy ca ngợi dân lên đến tận trời, thì cũng là huỷ diệt tận gốc khả năng làm chủ của nhân dân. Chỉ cần trói buộc được một người về tư tưởng thôi là cơ bản đã trói buộc xong con người đó, đảm bảo họ chỉ cựa quậy quanh quỹ đạo ấy, mọi sự cải thiện về sau cũng chỉ là vớt vát.

Chỉ với một tư tưởng “Trung Quân” (bởi “Quân” là đấng Thiên tử -con Trời, thay Trời trị dân) mà vua chúa chiếm được hết cả sơn hà xã tắc. Thần dân bị mất sạch sành sanh vào tay vua chúa, thế mà chỉ cần một câu nói xạo “dân vi quý, quân vi khinh”, hay một chén rượu thưởng, một mảnh giấy khen… là sướng run lên đến quên hết sự đời. Khốn nạn thay!

Dân phẫn nộ, có vùng lên thì thì xương máu lại cũng xây đắp lên một ngai vàng mới, còn tệ hơn ngai vàng cũ. Bởi vấn đề gốc rễ không phải là thay một ngai vàng, mà phải thay một Tư tưởng! .

Không cần Tư tưởng tâng bốc nhân dân, vô ích! (Nghịch lý là muốn thương dân thì đừng nhìn chăm chăm vào dân làm gì mà hãy để mắt nhìn vào kẻ trị dân!). Chỉ cần kẻ trị dân không được độc quyền, buộc phải phân quyền, vì độc quyền sẽ dẫn đến lạm quyền vô hạn. Thế thôi, lão Vua nó bảo nó sẽ tu thân, nó sẽ thương dân, nó sẽ hy sinh hết cho dân, nó chỉ muốn làm đày tớ của dân, ngoài ra nó không có lợi ích nào khác? Mặc nó, không nghe làm gì! Chỉ cần nó chịu phân quyền, nó không được độc quyền cai trị, khi nó sai trái dân có thể phế truất. Muốn phế truất được thì dân phải nắm đằng chuôi. Muốn nắm đằng chuôi thì cái triết lý trị dân, tức cái Tư tưởng chính trị phải do dân lựa chọn.

Cụ Hồ đã chọn một con đường cách đây ngót một thế kỷ, trong một ý thức không mấy đầy đủ (5), nay tuyệt đại bộ phận các nước, nhất là các nước văn minh, đều xác nhận con đường ấy là sai, thì phải đặt vấn đề ấy công khai lên bàn cho toàn dân tộc thẩm định một cách dân chủ. Nếu trước chọn chưa đúng thì nay dân chọn lại, dân là chủ thì việc tối hệ trong này phải do ông chủ quyết định, chứ không thể nhường cái quyền lựa chọn ấy cho “Bác Hồ” hay cho bất cứ ai. Nhưng các giới cầm quyền trong các nước Xã hội chủ nghĩa đã “vớ” được một chủ nghĩa cực kỳ béo bở nên không muốn rời ra nữa (sao Marx thương người lao động mà lại ngớ ngẩn nghĩ ra cái chủ nghĩa làm khổ người lao động đến thế? Hãy so sánh đời sống người lao động ở các nước theo chủ thuyết Mác với các nước Tư bản xem ở đâu tốt hơn, hãy mở cửa xem người dân chạy từ đâu sang đâu?). Mà dân mình thì đã nhiễm cái bệnh thâm căn cố đế là thiếu tinh thần tự chủ nên cứ tiếp tục để bị dắt đi, như thể chẳng có gì quan trọng xảy ra hết.

Đến đây, tôi xin phép dừng lại một chút, bàn về ý thức làm chủ của người Việt mình. Sự vùng lên đánh giặc với ý thức làm chủ là hai thứ khác nhau một trời một vực, một thứ là bản năng sinh tồn của kẻ bị mất nước, một thứ là ý thức xã hội của công dân một nước độc lập. Truyền thống ỷ lại, phụ thuộc, chiều lòng cấp trên của người Việt đã hun đúc nên cái đức “tự kiểm duyệt” rất tuyệt vời. Chưa cần cấp trên ra lệnh hoặc cấm đoán mà mình đã thông minh, nhanh trí, tưởng tượng xem tâm lý cấp trên muốn gì để mình tự thực hiện trước. (Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, sự ngoan ngoãn đi trước là sự khôn ngoan của “thánh nhân” đấy!).

Điều kỳ lạ là kẻ bị trị lại nhanh nhảu thử đặt mình ở địa vị kẻ thống trị, xem là cấp trên thì muốn điều gì, không muốn điều gì, để mình tự giác thực hiện. Nhiều “trí thức cách mạng” đã là kẻ đi đầu trên con đường nô dịch này: nhà nước chưa hề đặt quy chế kiểm duyệt mà nhà văn nhà báo đã tự xếp hàng đi đều tăm tắp trong hàng quân văn nô không chút sơ xuất! Văn hào Nga Mikhail Alexandrovich Solokhov đã tự hào về sự tự kiểm duyệt như sau: “Tôi viết theo mệnh lệnh trái tim, nhưng trái tim tôi thuộc về Đảng” (chứ Đảng đâu cần ra lệnh cho tôi?). Trái tim vẫn nằm trong lồng ngực nhưng đã được nhà văn “chuyển giao” cho Đảng, một quy luật của tình yêu (si tình “xin chết” cho người mình yêu) đã vào chính trị một cách ngọt ngào. Không phải chỉ những bài viết, những tác phẩm, mà cả những cuộc đời cũng được tự kiểm duyệt cho “phải đạo”! Tôi chợt hiểu ra một thuật chính trị: Muốn đánh lừa người khác thì tốt nhất là làm thế nào cho họ tự đánh lừa họ, bằng cách đó họ sẽ tiếp tục gíup mình đánh lừa những người khác nữa, tạo nên một phản ứng dây chuyền! Nhà thơ Bùi Minh Quốc gọi mẹo ấy là “biến cuộc trấn lột thành một cuộc hiến dâng tự nguyện”.

Cũng nhà thơ Bùi Minh Quốc, trong bài viết “Một mình một phiếu” (6) mới đây đã phát hiện thói “tự kiểm duyệt” của phần đông người Việt trong việc bầu cử: Chỉ có một mình trong phòng kín với lá phiếu trong tay mà không làm chủ được mình, vẫn luôn bỏ phiếu cho những kẻ mà lúc thường ngày mình vẫn không coi ra gì vì tội tham nhũng! Nếu lúc ấy mình gạch tên ấy đi thì có ai làm gì mình đâu?

Cái thói tự kiểm duyệt đã thành tự kỷ ám thị đưa con người vào tình trạng bị thôi miên. Mà tôi xin nói: Đảng đâu có bảo anh làm như thế, làm thế Đảng còn “mắng” cho là đằng khác! Đảng vẫn nói: “Đảng đem lại quyền làm chủ cho dân, làm chủ gồm có làm chủ bản thân trước rồi mới làm chủ xã hội!”. Thế mà lúc “một mình một phiếu” trong phòng kín mình lại không “làm chủ bản thân” thì tức là mình làm ngược ý Đảng chứ? Nhưng, một người dân khẽ bảo với tôi: Thôi ông ơi, cứ “làm ngược” thế mới là xuôi đấy ông ạ! (người dân nào cũng làm y như mình rất am hiểu về khoa “Tâm lý Đảng” mới lạ! Tài thế!). Không chỉ người dân thường, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ có tên tuổi cũng thường có những ứng xử rất “xoàng”, rất không xứng, mặc dù chẳng có sức ép gì đến mức phải chọn cách ứng xử như vậy. Cũng là một kiểu “tự kiểm duyệt” an toàn quá mức cần thiết đấy thôi.

Không ít người còn có suy nghĩ đơn giản: Trước mắt hãy cứ phát triển kinh tế, chính trị-tư tưởng là chuyện đường xa, chưa cần.Thậm chí còn coi chính trị-tư tưởng là cổ lỗ. Những bạn trẻ đề cao kinh tế-kỹ thuật ấy tưởng như thế là trí tuệ, là hiện đại, nhưng thực ra đó là trí tuệ nông cạn, cũng không khác gì tính thực dụng của người ít học. Bất cứ một sự nghiệp lớn, một công trình lớn nào cũng đòi hỏi trước hết một cái nền “triết lý” của nó, đó là sợi dây vô hình để xâu chuỗi tất cả mọi người, mọi điều, mọi việc.

TS Vũ Minh Khương (trường “Chính sách công” Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore), sau khi khảo sát hàng loạt những chỉ số kinh tế- kỹ thuật của Việt Nam so sánh với Trung quốc và nhiều nước khác, cuối cùng đi đến kết luận: “Thế nhưng, đột phá không bắt đầu từ cố gắng sửa đổi một vài thủ tục hành chính, hay biện pháp đốc thúc quyết liệt một số dự án trọng điểm, mà phải khởi đầu từ một TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN” (7). Triết lý ở đây là một hệ thống những quan niệm khoa học và linh hoạt, giúp con người có một nhãn quan xa, rộng và hài hoà, làm cơ sở để tiếp tục chọn lọc không ngừng, không hề có tính chất khuôn mẫu như một “chủ nghĩa”. “Chủ nghĩa” mới là thứ lạc hậu, cổ lỗ, bởi không một “chủ nghĩa” nào, do một đầu óc siêu việt nào nghĩ ra, mà “trụ” nổi trong thế giới ngày nay, thế giới mà tất cả những bộ óc của nghìn triệu con người đã được nói thông sang nhau bằng Internet!.(Muốn cứu sống một chủ nghĩa nào đó đương nhiên người ta nhận ra kẻ thù là Internet và muốn khống chế nó, nhưng làm sao “lấy chỉ mà buộc chân voi”?).

*

- Trong khi rất dễ dãi, lơ mơ, đại khái cho qua trước những vấn đề lớn thì người Việt lại thường sắc xảo, tỷ mỉ, xét nét, chặt chẽ, chắp nhặt, khó châm chước cho nhau trong những vấn đề nhỏ, thậm chí chỉ là tiểu tiết trong những vấn đề quan hệ, đời sống cá nhân. Vì thế người Việt vừa đặc trưng ở tính cách ôn hòa, nhu thuận lại vừa đặc trưng ở tính phân tán, nhỏ nhặt, ganh tỵ, võ biền, ham đánh nhau. Dân ta bộc lộ được hết ưu điểm nếu trước mặt có một kẻ thù xâm lược, nhưng lại bộc lộ hết nhược điểm khi cần hiệp lực trong tự chủ và phát triển. Dễ chia sẻ với nhau trong đau thương hoạn nạn nhưng khó chia sẻ hạnh phúc vinh quang. Cứ phải có kẻ thù mới mạnh lên được, hết kẻ thù là nhược điểm lại hiện ra! Ở điểm này thì tính cách dân tộc và “tính cách” của chủ nghĩa Mác Lênin tỏ ra tương hợp, cộng hưởng với nhau. Hình như chủ nghĩa Mác được viết ra chủ yếu là để cho người Việt chúng ta vậy!

- Bản năng sinh tồn cao, nhưng nặng về thích nghi, và thích nghi quá “nhạy” nên dễ pha tạp, hầu như không có gì thuần chủng. Không bao giờ rành mạch, không thể rành mạch, hoặc không thích rành mạch. “Làm tài trai cứ nước hai mà nói”, “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo”, “Nói dzậy mà không phải zdậy”, cứ nhũng nhẵng thế mà “vô địch” đấy, mặc dù vô địch kiểu này thì cũng khó đứng lên thành “người lớn” được. Luật pháp gì cũng pha chất “cao su” cả, tính luật thì ít, chất “mẹo” thì nhiều. Sự chọn lựa không phải giữa đúng và sai (bản chất nó là cái gì không quan trọng), mà chỉ tính toán cái nào có lợi nhất, hoặc trước mắt thấy “ngon sơi” nhất, hoặc khó diệt nhất, mà những giá trị này thì thay đổi hàng ngày hàng giờ theo tình hình. Vì thế khó lòng có một “gien trội” thuần chủng nào có điều kiện ổn định lâu dài để định hình và phát triển được trong tính cách Việt nam. Đó là một thể nhão vô định hình, không phải thể lỏng, không phải thể dắn, cũng không phải thể khí.

Một biểu hiện khác của tính nhập nhằng là sự “hiểu ngầm”: không chính thức đề cập đến mâu thuẫn cũ, tội lỗi cũ, mà dùng một cử chỉ thân thiện, một món quà…để hiểu ngầm rằng đã đổi mới, đã phục thiện, có thể rũ bỏ chuyện cũ, xúy xóa chuyện cũ. Cách ứng xử ấy là rất tốt trong những quan hệ tình cảm gia đình, họ hàng, bè bạn, trong đó lòng nhân ái và tin nhau là chính. Nhưng lạm dụng cách ứng xử “chín bỏ làm mười” ấy trong việc điều hành xã hội, trong những việc đòi hỏi pháp lý rành mạch thì sự nhập nhằng ấy khiến cho muốn hiểu thế nào cũng được, tiến lui thế nào cũng được, chẳng có gì ràng buộc. Trong việc điều hành đất nước, muốn sửa tận gốc một lỗi lầm có tính căn bản, nhất là lỗi lầm do ý thức, thì phải phân tích và nhận diện lỗi lầm ấy ở nguyên dạng, chưa bị sự thích nghi khôn khéo làm nhòe đi (trong bệnh tật, việc dùng thuốc an thần, giảm đau nhiều khi che dấu mất nguyên nhân, cản trở việc chẩn đoán). Phải đi đến những kết luận chính thức, công khai, không thể hiểu ngầm! Đấy không phải là sự cố chấp, bới lông tìm vết mà là phẩm chất minh bạch, khoa học, quân tử và thực lòng cầu tiến, rất cần cho một xã hội văn minh quy củ. Không dám minh bạch đối với quá khứ chính vì chưa thực lòng đối với hiện tại.

Muốn đổi mới đất nước không thể không chiến đấu chống lại những “ưu điểm” nhũng nhẵng rất “quái chiêu” kể trên. Nhưng ngặt nỗi đó là những tính cách đã khắc sâu vào dân tộc, như những ưu điểm mấy nghìn năm để tồn tại (Mặt tích cực, mặt ưu điểm của những tính cách này đã được ông Lê Hồng Hà nói rõ trong bài “Thử đi tìm phong cách tư duy Việt nam” ) (8), nay muốn cải tạo mặt tiêu cực của nó thì những người đổi mới thoạt tiên phải thích nghi với nó, vừa hòa đồng vừa cải tạo nó, chứ “húc” thẳng vào nó là thua đấy! Nghĩ rằng một khi hòa nhập vào thế giới minh bạch thì đặc điểm này ắt phải chấm dứt ngay là suy nghĩ đơn giản kiểu học trò.

Môn “Hiệp khí đạo” thật là tài: Nương theo động tác của đối phương mà đánh đối phương, nghệ thuật là phải chọn tư thế làm sao cho chính lực từ đối phương phát ra được chuyển thành lực chống lại đối phương. Đối phương càng ra đòn mạnh bao nhiêu càng tự hại mình bấy nhiêu. Phong trào Cộng sản từ chỗ tay không mà giành chiến thắng là nhờ biết “lấy vũ khí của địch mà đánh địch, lấy gậy ông để đập lưng ông”, bài học ấy đáng suy ngẫm lắm, sâu sắc lắm.

PHẦN III. Mác-Lênin là cái nền móng không dùng được nữa.


Trong bài phát biểu ngày 10/3/2007 ông Lê Hồng Hà nói: “Cuộc đấu tranh này cũng không phải là cuộc đấu tranh để chống Chủ nghĩa Mác-Lênin, mà chỉ là chống lại việc quốc đạo hoá Chủ nghĩa Mác-Lênin” và “phải tạm gác lại vấn đề phê phán ông Hồ”. Trong ý nghĩa một cuộc vận động chính trị-xã hội, thì chủ trương như vậy là hợp lý, là khôn ngoan, là rất “chính trị”, ít nhất là ở giai đoạn đầu, vì không ít người còn giữ niềm tin đẹp đẽ của quá khứ như một quán tính, một hoài niệm.

Nhưng, một khi đã thấy rõ vai trò nền tảng rất quan trọng của một “Triết lý” đối với sự phát triển xã hội thì trong lĩnh vực nhận thức-lý luận không thể không phê phán những “Triết lý” cũ đã “hết date” để xây dựng một “Triết lý” mới. Vấn đề là phải tách thành hai lĩnh vực như đã nói trong phần đầu: lĩnh vực nhận thức-lý luận và lĩnh vực hoạt động chính trị. Hãy cứ nhận thức cho thấu triệt, ứng xử đến đâu để đạt kết quả lại là chuyện khác. “Nói” là bộc lộ nhận thức của cá nhân, “làm” là việc liên quan đến nhiều người, vậy từ nói sang làm phải có điều chỉnh.

Nhiều trí thức không trực tiếp hoạt động chính trị, chỉ diễn đạt nhận thức như các ông Phan Đình Diệu, Nguyễn Kiến Giang, Lữ Phương, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Ngọc Uyển… vân vân, và chính ông Lê Hồng Hà (LHH) cũng như chúng tôi (HSP), cũng như một số người khác trong bản danh sách “khu vực 2” (khu vực phi chính thống) mà ông LHH thống kê (9) đều không thể không phê phán một phần hay toàn bộ chủ nghĩa “Mác-Lênin” và vấn đề “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Điều này không thể tránh được, nhưng đặt vấn đề nghiên cứu một cách khoa học, trầm tĩnh, khách quan không hề đồng nghĩa với việc mạt sát, nói xấu, nói cho thỏa…
Nếu những người tôn thờ chủ nghĩa Mác coi chủ nghĩa ấy như một niềm tin, như niềm tin tôn giáo, thì đúng như ý kiến ông LHH, tôn giáo ấy cũng bình đẳng với các tôn giáo khác, chỉ cần chống việc biến tôn giáo ấy thành quốc giáo. Nhưng là một tôn giáo thì không được tham chính, không thể lãnh đạo toàn xã hội! (đây cũng là ý kiến của ông Đặng văn Việt, một đảng viên CS lão thành). Trong trường hợp ấy ta không cần bàn luận hay phê phán giáo lý Mác-Lênin làm gì.

Nhưng nếu những tín đồ Mác xít không coi đó là tôn giáo mà lại coi đó chân lý khoa học tuyệt đối đúng, mà hiến định và luật hoá nó, đem nó trùm lên toàn xã hội, ai chống lại là phạm tội, thì tất nhiên chân lý ấy phải chịu sự sàng lọc của trí tuệ trước đã, lý thuyết ấy phải đương đầu với sự phản biện của toàn dân tộc và toàn nhân loại! Chẳng hạn, ít nhất lý thuyết Cộng sản phải chứng tỏ khả năng tự biện hộ một cách đứng đắn và thành công trước những kết luận có tính quốc tế của Nghị quyết 1481 của Hội đồng Nghị viện châu Âu ngày 25/1/2006. Rất tiếc phía Việt Nam cũng đã có một vài phản ứng, nhưng chỉ là những phản ứng chống đỡ về mặt chính trị một cách rất công thức và sáo mòn, không có nội dung tư tưởng hay khoa học gì thuyết phục. Một cuộc tranh luận khoa học nếu được tiến hành nghiêm túc sẽ thu hút sự tham gia của rất nhiều trí thức trong ngoài nước và trên thế giới, và trong một không khí thật sự khoa học thì tính chất ảo tưởng, phi khoa học của học thuyết Mác-Lênin nhất định sẽ được phơi bày.

Nếu không thắng được trong những cuộc phản biện trí tuệ này thì lý thuyết ấy chưa có tư cách khoa học để đứng trong Hiến pháp như điều 4 Hiến pháp xác quyết: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghia Mác - Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh, là lực luợng lãnh đạo Nhà nuớc và xã hội”.

Điều 4 chẳng những mặc nhiên xác định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của một yếu tố chính trị là đảng Cộng sản, mà còn mặc nhiên áp đặt một yếu tố thuộc pham vi khoa học - tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin. Phần khoa học phải chịu sự rà soát của khoa học! Đã là khoa học thì làm gì có ranh giới quốc gia? Ví dụ chẳng ai có thể nhân danh quốc gia để nói: Nước tôi cứ khẳng định thuyết “Mặt trời quay quanh trái đất”, hàng ngày người lao động nước tôi đều nhìn thấy như thế, các anh ở bên ngoài phê phán nhận thức này là “can thiệp vào công việc nội bộ” của chúng tôi!

Nhiều lúc nghĩ đến điều 4 Hiến pháp tôi lại thấy ở đó một tính chất khôi hài, không hiểu sao ta lại làm một việc vô duyên đến thế: một đảng đang cầm quyền dài dài mà vẫn lo mất chỗ, đến nỗi phải tự đặt ra luật để giữ chỗ vĩnh viễn cho mình! Đã thế lại sợ thiên hạ chê cười nên nói thác ra rằng đấy là nhân dân họ muốn tôn vinh tôi như vậy, trong khi đội ngũ từ những người dự thảo luật đến những thông qua luật thì quanh đi quẩn lại toàn là đảng viên, chứ có được mấy người là “nhân dân”? Càng lo xa, càng giành phần thì càng bộc lộ tâm lý tham lam, lo lắng, thiếu tự tin. Cái lôgic tự nhiên ấy không thể che dấu được, mặc dù vẫn cứ hô ta là nhà “vô địch muôn năm!”.Tôi dám “đánh cuộc” rằng nước Việt nam mình còn thì trước sau gì mình cũng phải bỏ cái điều 4 này, vì nó ấu trĩ, nó vô duyên, nó lạc lõng trong thế giới hiện đại. Nhưng bỏ sớm thì đẹp hơn!.

Đại loại toàn những chuyện sơ đẳng như thế.

Tôi đồng ý với một nhận xét của ông Nguyễn Gia Kiểng: đảng CSVN chỉ làm mất thì giờ của cả dân tộc. Vì tất cả những cuộc tranh luận rất gay go, rất phiền toái, rất nghiêm trọng, phải đối phó từng giờ từng phút với nhau và rất dễ bị còng tay vào tù… thực ra chỉ để tranh cãi toàn những kiến thức ở tầm abc, những điều lý luận mà nhân loại đã vượt qua từ lâu, và những thực tế “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!. Hiện nay, trong bối cảnh như thế, thiết nghĩ việc bàn về chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chẳng cần tầm chương trích cú nhiều quá làm gì. Hãy cứ nói với nhau theo cách đơn giản, dễ hiểu.

Thật vậy, lịch sử đã chứng kiến cả một làn sóng người hăm hở vác cuốc xẻng đi “đào mồ chôn” chủ nghĩa Tư bản để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa Xã hội”, thế mà giữa lúc đang hứng khởi, tưởng như đã đi gần hết giai đoạn quá độ để tiến vào thiên đường Cộng sản thì đùng một cái húc phải cái thực tế sừng sững như núi Thái sơn, đành lũ lượt quay lại học tư bản từ abc, học làm kinh tế thị trường, học ca ngợi doanh nhân…, và chỉ mong được thế giới tư bản cho mình hội nhập. Định đi chôn người ta mà giờ chỉ mong được nằm cạnh người ta thôi đã sướng rơn người! Thế mà vẫn bảo đường đi của mình là đúng thì lạ thật. (Tôi mà là “người đẹp” Tư bản thì dứt khoát tôi phải bắt cái anh cầm xẻng kia xin lỗi một câu rồi mới cho nằm cạnh, đằng này chẳng xin lỗi thì chớ, được nằm cạnh rồi thỉnh thoảng lại còn lầm bầm chửi xéo người ta!).

Lúc đầu một số nước theo trào lưu Mác xít thành công trong việc cướp chính quyền và giữ chính quyền. (Có một Tư tưởng quả là một điểm tựa rất mạnh để tập hợp quần chúng!). Nhưng tiếp theo là thất bại. Nguyên nhân vẫn từ Tư tưởng chứ không gì khác: Tư tưởng ấy bản chất chỉ là một ảo tưởng phi khoa học, chống lại thực tiễn nên hết cơn ảo tưởng phải trở lại thực tế, những diều phi lý cứ lộ dần ra, cái sức mạnh đã liên kết được ban đầu nay lại tan rã . “Sợi chỉ đỏ” đã đứt thì chuỗi hành động rời ra từng khúc, đầu Ngô mình Sở không khớp được với nhau nữa.

Đảng Cộng sản trước đây định cầm tay dẫn dắt kinh tế, dẫn dắt xã hội như dắt trẻ con, nhưng đi loanh quanh mãi không biết ra lối nào, bụng thì đói, đành thả kinh tế ra cho nó tự đi kiếm miếng ăn , nhưng lại thòng vào cổ mỗi đứa một sợi dây “định hướng Xã hội chủ nghĩa” (để giật mạnh một cái là phải quay về!). Nắm chắc sợi dây thòng lọng về chính trị-tư tưởng ấy là để Đảng nắm đằng chuôi. “Đày tớ” tiếp tục dắt “ông chủ”đi “như dắt trâu bò”.

Thừa nhận sợi dây thòng lọng về chính trị - tư tưởng ấy, thì dân hoàn toàn bị động với Đảng đã đành một nhẽ, nhưng đối với cả dân tộc thì điều đó hoàn toàn bất lợi, bởi cái nền vẫn không ra cái nền. Cái gọi là hệ tư tưởng bây giờ, trong đó có chủ nghĩa Mác cộng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng qua là dùng ngụy biện làm chất xi măng để gắn kết một cách lộn xộn những chất liệu xưa cũ với những chất liệu hiện đại vay mượn, thành một thứ vôi vữa để hàn gắn lại cái nền cũ Mác Lê đã rạn nứt hơn cầu Văn Thánh. Cái triết lý chính trị đã bị khoa học và thực tiễn bẻ gẫy, càng cố chống chế càng nhạt nhẽo, người dạy không muốn dạy, người học không muốn học, đã đến lúc không nên áp đặt một môn học nặng nề vô bổ như vậy trong các nhà trường.

Ngôi nhà đã sụt móng, tu sửa hào nhóang cũng chẳng bền được. Để thoát khỏi tình trạng “thày bói dọn cưới” hiện nay chỉ có một cách duy nhất là dũng cảm làm lại cái nền Tư tưởng. Chuyện lớn, chuyện thời đại, không thể khôn vặt.

Cái nền Mác Lê chỉ còn lại một “ưu điểm” rất tiện dùng là để quản lý dân cho dễ, dẫn dắt dân cho dễ và sử dụng dân cho dễ, vì chủ nghĩa ấy chẳng qua là một quy trình “thiết kế, áp đặt và điều khiển” xã hội, coi xã hội loài người sinh động cũng chỉ như một cỗ máy công nghiệp để mình vận hành. Người điều hành cứ bấm đốt ngón tay, xem “kế hoạch 5 năm” lần thứ nhất thì làm gì, lần thứ hai thì làm gì, sau mấy “kế hoạch 5 năm” thì vào chủ nghĩa Cộng sản… Ý muốn điều khiển xã hội răm rắp như điều khiển một cỗ máy chẳng qua là một thứ “bệnh công nghiệp”, một thứ “mốt công nghiệp”, một bệnh ấu trĩ xuất hiện thuở cách mạng công nghiệp đang bắt đầu thịnh hành (Cái ấu trĩ bao giờ cũng cực đoan!). Chủ nghĩa kỹ trị cực đoan đã hóa thân nhuần nhuyễn thành triết học và đạo đức, đó chính là thực chất của chủ nghĩa Mác về xây dựng và điều khiển xã hội. Vì thế mà tuy mục đích rất nhân bản là muốn điều khiển “cỗ máy xã hội” cho nó chạy thật tốt theo thiết kế của mình, đem lại của cải nhiều nhất cho xã hội, đem lại hạnh phúc nhiều nhất cho con người, nhưng không biết rằng một quan niệm “cơ giới hoá” xã hội như thế là rất phản nhân tính. (Trong bài Chia tay Ý thức hệ , tôi dẫn câu “Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” để nói cái ý ấy).

Xã hội nói chung cũng như mỗi con người nói riêng về bản tính nó chống lại chủ trương điều khiển cơ giới của Mác, vì thế muốn đưa con người vào guồng máy điều khiển, các chính quyền Mác xít trước hết phải dứt đứt tất cả những mối liên hệ tự nhiên của con người, rời bỏ tư hữu để công hữu hoá, tập thể hoá, “đoạn tuyệt với quá khứ một cách triệt để nhất”…, thế là con người biến thành những đinh ốc trong một cỗ máy.

Đó là một xã hội phi tự nhiên, hoàn toàn “nhân tạo”.

Tuy Marx có nhắc lại câu nói của Terence (190-159 trước CN): “ Những gì thuộc về con người đều không xa lạ với tôi”, nhưng thực ra Mác không hiểu kỹ “con người” lắm đâu, nhất là không hiểu cái “mặt trái”, cái mặt “bản bất thiện” của con người, đằng sau cái tính “bản thiện”.

Nếu ví cả cái xã hội Mác xít như một cỗ máy “tự quản” đã thiết kế xong, mỗi phần tử đã hoạt động răm rắp như những bánh xe, như những đinh ốc, thì xin thưa những bánh xe chủ chốt, những đinh ốc chủ chốt, với bản chất sinh vật của chúng, chúng sẽ trở lại bản năng “đấu tranh sinh tồn” mà nảy nở sinh sôi, mọc sừng mọc mỏ, mọc vuốt mọc nanh. Chúng trở thành những ông chủ mới để gõ búa vào cỗ máy của Marx, để bóc lột nó, bóc lột những đồng loại còn cam phận bánh xe-đinh ốc, nhưng tai quái hơn những ông chủ cũ rất nhiều.

Nhưng đấy mới là pha thứ nhất trong cuộc hồi sinh của cỗ máy xã hội, là pha trỗi dậy của tính bất thiện trong con người. Pha thứ hai quan trọng hơn nhiều, là pha trỗi dậy của bản chất sinh học trong hàng ngàn hàng vạn bánh xe-đinh ốc nhỏ xíu trong cỗ máy Mác xít, đó là sự hồi sinh của “tính bản thiện”. Và thế là “cuộc nội chiến” giữa hai mặt của bản chất con người diễn ra: bản thiện và bản bất thiện. Cuộc nội chiến bao giờ cũng day dứt, lo âu không thừa, nhưng chẳng có lý do gì để bi quan mãi vì dù chẳng bao giờ diệt hết được những điều bất thiện nhưng toàn xã hội thì đã dần dần kéo nhau ra khỏi được cái cỗ máy Mác xít cơ giới, ấu trĩ, cực đoan mà trước đây hằng khao khát. Thực tiễn cho thấy trong tất cả những cỗ máy Mác xít chết cứng, xã hội dân sự đã dần dần hồi sinh. Cuối cùng nhất định “loài người sẽ từ giã quá khứ của mình một cách vui vẻ”, cảm hứng này của Marx thì thật là tuyệt. Bi kịch đã xen kẽ và chuyển dần thành hài kịch rồi, dẫu cho nhiều hài kịch vẫn còn “cười ra nước mắt”.

Như thế, chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là phần Duy vật lịch sử, về triết học thì là hiện thân của “bệnh công nghiệp”, của chủ nghĩa cơ giới, còn về chính trị thì đó là sự kéo dài chủ nghĩa phong kiến với màu sắc công nghiệp hóa.

Thời Karl Marx nền văn minh công nghiệp (mà ta gọi là chủ nghĩa tư bản) đang ở giai đoạn “tăng tốc”, như chiếc máy bay đang cất cánh, nên nó gây sốc. Những tiến bộ ghê gớm quá, hiệu quả quá, làm thay đổi hẳn cuộc sống nhân loại. Xã hội mất đồng bộ, nhân loại bị xáo động nặng nề, bị kéo dãn ra, cách biệt về năng lực giữa con người với con người, giữa dân tộc với dân tộc trở nên quá lớn, tạo tiền đề cho sự chiếm đoạt nhau, xéo lên nhau để bành trướng. Bóc lột và bất công dữ dội. Sợi dây xích phong kiến ràng buộc xã hội theo tôn ty cũ đứt tung ra, xã hội như con ngựa dữ đứt cương. Đấy là cơn sốt vàng da của đứa trẻ để nó lớn lên, nó trưởng thành, thì Marx tưởng đấy là căn bệnh nan y của ông già sắp chết, nên đặt chương trình đào mồ để chôn nó đi.

Đáng lẽ phải mở đường cho nó tiến về phía trước, thiết lập kỷ cương mới cho xã hội, sao cho vừa nuôi dưỡng sự phát triển, vừa có dân chủ, bình đẳng cho mọi người, khống chế được sự bất công tàn bạo giữa người với người mà còn liên kết được với nhau để phát triển. Kỷ cương phong kiến thì đã hoàn toàn bất lực. Kỷ cương mới không có gì khác hơn là một nền kinh tế thị trường đi đôi với một nền dân chủ pháp trị, một nhà nước pháp quyền, khống chế quyền lực bằng tam quyền phân lập kết hợp với thể chế đa đảng, đa nguyên. Đại bộ phận thế giới tiến bộ ngày nay tuân theo dòng chảy tự nhiên ấy, dòng chảy mà những J.J Rousseau, Montesquieu, John Locke… đã khơi nguồn.

Nhưng Karl Marx và đồng đội của ông đã chống lại dòng chảy đó.

Vì đọc nhầm tín hiệu của thời đại (nhìn đứa trẻ đang lớn như thổi thành ông già sắp chết), nhìn phía trước của nhân loại thành cái hố sâu bế tắc, nên đi tìm lối thoát ở phía đối diện, tức phía sau lưng. Những tư tưởng dân chủ là yếu tố tiên tiến đang hé mở thì Marx coi đó là cái dân chủ của kẻ đang “giãy chết” nên cũng vứt đi luôn. Cho nên mọi sáng kiến của Mác-Lênin để vạch đường lên phía trước thực chất là tìm về quá khứ: bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để công hữu hóa, đáng lẽ phải dân chủ hoá bằng cách phân quyền ra thì lại chuyên chính hoá bằng cách tập trung quyền lực lại, cố xây dựng một đảng lãnh đạo ưu tú thì hệt như một đấng minh quân, Đảng Cộng sản lo “từng mũi kim sợi chỉ” cho dân như mẹ hiền thì thực chất là chủ nghĩa “thân dân” của phong kiến, xa lạ với kinh tế thị trường. Những đợt chỉnh huấn “chống chủ nghĩa cá nhân” là hình bóng của “tu thân, trị quốc, bình thiên hạ”. Tất cả những điều ấy là biến tướng của phong kiến chứ không gì khác. Chỉ khác một điều là nền kinh tế thì kế hoạch hóa, mà như trên đã phân tích, đó là bệnh công nghiệp.

Vậy đấy là chủ nghĩa phong kiến mang màu sắc công nghiệp, vừa mắc “bệnh phong kiến” vừa mắc “bệnh công nghiệp”, hai thứ bệnh quá tả ấy kết với nhau thì làm gì mà không thành phát xít, nhưng một thứ phát xít rất “chân thành”, lúc đầu rất dễ thương, thánh thiện như một tôn giáo. Con người làm những việc phản khoa học, phản nhân văn mà cứ nghĩ mình biết sống có lý tưởng, tự hào là mình biết “tử vì đạo”, coi việc dày xéo lên người khác là sứ mạng tất yếu trên đường dắt cả loài người đến thiên đường Cộng sản, kẻ nào vướng chân mình đều là địch cả. Trào lưu Cộng sản là trào lưu chống phong kiến cũ nhưng lại sa vào phong kiến mới, chống vua cũ nhưng lại lập ra vua mới, chống phát xít cũ nhưng lại sa vào phát xít mới, chống “quá khứ cũ” nhưng để tiến vào “quá khứ mới” mà thôi, nên không thể có tương lai. Sự sụp đổ của phe Xã hội chủ nghĩa là sự uốn nắn tất yếu của quy luật.

Đến đây, tôi đã có câu trả lời cho câu hỏi mà nhà báo Bùi Tín đặt ra cho cuộc thảo luận “Việt nam đã hoàn thành cuộc Cách mạng Dân tộc chưa mà đã muốn tiến sang cách mạng Xã hội chủ nghĩa?”. Tất nhiên ông Bùi Tín nhại lại luận điểm của những người Cộng sản để chứng minh tính bất toàn của nó, chứ ông đâu còn tin là có chủ nghĩa Cộng sản. Cuộc Cách mạng dân tộc đã diễn ra chỉ là cuộc đánh ngoại xâm giành độc lập như đã làm nhiều lần trong lịch sử. Còn về cuộc cách mạng Dân chủ thì chẳng những ta chưa làm mà còn làm ngược, làm một bước lùi, thay cái phi dân chủ cũ bằng cái phi dân chủ mới tai hại và khó trị hơn nhiều.

Dù những người Cộng sản có hết lời ca ngợi tính dân chủ của chế độ Xã hội chủ nghĩa, dù có đàn áp hay bịt miệng những ai bảo chế độ ấy là thiếu dân chủ, thì cũng không sao tẩy xóa được nụ cười nhạo báng trên môi thiên hạ mỗi khi có ai nhắc lại lời của Lênin đánh giá nền Chuyên chính Vô sản “dân chủ gấp triệu lần” dân chủ tư sản! Nhắc lại câu ấy ai cũng buồn cười. Chỉ một nét cười ấy thôi, đủ thay cho tất cả những lý luận thiên kinh vạn quyển. Nhân loại bỏ phiếu bằng nụ cười.

Lại một nghịch lý rất lớn nữa: Đặc trưng của chủ nghĩa Cộng sản là chống sự chênh lệch, tôn thờ sự công bằng, thậm chí nhiều khi còn san bằng nữa, nhưng thử so sánh sự chênh lệch hiện nay giữa con người với con người về những mặt tiền bạc, quyền thế, đạo đức, sự ăn chơi, nỗi nhọc nhằn… ở xã hội Việt Nam thì thấy cái niềm hãnh diện về sự công bằng kia đã thành chuyện mỉa mai khôi hài ra nước mắt.

Chủ nghĩa ấy trước đây là sức mạnh để kết mọi người lại bao nhiêu thì nay lại thành nguyên nhân làm người ta cách xa nhau nhau bấy nhiêu, lòng người ly tán bấy nhiêu. Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt có nhiều công sức hô hào đoàn kết, nhưng thiện ý ấy, cũng như thiện ý của nhiều người Cộng sản hiện nay, luôn bị nghi ngờ (ít nhất là nghi ngờ về tính khả thi) chính vì chưa chạm đến cái nền tảng, cái nguyên nhân gốc rễ ấy.

*

Tóm lại, một quốc gia, một dân tộc muốn phát triển bền vững không thể không có một nền tảng tư tưởng, dù viết thành văn một cách hệ thống, hay thấm nhuần trong toàn bộ nền văn hoá của dân tộc ấy, làm nên dân trí của quốc gia-dân tộc ấy. Giới trí thức là tinh hoa của nhân dân, trong đó các tư tưởng gia có một vị trí đặc biệt. Trong thế kỷ 19-20 những dân tộc văn minh hàng đầu đều không bị cuốn vào trào lưu Cộng sản (mặc dù phong trào tranh đấu của Công nhân cũng thúc đẩy hình thành những đảng Cộng sản) là bởi đã có một nền dân trí cao. Nhân dân nào thì chính quyền ấy, dân tộc nào thì tai hoạ ấy, suy cho cùng đều do cái nền tảng tư tưởng và dân trí mà ra.

Dân trí nước ta, trong tình cảnh nô lệ của ta, dẫn ta đến trào lưu Cộng sản lúc ấy phải chăng cũng là tất yếu? Phải chăng Việt Nam mới chính là mảnh đất màu mỡ nhất để gieo mầm Mác-Lê khiến nó bám rễ rất sâu? Việt Nam liệu có là “anh hề” cuối cùng rút khỏi sân khấu?

Dù cho một số người Cộng sản vẫn kiên quyết giữ cái vỏ Mác Lê nhưng bên trong cũng đã thay đổi những quan điểm xương cốt nhất của chủ nghĩa ấy. “Đổi mới hay là chết!”. Vâng cái tư tưởng chuyên chính trong chủ nghĩa Mác-Lê có thể còn ích lợi cho một tầng lớp nào đó, chứ đối với dân tộc và thời đại thì chủ nghĩa ấy đã thành cái nền móng tư tưởng không dùng được nữa!

Phần IV: Phan Chu Trinh và những bài học cho hôm nay


A. Con đường dẫn ta về với Phan Chu Trinh.

Trong những nhân vật lịch sử của dân tộc ta hồi đầu thế kỷ 20, gắn liền với cuộc đấu tranh chống Pháp, có ba nhân vật đặc biệt mà tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn cả là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh.

Nói về tinh thần đánh Pháp và đi đến thành công thì nổi bật nhất là Hồ Chí Minh, rồi đến Phan Bội Châu, rồi mới đến Phan Chu Trinh, vì hai vị trên chủ trương dùng bạo lực đánh Pháp ngay, còn PCT lại bắt đầu bằng sự tiếp xúc ôn hoà với Pháp. Ấn tượng PCT để lại trong đầu chúng tôi chỉ là hình ảnh một nhà nho nghĩa khí không sợ Côn Lôn (nhà tù của Pháp), một bức thư “thất điều” kể tội vua Khải Định, một cái án tử hình sau giảm thành lưu đày chung thân, vài hoạt động nhân quyền ở Pháp, một số văn thơ yêu nước, và đặc biệt là đám tang lịch sử khơi dậy một cao trào đấu tranh toàn quốc, thế thôi, chẳng mấy ai chú ý đến vấn đề tư tưởng. PCT mặc dù vẫn được kính trọng song đối với chúng tôi quả thực chưa có gì thu hút lắm .

Nhưng từ khi biết vươn ra khỏi “tháp ngà” chuyên môn của mình để suy nghĩ và viết ra những ưu tư về tình hình đất nước, chúng tôi mới thực sự để tâm tìm đọc Cụ Phan (PCT).

- Điểm khởi thủy dẫn chúng tôi đến với PCT là từ hai chữ “Dân trí”. Nhất định trước hết phải khai thông dân trí,mà “tổ sư” đề cao dân trí là PCT. “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, Cụ đưa dân trí lên hàng đầu trong chiến lược hành động!

- Điểm thứ hai là phương pháp đấu tranh ôn hòa bất bạo động, hơn thế còn lợi dụng những yếu tố tiến bộ của chính nước Pháp là kẻ đang cai trị mình để dần dần thoát khỏi thân phận bị cai trị. Điểm này cũng đang lặp lại với hoàn cảnh Việt nam hiện nay. Đây chính là thủ pháp “hiệp khí đạo” đây, nhìn bề ngoài nó giống như sự mềm yếu xin xỏ vậy, điểm khác nhau là ở chỗ lợi dụng sự “cầu hòa” ấy để tranh thủ nâng cao dân trí, tự lập tự cường, nâng trình độ văn minh của dân mình lên. Nâng cao được dân trí là củng cố được hậu phương, gây lại được sức mạnh cho mình. Có nội lực cao cường rồi thì lật ngược thế cờ lúc nào chẳng được? Dân trí chưa cao thì dân chưa đủ năng lực làm chủ, có đem máu xương đổi lấy chính quyền ngay thì dân cũng không làm chủ được chính quyền ấy, và rút cuộc dân lại chuốc lấy một kẻ áp bức khác thôi.

Phan chu Trinh hơn hẳn những người đương thời ở suy nghĩ ấy. Chúng tôi khâm phục và coi cụ Phan như người Việt nam đầu tiên tiếp cận phương pháp chuyển đổi xã hội bằng con đường văn minh nhất , mà ngày nay gọi là phương pháp “Diễn biến hòa bình”.

- Nhưng như thế chưa đủ. Điều quan trọng có tính xuyên suốt là phải có một Tư tưởng, vì sự nghiệp lớn nào chẳng cần một triết lý để quán xuyến và làm nền cho dân trí.

Những chân lý phổ quát đã phổ biến trên thế giới là một chuyện, có Việt hóa được chân lý ấy để tạo ra sức mạnh lôi cuốn dân tộc, đủ sức chống lại những thiên hướng sai lầm hay không, thì không phải dễ. Đem những hạt giống tư tưởng ưu việt ở nơi khác gieo vào mảnh đất Việt nam chắc gì đã mọc, hay mọc rồi cũng còi cọc lụi tàn? Đâu có thể sang “Tây trúc” hay “Mỹ trúc” gì đó để thỉnh kinh?

- Thử điểm lại chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác tuy là ngoại lai nhưng trước đây vào được Việt nam vì nó bắt rễ rất nhanh vào lòng khát khao đổi đời của người bị trị cùng khổ, nay tình hình đã đảo ngược, nếu những người bị trị cùng khổ lại tiếp tục áp dụng nó thì lịch sử sẽ lặp lại một chu kỳ nữa chăng?.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” xuất hiện mấy năm gần đây có ưu điểm là giống “local” nhưng khốn nỗi lại là cái không có thật , mới chế biến ra thôi, thực chất vẫn là hạt giống “quốc tế 3” là hạt giống hiện nay đã bị loài người gạt ra ngay tại mảnh đất quê hương của nó.

Không phải cứ chấp nhận có “Tư tưởng HCM” mới là yêu quý cụ Hồ, có khi còn ngược lại. Làm người thì trong đầu ai cũng có tư tưởng (hiểu theo nghĩa đó thì cụ Hồ cũng có tư tưởng như 80 triệu người dân thôi) , nhưng nói “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là dùng đến một thuật ngữ , xác nhận cụ Hồ là một nhà tư tưởng. Chính cụ Hồ không nhận mình là nhà tư tưởng là rất đúng. Những điều cụ Hồ suy nghĩ thực ra không có gì vượt khỏi tư tưởng Mác-Lênin, mà chỉ nằm gọn trong tư tưởng ấy. Chưa có độc lập thì phải giành độc lập, rồi đi theo tư tưởng Mác-Lênin thì vẫn là tư tưởng Mác-Lênin thôi, không phải vì thế mà coi là sự “kết hợp” để thành một tư tưởng mới.Vận dụng thêm một số suy nghĩ có tính nông dân hay tính Khổng giáo thì chỉ là sự cộng hưởng để tô đậm thêm tính chất phong kiến cũng vốn có sẵn trong tư tưởng Mác-Lênin, như đã phân tích ở phần trên.

Thành công của cụ Hồ Chí Minh một phần lớn thuộc về phương pháp, đặc biệt là phương pháp vận động quần chúng. Cũng giống như cụ Phan, cụ Hồ cũng phải phê phán những nhược điểm của tính cách dân tộc và ngay từ đầu đã thấy tầm quan trọng của dân trí, và là người đầu tiên coi sự “dốt” là “giặc”.

- Chỉ có tư tưởng của “Quốc tế 2”, tức tư tưởng Dân chủ Xã hội là kết hợp được mấy yêu cầu cơ bản, làm đòn bẩy để xây dựng và phát triển:

* đó là một nhánh của chủ nghĩa Mác nên không xa lạ với điều kiện Việt nam.

* Tuy xuất phát từ chủ nghĩa Mác nhưng đã loại trừ được hai độc tố là Chuyên chính Vô sản và Kinh tế chỉ huy, nên rất tiến bộ.

* đã được nhiều nước kiểm nghiệm là rất thành công. Những nước theo tư tưởng ấy (các nước Bắc Âu, một số nước Trung Âu) hiện nay đạt nhiều chỉ số văn minh, nhân đạo vào loại cao nhất thế giới, đối lập hẳn với tấm gương tan vỡ của các nước theo “quốc tế 3”.

* Nhờ có chút quan hệ huyết thống với chủ nghĩa Mác nên hy vọng ĐCS có thể chấp nhận, ít gây sốc nhất (mặc dù trước đây ĐCSVN rất phê phán xu hướng gọi là “xét lại” này). Kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền là hai thứ trước đây bị ĐSC coi là của Tư sản nên ghét như kẻ thù, nhưng nay Đảng đã bảo hai thứ ấy là của chung nhân loại rồi (nên ta cứ dùng thoải mái, không có gì phải ngượng), thì nay có áp dụng tư tưởng Dân chủ Xã hội cũng là một cách trở về với Mác thôi, cũng là của mình cả, trước mình bỏ đi nay mình dùng lại chứ có phải của Tư bản đâu mà tự ái? Đảng không phải tự ái, mà mỗi đảng viên cũng không phải lấy thế làm day dứt. Vẫn có thể dựng tượng Mác kia mà! Đối với chính trị thì điều này rất quan trọng (tuy có làm cho một số người nông nổi cực đoan thấy khó chịu).

* Một ưu điểm nữa là mặc dù trước đây các vị “quốc tế 3” rất ghét tư tưởng “đệ nhị” nhưng chính các nước liên quan đến “đệ nhị” này lại luôn chân thành và hào phóng giúp đỡ Việt nam, nay nếu ta cũng đi theo đường đó thì sự giúp đỡ của họ chắc còn lớn hơn nhiều. Khi ấy Trung quốc và Hoa Kỳ khó lòng mà “bắt bí” được ta.

Về lý thuyết, những luận điểm của tư tưởng Dân chủ Xã hội tuy không có sự đột phá gì ghê gớm, nhưng rất thuận lẽ tự nhiên, điều chỉnh được một số nhược điểm của xã hội Tư bản, điều chỉnh cả những sai lầm của lý thuyết Cộng sản, tạo được những “nhà nước phúc lợi” (Etat-providence, welfare state), kinh tế và dân quyền cùng phát triển và không ngăn cản gì việc tiếp tục đổi mới về sau, nên có ý nghĩa thực tế vô cùng to lớn.

Tư tưởng Dân chủ Xã hội là một tư tưởng tiến bộ, nếu được tiếp nhận vào nước ta thì đó là cách hóa giải tốt nhất, đỡ mất sức nhất, trong hoàn cảnh một xã hội đang bị ngự trị bởi “người anh em sinh đôi” rất cực đoan là tư tưởng Cộng sản.

- Nghĩ được đến đấy, chúng tôi đã mừng. Nhưng rồi tiếp tục tìm hiểu về Phan Chu Trinh chúng tôi đã gặp những kết quả bất ngờ. Cụ Phan không chỉ là một nhà ái quốc, một người làm dậy sóng phong trào, người có một phương pháp cách mạng uyển chuyển, mà trước hết Cụ là một nhà tư tưởng. Sàng lọc và kết hợp chính xác hai hai luồng tư tưởng Đông Tây, Cụ đã trở thành một nhà Dân chủ-Nhân quyền, rồi từ Dân chủ PCT lại trở thành một nhà Dân chủ Xã hội , tán thành một xã hội Xã hội chủ nghĩa nhưng phi Mác xít.

Đó cũng là những đúc kết sơ bộ về tư tưởng Phan chu Trinh trong ba tiểu luận nghiên cứu của tác giả Mai Thái Lĩnh đăng trên trang Web talawas, ngày 24.2.2007 (10) , 26.2.2007 (11) và 24.3.2007 (12)

*

B/ Sàng lọc và kết hợp văn hóa Đông Tây, Phan Chu Trinh trở thành nhà Dân chủ-Nhân quyền:

Là một nhà nho cụ Phan hiểu biết sâu sắc về Nho giáo, Khổng giáo, nhưng đây cũng là lĩnh vực mà cụ Phan thể hiện tinh thần sàng lọc và phê phán mạnh mẽ nhất. Cụ phân loại, tách bạch đâu ra đấy. Cụ phân biệt đạo đức với luân lý. Những phẩm chất thuộc về cá nhân riêng biệt thì thuộc ĐẠO ĐỨC, như “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Cần, Kiệm”, như “Sĩ khả sát, bất khả nhục”, như “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Đạo đức là những phẩm chất của mỗi con người riêng biệt, nó dạy “làm người”, muốn làm một con người thì phải như vậy nên đạo đức này rất ổn định, dù là Đông hay Tây, là kim hay cổ cũng tương tự nhau. Đạo đức như vậy đương nhiên là tốt.

Những phép ứng xử trong các mối quan hệ gia đình và xã hội thì thuộc về LUÂN LÝ, như trong các quan hệ “Quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”, quan hệ giữa dân với nước…Luân lý lại chia thành luân lý gia đình gọi là “tư đức” hay đức nhỏ, luân lý quốc gia và luân lý xã hội thì gọi là “công đức” hay đức lớn. Luân lý dạy con người trong những mối quan hệ, cho biết bổn phận, trách nhiệm giữa người trên kẻ dưới, giữa riêng và chung. Luân lý có thể khác nhau theo quốc gia và theo chế độ chính trị. Các chế độ thường uốn nắn luân lý sao cho có lợi cho vai trò chính trị của mình.
Sự tách bạch này rất quan trọng để có thể tiến hành sàng lọc.

Nếu cụ Phan còn sống thì chắc chắn Cụ không thể chấp nhận khái niệm “Đạo đức xã hội chủ nghĩa”, vì Cụ đã khẳng định:

“Đạo đức đã như thế thì không có mới có cũ, có đông có tây nào nữa, nghĩa là nhất thiết đời nào, người nào cũng phải giữ đạo đức ấy mới là người trọn vẹn. Dầu nhà bác học xướng ra học thuyết nào khác nữa, dầu các chính thể khác nhau hoặc dân chủ, hoặc quân chủ, hoặc cộng sản nữa, cũng không tài nào vượt qua khỏi chân lý của đạo đức, nghĩa là đạo đức thì không bao giờ thay đổi được.” (NQT, tr. 478-479) (13)

” Người ta có thể thay đổi luân lý mà không thay đổi được đạo đức …, thay đổi được thì là đạo đức giả” (NQT, tr,479).

Cũng vì muốn uốn đạo đức để phục vụ nhu cầu chính trị nên Nho giáo ở Trung quốc đã bị biến dạng, thoái hoá từ sau đời nhà Tần, và chính cái Nho giáo thoái hóa ấy đã du nhập vào Việt nam nên Nho giáo ở Việt nam mang nhiều tính chất tiêu cực về chính trị. Các triều đại phong kiến hết sức đề cao giường mối “quân sư phụ” chẳng qua là để được thảnh thơi cưỡi cổ thiên hạ. Cụ nói: “Khi còn ở trong gia đình thì thở cái không khí chuyên chế của gia đình, khi đến trường học thì thở cái không khí chuyên chế trong trường học (tính người mình hay thích giao con cho một ông thầy dữ đòn) thì làm sao khi bước chân ra ngoài xã hội khỏi quen tính nô lệ, chịu lòn cúi người . Cái tính nô lệ của người mình ngày nay chính là mang từ lúc trong gia đình chuyên chế mà ra vậy.” (NQT, tr. 485-486).

Nhưng trong sự đề cao nam giới thì người cha và người chồng cũng là kẻ được kéo vào để ăn theo, cho có đồng đội thôi, chủ mưu là người đàn ông trên cùng là vua : “Chẳng những vua quan chuyên chế mà thôi, họ còn lại lập mưu kéo cả kẻ làm cha, kẻ làm chồng vào cái cạm bẫy độc ác ấy nữa để cho tiện việc chuyên chế của bọn họ.” (NQT, tr. 484).

Vua quan cần lợi dụng cái “luân lý xã hội” (tức cái công đức), để tăng uy quyền, nhưng khi “luân lý xã hội” đã thoái hoá thì nó chi phối cả “luân lý gia đình” (tức cái tư đức) nên cá nhân và gia đình cũng hư hỏng theo. Phát hiện của cụ Phan xem ra cũng rất đúng cho xã hội Việt nam ngày nay. Phải yêu dân đến mức nào, phải quý đạo đức đến mức nào một nhà nho mới khám phá ra được những điều sâu xa chua chát ấy.

Sự sàng lọc của PCT đối với Nho giáo là tôn trọng những đạo đức cá nhân nhưng phê phán kịch liệt sự trung thành mang tính nô lệ của chữ “trung” nho giáo (gái trinh không thờ hai chồng, tôi trung không thờ hai vua). Cụ không bảo những điều Khổng Mạnh nói ra là không tốt, nhưng Cụ vạch ra tính chất một chiều của giáo lý ấy. Cụ lật ngược tình huống để chất vấn: “Đức Khổng đã nói rằng: Vua phải thương dân, dân phải thương vua, song nếu vua không thương dân thì dân phải làm sao? Tiếc thay ! Ngài không dạy đến. Ông Mạnh cũng nói rằng: Dân ‘quý’ mà vua ‘khinh’, nhưng ngày nay dân hỏi vua, vua bảo rằng vua ‘quý’ mà dân’khinh’ thì dân phải làm sao ? Ông cũng không hề nói đến”. Cụ đã phát hiện đúng chỗ yếu nhất của thuyết Nhân trị.

Luân lý ấy cốt dạy điều “tôn quân” mà nhẹ điều “ái quốc”, tôn trọng bề trên quá thì không có dân chủ, dân không làm chủ thì tự mình không thể yêu nước theo ý chí của mình. Nhiều trường hợp anh dũng đánh giặc nhưng chắc gì đã là yêu nước mà chỉ là buộc phải theo vua. Yêu nước theo kiểu khác đi là bị cấm ngay.Cụ viết rằng “ Không phải là cái độc quyền chuyên chế từ xưa đã thâm căn cố đế trong người nước ta rồi đấy ư? Tiếng thương (yêu) nước đã có luật Gia Long cấm. Những kẻ học trò và dân gian không được nói đến việc nước, lo đến việc nước”. (NQT,tr,489).

Thực ra thì bệnh “thâm căn cố đế” của mọi thể chế chuyên quyền là bắt dân chỉ được yêu nước theo cách của họ (nhưng nói toẹt ra như luật Gia Long thì thật quá kém về thuật mỵ dân). Rất đáng hoan nghênh lời phát biểu mới đây của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt : “Có hàng trăm cách yêu nước khác nhau!”.Kể từ ngày có Đảng lãnh đạo đến nay, lần đầu tiên tôi được nghe thấy một đảng viên dám nói cái chân lý sơ đẳng ấy.

Thuyết Nhân trị hay Đức trị cứ nói đạo đức một chiều, không dám lật ngược tình huống để phản biện, nên khi gặp điều trái ngược thì không có giải pháp, bế tắc thì khùng lên, từ chỗ đạo đức dẫn đến chỗ phải chém giết nhau để giải quyết, và luân thường đảo lộn.

Vì thế Nhân trị sẽ dẫn đến bất nhân. Hiểu được nghịch lý này PCT đã tìm đến nền Dân chủ pháp trị. Chỉ trong sân chơi Dân chủ mới có thể giải quyết mâu thuẫn bằng phương pháp hoà bình mà bây giờ ta gọi là “Diễn biến hoà bình”.

Những người Cộng sản Trung quốc và Việt nam, cũng sàng lọc đạo Khổng, nhưng sàng lọc ngược với PCT, đề cao chữ Trung là chữ mà cụ Phan kịch liệt phê phán. Rất nhiều đảng viên CS nói rằng vì có tư duy nho học nên tiếp cận chủ nghĩa Mác được dễ dàng, chẳng qua là do giống nhau ở tinh thần đức trị, giáo huấn từ trên xuống, coi nhẹ sự phản biện, “feed back” từ dưới lên. Chữ Trung ấy bao giờ cũng kèm theo ý niệm về tôn ty trật tự, người trên kẻ dưới rõ ràng, công dân loại một loại hai, và đây là đặc điểm giống nhau giữa Cộng sản và phong kiến.

Khẩu hiệu “Trung với nước, hiếu với dân” là dẫn xuất từ giường mối “quân sư phụ”, nhưng trong điều kiện Đảng lãnh đạo “trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối” thì thực chất trung với nước cũng là trung với Đảng thôi, nhưng những người kế thừa chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn trực tiếp hơn cho chắc ăn nên đổi thẳng ra là “Trung với Đảng, hiếu với Dân”.(Dù trung hay hiếu, dù Đảng hay dân thì cuối cùng vẫn thu về một mối là trung với Đảng thôi, kiểm nghiệm qua thực tế càng thấy đúng như vậy).

Cũng sàng lọc, nhưng Phan Chu Trinh và Nguyễn Tất Thành là hai nhánh sàng lọc ngược nhau, một đằng đề cao quốc gia và bảo vệ quyền làm chủ của dân, một đằng sa vào thuyết tranh đấu giai cấp nên đề cao quyền lãnh đạo của Đảng. Ai gần với phong kiến hơn ai? Điều ngược đời là tính dân chủ, tính cách mạng, tính hiện đại lại ở phía người nhiều tuổi hơn. Hoá ra già không phải ở tuổi mà ở tư tưởng. Biết nghĩ cho chín để bắt đúng cái mạch của tương lai thì thành trẻ trung.

Nhà duy tân Phan Chu Trinh nổi tiếng ở sự du nhập tư tưởng dân chủ phương tây, nhưng sao Cụ lại giành nhiều công sức khảo cứu và bàn thảo về đặc điểm phương đông cổ truyền của ta như vậy? Hãy nghe cụ giải thích: “Vẫn biết phép chắp cây của người Tây tài tình thật, nhưng nay đem một cây rất tươi tốt như cây luân lý ở các nước bên Âu Tây kia mà chắp với một cây đã cằn cộc như cây luân lý ở nước Việt Nam ta thì tưởng cũng không tài nào sinh hoa tươi, quả tốt được. Muốn cho sự kết quả về sau được tốt đẹp, tưởng trước khi chắp cây cũng nên bồi bổ cho hai bên sức lực bằng nhau đã. Tôi diễn thuyết hôm nay là cốt ý mong anh em nên cứu chữa lấy cây luân lý cũ của ta, rồi sẽ đem chắp nối với cây luân lý của Âu châu vậy”. (NQT, tr. 505-506).

Cái mầm khoẻ mạnh tươi tốt của châu Âu mà cụ chọn để ghép vào cái gốc Việt nam ta chính là tư tưởng Dân chủ và Pháp quyền, hai điều tinh tuý mà ngót một thế kỷ sau, xã hội Việt nam mới nhìn ra (mà nhãn quan của giới chính thống hôm nay xem ra vẫn chưa theo kịp Cụ đâu).

Trước khi kết hợp văn hoá Đông và Tây PCT còn nhận xét: “Vua Âu châu ở xứ thượng võ, cho nên làm cái gì cũng hung hăng mà ngay thực, cho đến sự độc ác cũng vậy”. “Vua Á Đông thì họ không làm như thế. Họ lựa ở trong các lời nói của ông Khổng, ông Mạnh, hoặc ở trong các sách cổ những câu nói có nhiều nghĩa để họ dựa vào đó; họ lập ra pháp luật để bó buộc cai trị dân; cái ngôi vua thì gọi là con Trời, nhưng họ cũng cứ xưng họ là người, chẳng những họ không đứng ra ngoài cái hàng bà con của dân mà họ lại đứng vào cái hàng thân thiết của dân, như là ta nói “quân, sư, phụ”, lại thường nói “vua, cha, chồng”. Dù ở chốn hương thôn dốt nát không biết ông vua thế nào, nhưng mà họ thấy đứng vào hàng cha, thầy, chồng, thì họ cũng cho đứng vào đám thân thiết. Dân ngu thì họ cứ kính, cứ yêu, chớ họ có biết đâu đến hồi giận của ông vua thì ông giết cả ba họ người ta .” (NQT, tr. 458).

Vậy sự độc đoán chuyên quyền ở châu Á vẫn có truyền thống thâm độc hơn, giỏi nguỵ trang nên khó trị hơn. Trong 4 nước Cộng sản điển hình còn sót lại thì 3 nước là của châu Á đâu có phải ngẫu nhiên?
*

C/ Từ Dân chủ, Phan Chu Trinh trở thành nhà Dân chủ Xã hội, hướng về một chủ nghĩa Xã hội phi Mác xít.

Điểm nổi bật trước tiên trong quan điểm chính trị của PCT là tinh thần dân chủ, “đa số các nhà làm sử đã công nhận: Phan Châu Trinh là một nhà dân chủ đầu tiên ở Việt nam” (14).

Dân chủ là quyền làm chủ của dân trong một nước, một quốc gia. Nhưng thế nào là một quốc gia, khi nào thì hình thành quốc gia. Theo PCT thoạt đầu trong chế độ quân chủ chưa có quan hệ giữa dân và nước, mà chỉ có vua và các thần dân của vua, vua thu hết mọi thứ vào trong tay của mình, xử sự mọi việc như trong nhà của mình, mình chết thì con mình lên thay.

Quan hệ ấy là “gia đình luân lý” và khi ấy chưa có quốc gia. Từ khi có tư tưởng khai sáng, bác bỏ tính chất “đại gia đình”, bác bỏ quyền lực của vua là do trời định sẵn, vạch rõ quan hệ của vua với mọi người trong xã hội là bình đẳng, quyền lực của vua là do mọi người trong xã hội giao cho…, khi ấy khái niệm nước (quốc gia) mới hình thành, gia đình luân lý mới chuyển thành quốc gia luân lý. Và sau này từ quốc gia luân lý sẽ hình thành xã hội luân lý, từ chủ nghĩa quốc gia sẽ phát triển thành chủ nghĩa Xã hội. Theo PCT khái niệm Chủ nghĩa Xã hội (socialism) có căn nguyên như thế. Sự tiến triển ấy theo PCT là “lẽ tiến hoá tự nhiên”.

Đối chiếu tiến trình “tiến hoá tự nhiên” ấy vào nước ta cụ Phan thấy trình độ Việt nam thời ấy còn quá lạc hậu: “Bàn đến quốc gia luân lý thì tôi xin thưa rằng, nước ta tuyệt nhiên không có” (NQT, tr.487). “… quốc gia luân lý của ta từ xưa đến nay chỉ ở trong vòng chật hẹp hai chữ vua và tôi. Không nói đến “dân và nước” vì dân không được bàn đến việc nước!” (NQT, tr. 487). Chưa có một nhà nước dân chủ thì chưa thể nói đến quốc gia theo đúng nghĩa được (quan niệm dân chủ của PCT thật là triệt để, quyết liệt).

Theo PCT chủ nghĩa quốc gia (nationalism) phải tiến sang chủ nghĩa Xã hội (socialism) để giải quyết hai mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa người với người trong mỗi quốc gia và mâu thuẫn giữa các quốc gia trên thế giới. Bên trong thì “giàu nghèo cách biệt thái quá, người ngồi không kẻ cắm đầu làm, thành ra kẻ lao động, người tư sản xung đột nhau mà trong nước không yên” (NQT,tr.506). Trên thế giới thì “Mê tín quốc gia chủ nghĩa về đời trung cổ thái quá, yêu nước mình, ghét nước người, cho nên phải mang hoạ chiến tranh mãi mãi” (NQT,tr.506).

Chủ nghĩa Xã hội giải quyết quan hệ “người này với người kia, người có giúp người không, người mạnh giúp cho người yếu” (tức là làm giảm bớt sự cách biệt về tiền bạc và về quyền lực), ngoài ra còn giúp giải quyết quan hệ “loài người với loài người” tức quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia.

Nghiên cứu quan điểm Phan Chu Trinh về Xã hội chủ nghĩa so sánh với quan điểm Mác xít, ông Mai Thái Lĩnh đã rất đúng khi kết luận: “Với quan niệm như trên, rõ ràng là cái nhìn của Phan Châu Trinh hoàn toàn khác với quan điểm mác-xít. Theo nhà chí sĩ họ Phan, xã hội loài người tiến lên theo con đường “gia đình - quốc gia - xã hội”, trong khi đối với Marx thì “lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”.(MTL,sđd) (11). Thực tế cho thấy không bao giờ có chuyện Vô sản toàn thế giới (vượt qua ranh giới các quốc gia) mà liên hiệp lại được.

Điều đáng khâm phục ở PCT là khi phê phán nền quân chủ, phê phán nạn bất công, phê phán thói độc tài, phê phán những sai lầm, yếu kém của bạn bè, Cụ là người thẳng thắn đến mức rất nặng lời, rất quyết liệt (như phê phán Phan Bội Châu, Nguyễn Tất Thành…), nhưng khi tìm đường giải thoát cho dân tộc Cụ lại luôn nghĩ đến con đường trung dung, ôn hòa, hợp pháp.

Phải chọn con đường ôn hoà là bởi thương dân. Khi phê phán con đường bạo lực cách mạng của Phan Bội Châu, của Nguyễn Tất Thành Cụ giải thích: Lực mình yếu mà muốn dùng bạo lực tất phải nhờ vả người khác, thế thì “thảng như cái phương pháp của ông Phan (Phan Bội Châu) mà thành công, thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi”. (thư PCT gửi Nguyễn Ái Quấc).

Vì thế mà phải tự lực, lúc đầu phải chọn con đường hoạt động hợp pháp, hợp pháp tối đa, thậm chí phải “khẩu thuyết vô bằng” để chính quyền không kiếm được cớ mà trị tội. (Chứ không phải chưa chi đã ngang nhiên tuyên bố thế này thế khác để giương oai!). “Chỉ vì tính cách và trình độ của ông (tức PBC) cùng với tánh cách và trình độ của quốc dân trong nước tương ứng với nhau, nên người trong nước mê theo mà không biết,vui theo mà quên chết. Do đó cuộc dân biến không khác nào ông Phan Bội Châu trực tiếp giết dân”. Cụ lên án thái độ cứ ở bên ngoài xúi giục người trong nước hy sinh để mình “đãi thời đột nội”. Cụ lên án sự bạo động của “chủ nghĩa báo thù” hay chỉ biết “ đâm đầu vào lửa chết vô ích”.

Thời kỳ Phan Chu Trinh ở Pháp (1911-1925) là thời kỳ thế giới đầy biến động về các quan điểm cách mạng, trong đó có cách mạng vô sản Nga Tháng Mười 1917, sự phân ly giữa đảng Xã hội và đảng Cộng sản Pháp ở đại hội Tours tháng 12-1920.

Trong khi Nguyễn Tất Thành chọn con đường Cộng sản của Quốc tế 3 thì PCT rất gần gũi với Léon Blum, Marius Moutet, Jules Roux, …là những đảng viên đảng Xã hội không chịu gia nhập Đảng cộng sản mà vẫn tiếp tục con đường Jean Jaurès đã vạch ra.

“Phan Châu Trinh không gần gũi với “cánh tả” của Đảng Xã hội, tức là phái xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1920 đã rời bỏ Đảng Xã hội (SFIO) để thành lập Đảng Cộng sản, gia nhập Quốc tế III. Trước và sau Đại hội Tours (12/1920), đã có nhiều Việt kiều khuynh tả lôi kéo ông tham dự các cuộc họp của cánh tả Đảng Xã hội và sau này là Đảng cộng sản. Nhưng có thể vì bản tính ôn hoà, hoặc vì quan niệm về “dân chủ, cộng hoà” của ông đã bắt rễ khá sâu trong nhận thức, ông xa rời Đảng cộng sản Pháp một cách tự nhiên; và những người cộng sản cũng “dị ứng” với ông một cách tự nhiên...” (MTL,sđd) (11)

Trong một lá thư đề ngày 26.3.1922 PCT viết: “Say mê chủ nghĩa xã hội, tôi đã luôn đấu tranh chống lại chế độ độc tài chuyên chế hiện nay đang có mặt ở Đông Dương, do các nhà chức trách Pháp cũng như do các quan lại bản xứ thực hiện” (MTL,sđd) (11). Cũng đau lòng vì cảnh đất nước trong vòng nô lệ, cũng một môi trường trưởng thành là Paris nước Pháp, lại cũng yêu lý tưởng Xã hội đến say mê, vậy mà khác với Nguyễn Tất Thành, PCT không sa vào chủ nghĩa chuyên chính. Trước sau trong tâm hồn nhà nho cách mạng vẫn thắp sáng một ngọn đèn dân chủ.

Chính ngọn đèn ấy đã dẫn Cụ đến tư tưởng đa đảng đa nguyên từ những ngày đầu thế kỷ. Hồi ấy ở Paris cũng có một du học sinh tên là Đông gửi thư cho PCT bày tỏ lo ngại “đa đảng đa nguyên thì loạn” (như quan điểm ĐCSVN hôm nay), Cụ đã trả lời: “Còn anh lo trong nước sinh ra nhiều đảng phái mà hại, ấy là anh hiểu lầm; trong nước nhiều đảng thì cãi cọ nhau nhiều, cãi cọ nhiều thì thì sự lợi hại mới biết, dân mới có thể lựa đảng nào phải mà theo; anh xem các nước văn minh, nước nào mà không có bè đảng, chỉ có nước dã man, thì chỉ có một lệnh vua mà thôi.” (MTL,sđd)(10). Cụ chủ trương xã hội pháp trị (dân trị) và vạch rõ những tệ hại, tuỳ tiện, may rủi của chủ nghĩa nhân trị (đức trị, quân trị) mà hôm nay không ít người vẫn còn say mê. PCT chủ trương tam quyền phân lập. ”Đảng tiền phong” ngày nay đã đi chậm sau ông già nhà nho ấy ngót một thế kỷ, mà bây giờ cũng đã chịu nghe đâu?.

Phan Chu Trinh là một người Dân chủ Xã hội. Nhưng “mặc dù gần gũi với những người thuộc Đảng Xã hội, tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn không hoàn toàn giống họ. Trong khi những người xã hội chủ nghĩa ở Pháp vẫn còn bị ràng buộc ít nhiều với chủ nghĩa Marx thì quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan Châu Trinh lại không có dính dáng chút gì với chủ nghĩa Marx. Không có đấu tranh giai cấp, không có sự lên án đối với chế độ tư hữu, và do đó cũng không có chủ trương quốc hữu hoá.” (MTL, sđđ) (11)

“Vấn đề là tại sao Phan Châu Trinh không đả kích chế độ tư hữu, không lên án kịch liệt giai cấp tư sản như những người mác-xít hay những người cộng sản? Ngoài bản tính ôn hoà mà ông đã có ngay từ thời bắt đầu hoạt động chính trị, chúng ta cần chú ý đến chủ trương của ông về kinh tế. Ngay từ khi phát động Phong trào Duy Tân, Phan Châu Trinh đã đề ra khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, kêu gọi mọi người lập “hội nông“, “hội buôn”, “hội nuôi tằm”,v.v. nói chung là khuyến khích dân làm giàu. Như vậy, nếu ông không lên án chế độ tư hữu, không đặt quốc hữu hoá thành mục tiêu hàng đầu thì cũng là điều dễ hiểu. Có thể do Phan Châu Trinh không coi chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi bất công xã hội. Hoặc ông cho rằng nước Việt Nam còn quá nghèo, đất nước muốn phát triển còn cần nhiều đến những nhà tư sản yêu nước. Do đó, ông không đả kích người giàu, mà chỉ đề ra yêu cầu “người giàu giúp đỡ người nghèo”. Nói một cách chính xác, quan niệm của ông nghiêng về “công bằng” (justice) hơn là “bình đẳng” (égalité)”.(MTL,sđd) (11)

Phan Chu Trinh thuộc những nhà Dân chủ Xã hội tiên phong, một chủ nghĩa DCXH mang dấu ấn Việt nam, sinh ra từ điều kiện Việt nam. Cái chủ nghĩa Xã hội nhân đạo mà ta đang định hướng về Bắc Âu để kiếm tìm thì nay chẳng những không phải tìm đâu xa, mà còn sẵn có một phương sách thích hợp hơn với dân với nước ta nữa.

D/ Từ Phan Chu Trinh, nghĩ về một vài bài học cho hôm nay

* Vai trò tiên phong của Tư tưởng Phan Chu Trinh:

Trong cuốn sách nghiên cứu về Phan Chu Trinh, TS Thu Trang Công thị Nghĩa viết: “đa số các nhà làm sử đã công nhận: Phan Châu Trinh là một nhà dân chủ đầu tiên ở Việt nam” (Thu Trang,sđd) (14)

- Tinh thần dân chủ PCT được bộc lộ một cách toàn diện : Điều hành xã hội bằng luật pháp chứ không bằng ý thức hệ, phải “tam quyền phân lập” và đa đảng đa nguyên (bên cạnh một đảng cánh tả rất cần có một đảng cánh hữu), chú trọng tự do tư tưởng , tự do ứng cử bầu cử, tự do lập hội. PCT luôn coi sự phản biện trong mọi lĩnh vực là tối cần thiết, ngay khi diễn thuyết cũng phải theo nguyên tắc “nghịch luận” (tạo những ý kiến trái ngược để cùng bàn luận).PCT luôn coi trọng sự khác biệt, đồng thời coi trọng sự hợp tác tương hỗ. Về hoạt động thực tiễn PCT là chiến sĩ dân chủ-nhân quyền đầu tiên , chiến sĩ “diễn biến hoà bình” đầu tiên của Việt nam.

Tiến bộ đặc biệt của PCT là sớm biết phê phán bản chất lạc hậu của Nhân trị (hay Đức trị), nó cản trở pháp luật, cản trở nền Dân chủ pháp trị: “Nhân trị nghĩa là cai trị một cách rộng rãi hay là nghiêm khắc chỉ tuỳ theo lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông vua mà thôi, pháp luật tuy có cũng như không.” Đừng quên rằng sau bao năm cầm quyền mà thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn chưa có ý thức rõ ràng về xây dựng nền luật pháp (e pháp luật sẽ “trói tay” Đảng làm Đảng khó lãnh đạo), và ngay đến thế kỷ 21 này ĐCSVN vẫn chưa dám thực hiện “tam quyền phân lập”, và không ít cán bộ cũng như trí thức vẫn còn lưu luyến Nhân trị thì mới biết cụ Phan đã đi trước dân tộc một đoạn dài lắm.

Tiếp tục đi xa hơn, Phan Chu Trinh đã trở thành nhà Xã hội Dân chủ đầu tiên, người đầu tiên chủ trương “định hướng” Xã hội chủ nghĩa, nhưng là XHCN phi mác xít, mà thực chất rất gần gũi với nền chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến nhất của thế kỷ 21 này.

Vậy nếu tôn vinh Phan Chu Trinh là nhà Tư tưởng lớn của dân tộc này thì có xứng đáng không?
Học giả Hoàng Xuân Hãn nói: “Những tư tưởng của Phan Chu Trinh về cơ bản vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta ngày nay”. Bởi vì, như ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc: “Những vấn đề cơ bản nhất làm nền tảng cho độc lập tự chủ và phát triển dân tộc mà Phan Chu Trinh đã thống thiết nêu lên từ đầu thế kỷ XX, trong đó trung tâm là vấn đề dân trí…thì đến nay vẫn còn nguyên đấy”, “Đó là một nhiệm vụ, một món nợ mà lịch sử còn để lại cho chúng ta hôm nay: nhiệm vụ xây dựng một xã hội dân chủ trên cơ sở một dân trí được nâng cao”. (Nguyên Ngọc) (15)

Nhà sử học Daniel Héméry, một người nghiên cứu khá sâu về Việtnam, (và khá sâu về chủ tịch Hồ Chí Minh) đã viết: “Khuôn mặt vĩ đại của Phan Châu Trinh theo tôi là khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hoá và chính trị Việt nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề (les problématiques) đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt nam sẽ phải- và mãi mãi còn phải- đảm nhận”.(16)

* Phan Chu Trinh biết chắt lọc và kết hợp một cách sáng tạo những tri thức của thế giới.

Với cái vốn Hán học, PCT ngoài việc tiếp thu những tư tưởng của Lương Khải Siêu, Khanh Hữu Vi, Tôn Dật Tiên… còn đọc các bản dịch chữ Hán các cuốn “De l’esprit des lois” của Montesquieu, “Contrat social” của J.J.Rousseau. Đọc như thế chưa phải là nhiều, nhưng Cụ rút ngay ra được nhiều điều tinh tuý là bởi cách đọc thông minh. Huỳnh thúc Kháng viết về PCT: “Tiên sinh (…) đọc sách có con mắt riêng, làm văn tạo xuất cách mới, không làm những lối tìm câu lặt chữ, vẽ bóng pha mầu (…). Bất kỳ đề mục gì vào đến tay tiên sinh thì sao cũng mở ra một lối mới để tỏ ý bi ca khảng khái của mình” (14).(Giáo sư Huỳnh Lý, Lời giới thiệu, Phan Châu Trinh toàn tập, tập I, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr. 13-14)

Với lối đọc sách như thế, kết hợp với thực tiễn tổ chức và tham gia tranh đấu và tù đày trong nước, kết hợp với sự quan sát học hỏi trong môi trường chính trị ở Pháp, dưới sức thôi thúc của tinh thần ái quốc tự thân, (không bị bất cứ trào lưu nào làm cho mất tính chủ động) và ở vào độ chín sung mãn nhất của đời người (từ 35 đến 55 tuổi) PCT đã kịp kết tinh và thăng hoa.

Từ tấm gương ấy, mỗi chúng ta đều có thể rút lấy một phần kinh nghiệm. Thời nay bao nhiêu người được đọc nhiều sách, nhưng ngập trong rừng sách mà làm nô lệ cho sách, bao nhiêu người từng dấn thân sâu vào cuộc tranh đấu nhưng vì thế mà mất hết tính chủ động, có thể nhìn vào tấm gương Phan Chu Trinh mà tự gỡ cho mình.

* Phan Chu Trinh là người biết kết hợp nhận thức-tư tưởng với hoạt động thực tiễn. Trước hết Cụ là người của hành động, chủ trương “thực học”. Mục đích của Cụ là “Chống lại chế độ độc tài chuyên chế hiện nay đang có mặt ở Đông dương, do các nhà chức trách Pháp cũng như do quan lại bản xứ thực hiện”. Cụ không bao giờ là người lý thuyết suông (có thể nói: Lý thuyết Cụ vốn không ham!). Nhưng Cụ biết vai trò rất căn bản của tư tưởng nên phải “xục” vào kho tàng tư tưởng để xác định nền móng và tìm phương hướng, cuối cùng (như “vô tình”) thành nhà tư tưởng với một nội dung rất sắc sảo và phong phú. Vì cần giải phóng dân tộc mà một nhà nho tự biến mình thành một nhà “Tây học” (mà không hề lai căng), vỡ lòng học lấy những điều mới lạ, không chút tự ái bảo thủ.

Ngày nay, một số người Tây học hoạt động dân chủ lại chỉ đề cao hành động (thực ra mới chỉ là hành động bề nổi, chưa đáng gọi là hoạt động chính trị) mà coi khinh nền tảng tư tưởng.

Một bạn trẻ tâm sự với tôi đầy tự tin:

“Đã biết chân lý là dân chủ đa nguyên thì ta cứ xốc thẳng tới đó mà tiến, chẳng phải rắc rối quanh co gì hết! Còn cả thế giới bên ngoài, sợ gì!”.

Ta đã từng chê cười chủ trương trước đây “dựa vào sức mạnh vô địch của phe ta, để tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa Xã hội” , nhưng hiện nay xốc nổi như thế thì khác nào “dựa hẳn vào sức mạnh Hoa Kỳ để tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên Dân chủ đa đảng đa nguyên”? (Có người còn dự đoán năm 2007, năm 2008… dân chủ sẽ toàn thắng!). Vẫn giống nhau cái tâm lý thực dụng, ăn xổi, võ biền thì rất khó rút kinh nghiệm. Ai phê bình là tự ái ngay.

Có người lại hỏi: “Thế bên Tiệp, cũng Xã hội chủ nghĩa, sao người ta làm Cách mạng nhung, xoạch một cái là xong? Chờ xây dựng dân trí thì đến mùng thất!”. Xin thưa, cái nền dân trí của Tiệp đã cao hơn mình hẳn một tầm, nhưng dân trí là cái vô hình, nó ngấm sâu vào tâm lý, vào nhiều mặt sinh hoạt khác nên ta không để ý. Dân trí lại phụ thuộc nhiều vào giới trí thức tinh hoa. Dân trí chỉ xuất lộ trước những biến cố, nên ngồi nói chuyện với một người dân Tiệp có thể thấy họ cũng chẳng hơn gì mình, nhưng đừng vì thế mà nghĩ rằng dân trí hai nước như nhau. Châu Âu đã từng trả bao nhiêu xương máu (từ thế kỷ 18-19) để có ý thức dân chủ ngày nay, để bây giờ có cái Nghị quyết 1481. Nước mình đổ xương máu cũng nhiều, nhưng chỉ để trả cái nợ độc lập cho dân tộc còn chưa xong, cuộc tranh đấu cho dân chủ mới chỉ bắt đầu.

* Vững tin vào Con đường Dân chủ-Xã hội (Social Democracy).

Mấy năm gần đây, tuy chưa khai thác được “kho báu” tư tưởng Phan Chu Trinh, nhiều trí thức Việt nam trong và ngoài nước tự mình cũng đã lưu tâm đến con đường Dân chủ Xã hội (cũng gọi là Xã hội Dân chủ) và tìm thấy ở đó sinh lộ cho tình hình Việt nam.

Bài “5 nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta” của Lê Bảo Sơn-Phan Trọng Hùng (talawas 2.9.2005) (17) đã giới thiệu tóm tắt ý kiến của Phan Đình Diệu, Lữ Phương, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Hà Sĩ Phu về con đường XHDC ở nước ta.

Sau đó là tác phẩm “Huyền thoại về một nhà nước tự tiêu vong” và bài “Dân chủ - xã hội là gì?”của Mai Thái Lĩnh, bài “Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại” của HSP…và rất nhiều bài viết khác của các tác giả trong và ngoài nước (tôi xin lỗi, vì không có văn bản chính thức trong tay nên không kể được ra đây) từ những cách tiếp cận khác nhau đều gặp nhau ở niềm hy vọng vào con đường Dân chủ Xã hội (cũng gọi là Xã hội Dân chủ), bạn bè khắp nơi giới thiệu những thành tựu đỉnh cao của Thuỵ Điển, Na-Uy.

Đến khi phát hiện con đường XHDC trong kho tàng tư tưởng Phan Chu Trinh thì chúng tôi mừng lắm, khâm phục viễn kiến của PCT vô cùng, như đã giới thiệu trong các phần trên.

Một thắng lợi bất ngờ lại đến. Tác giả Trung Quốc Tạ Thao giới thiệu công trình nghiên cứu của một đảng viên CS Trung Quốc Tân Tử Lăng.

Tác giả khẳng định sự thắng lợi của chủ nghĩa Xã hội Dân chủ tức “Quốc tế Hai” là tất yếu, thất bại của “chủ nghĩa Xã hội bạo lực” của Lênin là tất yếu. Vì chính cuối đời Marx và Engels đã thấy sai lầm và sửa đổi theo tinh thần Xã hội Dân chủ, chỉ có Lênin lúc ấy còn chống lại.

Xin trích vài dòng trong bài viết của Tạ Thao:

-“Quyển 3 Tư bản luận đã lật đổ kết luận của quyển 1 Tư bản luận”,”chủ nghĩa Cộng sản Marx đề xướng lúc trẻ nhưng vứt bỏ lúc cuối đời”,

- “Breznev nói với em trai: Chủ nghĩa Cộng sản cái gì, đều chỉ là những lời nói trống rỗng nhằm dỗ dành dân chúng”,

-“Cái viết trên ngọn cờ chủ nghĩa Mác đương đại là Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ, kiên trì chủ nghĩa Mác là kiên trì chủ nghĩa Xã hội Dân chủ”, “Khi chủ nghĩa xã hội bạo lực đi đến sơn cùng thuỷ tận, thì chủ nghĩa xã hội ở Tây Âu và Bắc Âu lại giành được thành công cực lớn”,

- “Thuỵ Điển là tấm gương của chủ nghĩa Xã hội Dân chủ, kinh nghiệm của Thuỵ Điển có giá trị phổ cập thế giới, là cống hiến vĩ đại cho văn minh nhân loại”,

-“Chỉ có chủ nghĩa xã hội dân chủ mới có thể cứu Trung Quốc”,

-”Năm 2004, Hồ Cẩm Đào nói chuyện tại Quốc hội Pháp, đã trịnh trọng nói rõ với thế giới: “Phát triển chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu trước sau không thay đổi của chúng tôi”, “hàng loạt chính sách mới đó thuộc về chủ nghĩa xã hội dân chủ, nhưng để tránh nỗi nghi ngờ“ chủ nghĩa xét lại” chúng ta đã gọi nó là con đường xã hội chủ nghĩa có sắc thái Trung Quốc”…(18)

Đây là lời những đảng viên cao cấp của đảng Cộng sản Trung Quốc, những người “một lòng canh cánh cứu Đảng”, dũng cảm gấp trăm lần những đảng viên CSVN, và đi trước ĐCSVN nhiều lần, nhưng thưa rằng so với Phan Chu Trinh thì họ chỉ là những người nói sau ngót một thế kỷ!

* Phan Chu Trinh, lý tình trọn vẹn:

Phan Chu Trinh sống giữa một giai đoạn đầy biến động của một dân tộc đang tìm đường cứu nước, nên tính mâu thuẫn giữa các xu hướng là điều nổi bật.

Nhưng phê phán nhau kịch liệt (về phương pháp) mà vẫn không quên ca ngợi sở trường của bạn, bảo vệ quan điểm của mình mà vẫn dũng cảm nhận ra sở đoản của mình, mà vẫn khuyên nhủ thuyết phục nhau,vẫn ủng hộ nhau, mà vẫn vui sướng khi xu hướng khác mình giành được thắng lợi như các vị ấy thì thật hiếm có.

Trong những cuộc bàn thảo vừa xung đột vừa cảm động ấy (đặc biệt là giữa PCT với Phan Bội Châu và Nguyễn Tất Thành) Phan Chu Trinh luôn là người chủ động nhất và cũng là người có nhiều trăn trở dằn vặt nhất. Sở dĩ như vậy là vì PCT luôn là người trung dung, dân chủ, ôn hoà, mà người như thế thường là chiếc cầu ở giữa nối các phía cực đoan gần lại với nhau.

Nhưng từ khi PCT mất đi, phe ôn hoà không còn, chỉ còn toàn những phe chủ trương bạo lực thì tình hữu ái tương đối ấy không còn nữa, tuy cùng muốn cứu nước mà lại tìm cách vu cáo nhau, thôn tính nhau, tranh công của nhau đến một mất một còn. Bài học ấy đáng để những người đương thời suy ngẫm.


* Tại sao tư tưởng Phan Chu Trinh bị chìm lắng?

Đã 81 năm kỷ niệm ngày mất của chí sĩ họ Phan (24.3.1926), hôm nay đã có đủ độ lùi để nhìn lại một giai đoạn lịch sử dân tộc. Tất nhiên lịch sử là cái đã qua, nhưng với niềm luyến tiếc ta cứ thử nghĩ về một chữ “nếu”.

Nếu đoàn tàu Việt nam thuở ấy rẽ vào đường ray Phan Chu Trinh, nhằm hướng Xã hội Dân chủ như Na-uy, Thụy Điển bây giờ thì sao nhỉ?

Nếu nương vào Pháp để đi lên thành công, không thành Cộng sản, thì giản ước được bao nhiêu thứ:

- Không có cuộc đánh Pháp 9 năm
- Không có cuộc “Nam Bắc phân tranh lần thứ 2” dẫn đến
cuộc đánh Mỹ
- Không phải tham chiến ở Căm-pu-chia
- Không tranh giành gì để phải đánh Tàu năm 1979
- Không có lý do gì phải tiến hành cuộc “đổi mới hay là
chết”
- Không có lý do gì để xuất hiện làn sóng đòi dân chủ - nhân quyền, dẫn đến hài kịch bịt miệng bị cáo trước toà cho thiên hạ xem.
…vân vân…

Nghĩa là tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, bao nhiêu gương anh hùng, bao nhiêu nạn nhân, bao nhiêu máu xương, bao nhiêu hận thù…, và tăng thêm được bao nhiêu là hạnh phúc. Lịch sử không thể quay lại để kiểm chứng, nhưng ai cũng có quyền giả thiết để suy ngẫm, để rút kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai.

Nhưng tổ tiên mình thuở trước chắc vụng đường tu nên Trời đã sai lão Thiên lôi ra “bẻ ghi” để con tàu Việt nam không thể đi vào đường ray Phan Chu Trinh, mà ngoặt sang đường ray quốc tế số 3, có chữ “tiên tiến nhất trong xã hội loài người”, và thế là hôm nay ta đang ngồi đây giữa sân ga hiện thực này, tụt hậu so với xung quanh gần nữa thế kỷ, với bao vết thương trên thịt da và trong phủ tạng.

Sau khi đã công nhận những điều ưu điểm tuyệt vời trong tư tưởng PCT, ta thường an ủi cho sự đi trệch đường ray đó bằng cách giải thích

“Lịch sử, do những éo le của nó, đã không đi được theo con đường Phan Chu Trinh sáng suốt lựa chọn gần 100 năm trước” (Nguyên Ngọc, sđd) (15). Có lẽ hầu hết chúng ta đều làm dịu vết thương của mình như thế.

Nhưng cái gì là “sự éo le” của lịch sử? Ta bảo đó là “kẻ thù đã buộc chúng ta…”.

Cũng có thể kể ra một loạt sử liệu làm “bằng chứng cấu thành tội phạm” để kết án kẻ thù đã làm chúng ta “lỡ tàu”, để tự an ủi bằng chữ “bất khả kháng”. Nhưng mọi kẻ thù xưa nay, dù ở mức độ này hay mức độ khác, bản chất chúng bao giờ cũng thế thôi, bao giờ kẻ thù chẳng buộc chúng ta chọn con đường bất lợi. Quy tội cho chúng một nghìn lần cũng vô ích.

Vấn đề là ở mình. Nhìn số phận của mình mà lại thấy nguyên nhân nằm ở ngoài mình thì có nghĩa là mình bó tay. Cứ chịu bó tay, cứ chịu thua kém thiên hạ thì kẻ thù lại đến, và mình lại phải gồng lên để lại tiếp tục “anh hùng” (Năm 1975, sau “đại thắng”, ta tuyên bố từ nay trở đi không kẻ thù nào dám xâm phạm bờ cõi ta nữa, thì chỉ 4 năm sau, một kẻ thù khác lại xâm phạm bờ cõi ngay chứ họ sợ gì đâu? Rồi đây, cái “biên giới mềm” lại càng khó bảo vệ hơn nữa). PCT là người Việt nam đầu tiên nhận ra nguyên nhân gốc rễ của cái chuỗi khổ ải lặp đi lặp lại bất tận ấy, và có giải pháp cơ bản để thoát ra và chấm dứt nó.

Nhưng bất hạnh thay, lịch sử đã không chọn Phan Chu Trinh.

Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không chọn Phan Chu Trinh. Đổ cho lịch sử là vô trách nhiệm với chính mình.

Mặc dù đã cố gắng hết mình, lo cho số phận dân tộc, Phan Chu Trinh vẫn không thoát khỏi số phận cô đơn. Nếu PCT cũng hô “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”, cũng “thề phanh thây uống máu quân thù” (lời cũ bài Quốc ca) thì chắc “lịch sử” đã chọn Cụ rồi. Chọn cái gì, không chọn cái gì là do tâm lý dân tộc, sở thích của dân tộc, nhận thức của dân tộc , và chúng ta lại trở về với hai phần đầu của bài viết này.

Thay vì “phanh thây” quân thù ta cần “nội soi” và mổ xẻ chính cơ thể mình với bàn tay tinh tế của y thuật.

Phan Chu Trinh lo cho dân trí của dân tộc này, nhưng chưa kịp làm cho dân trí trưởng thành thì dân trí đã gạt Cụ ra bên lề lịch sử (mặc dù vẫn kính trọng Cụ nhưng kính nhi viễn chi thôi, chỉ “cung kính” chứ không “tòng mệnh”, không đi theo đường).

Nhưng điều oái oăm là trong khi những người muốn đổi mới số phận dân tộc còn đang lúng túng trước dân trí thì phía cai trị bao giờ cũng hiểu dân trí rất rõ và tận dụng rất tài những nhược điểm của dân trí .


*

Mở đầu bài viết tôi chỉ muốn kính gửi đến các ông Võ Văn Kiệt, Bùi Tín, Lê Hồng Hà (và đến tất cả mọi người) mấy ý kiến nhỏ mà các ông đề cập về tình hình thời sự-chính trị, mà rồi lan man phải nhắc đến cụ Phan Chu Trinh 100 năm về trước, có lẽ một phần vì những điều các ông phát biểu (nhất là bài của ông LHH) đều phảng phất có hình bóng PCT trong đó, gợi ra cái nhu cầu phải ôn lại nhân vật lịch sử kiệt xuất này, làm chút ánh sáng giúp ta tránh một số điều mù quáng hiện nay. Nhưng đây là lĩnh vực tôi ít hiểu biết nhất. May mà có những người đi trước đã khảo cứu khá sâu về PCT như các vị Nguyễn Q.Thắng, Nguyễn Văn Dương, Nguyên Ngọc, TS Thu Trang, Mai Thái Lĩnh…, lại thêm ở quê nhà Quảng Nam của cụ Phan cũng đã có nhiều hoạt động để nối tiếp con đường của Cụ. Tôi xin cảm ơn các vị ấy.

Để kết luận, tôi thấy không gì bằng dùng lời kết của TS Thu Trang khi viết về PCT: “ CHỚ ĐEM THÀNH BẠI LUẬN ANH HÙNG!”.

Bà nhắc lại lời của triết gia Nietzche: “Có vô vàn sự việc mà nhân loại đã thu đạt được trong bao thời kỳ trước, nhưng với một vẻ rất nhỏ, rất yếu tựa như còn trong trứng, nên người ta không trông thấy được sự thành hình. Nhưng với thời gian, có khi cần đến hàng thế kỷ, những sự việc ấy mới nổi bật lên trong ánh sáng…” (Thu Trang, sđd) (14)

Sinh thời, bao giờ Phan Chu Trinh cũng rất yêu mến bạn bè và dân chúng, thế mà rất nhiều lần Cụ phải nhắc đến chữ “ngu”, như nhắc đến một kẻ thù nguy hiểm, không thể coi thường. Chính Cụ cũng lấy chữ ngu ra để tự răn mình.

Vâng, cái ngu thật đáng sợ, nhưng đáng sợ nhất là ngu mà được hoan hô và nhất thời thắng lợi, vì như thế nó phá huỷ mất khả năng nhận thức ra chân lý.

Đà lạt, viết xong ngày 24.5.2007
(Bài do tác giả gởi đến DCVOnline)

--------------------------

(1) Võ Văn Kiệt: ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VÀO BÁO CÁO TỔNG KẾT LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN HAI MƯƠI NĂM ĐỔI MỚI
tháng9-2005
2) Bùi Tín Những vấn đề cần làm rõ về cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam
24/3/2007
(3) Nội dung bóc băng cuộc điện thoại giữa ông Lê Hồng Hà và
Hà Sĩ Phu ngày 10/3/2007
(4) Nghị quyết 1481 - Resolution 1481 (2006) Need for international condemnation of crimes of totalitarian communist regimes _ webmaster.assembly@coe.int
(5) Hà Sĩ Phu: Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại ()
(6) Bùi Minh Quốc: Một mình một phiếu (talawas 417, 11/4/2007)
(7) Triết lý phát triển: Vai trò tiên phong của hệ thống
(8) Lê Hồng Hà: Thư gửi…của ông Lê Hồng Hà
(9) Tài liệu đã dẫn: Lê Hồng Hà, Thư gửi…của ông Lê Hồng Hà.
(10) Mai Thái Lĩnh, Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh - Về những nguyên tắc căn bản của chế độ dân chủ (Phần 1), talawas 24.2.2007
(11) Mai Thái Lĩnh, Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh - Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (Phần 2), talawas 26.2.2007
(12) Mai Thái Lĩnh, Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh - Về nền tảng đạo đức Nho giáo (Phần 3), talawas số 412 ( 24.3.2007)
(13) NQT: Nguyễn Q.Thắng, Phan Châu Trinh-cuộc đời và tác phẩm,Nxb Văn học,2006 (tái bản lần thứ tư, có bổ sung)
(14) TS Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Nxb Văn Nghệ TP.HCM,2000
(15) Nguyên Ngọc, Nhà cải cách giáo dục lớn đầu thế kỷ XX, tạp chí Tia Sáng, bộ Khoa học và Công nghệ, tháng 10.2002, Hànội
(16) Daniel Héméry, trích theo Nguyên Ngọc, tạp chí Tia Sáng (như trên)
(17) Lê Bảo Sơn; Phan Trọng Hùng, 5 nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội-dân chủ ở nước ta”, talawas 2.9.2005;
(18)Tạ Thao, Mô hình chủ nghĩa Xã hội Dân chủ, talawas 425, 23.5.2007
 
Đăng nhận xét



<< Home

This page is powered by Blogger. Isn't yours?