2/5/08
Comments:
<< Home
“…nếu đảng Cộng sản đã có khả năng biến một đất nước đổ nát vì chiến tranh, chia rẽ và nghèo nàn lạc hậu trở thành một Việt Nam thống nhất, thịnh vượng và, rồi cuối cùng là tự do dân chủ, thì chắc là họ sẽ được định công qua thùng phiếu…”
Phạm Đỉnh: «How long can the party last ?» là bài cuối của một loạt bài phúc trình đặc biệt về Việt Nam trên tuần báo The Economist số ra ngày 26.04.2008. Một bài trong loạt phúc trình đặc biệt này là bài “Nửa đường từ khố rách lên giàu có” («Half-way from rags to riches»), đã được chuyển đến bạn đọc Thông Luận ngày 28/04/2008.
Bài viết «How long can the party last ?» là bản đúc kết về những nhận định của một số chuyên gia kinh tế phương tây về Việt Nam. Chuyển ngữ những bài phân tích nghiêm túc như thế để gửi đến bạn đọc Thông Luận là điều nên làm.
Tuy nhiên, cũng cần nói cho rõ là, mặc dù chúng tôi trân trọng những nỗ lực tìm hiểu về đất nước chúng ta, thì cũng phải nhận rằng lắm khi cái nhìn của người phương tây vẫn chỉ có thể là những cái nhìn từ bên ngoài, do vậy khó tránh được tình cảnh “cỡi ngựa xem hoa”, thậm chí những ngộ nhận đáng ngại, nhất là khi bài viết được in trên một tuần báo sáng giá như The Economist. Bài viết của nhà bình luận Trần Bình Nam trên Thông Luận ngày 28/04/2008 là một thí dụ mới nhất.
Xin gửi đến bạn đọc bản dịch bài viết "How long can the party last?" trên tuần san The Economist" dưới đấy:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ THẢ LỎNG TẤT CẢ, NGOẠI TRỪ CHÍNH TRỊ.
CÓ LẼ RỒI CŨNG SẼ ĐẾN LƯỢT CHÍNH TRỊ?
Một chuỗi người xếp hàng dài đến vài trăm mét, phần đông là người Việt Nam nhưng cũng có một vài người ngoại quốc. Họ lần lượt vào lăng Hồ Chí Minh tại Hà Nội, nơi được canh gác bởi những vệ binh mặt lạnh như tiền, quân phục tề chỉnh. Họ tiếp nối nhau đi vào căn phòng mà xác của nhà lãnh tụ cách mạng đã được ướp và để trong lồng kiếng, hàm râu bạc trắng chạy dài trên chiếc áo đen. Mỗi góc phòng có binh lính đứng canh. Một vài người lính bế những cháu bé lên, kề vào hành lang vây quanh lồng kiếng để các em có thể nhìn rõ hơn Bác Hồ, người có công khai quốc với viễn kiến và với «đạo đức mẫu mực» mà các em đều được răn bảo noi theo từ khi bước vào mẫu giáo cho đến khi vào đại học.
Nhà chức trách Việt Nam đã dùng ngôn ngữ của kinh tế thị trường và đã chọn lựa cách ăn nói về phát triển của các cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc. Nhưng khi đề cập đến chính trị thì các lãnh tụ cộng sản Việt Nam lại quay về với lời ăn tiếng nói của thời chiến tranh lạnh, vừa ướp lạnh vừa xơ cứng… như xác của ông già nằm trong lăng. Những phiên họp của đảng vẫn đưa ra nghị quyết với chủ trương «giai cấp công nhân là đội ngũ tiên phong của cách mạng» và đảng vẫn là «giai cấp tiên phong trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hộỉ”. Đối với họ, các «thế lực thù địch» đang đòi xét lại độc quyền lãnh đạo của đảng, là những tên «khủng bố» mặc dù người ta chỉ hô hào những cải cách ôn hoà mà thôi. Một bảng vẽ tuyên truyền đứng sừng sững trên cánh đồng dọc theo xa lộ có lẽ đã được thai nghén từ những tín đồ ngoan đạo nhất của giáo phái Mác-Lê. Bảng vẽ này dõng dạc tuyên bố: «Tổ chức và cá nhân nộp thuế là nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và ngân sách quốc gia ».
Từ khi chính sách «đổi mới» đã được ban hành hơn 22 năm qua, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều và theo chiều hướng tốt. Quan trọng nhất, người dân đã hưởng được những quyền tự do kinh tế rộng lớn, đó là quyền tự do kinh doanh và tự do chọn lựa nguồn cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Người dân có quyền đi du lịch nước ngoài và được khuyến khích gửi con em du học. Họ ngày càng có khả năng để thực hiện cả hai giấc mơ này. Phần đông người dân đã có thể đón nhận truyền hình hay truyền tin ngoại quốc và vào được các trang web của nước ngoài.
Tuy dung thứ rất nhiều ảnh hưởng đến từ bên ngoài, chính quyền vẫn tìm cách kiểm soát những đế tài mang tính cách chính trị và văn hoá. Các đại học kinh tế ngoại quốc được khuyến khích mở trường tại Việt Nam, nhưng có một chỉ thị quy định rằng các trường đều phải giảng dạy «tư tưởng Hồ Chí Minh» cho tất cả sinh viên Việt nam. Các tiệm sách đều đầy dẫy những tác phẩm dịch từ tác giả như Mẹ Thérésa cho đến Jackies Collins, tuy nhiên quy định về diễn xuất (ban hành vào năm 2004) nghiêm cấm các diễn viên nhuộm tóc hay, thậm chí, đầu trần khi lên sân khấu.
Khó có thể đưa ra một nhận định rõ ràng từ những dữ kiện mâu thuẫn trên vì, như thông lệ, mọi sinh hoạt nội bộ của cấp lãnh đạo đảng đều được giữ bí mật. Tại Trung Hoa, Hồ Cẩm Đào được nhìn nhận như nhân vật có quyền uy tối cao và quy tụ về mình chức vụ Chủ tịch nước, Tổng bí thư đảng và Chủ tịch quân ủy trung ương. Ngược lại, nước Việt Nam được quản lý theo nguyên tắc «tam đầu chế»: Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Cá nhân chủ nghĩa không được tán dương trừ trường hợp của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội và Ban chấp hành trung ương đảng là những lực lượng có quyền uy chứ không chỉ là những cơ quan «gật đầu ba phải».
Vài nhà ngoại giao và quan sát viên tại Hà Nội cho rằng ông Dũng là động cơ của cuộc tự do hoá kinh tế liên tục. Một số khác đánh giá rằng toàn bộ cấp lãnh đạo đảng mới là tác nhân đẩy mạnh công cuộc cải tổ chống lại guồng máy hành chánh lề mề của chính phủ. Việc rõ ràng nhất vẫn là, trên phương diện tự do cá nhân, phe chủ trương từng bước thả lỏng đang thắng thế. Chính quyền Việt Nam có lẽ ít hung bạo hơn so với một số quốc gia dân chủ láng giềng: Các nhân vật bất đồng chính kiến, những lãnh tụ tôn giáo chẳng mấy khi phải trực diện với rủi ro bị sát hại, như tại Phi Luật Tân. Những chống đối trong trật tự dễ được chấp nhận hơn là tại một Tân Gia Ba luôn căng thẳng.
Đảng cộng sản cũng đã gần như từ bỏ việc bách hại tôn giáo, mặc dù các nhà sư, các cha và tín đồ Cao Đài vẫn còn bị bắt giam vì hoạt động chính trị. Thật ra, nhà chức trách đang tuyên dương những đóng góp của tôn giáo cho xã hội, mặc dù chính quyền tiếp tục đòi quyền quyết định việc phong chức cho các lãnh đạo tôn giáo.
Sắc tộc thiểu số cũng đang được đối xử khá hơn. Vào thập niên 90, cùng với hiện tượng phát triển nông thôn Việt Nam, đã không có chính sách nhằm ngăn chặn người đồng bằng cưỡng chiếm những vùng đất mà các sắc tộc người thượng vẫn thường cầy cấy. Những chống đối vào năm 2001-2004 tại Tây nguyên đã bắt buộc chính quyền phải ban hành chính sách bảo vệ quyền lợi của các sắc tộc thiểu số, phần đông vẫn còn nghèo khó. Đưa điện và nước về các làng xã thuộc sắc tộc thiểu số cũng đã được đôn đốc nhiều hơn. Một giáo sư Mỹ, từng quan tâm và đã nghiên cứu các sắc tộc ít người ở Việt Nam, đã cho biết họ có số phận tốt đẹp hơn những người đồng cảnh ngộ tại các quốc gia Đông Nam Á khác.
Giới báo chí và viễn thông vẫn còn bị kiểm soát chặt chẽ. Nhưng những chỉ trích đứng đắn về chính sách của nhà nước, thí dụ như cách quản lý lạm phát gần đây, đã được cho phép. Một cuộc nghiên cứu về ngành báo chí của bà Catherine McKinley, cựu thông tín viên của hãng Dow Jones, cho thấy có nhiều phóng viên, biên tập viên trẻ và đầy nhiệt quyết mong muốn đất nước được quản lý tốt hơn. Nhiều nhân vật tai to mặt lớn có thể bị phát hiện và truy tố vì tham nhũng.
Quét sạch
Cấp lãnh đạo đảng thừa biết lòng căm phẫn của quần chúng về tình trạng tham nhũng là mối nguy lớn nhất cho việc họ tiếp tục cầm quyền. Tuy nhiên, như bà McKinley đã cho thấy, chưa chắc gì phạm vi tự do ban bố cho giới nhà báo đồng nghĩa với chính sách trừng trị thẳng tay nạn tham nhũng, như chính quyền thường khoe khoan: Một phóng viên đã được khuyên nhủ nên chấm dứt điều tra về vụ tai tiếng trong Bộ giao thông vận tải nếu nó gây tác hại đến những nhân vật «ở trên cấp bộ». Chính quyền đã cho phép nhà báo phơi bày tệ nạn tham nhũng từ khi chính sách «đổi mới» được ban hành. Hai mươi năm sau, sinh hoạt chính trị của Việt Nam không sạch sẽ hơn. Dù sao giới báo chí Việt Nam cũng không thiếu tự do hơn đồng nghiệp tại Tân Gia Ba trong công tác đem ra ánh sáng dư luận những vụ tai tiếng của các ông lớn hoặc trong công tác bình luận về tình hình chính trị.
Hệ thống luật pháp không đáng tin cậy và rất hỗn độn. Ngân hàng Thế Giới (WB), tuy rất thận trọng, cũng đã báo động về xu hướng hình sự hoá những tranh cãi chỉ mang tích cách dân sự. Tình trạng này thường xảy ra khi một bên trong vụ tranh cãi là doanh nghiệp nhà nước. Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, trong bản báo cáo thường niên về nhân quyền tháng 03 vừa qua, đã bày tỏ mối quan ngại vì cách thức tuyển chọn chánh án Việt Nam vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của đảng cộng sản. Nhưng bản báo cáo trên cũng cho biết đảng Nhân dân Hành động (PAP) của Tân Gia Ba cũng có những hành vi tương tự.
Chính quyền Việt Nam khẳng định không có tù nhân chính trị, mặc dù một số nhân vật bất đồng chính kiến hiện đang bị giam giữ chỉ vì họ cổ súy cho dân chủ. Trên phương diện này, Trung Quốc có một quá trình đáng sợ hơn, họ dùng toà án như công cụ chính trị và đối xử với người đối lập một cách thô bạo hơn.
Một nhà ngoại giao am tuờng về Trung Quốc và Việt Nam ghi nhận thêm hai yếu tố khác biệt. Tại Trung Quốc, các nhà cách mạng lão thành đều đã qua đời. Lãnh đạo đảng hôm nay xa lìa với thực tế quần chúng bởi một giai cấp quan lại xu nịnh. Các nhân vật cách mạng Việt Nam, còn rất trẻ trong chiến tranh vào những thập niên từ 50 đến 70, vẫn còn tại vị (trong chính phủ, trong doanh nghiệp, trong ngành giáo huấn hay trong những lãnh vực khác). Mối liên hệ giữa những «anh hùng kháng chiến» có thể làm cho giới lãnh đạo nhạy cảm hơn đối với những lo âu hàng ngày của thường dân. Nếu thật như vậy thì tình trạng căng thẳng tương tự như biến cố Thiên An Môn có lẽ sẽ được phát hiện và quản lý sớm hơn. Phản ứng đàn áp theo kiểu Trung Quốc có ít xác suất xảy ra hơn.
Đảng đang đi về đâu ? Trọng lượng của nhà nước đã trở nên khiêm tốn hơn và vai trò của chủ nhân, của giới cung cấp hàng hoá và dịch vụ đang trở nên quan trọng hơn. Trong điều kiện đó, phần trọng lượng của đảng cũng giảm nhiều, nhất là tại đô thị, trừ khi có cá nhân nào đứng lên đối đầu với đảng. Người dân vẫn còn sợ đảng cho dù chính quyền đã tỏ ra nhu nhược. Người Việt Nam tránh nói chuyện chính trị, cho dù họ sinh sống ở ngoại quốc, vì e ngại rằng sẽ liên luỵ đến gia đình ở quê nhà. Tại Việt Nam, họ sợ rằng trong trường hợp «phát ngôn bừa bãi» họ sẽ bị tống giam với những tội vạ nhảm nhí. Một doanh nhân Việt Nam, được phỏng vấn cho bài viết này, đã «vòng vo tam quốc» khi phải trả lời về việc bắt buộc phải là thành viên chi bộ đảng khi muốn làm doanh nhân. Một doanh nhân khác giả vờ không biết tiêu chuẩn này và sau đó đã phải «nhớ ra» khi bị bắt buộc
Việt Nam tiếp tục mở cửa kinh tế và thích nghi với công cuộc xoá đói giảm nghèo của Chương trình Mục tiêu Phát triển cho Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc. Các nhà đầu tư ngoại quốc và các định chế đa phương dần dần từ bỏ phương pháp bàn tay sắt bọc nhung. Không có cuộc thăm dò ý kiến nào đáng tin cậy về những suy tư của dư luận về chính trị. Có lẽ cuộc thăm dò xác thực và mới nhất vừa xuất phát từ cơ quan TNS (và chi nhánh). Cuộc thăm dò này đã cho thấy giới trẻ lạc quan nhất Á Châu là giới trẻ Việt Nam. Hình như nó xác minh một dư luận đã miễn cưỡng cho rằng đảng đã có công lao thống nhất, tái thiết đất nước và, gần đây hơn nữa, cải thiện đời sống. Tuy nhiên tham nhũng tiếp diễn và hố sâu giàu nghèo đang làm tổn thương vốn liếng này của đảng. Một nghiên cứu mới đây của WB cho thấy những doanh nghiệp lớn đều có tiền đút lót trong khi tiểu công nghiệp không tìm được vốn nợ để làm ăn.
Chỉ cần một tai nạn kinh tế (làm trì trệ tiến trình cải thiện đời sống) là đủ để điều động người dân chống lại chế độ. Hơn nữa, khi người dân đã quen với những tự do kinh tế và biết thưởng thức sự giàu sang, tự do, họ sẽ khao khát được nhiều tự do chính trị hơn. Khác với người Thái, người Việt không là một dân tộc chỉ biết cúi đầu vâng dạ. Một ngày đẹp trời, khi mức độ chán chường đã quá tải, họ có thể đánh tan sợ hãi và ăn thua đủ với chính quyền.
Dân chủ chớp nháy
Một nữ sinh viên cho biết thế hệ của cô quan tâm đến «làm ra tiền hơn là làm chính trị». Họ không nể trọng gì những nhân vật cầm quyền. Cũng như một phần những Việt kiều đã trở về Việt Nam và đã được phỏng vấn, cô ta quan niệm rằng chính quyền rồi cũng sẽ phải chấp nhận đổi mới. Một nhà tu thuộc Thiên Chúa giáo đã nói rằng phần đông người dân muốn thay đổi ngay lập tức. Tuy nhiên sau nhiều năm binh lửa, người dân tỏ ra yêu chuộng hoà bình hơn và vì vậy chấp nhập tạm thời chính thể hiện hữu.
Trong hai năm qua, đã le lói thêm những vận động dân chủ hoá đất nước. Trong lúc đảng cộng sản tổ chức đại hội X vào tháng 04.2006, một nhóm bất đồng chính kiến mang tên Khối 8406 đã ra bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam. Một đảng lưu vong, Việt Tân, đã đưa người về nước thâu nạp đảng viên và khích động để có đổi thay. Một số thành viên về Việt Nam đã bị bắt và bị trục xuất. Khi ông Hoàng Minh Chính, lãnh tụ của một tổ chức khác mang tên đảng Dân Chủ Việt Nam và cũng là một trong những sáng lập viên Khối 0486, từ trần vào tháng 02.2008, hàng trăm nhà dân chủ Việt Nam đã về Hà Nội để viếng và đưa đám ông.
Vì đã nỗ lực tạo một tư thế đáng nể phục, lãnh đạo đảng sẽ rất khó phản ứng nếu lực lượng dân chủ Việt Nam được tăng cường sức mạnh. Có thể nào họ sẽ cho quân đội lệnh bắn vào thường dân nếu phải đương đầu với tình trạng tương tự như Thiên An Môn? Liệu quân đội có tuân thủ một mệnh lệnh như vậy? Cho đến nay, việc mà đảng đã làm là cho phép một số thảo luận về đề tài nên bỏ đi chữ «C» trong tên đảng để trở thành đảng Lao Động hay với một danh xưng nào khác.
David Koh, chuyên gia về Việt Nam tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Tân Gia Ba), cho biết đảng cộng sản đang nghiên cứu một vài công thức dân chủ hoá, nhưng có thể sẽ không được như Âu Tây mong mỏi. Ông Koh nghĩ rằng co lẽ thay đổi sẽ xuất phát từ bên trong, khi mà đảng hết có thể lần lữa được nữa. Ông trích dẫn một câu ngụ ngôn Việt Nam: «Nước tới chân mới nhảy».
Đảng có đến 3.2 triệu đảng viên. Theo nhận xét của một học sinh, đảng viên được kết nạp từ những thành phần ưu tú nhất trong giới sinh viên. Nhưng những đảng viên này thường bị những người bạn cùng lớp dè bỉu vì những đặc quyền mà họ được ban phát. Có lẽ nỗi căm giận này xuất phát từ nạn lạm dụng tư thế đảng viên để móc nối và mưu cầu lợi ích cá nhân hơn là ước vọng phục vụ đất nước. Nguy cơ lớn nhất là Việt Nam đang đi theo khuôn mẫu của các quốc gia Đông Nam Á: Một quốc gia sa lầy vào tư thế của một nước với lợi tức bình thường mà không tiến thêm được; một quốc gia rên xiết dưới ách áp bức của một đám cướp đeo mặt nạ tinh hoa xã hội; một quốc gia với những cơ cấu nhà nước hèn kém, với mô hình «tư bản móc nối, ô dù» và với một thể chế dân chủ… «cuội».
May mắn thay, Việt Nam có hai mô hình kề cận để noi theo. Tại Đài Loan và Hàn Quốc, một đảng độc quyền vào thập niên 80 đã từng bước dân chủ hoá đất nước. Chính trường của hai quốc gia này có thể thô bạo. Nhưng tiến trình dân chủ hoá đã đưa hai nước này đến đỉnh cao của thịnh vượng và đỉnh cao của nền kinh tế kỹ nghệ. Đó là những gí Việt Nam mong muốn.
Một lộ trình khác cũng đã hiện rõ. Trong số ưng cử viên Quốc hội, ngày càng có nhiều người không thuộc đảng Cộng sản. Cho phép người ngoài đảng ra tranh cử có thể là bước đầu của tiến trình đề cập trên.
Như những kẻ đương quyền tại Việt đang khám phá, quản lý một nền kinh tế thị trường năng động khó khăn hơn là cai trị một thể chế kinh tế hoạch định cằn cỗi. Điều quan trọng là chính quyền Việt Nam có dám thừa nhận rằng kinh tế thị trường sẽ hữu hiệu hơn khi nguyên tắc thị trường cạnh tranh cũng được áp dụng vào chính trị, như tại hầu hết những quốc gia thịnh vượng và tiến bộ. Những nhà bất đồng chính kiến lưu vong thường tỏ ra bi quan. Tuy nhiên Nguyễn Xuân Ngãi, phát ngôn viên của đảng Dân Chủ Việt Nam tại Hoa Kỳ, đã nhận thấy một vài dấu hiệu đầy hứa hẹn. Ông cho biết, một vài thành viên trong nước thuộc tố chức của ông đã khẳng định tư thế đảng viên mà, cho đến nay, không bị bắt. Ông không ngần ngại suy đoán rằng có nhiều xác suất đảng Dân Chủ được phép đề xuất ứng cử viên trong kỳ bầu cử Quốc hội vào năm 2011.
Mọi việc trên có thể được xem như lạc quan tếu. Nhưng nếu đảng Cộng sản đã có khả năng biến một đất nước đổ nát vì chiến tranh, chia rẽ và nghèo nàn lạc hậu trở thành một Việt Nam thống nhất, thịnh vượng và, rồi cuối cùng là tự do dân chủ, thì chắc là họ sẽ được định công qua thùng phiếu.
Nguồn: The Economist, số ra ngày 26/04/2008
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ
--------------------------------------------------
THÊM MộT Kỳ CÔNG TạI CHÂU Á
The Economist
“… Nếu thế hệ tiếp nối chỉ là nhóm người thiếu nguyên tắc nhưng lại tham nhũng thái quá và vẫn trâng tráo cầm quyền mà không sợ bị đào thải thì đất nước sẽ lui vào bóng đêm quá khứ …”
Phạm Đỉnh: Tiếp theo bài “Nửa đường từ khố rách lên giàu có” (Half-way from rags to riches) và bài cuối “Đảng còn trụ được đến bao lâu ?” (How long can the party last ?) trong loạt bài về Việt Nam mà tuần báo The Economist đã đăng tải nhân dịp kỷ niệm 30.04.1975, Thông Luận xin gửi đến độc giả bài viết có tính cách tổng kết với tựa đề “Asia’s other miracle”.
Những nhận định của Thông Luận về loạt bài này vẫn nguyên vẹn.
VIệT NAM PHÁT TRIểN ở VậN TốC NGOạN MụC
NHờ CHO THị TRƯờNG Tự DO VậN HÀNH.
GIờ THÌ PHảI NớI LỏNG Về CHÍNH TRị THÔI
Cách đây không lâu lắm, trên báo chí, từ “Việt Nam” hầu như đồng nghĩa và đồng hành với cụm từ “thuyền nhân”. Suốt hai thập niên sau ngày Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975, biểu tượng cho Việt nam là hình ảnh những làn sóng người tị nạn trôi dạt và lê lết lên bờ biển các nước láng giềng, lẩn trốn sự đàn áp và đời sống khốn đốn tại quê hương. Tất cả đã thay đổi. Ngày hôm nay, nhiều người tị nạn thuở nào đã trở về làm ăn và lập nghiệp tại một Việt Nam đang thay da đổi thịt. Phát triển của Việt Nam hiện nay đang ở mức cao nhất Châu Á, với tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm vào khoảng 7.5% trong thập niên qua. Tuy độ tăng trưởng trên kém xuất sắc hơn Trung Quốc, bản phúc trình đặc biệt của The Economist trong tháng 04.2008 cho thấy Việt Nam đã gặt hái được những thành quả đáng ghi nhận trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Việt Nam thành công hơn cả người láng giềng khổng lồ phương Bắc. Hy vọng đạt được mức tăng trưởng với tỉ lệ 9% cho năm nay đã tan theo mây khói: Việt Nam đang phải đương đầu với tỉ lệ lạm phát “hai con số” và cán cân thương mại ngày càng mất thăng bằng giữa xuất và nhập. Tuy nhiên về lâu về dài, viễn ảnh vẫn chứa đựng đầy hứa hẹn.
Thoát khỏi nghèo hèn
Các thành phố Việt Nam giờ đã trở nên lộng lẫy và nhộn nhịp. Tại thôn quê, nơi mà đa số người Việt Nam sinh sống, đời sống không thua gì nông thôn Thái Lan, mặc dù Thái Lan được xem là giàu có hơn. Việt Nam, từng dựa lưng nỗi chết… đói, giờ đã biến thành một trong những nước xuất cảng nông phẩm nhất nhì trên thế giới. Như một phép mầu làm đảo ngược tình thế, Phi Luật Tân, một thời là quốc gia thịnh vượng thứ nhì Châu Á, vừa phải khẩn cầu Việt Nam bán gạo cho hầu tránh được nạn đói đang đe doạ hàng triệu người Phi. Thành công kinh tế và xã hội Việt Nam đã khiến quốc gia này trở thành học trò ngoan mà các định chế đa phương, như Ngân hàng Thế giới (WB), tuyên dương. Đất nước này đang trở thành một trong những điểm hẹn phát triển vượt bậc của các công ty đa quốc gia và của các doanh nghiệp du lịch. Việt Nam cũng đang tăng cường ảnh hưởng trên bình diện bang giao: Hiện đang là thành viên không thường trực, Việt Nam sẽ nắm giữ ghế chủ tịch Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào tháng 07 sắp đến.
Với uy tín vừa gầy dựng được, Việt Nam sẽ rất hữu ích cho thế giới. Việt Nam có thể vừa là mẫu mực, vừa đóng vai trò ngoại giao tích cực. Những quốc gia đang trong giai đoạn chuyển tiếp có thể tiếp nhận những lời cố vấn của Việt Nam trên một số đề tài: Làm sao gác qua những thù xưa hận cũ, mở cửa ra với thế giới bên ngoài, canh tân nền kinh tế phá sản. Với cương vị một người bạn hiếm hoi của Bắc Hàn và Miến Điện, Việt Nam có thể dỗ ngọt những kẻ đang tự giam hãm trong dốt nát để họ bước ra khỏi hoàn cảnh tự mình cô lập mình. Với kinh nghiệm một nước đã thoát khỏi cơ hàn nhờ vào chọn lựa tự do thương mại, Việt Nam có thể khuyến khích những nước đang phát triển có thái độ tích cực hơn trong những vòng đàm phán Doha liên quan đến mậu dịch quốc tế (cũng như sẽ làm gương cho những nước, tuy tiên tiến nhưng đáng xấu hổ, và khuyến khích họ cũng nên có thái độ tích cực).
Tuy những thành quả gặt hái đã đáng để nể trọng, nhưng Việt Nam vẫn chưa thỏa mãn. Đất nước này muốn đi hết đoạn đường dẫn đến thịnh vượng và dẫn đến đỉnh cao công nghệ. Mục tiêu đặt ra là sẽ đi đến nơi đến chốn vào năm 2020. Trong thế kỷ qua, kẻ thù của Việt Nam đã hiểu được một điều: Không nên đánh giá thấp lòng quyết tâm và trí thông minh của dân tộc Việt Nam.
Nhưng nếu muốn biến giấc mơ trên thành hiện thực, Việt Nam cần rút tỉa một cách đứng đắn những bài học từ kinh nghiệm của riêng mình. Việt Nam cũng nên học từ những quốc gia láng giềng, những quốc gia đã đạt đến địa vị giàu sang mà chính Việt Nam đang thèm thuồng có được.
Việt Nam chỉ thành công sau khi đảng Cộng sản cầm quyền nhìn nhận rằng chủ thuyết tư bản, thị trường tự do và tự do mậu dịch là con đường an toàn nhất đưa đến thịnh vượng. Chủ trương “Đổi Mới” đã được xúc tiến vào năm 1986 với chính sách tự do hoá, dù chương trình cải tổ đã diễn ra một cách không đồng nhất trong 20 năm sau đó. Hợp tác xã bị xoá bỏ, người cày được có ruộng làm ăn và nông phẩm được tự do định giá theo mức cung cầu. Cho đến năm 2000 vẫn còn bị kiềm chế nghiêm ngặt, tư doanh được hợp thức hoá và thị trường chứng khoán được thiết lập. Hàng rào mậu dịch được hạ thấp, xuất nhập cảng tăng vọt. Việt Nam bây giờ là một trong những quốc gia có nền kinh tế mở rộng nhất ra thế giới. Có lẽ sẽ không còn con đường thoái lui: Mọi cố gắng hầu tái thiết sự can thiệp mang tính cách diệt vong của chính phủ chắc chắn sẽ khiến giấc mơ trở nên giàu mạnh vào năm 2020 vẫn chỉ là một giấc mơ.
Như Hàn Quốc, Đài Loan và, gần đây, Trung Quốc, chế độ độc tài Việt Nam đã chứng minh có khả năng đưa đất nước thoát khỏi nghèo hèn. Nhưng có một điều chắc chắn hơn: Hiện tượng các các quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (theo tiêu chuẩn thu nhập/đầu người) đều là những đất nước tự do dân chủ không là một trùng hợp ngẫu nhiên.
Tự do chính trị là một quyền lợi bất khả nhân nhượng. Vì vậy, không cần phải biện hộ thêm rằng tự do chính trị đem lại nhiều lợi nhuận kinh tế. Nhưng dẫu sao, sư thực cũng vẫn là thế: Những kẻ đương quyền tại Việt Nam đã khám phá ra rằng khó có thể điều khiển một nền kinh tế thị trường đang trên đà tăng tốc bằng những nguyên tắc của kinh tế hoạch định. Sẽ dễ dàng quản lý những cơn sốt căng thẳng của một xã hội với đà phát triển nhanh nếu có được một thị trường tự do về tư tưởng cũng như về hàng hoá và về dịch vụ. Đi xa hơn nữa, mọi chính sách kinh tế, tuy khó khăn nhưng cần thiết, sẽ dễ được ban hành và dễ chấp nhận hơn nếu mọi công dân cảm thấy rằng, trong chính sách đó, mình cũng đã có quyền và đã có phần đóng góp ý kiến.
Hãy trở thành minh tinh
Cho đến bây giờ, dường như đảng Cộng sản vẫn một mực độc quyền lãnh đạo. Đảng gọi những người đấu tranh cho dân chủ là “khủng bố” và tống giam họ. Nhưng đảng nên đặc biệt chú tâm và rút tỉa kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Đài Loan. Cho đến cuối thập kỷ 80, hai quốc gia này vẫn chủ trương độc tài toàn trị. Hai chế độ độc tài này, khi trực diện với nỗi bất đồng ngày càng lớn mạnh, đã nhận diện ra được những thông điệp cảnh cáo và đã chấp nhận dân chủ hoá đất nước để tránh khỏi những bất trắc. Hiện nay, mặc dù đời sống chính trị còn có một vài thủ đoạn thô bạo, hai quốc gia này đã tạo cho mình một nền kinh tế giàu mạnh với một công nghiệp cao, một nền kinh tế mà chính Việt Nam đang mong mỏi.
Tuy nhiên, hình như đảng Cộng sản Việt Nam đang bị thu hút bởi một mô hình khác: Đảo quốc thịnh vượng và tân tiến Tân Gia Ba. Vì có một diện tích khiêm tốn, Tân Gia Ba cần được xem như một trường hợp ngoại lệ. Vì vậy đảng Nhân Dân Hành Động (PAP) đã có cơ hội liên tục và tiếp tục cầm quyền, trong khi phe đối lập chỉ được ban bố quyền hạn cạnh tranh với PAP trong những điệu kiện khắt khe. Ngay cả trong trường hợp này, áp dụng mô hình Tân Gia Ba cũng sẽ là một khởi điểm đáng quý cho Việt Nam.
Nói cho cùng, Việt Nam cũng có những quốc gia láng giềng với một thể chế dân chủ lỏng lẻo và bất trắc. Đó là Phi Luật Tân và Thái Lan. Nhưng cả hai trường hợp này chỉ có thể chứng minh được một điều: Nếu không là điều kiện đầy đủ, dân chủ vẫn là một điều kiện tối cần thiết để có thể vươn mình lớn dậy và lao lên vị thế hàng đầu. Thế hệ cầm quyền Việt Nam hiện nay là hậu duệ của cuộc đấu tranh giành độc lập để đem lại những gì tốt đẹp nhất cho dân tộc. Chính vì vậy, những kẻ đương quyền cần suy tư đến mẫu người sẽ thay thế họ trong tương lai. Nếu thế hệ tiếp nối chỉ là nhóm người thiếu nguyên tắc nhưng lại tham nhũng thái quá và vẫn trâng tráo cầm quyền mà không sợ bị đào thải thì đất nước sẽ lui vào bóng đêm quá khứ.
Cho đến nay í nhiều đã có những dấu hiệu đối kháng chống lại nguyên tắc độc quyền độc đảng. Nhưng khi tự do kinh tế và tự do xã hội đã được nới rộng và trở nên quen thuộc đối với người Việt Nam, những chống đối trên tất nhiên sẽ bộc phát. Còn chần chờ gì nữa? Đối với lớp hậu sinh của Hồ Chí Minh, có gì hãnh diện hơn khi được sử sách đánh giá như những người đã đem lại ổn định, thịnh vượng và, cuối cùng là tự do thật sự cho dân tộc.
Nguồn: The Economist, số ra ngày 26/04/2008
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ
Đăng nhận xét
Phạm Đỉnh: «How long can the party last ?» là bài cuối của một loạt bài phúc trình đặc biệt về Việt Nam trên tuần báo The Economist số ra ngày 26.04.2008. Một bài trong loạt phúc trình đặc biệt này là bài “Nửa đường từ khố rách lên giàu có” («Half-way from rags to riches»), đã được chuyển đến bạn đọc Thông Luận ngày 28/04/2008.
Bài viết «How long can the party last ?» là bản đúc kết về những nhận định của một số chuyên gia kinh tế phương tây về Việt Nam. Chuyển ngữ những bài phân tích nghiêm túc như thế để gửi đến bạn đọc Thông Luận là điều nên làm.
Tuy nhiên, cũng cần nói cho rõ là, mặc dù chúng tôi trân trọng những nỗ lực tìm hiểu về đất nước chúng ta, thì cũng phải nhận rằng lắm khi cái nhìn của người phương tây vẫn chỉ có thể là những cái nhìn từ bên ngoài, do vậy khó tránh được tình cảnh “cỡi ngựa xem hoa”, thậm chí những ngộ nhận đáng ngại, nhất là khi bài viết được in trên một tuần báo sáng giá như The Economist. Bài viết của nhà bình luận Trần Bình Nam trên Thông Luận ngày 28/04/2008 là một thí dụ mới nhất.
Xin gửi đến bạn đọc bản dịch bài viết "How long can the party last?" trên tuần san The Economist" dưới đấy:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ THẢ LỎNG TẤT CẢ, NGOẠI TRỪ CHÍNH TRỊ.
CÓ LẼ RỒI CŨNG SẼ ĐẾN LƯỢT CHÍNH TRỊ?
Một chuỗi người xếp hàng dài đến vài trăm mét, phần đông là người Việt Nam nhưng cũng có một vài người ngoại quốc. Họ lần lượt vào lăng Hồ Chí Minh tại Hà Nội, nơi được canh gác bởi những vệ binh mặt lạnh như tiền, quân phục tề chỉnh. Họ tiếp nối nhau đi vào căn phòng mà xác của nhà lãnh tụ cách mạng đã được ướp và để trong lồng kiếng, hàm râu bạc trắng chạy dài trên chiếc áo đen. Mỗi góc phòng có binh lính đứng canh. Một vài người lính bế những cháu bé lên, kề vào hành lang vây quanh lồng kiếng để các em có thể nhìn rõ hơn Bác Hồ, người có công khai quốc với viễn kiến và với «đạo đức mẫu mực» mà các em đều được răn bảo noi theo từ khi bước vào mẫu giáo cho đến khi vào đại học.
Nhà chức trách Việt Nam đã dùng ngôn ngữ của kinh tế thị trường và đã chọn lựa cách ăn nói về phát triển của các cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc. Nhưng khi đề cập đến chính trị thì các lãnh tụ cộng sản Việt Nam lại quay về với lời ăn tiếng nói của thời chiến tranh lạnh, vừa ướp lạnh vừa xơ cứng… như xác của ông già nằm trong lăng. Những phiên họp của đảng vẫn đưa ra nghị quyết với chủ trương «giai cấp công nhân là đội ngũ tiên phong của cách mạng» và đảng vẫn là «giai cấp tiên phong trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hộỉ”. Đối với họ, các «thế lực thù địch» đang đòi xét lại độc quyền lãnh đạo của đảng, là những tên «khủng bố» mặc dù người ta chỉ hô hào những cải cách ôn hoà mà thôi. Một bảng vẽ tuyên truyền đứng sừng sững trên cánh đồng dọc theo xa lộ có lẽ đã được thai nghén từ những tín đồ ngoan đạo nhất của giáo phái Mác-Lê. Bảng vẽ này dõng dạc tuyên bố: «Tổ chức và cá nhân nộp thuế là nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và ngân sách quốc gia ».
Từ khi chính sách «đổi mới» đã được ban hành hơn 22 năm qua, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều và theo chiều hướng tốt. Quan trọng nhất, người dân đã hưởng được những quyền tự do kinh tế rộng lớn, đó là quyền tự do kinh doanh và tự do chọn lựa nguồn cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Người dân có quyền đi du lịch nước ngoài và được khuyến khích gửi con em du học. Họ ngày càng có khả năng để thực hiện cả hai giấc mơ này. Phần đông người dân đã có thể đón nhận truyền hình hay truyền tin ngoại quốc và vào được các trang web của nước ngoài.
Tuy dung thứ rất nhiều ảnh hưởng đến từ bên ngoài, chính quyền vẫn tìm cách kiểm soát những đế tài mang tính cách chính trị và văn hoá. Các đại học kinh tế ngoại quốc được khuyến khích mở trường tại Việt Nam, nhưng có một chỉ thị quy định rằng các trường đều phải giảng dạy «tư tưởng Hồ Chí Minh» cho tất cả sinh viên Việt nam. Các tiệm sách đều đầy dẫy những tác phẩm dịch từ tác giả như Mẹ Thérésa cho đến Jackies Collins, tuy nhiên quy định về diễn xuất (ban hành vào năm 2004) nghiêm cấm các diễn viên nhuộm tóc hay, thậm chí, đầu trần khi lên sân khấu.
Khó có thể đưa ra một nhận định rõ ràng từ những dữ kiện mâu thuẫn trên vì, như thông lệ, mọi sinh hoạt nội bộ của cấp lãnh đạo đảng đều được giữ bí mật. Tại Trung Hoa, Hồ Cẩm Đào được nhìn nhận như nhân vật có quyền uy tối cao và quy tụ về mình chức vụ Chủ tịch nước, Tổng bí thư đảng và Chủ tịch quân ủy trung ương. Ngược lại, nước Việt Nam được quản lý theo nguyên tắc «tam đầu chế»: Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Cá nhân chủ nghĩa không được tán dương trừ trường hợp của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội và Ban chấp hành trung ương đảng là những lực lượng có quyền uy chứ không chỉ là những cơ quan «gật đầu ba phải».
Vài nhà ngoại giao và quan sát viên tại Hà Nội cho rằng ông Dũng là động cơ của cuộc tự do hoá kinh tế liên tục. Một số khác đánh giá rằng toàn bộ cấp lãnh đạo đảng mới là tác nhân đẩy mạnh công cuộc cải tổ chống lại guồng máy hành chánh lề mề của chính phủ. Việc rõ ràng nhất vẫn là, trên phương diện tự do cá nhân, phe chủ trương từng bước thả lỏng đang thắng thế. Chính quyền Việt Nam có lẽ ít hung bạo hơn so với một số quốc gia dân chủ láng giềng: Các nhân vật bất đồng chính kiến, những lãnh tụ tôn giáo chẳng mấy khi phải trực diện với rủi ro bị sát hại, như tại Phi Luật Tân. Những chống đối trong trật tự dễ được chấp nhận hơn là tại một Tân Gia Ba luôn căng thẳng.
Đảng cộng sản cũng đã gần như từ bỏ việc bách hại tôn giáo, mặc dù các nhà sư, các cha và tín đồ Cao Đài vẫn còn bị bắt giam vì hoạt động chính trị. Thật ra, nhà chức trách đang tuyên dương những đóng góp của tôn giáo cho xã hội, mặc dù chính quyền tiếp tục đòi quyền quyết định việc phong chức cho các lãnh đạo tôn giáo.
Sắc tộc thiểu số cũng đang được đối xử khá hơn. Vào thập niên 90, cùng với hiện tượng phát triển nông thôn Việt Nam, đã không có chính sách nhằm ngăn chặn người đồng bằng cưỡng chiếm những vùng đất mà các sắc tộc người thượng vẫn thường cầy cấy. Những chống đối vào năm 2001-2004 tại Tây nguyên đã bắt buộc chính quyền phải ban hành chính sách bảo vệ quyền lợi của các sắc tộc thiểu số, phần đông vẫn còn nghèo khó. Đưa điện và nước về các làng xã thuộc sắc tộc thiểu số cũng đã được đôn đốc nhiều hơn. Một giáo sư Mỹ, từng quan tâm và đã nghiên cứu các sắc tộc ít người ở Việt Nam, đã cho biết họ có số phận tốt đẹp hơn những người đồng cảnh ngộ tại các quốc gia Đông Nam Á khác.
Giới báo chí và viễn thông vẫn còn bị kiểm soát chặt chẽ. Nhưng những chỉ trích đứng đắn về chính sách của nhà nước, thí dụ như cách quản lý lạm phát gần đây, đã được cho phép. Một cuộc nghiên cứu về ngành báo chí của bà Catherine McKinley, cựu thông tín viên của hãng Dow Jones, cho thấy có nhiều phóng viên, biên tập viên trẻ và đầy nhiệt quyết mong muốn đất nước được quản lý tốt hơn. Nhiều nhân vật tai to mặt lớn có thể bị phát hiện và truy tố vì tham nhũng.
Quét sạch
Cấp lãnh đạo đảng thừa biết lòng căm phẫn của quần chúng về tình trạng tham nhũng là mối nguy lớn nhất cho việc họ tiếp tục cầm quyền. Tuy nhiên, như bà McKinley đã cho thấy, chưa chắc gì phạm vi tự do ban bố cho giới nhà báo đồng nghĩa với chính sách trừng trị thẳng tay nạn tham nhũng, như chính quyền thường khoe khoan: Một phóng viên đã được khuyên nhủ nên chấm dứt điều tra về vụ tai tiếng trong Bộ giao thông vận tải nếu nó gây tác hại đến những nhân vật «ở trên cấp bộ». Chính quyền đã cho phép nhà báo phơi bày tệ nạn tham nhũng từ khi chính sách «đổi mới» được ban hành. Hai mươi năm sau, sinh hoạt chính trị của Việt Nam không sạch sẽ hơn. Dù sao giới báo chí Việt Nam cũng không thiếu tự do hơn đồng nghiệp tại Tân Gia Ba trong công tác đem ra ánh sáng dư luận những vụ tai tiếng của các ông lớn hoặc trong công tác bình luận về tình hình chính trị.
Hệ thống luật pháp không đáng tin cậy và rất hỗn độn. Ngân hàng Thế Giới (WB), tuy rất thận trọng, cũng đã báo động về xu hướng hình sự hoá những tranh cãi chỉ mang tích cách dân sự. Tình trạng này thường xảy ra khi một bên trong vụ tranh cãi là doanh nghiệp nhà nước. Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, trong bản báo cáo thường niên về nhân quyền tháng 03 vừa qua, đã bày tỏ mối quan ngại vì cách thức tuyển chọn chánh án Việt Nam vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của đảng cộng sản. Nhưng bản báo cáo trên cũng cho biết đảng Nhân dân Hành động (PAP) của Tân Gia Ba cũng có những hành vi tương tự.
Chính quyền Việt Nam khẳng định không có tù nhân chính trị, mặc dù một số nhân vật bất đồng chính kiến hiện đang bị giam giữ chỉ vì họ cổ súy cho dân chủ. Trên phương diện này, Trung Quốc có một quá trình đáng sợ hơn, họ dùng toà án như công cụ chính trị và đối xử với người đối lập một cách thô bạo hơn.
Một nhà ngoại giao am tuờng về Trung Quốc và Việt Nam ghi nhận thêm hai yếu tố khác biệt. Tại Trung Quốc, các nhà cách mạng lão thành đều đã qua đời. Lãnh đạo đảng hôm nay xa lìa với thực tế quần chúng bởi một giai cấp quan lại xu nịnh. Các nhân vật cách mạng Việt Nam, còn rất trẻ trong chiến tranh vào những thập niên từ 50 đến 70, vẫn còn tại vị (trong chính phủ, trong doanh nghiệp, trong ngành giáo huấn hay trong những lãnh vực khác). Mối liên hệ giữa những «anh hùng kháng chiến» có thể làm cho giới lãnh đạo nhạy cảm hơn đối với những lo âu hàng ngày của thường dân. Nếu thật như vậy thì tình trạng căng thẳng tương tự như biến cố Thiên An Môn có lẽ sẽ được phát hiện và quản lý sớm hơn. Phản ứng đàn áp theo kiểu Trung Quốc có ít xác suất xảy ra hơn.
Đảng đang đi về đâu ? Trọng lượng của nhà nước đã trở nên khiêm tốn hơn và vai trò của chủ nhân, của giới cung cấp hàng hoá và dịch vụ đang trở nên quan trọng hơn. Trong điều kiện đó, phần trọng lượng của đảng cũng giảm nhiều, nhất là tại đô thị, trừ khi có cá nhân nào đứng lên đối đầu với đảng. Người dân vẫn còn sợ đảng cho dù chính quyền đã tỏ ra nhu nhược. Người Việt Nam tránh nói chuyện chính trị, cho dù họ sinh sống ở ngoại quốc, vì e ngại rằng sẽ liên luỵ đến gia đình ở quê nhà. Tại Việt Nam, họ sợ rằng trong trường hợp «phát ngôn bừa bãi» họ sẽ bị tống giam với những tội vạ nhảm nhí. Một doanh nhân Việt Nam, được phỏng vấn cho bài viết này, đã «vòng vo tam quốc» khi phải trả lời về việc bắt buộc phải là thành viên chi bộ đảng khi muốn làm doanh nhân. Một doanh nhân khác giả vờ không biết tiêu chuẩn này và sau đó đã phải «nhớ ra» khi bị bắt buộc
Việt Nam tiếp tục mở cửa kinh tế và thích nghi với công cuộc xoá đói giảm nghèo của Chương trình Mục tiêu Phát triển cho Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc. Các nhà đầu tư ngoại quốc và các định chế đa phương dần dần từ bỏ phương pháp bàn tay sắt bọc nhung. Không có cuộc thăm dò ý kiến nào đáng tin cậy về những suy tư của dư luận về chính trị. Có lẽ cuộc thăm dò xác thực và mới nhất vừa xuất phát từ cơ quan TNS (và chi nhánh). Cuộc thăm dò này đã cho thấy giới trẻ lạc quan nhất Á Châu là giới trẻ Việt Nam. Hình như nó xác minh một dư luận đã miễn cưỡng cho rằng đảng đã có công lao thống nhất, tái thiết đất nước và, gần đây hơn nữa, cải thiện đời sống. Tuy nhiên tham nhũng tiếp diễn và hố sâu giàu nghèo đang làm tổn thương vốn liếng này của đảng. Một nghiên cứu mới đây của WB cho thấy những doanh nghiệp lớn đều có tiền đút lót trong khi tiểu công nghiệp không tìm được vốn nợ để làm ăn.
Chỉ cần một tai nạn kinh tế (làm trì trệ tiến trình cải thiện đời sống) là đủ để điều động người dân chống lại chế độ. Hơn nữa, khi người dân đã quen với những tự do kinh tế và biết thưởng thức sự giàu sang, tự do, họ sẽ khao khát được nhiều tự do chính trị hơn. Khác với người Thái, người Việt không là một dân tộc chỉ biết cúi đầu vâng dạ. Một ngày đẹp trời, khi mức độ chán chường đã quá tải, họ có thể đánh tan sợ hãi và ăn thua đủ với chính quyền.
Dân chủ chớp nháy
Một nữ sinh viên cho biết thế hệ của cô quan tâm đến «làm ra tiền hơn là làm chính trị». Họ không nể trọng gì những nhân vật cầm quyền. Cũng như một phần những Việt kiều đã trở về Việt Nam và đã được phỏng vấn, cô ta quan niệm rằng chính quyền rồi cũng sẽ phải chấp nhận đổi mới. Một nhà tu thuộc Thiên Chúa giáo đã nói rằng phần đông người dân muốn thay đổi ngay lập tức. Tuy nhiên sau nhiều năm binh lửa, người dân tỏ ra yêu chuộng hoà bình hơn và vì vậy chấp nhập tạm thời chính thể hiện hữu.
Trong hai năm qua, đã le lói thêm những vận động dân chủ hoá đất nước. Trong lúc đảng cộng sản tổ chức đại hội X vào tháng 04.2006, một nhóm bất đồng chính kiến mang tên Khối 8406 đã ra bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam. Một đảng lưu vong, Việt Tân, đã đưa người về nước thâu nạp đảng viên và khích động để có đổi thay. Một số thành viên về Việt Nam đã bị bắt và bị trục xuất. Khi ông Hoàng Minh Chính, lãnh tụ của một tổ chức khác mang tên đảng Dân Chủ Việt Nam và cũng là một trong những sáng lập viên Khối 0486, từ trần vào tháng 02.2008, hàng trăm nhà dân chủ Việt Nam đã về Hà Nội để viếng và đưa đám ông.
Vì đã nỗ lực tạo một tư thế đáng nể phục, lãnh đạo đảng sẽ rất khó phản ứng nếu lực lượng dân chủ Việt Nam được tăng cường sức mạnh. Có thể nào họ sẽ cho quân đội lệnh bắn vào thường dân nếu phải đương đầu với tình trạng tương tự như Thiên An Môn? Liệu quân đội có tuân thủ một mệnh lệnh như vậy? Cho đến nay, việc mà đảng đã làm là cho phép một số thảo luận về đề tài nên bỏ đi chữ «C» trong tên đảng để trở thành đảng Lao Động hay với một danh xưng nào khác.
David Koh, chuyên gia về Việt Nam tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Tân Gia Ba), cho biết đảng cộng sản đang nghiên cứu một vài công thức dân chủ hoá, nhưng có thể sẽ không được như Âu Tây mong mỏi. Ông Koh nghĩ rằng co lẽ thay đổi sẽ xuất phát từ bên trong, khi mà đảng hết có thể lần lữa được nữa. Ông trích dẫn một câu ngụ ngôn Việt Nam: «Nước tới chân mới nhảy».
Đảng có đến 3.2 triệu đảng viên. Theo nhận xét của một học sinh, đảng viên được kết nạp từ những thành phần ưu tú nhất trong giới sinh viên. Nhưng những đảng viên này thường bị những người bạn cùng lớp dè bỉu vì những đặc quyền mà họ được ban phát. Có lẽ nỗi căm giận này xuất phát từ nạn lạm dụng tư thế đảng viên để móc nối và mưu cầu lợi ích cá nhân hơn là ước vọng phục vụ đất nước. Nguy cơ lớn nhất là Việt Nam đang đi theo khuôn mẫu của các quốc gia Đông Nam Á: Một quốc gia sa lầy vào tư thế của một nước với lợi tức bình thường mà không tiến thêm được; một quốc gia rên xiết dưới ách áp bức của một đám cướp đeo mặt nạ tinh hoa xã hội; một quốc gia với những cơ cấu nhà nước hèn kém, với mô hình «tư bản móc nối, ô dù» và với một thể chế dân chủ… «cuội».
May mắn thay, Việt Nam có hai mô hình kề cận để noi theo. Tại Đài Loan và Hàn Quốc, một đảng độc quyền vào thập niên 80 đã từng bước dân chủ hoá đất nước. Chính trường của hai quốc gia này có thể thô bạo. Nhưng tiến trình dân chủ hoá đã đưa hai nước này đến đỉnh cao của thịnh vượng và đỉnh cao của nền kinh tế kỹ nghệ. Đó là những gí Việt Nam mong muốn.
Một lộ trình khác cũng đã hiện rõ. Trong số ưng cử viên Quốc hội, ngày càng có nhiều người không thuộc đảng Cộng sản. Cho phép người ngoài đảng ra tranh cử có thể là bước đầu của tiến trình đề cập trên.
Như những kẻ đương quyền tại Việt đang khám phá, quản lý một nền kinh tế thị trường năng động khó khăn hơn là cai trị một thể chế kinh tế hoạch định cằn cỗi. Điều quan trọng là chính quyền Việt Nam có dám thừa nhận rằng kinh tế thị trường sẽ hữu hiệu hơn khi nguyên tắc thị trường cạnh tranh cũng được áp dụng vào chính trị, như tại hầu hết những quốc gia thịnh vượng và tiến bộ. Những nhà bất đồng chính kiến lưu vong thường tỏ ra bi quan. Tuy nhiên Nguyễn Xuân Ngãi, phát ngôn viên của đảng Dân Chủ Việt Nam tại Hoa Kỳ, đã nhận thấy một vài dấu hiệu đầy hứa hẹn. Ông cho biết, một vài thành viên trong nước thuộc tố chức của ông đã khẳng định tư thế đảng viên mà, cho đến nay, không bị bắt. Ông không ngần ngại suy đoán rằng có nhiều xác suất đảng Dân Chủ được phép đề xuất ứng cử viên trong kỳ bầu cử Quốc hội vào năm 2011.
Mọi việc trên có thể được xem như lạc quan tếu. Nhưng nếu đảng Cộng sản đã có khả năng biến một đất nước đổ nát vì chiến tranh, chia rẽ và nghèo nàn lạc hậu trở thành một Việt Nam thống nhất, thịnh vượng và, rồi cuối cùng là tự do dân chủ, thì chắc là họ sẽ được định công qua thùng phiếu.
Nguồn: The Economist, số ra ngày 26/04/2008
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ
--------------------------------------------------
THÊM MộT Kỳ CÔNG TạI CHÂU Á
The Economist
“… Nếu thế hệ tiếp nối chỉ là nhóm người thiếu nguyên tắc nhưng lại tham nhũng thái quá và vẫn trâng tráo cầm quyền mà không sợ bị đào thải thì đất nước sẽ lui vào bóng đêm quá khứ …”
Phạm Đỉnh: Tiếp theo bài “Nửa đường từ khố rách lên giàu có” (Half-way from rags to riches) và bài cuối “Đảng còn trụ được đến bao lâu ?” (How long can the party last ?) trong loạt bài về Việt Nam mà tuần báo The Economist đã đăng tải nhân dịp kỷ niệm 30.04.1975, Thông Luận xin gửi đến độc giả bài viết có tính cách tổng kết với tựa đề “Asia’s other miracle”.
Những nhận định của Thông Luận về loạt bài này vẫn nguyên vẹn.
VIệT NAM PHÁT TRIểN ở VậN TốC NGOạN MụC
NHờ CHO THị TRƯờNG Tự DO VậN HÀNH.
GIờ THÌ PHảI NớI LỏNG Về CHÍNH TRị THÔI
Cách đây không lâu lắm, trên báo chí, từ “Việt Nam” hầu như đồng nghĩa và đồng hành với cụm từ “thuyền nhân”. Suốt hai thập niên sau ngày Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975, biểu tượng cho Việt nam là hình ảnh những làn sóng người tị nạn trôi dạt và lê lết lên bờ biển các nước láng giềng, lẩn trốn sự đàn áp và đời sống khốn đốn tại quê hương. Tất cả đã thay đổi. Ngày hôm nay, nhiều người tị nạn thuở nào đã trở về làm ăn và lập nghiệp tại một Việt Nam đang thay da đổi thịt. Phát triển của Việt Nam hiện nay đang ở mức cao nhất Châu Á, với tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm vào khoảng 7.5% trong thập niên qua. Tuy độ tăng trưởng trên kém xuất sắc hơn Trung Quốc, bản phúc trình đặc biệt của The Economist trong tháng 04.2008 cho thấy Việt Nam đã gặt hái được những thành quả đáng ghi nhận trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Việt Nam thành công hơn cả người láng giềng khổng lồ phương Bắc. Hy vọng đạt được mức tăng trưởng với tỉ lệ 9% cho năm nay đã tan theo mây khói: Việt Nam đang phải đương đầu với tỉ lệ lạm phát “hai con số” và cán cân thương mại ngày càng mất thăng bằng giữa xuất và nhập. Tuy nhiên về lâu về dài, viễn ảnh vẫn chứa đựng đầy hứa hẹn.
Thoát khỏi nghèo hèn
Các thành phố Việt Nam giờ đã trở nên lộng lẫy và nhộn nhịp. Tại thôn quê, nơi mà đa số người Việt Nam sinh sống, đời sống không thua gì nông thôn Thái Lan, mặc dù Thái Lan được xem là giàu có hơn. Việt Nam, từng dựa lưng nỗi chết… đói, giờ đã biến thành một trong những nước xuất cảng nông phẩm nhất nhì trên thế giới. Như một phép mầu làm đảo ngược tình thế, Phi Luật Tân, một thời là quốc gia thịnh vượng thứ nhì Châu Á, vừa phải khẩn cầu Việt Nam bán gạo cho hầu tránh được nạn đói đang đe doạ hàng triệu người Phi. Thành công kinh tế và xã hội Việt Nam đã khiến quốc gia này trở thành học trò ngoan mà các định chế đa phương, như Ngân hàng Thế giới (WB), tuyên dương. Đất nước này đang trở thành một trong những điểm hẹn phát triển vượt bậc của các công ty đa quốc gia và của các doanh nghiệp du lịch. Việt Nam cũng đang tăng cường ảnh hưởng trên bình diện bang giao: Hiện đang là thành viên không thường trực, Việt Nam sẽ nắm giữ ghế chủ tịch Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào tháng 07 sắp đến.
Với uy tín vừa gầy dựng được, Việt Nam sẽ rất hữu ích cho thế giới. Việt Nam có thể vừa là mẫu mực, vừa đóng vai trò ngoại giao tích cực. Những quốc gia đang trong giai đoạn chuyển tiếp có thể tiếp nhận những lời cố vấn của Việt Nam trên một số đề tài: Làm sao gác qua những thù xưa hận cũ, mở cửa ra với thế giới bên ngoài, canh tân nền kinh tế phá sản. Với cương vị một người bạn hiếm hoi của Bắc Hàn và Miến Điện, Việt Nam có thể dỗ ngọt những kẻ đang tự giam hãm trong dốt nát để họ bước ra khỏi hoàn cảnh tự mình cô lập mình. Với kinh nghiệm một nước đã thoát khỏi cơ hàn nhờ vào chọn lựa tự do thương mại, Việt Nam có thể khuyến khích những nước đang phát triển có thái độ tích cực hơn trong những vòng đàm phán Doha liên quan đến mậu dịch quốc tế (cũng như sẽ làm gương cho những nước, tuy tiên tiến nhưng đáng xấu hổ, và khuyến khích họ cũng nên có thái độ tích cực).
Tuy những thành quả gặt hái đã đáng để nể trọng, nhưng Việt Nam vẫn chưa thỏa mãn. Đất nước này muốn đi hết đoạn đường dẫn đến thịnh vượng và dẫn đến đỉnh cao công nghệ. Mục tiêu đặt ra là sẽ đi đến nơi đến chốn vào năm 2020. Trong thế kỷ qua, kẻ thù của Việt Nam đã hiểu được một điều: Không nên đánh giá thấp lòng quyết tâm và trí thông minh của dân tộc Việt Nam.
Nhưng nếu muốn biến giấc mơ trên thành hiện thực, Việt Nam cần rút tỉa một cách đứng đắn những bài học từ kinh nghiệm của riêng mình. Việt Nam cũng nên học từ những quốc gia láng giềng, những quốc gia đã đạt đến địa vị giàu sang mà chính Việt Nam đang thèm thuồng có được.
Việt Nam chỉ thành công sau khi đảng Cộng sản cầm quyền nhìn nhận rằng chủ thuyết tư bản, thị trường tự do và tự do mậu dịch là con đường an toàn nhất đưa đến thịnh vượng. Chủ trương “Đổi Mới” đã được xúc tiến vào năm 1986 với chính sách tự do hoá, dù chương trình cải tổ đã diễn ra một cách không đồng nhất trong 20 năm sau đó. Hợp tác xã bị xoá bỏ, người cày được có ruộng làm ăn và nông phẩm được tự do định giá theo mức cung cầu. Cho đến năm 2000 vẫn còn bị kiềm chế nghiêm ngặt, tư doanh được hợp thức hoá và thị trường chứng khoán được thiết lập. Hàng rào mậu dịch được hạ thấp, xuất nhập cảng tăng vọt. Việt Nam bây giờ là một trong những quốc gia có nền kinh tế mở rộng nhất ra thế giới. Có lẽ sẽ không còn con đường thoái lui: Mọi cố gắng hầu tái thiết sự can thiệp mang tính cách diệt vong của chính phủ chắc chắn sẽ khiến giấc mơ trở nên giàu mạnh vào năm 2020 vẫn chỉ là một giấc mơ.
Như Hàn Quốc, Đài Loan và, gần đây, Trung Quốc, chế độ độc tài Việt Nam đã chứng minh có khả năng đưa đất nước thoát khỏi nghèo hèn. Nhưng có một điều chắc chắn hơn: Hiện tượng các các quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (theo tiêu chuẩn thu nhập/đầu người) đều là những đất nước tự do dân chủ không là một trùng hợp ngẫu nhiên.
Tự do chính trị là một quyền lợi bất khả nhân nhượng. Vì vậy, không cần phải biện hộ thêm rằng tự do chính trị đem lại nhiều lợi nhuận kinh tế. Nhưng dẫu sao, sư thực cũng vẫn là thế: Những kẻ đương quyền tại Việt Nam đã khám phá ra rằng khó có thể điều khiển một nền kinh tế thị trường đang trên đà tăng tốc bằng những nguyên tắc của kinh tế hoạch định. Sẽ dễ dàng quản lý những cơn sốt căng thẳng của một xã hội với đà phát triển nhanh nếu có được một thị trường tự do về tư tưởng cũng như về hàng hoá và về dịch vụ. Đi xa hơn nữa, mọi chính sách kinh tế, tuy khó khăn nhưng cần thiết, sẽ dễ được ban hành và dễ chấp nhận hơn nếu mọi công dân cảm thấy rằng, trong chính sách đó, mình cũng đã có quyền và đã có phần đóng góp ý kiến.
Hãy trở thành minh tinh
Cho đến bây giờ, dường như đảng Cộng sản vẫn một mực độc quyền lãnh đạo. Đảng gọi những người đấu tranh cho dân chủ là “khủng bố” và tống giam họ. Nhưng đảng nên đặc biệt chú tâm và rút tỉa kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Đài Loan. Cho đến cuối thập kỷ 80, hai quốc gia này vẫn chủ trương độc tài toàn trị. Hai chế độ độc tài này, khi trực diện với nỗi bất đồng ngày càng lớn mạnh, đã nhận diện ra được những thông điệp cảnh cáo và đã chấp nhận dân chủ hoá đất nước để tránh khỏi những bất trắc. Hiện nay, mặc dù đời sống chính trị còn có một vài thủ đoạn thô bạo, hai quốc gia này đã tạo cho mình một nền kinh tế giàu mạnh với một công nghiệp cao, một nền kinh tế mà chính Việt Nam đang mong mỏi.
Tuy nhiên, hình như đảng Cộng sản Việt Nam đang bị thu hút bởi một mô hình khác: Đảo quốc thịnh vượng và tân tiến Tân Gia Ba. Vì có một diện tích khiêm tốn, Tân Gia Ba cần được xem như một trường hợp ngoại lệ. Vì vậy đảng Nhân Dân Hành Động (PAP) đã có cơ hội liên tục và tiếp tục cầm quyền, trong khi phe đối lập chỉ được ban bố quyền hạn cạnh tranh với PAP trong những điệu kiện khắt khe. Ngay cả trong trường hợp này, áp dụng mô hình Tân Gia Ba cũng sẽ là một khởi điểm đáng quý cho Việt Nam.
Nói cho cùng, Việt Nam cũng có những quốc gia láng giềng với một thể chế dân chủ lỏng lẻo và bất trắc. Đó là Phi Luật Tân và Thái Lan. Nhưng cả hai trường hợp này chỉ có thể chứng minh được một điều: Nếu không là điều kiện đầy đủ, dân chủ vẫn là một điều kiện tối cần thiết để có thể vươn mình lớn dậy và lao lên vị thế hàng đầu. Thế hệ cầm quyền Việt Nam hiện nay là hậu duệ của cuộc đấu tranh giành độc lập để đem lại những gì tốt đẹp nhất cho dân tộc. Chính vì vậy, những kẻ đương quyền cần suy tư đến mẫu người sẽ thay thế họ trong tương lai. Nếu thế hệ tiếp nối chỉ là nhóm người thiếu nguyên tắc nhưng lại tham nhũng thái quá và vẫn trâng tráo cầm quyền mà không sợ bị đào thải thì đất nước sẽ lui vào bóng đêm quá khứ.
Cho đến nay í nhiều đã có những dấu hiệu đối kháng chống lại nguyên tắc độc quyền độc đảng. Nhưng khi tự do kinh tế và tự do xã hội đã được nới rộng và trở nên quen thuộc đối với người Việt Nam, những chống đối trên tất nhiên sẽ bộc phát. Còn chần chờ gì nữa? Đối với lớp hậu sinh của Hồ Chí Minh, có gì hãnh diện hơn khi được sử sách đánh giá như những người đã đem lại ổn định, thịnh vượng và, cuối cùng là tự do thật sự cho dân tộc.
Nguồn: The Economist, số ra ngày 26/04/2008
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ
<< Home
