8/6/08
QUỐC LỄ PHẬT ĐẢN 2008: CƠN MƯA PHÁP LỚN
NHẤT TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lý Khôi Việt
Comments:
<< Home
Ðại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2008 từ 14 đến 16 tháng 5 là cơn mưa pháp vĩ đại, dịu dàng, tươi mát, chưa từng có trong lịch sử hơn 20 thế kỷ của Phật giáo Việt Nam, làm rung động hàng chục triệu trái tim khát khao chân thiện mỹ. Chưa bao giờ giáo pháp vi diệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có một cơ hội được rao giảng rộng lớn như thế ở Việt Nam. Tất cả, từ hàng triệu lá cờ Phật giáo ngũ sắc, từ lời kinh cầu nguyện, qua những bài diễn văn chính trị, những bài tham luận Phật pháp, đến những chương trình văn nghệ hoành tráng, những đoàn xe hoa, thuyền hoa, hai chục ngàn ngọn nến bừng sáng ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, 100.000 chiếc đèn hoa sen trên hồ Xuân Hương ở Đà Lạt, trên sông Hương ở Huế, trên sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, ở Phú Yên…, những pháo bông trên đất trời phương Nam, tại Trung tâm Du lịch Văn hoá Đại Nam ở Bình Dương, và vô số cảnh chào mừng Phật đản khác…, tất cả đã trở thành một vũ khúc kỳ ảo, quyến rũ, hy hữu, đánh thức bản tính thiện lành, giác ngộ có sẵn trong mỗi con người, đưa tâm thức dân tộc lên cao, và báo hiệu một thời kỳ thăng hoa của đất nước.
Thông điệp trí huệ, từ bi, đơn giản nhưng thu hút, của Đức Phật, nhờ những phương tiện truyền thông đại chúng, đã hiện ra trước mặt của hàng chục triệu người Việt. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, lần đầu tiên được thấy, được nghe, và được cảm ứng bởi hình ảnh cao thượng, nhân bản của Đức Phật và bởi giáo pháp vi diệu, nhưng cũng rất thực tế, dễ áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, được thức dậy trong ánh đạo vàng cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo, được tắm gội trong dòng sông tươi mát của một giáo lý màu nhiệm, đầy tính tự do, bình đẳng, khoan dung và giác ngộ của Đức Phật. Năng lực tu tập và tấm lòng chân thành của gần 4.000 tăng, ni, Phật tử từ khắp nơi trên quê hương và trên thế giới đã biến tất cả những gì xảy ra trong khung cảnh của quốc lễ Phật đản thành những bài thuyết pháp hùng mạnh, cảm động.
Sáng ngày 14/5/2008, tại sân trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Ðình, lễ thượng cờ Phật giáo được tổ chức long trọng. Sau lời tuyên bố thượng cờ của Hoà thượng Thích Trí Quảng là một phút chào Phật kỳ. Đúng 7 giờ 40, lá cờ Phật giáo khổng lồ 473.76 mét vuông, nặng 60 ký, được kéo lên bởi 18 quả khí cầu trong tiếng hát cực kỳ hùng tráng bài “Phật giáo Việt Nam” và “Bay lên vì hạnh phúc con người” của 200 sinh viên trường Ðại học Quốc gia Hà Nội. Tiếp đó là nghi thức dâng hương, cúng dường Tam Bảo và vũ khúc Lục Cung truyền thống của cung đình Huế. Ca khúc Vesak thiêng liêng của Thượng toạ Thích Chơn Quang, tự thân, đã là một bài thuyết pháp hùng hồn, lại càng hùng mạnh, hào hứng hơn với sự hợp ca của 150 thanh niên, thiếu nữ. Giáo sư Lê Mạnh Thát, chủ tịch Ủy ban Tổ chức Quốc tế, mở đầu Đại lễ Vesak. Chính ông và những người cộng tác thân tín đã chủ động đề xuất sáng kiến tổ chức lễ Phật đản Liên hiệp quốc ở Việt Nam. Ðây quả là một sáng kiến lịch sử, làm thay đổi lịch sử Phật giáo và đất nước Việt Nam.
Trong năng lực vi diệu và hùng hậu của đại tăng, đại chúng tại hội trường, và trong không khí thời đại đượm nồng hương sắc Phật giáo, các bài diễn văn chính trị cũng được cảm hoá và trở thành những bài thuyết pháp đầy ý nghĩa. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu chào mừng các đại biểu và ông đã nói, một cách xuất thần, đến một “Niết bàn trong thế giới hiện thực”. Một cõi cực lạc giữa trần gian là giấc mơ của tất cả những người làm chính trị trên thế giới từ xưa đến nay. Bài diễn văn của ông thành công và có sức thu phục lòng người. Đây cũng là bài diễn văn rất hiếm có, để tôn vinh Phật giáo:
“Đại lễ Phật đản được tổ chức với sự cổ suý của Liên hiệp quốc nhằm tôn vinh những giá trị tư tưởng sâu sắc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni về hoà bình, hoà hợp, hoà giải, vị tha, nhân ái vốn đã có từ hơn 2.500 năm trước và vẫn còn nguyên giá trị trong thế giới ngày nay. Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc... là nhịp cầu giúp cho tất cả những người anh em có tín ngưỡng Phật giáo được gặp gỡ nhau để tưởng niệm, tôn vinh Đức Phật..., đồng thời chia sẻ và động viên nhau toàn tâm học tập, làm việc để đưa những tư tưởng tiến bộ của Đức Phật vào cuộc sống... Tôi hy vọng rằng Đại lễ Phật Đản Liên hiệp quốc năm nay sẽ là cơ hội tốt để chúng ta tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết, cùng nhau hợp tác xây dựng xã hội tốt đẹp, một Niết Bàn trong thế giới hiện thực, góp phần ngăn chặn sự xung đột, hoá giải các cuộc chiến tranh và đẩy lùi các nguy cơ nghèo đói, khổ đau trong đời sống xã hội, đưa con người đến cuộc sống an vui... Tôi hy vọng mỗi người hãy là một sứ giả của thiện chí, của hoà bình, từ Đại lễ này sẽ được tiếp thêm sức mạnh, sự quyết tâm để tiếp tục nêu cao chánh pháp của Đức Phật trong đời sống xã hội, vì tương lai tươi sáng và tốt đẹp của toàn nhân loại... Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và tôn trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo mang lại cho đời sống xã hội, trong đó có Phật giáo. Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2.000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, Hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời, phấn đấu vì hạnh phúc và an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời hộ quốc an dân.
Đặc biệt, lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lãnh đạo nhân dân bảo vệ tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi, từ bỏ giàu sang, quyền quý tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật, tu hành, sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm - một dòng thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.
Nối dòng chảy và truyền thống gần 2.000 năm qua, Phật giáo Việt Nam hôm nay đã làm được nhiều việc lợi đạo, ích đời, thực hiện cứu khổ độ sinh, thông qua hoằng dương Phật pháp vận động Tăng Ni, Phật tử cả nước sống trong chánh tín... tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhân đạo, giúp đỡ người già cả, neo đơn, trẻ tàn tật, mồ côi, người gặp hoàn cảnh khó khăn, thực hiện xoá đói giảm nghèo, xây dựng cuốc sống mới văn minh, tiến bộ... Những việc làm cao cả ấy ngày càng rõ nét và đạt thành quả lớn lao, khẳng định Phật giáo Việt Nam luôn gắn Đạo với Đời, là một Tôn giáo có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc.
Việt Nam chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống... luôn tôn trọng các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đóng góp cho đời sống xã hội, hướng con người tới Chân-Thiện-Mỹ, nhất là những giá trị phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức, lối sống hướng thiện của con người Việt Nam... Chúc quý vị sức khỏe, an lạc trong ánh từ quang của Đức Phật và trong niềm tin vào tương lai tốt đẹp của nhân loại”.
Thông điệp của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hoà thượng Thích Phổ Tuệ, người gọi Phật đản Vesak là “một phúc duyên lớn”, “một vinh dự to lớn và là thuận duyên đối với đất nước và Phật giáo Việt Nam: “Trải qua quá trình tu tập, hoằng pháp và độ sinh, Đức Giáo chủ đã để lại cho nhân loại một hệ thống tư tưởng giáo lý vô ngã về trí tuệ, lòng từ bi, tình thương, hoà bình, hoà hợp và phát triển”. Diễn văn của Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hoà thượng Thích Trí Tịnh, ngợi ca Đức Phật và giáo pháp siêu việt của Ngài.
Tổng thư ký Liên hiệp quốc, ông Ban Ki-moon, một Phật tử nhiệt thành, đã thuyết pháp bằng thông điệp chúc mừng ngắn gọn, nhưng nói lên đầy đủ tinh hoa, bản chất và con đường dấn thân của Phật giáo, lấy con người làm trung tâm và phụng sự con người làm lý tưởng:
“... Hàng triệu Phật tử và quần chúng trên khắp năm châu hân hoan đón chào thông điệp của tình thương và trí tuệ. Nhân dịp đại lễ thiêng liêng, cao quý này, mọi người trong chúng ta nên hoài tưởng lại cuộc đời sống động của Đức Phật Thích Ca, chiêm nghiệm lời dạy đầy ý nghĩa của Ngài, đồng thời cũng nên nguyện sống theo tinh thần cao cả , theo giáo pháp tuyệt vời ấy để kiến tạo cho mình những hạnh phúc an lạc... Trong thế giới hiện nay, những lời dạy của Đức Phật vì hoà bình, từ bi, tình thương đối với vạn loài chúng sinh cần phải được thực hiện ngay bây giờ. Ngài dạy chúng ta mở rộng lòng từ bi, giang rộng vòng tay nhân ái đối với mọi người, và nhất là những người đang lâm vào cảnh khổ. Điều đó nói lên rằng chúng ta cần tự nhận biết bản chất đồng nhất trong mỗi người, mỗi loài, và đặt hạnh phúc chung của nhân loại lên trên hạnh phúc riêng mình.”
Đây chính là con đường cứu khổ, cứu nạn của bồ tát Quán Thế Âm, của lý tưởng nhập thế cứu người, cứu đời, là kim chỉ nam hành động của người Phật tử chúng ta.
500 tăng, ni và cư sĩ Phật tử của Làng Mai xuất hiện, làm đầy sân khấu mênh mông và niệm danh hiệu Phật, bồ tát, hát thiền ca vang rền hội trường. Sau đó, 500 người ngồi thiền, im lặng. Sự xuất hiện hùng hậu, nhẹ nhàng, thảnh thơi của phái đoàn Làng Mai đã cống hiến cho mọi người một năng lượng an lạc kỳ diệu, biến hội trường thành cõi Tịnh độ, một “niết bàn trong thế giới hiện thực”. Thầy Nhất Hạnh thuyết pháp: Chiến tranh hay hoà bình, tất cả bắt đầu từ mỗi người, từ tâm thức, từ cách suy nghĩ, ăn nói, sinh sống. Thay đổi tư tưởng, lời nói, hành động theo hướng thiện lành, từ bi của đạo Phật là đóng góp tích cực nhất cho việc ngăn ngừa chiến tranh, xây dựng hoà bình.
Đêm nghệ thuật chào mừng khai mạc Vesak, dưới sự chỉ đạo một một vị sư trẻ tuổi, tài ba, là Đại đức Thích Minh Hiền, trụ trì chùa Hương lịch sử (năm nay đã có 1.500.000 người hành hương) đầy âm thanh và màu sắc, hội tụ những tinh hoa của âm nhạc Việt truyền thống cùng chất liệu âm nhạc Tây phương. Lục cúng hoa đăng biến ảo của những ngọn đèn sen hồng, hoa khai kiến Phật, vũ khúc hiện đại, điệu nhạc Lưu thuỷ của dàn nhạc cung đình Huế, kết hợp với dàn trống của Xuân Sơn... Những nghệ sĩ hàng đầu của Việt Nam đã thuyết pháp bằng lời ca điêu luyện, quyến rũ: Thanh Hoài với “Hương Sơn phong cảnh ca”, lời thơ Chu Mạnh Trinh; Mỹ Linh với “Chắp tay hoa”, nhạc Phạm Duy, thơ Phạm Thiên Thư; Trọng Tấn với “Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật” của Thẩm Oánh; Khánh Linh với bài “Lạy Phật con về” của Lê Mạnh Cương. Thuyết pháp không lời, huyền bí, của Mật tông bế mạc chương trình: một lá cờ lớn tung bay mang theo chữ Om - biểu tượng cho Chân như, và cũng là câu thần chú của bồ tát Quán Thế Âm của truyền thống Tây Tạng: Om mani padme hum. Mani là viên ngọc, là trí tuệ, padme là hoa sen, là lòng từ bi, hum là âm thanh của sự giác ngộ tối thượng.
Trong đêm bế mạc, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo và 500 nhạc công, nghệ sĩ và tăng, ni của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội đã thuyết pháp bằng một bản hợp tấu và hợp xướng vĩ đại, mang tên “Khai giác”. 4.000 đại biểu của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới được mời gọi khám phá hành trình hùng tráng, bằng âm nhạc, về cuộc đời của Đức Phật, về con đường chứng ngộ và về giáo pháp vi diệu của Ngài.
Đặc biệt là suốt trong ba ngày đại lễ, công ty thực phẩm chay Âu Lạc ở Sài Gòn đã cúng dường những buổi tiệc chay, rất ngon lành và hoàn toàn miễn phí, tương đương với hàng chục ngàn phần ăn, trị giá đến 10 tỷ đồng, cho tất cả đại biểu và Phật tử. Mỗi món chay đơn giản là một bài thuyết pháp về lòng từ bi, hoà bình và bảo vệ môi sinh, tôn trọng mọi sự sống. Hàng chục ngàn phần ăn chay là hàng chục ngàn thông điệp của tình thương đối với muôn loài và với trái đất, một hành tinh tuyệt đẹp, nhưng rất mong manh trong vũ trụ.
Ðêm cuối của đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2008: 20.000 ngọn nến được thắp lên bởi 10.000 sinh viên, mặc đồng phục áo màu vàng, với sự hội tụ tâm linh cầu nguyện cho hoà bình thế giới của 30.000 người tham dự. Đây là bài thuyết pháp sâu sắc, có ảnh hưởng rộng lớn trên toàn nước Việt Nam, vì được trực tiếp truyền hình trên đài VTV1. 10.000 sinh viên không những được nghe thuyết pháp, mà chính các em, khi ngồi yên, chắp tay, cầu nguyện, cũng đã ban cho hàng triệu người một bài thuyết pháp không lời. Nói rằng, với sự hưng thịnh của Phật giáo, đất nước này sẽ có một tương lai tươi sáng.
Trong không khí linh thiêng, dưới lá cờ Phật giáo, dưới một tượng Phật thật lớn, thật đẹp, uy nghi ngự trị giữa trời, hàng trăm thanh niên thiếu nữ hát vang bài ca “Bay lên vì hạnh phúc con người”, 20.000 ngàn ngọn nến được thắp lên, trong những lời niệm danh hiệu Phật và bồ tát Quán Thế Âm, những lời giảng thật dễ hiểu, thật nhẹ nhàng, nhưng cảm động, về giáo pháp từ bi của Đức Phật, nhiều người đã khóc, và khóc không thể ngừng được, vì quá hạnh phúc.
Ðại lễ Vesak 2008 đã trang bị cho dân Việt một niềm tự hào về truyền thống tâm linh và văn hoá hơn 2.000 năm của mình, và mở ra một giai đoạn mới đầy triển vọng, đầy niềm tin, đầy sức sống cho Phật giáo Việt Nam và cho quốc gia Việt Nam.
Một ngàn năm trước, sư Vạn Hạnh và Phật tử Lý Công Uẩn, cùng với thế hệ tăng ni, Phật tử đầu thế kỷ thứ 11, đã mở ra thời đại Thăng Long vinh quang, thời đại Rồng Bay với đôi cánh Phật giáo. Hôm nay, quốc lễ Phật đản 2008 đang báo hiệu một sự bắt đầu của một thời đại mới cho tổ quốc, thời đại Rồng Việt, với chủ đạo văn hoá-chính trị Phật giáo, tung bay trong kỷ nguyên lập quốc mới, kỷ nguyên hiện đại hoá đất nước trên nền tảng của quốc đạo truyền thống.
27.5.2008
Lý Khôi Việt
© 2008 talawas
Nhân đọc bài “Suy Nghĩ sau Vesak 2008 ở Việt Nam” của Tiêu Dao Bảo Cự và “Nhật ký Vesak 2008” của Trần Kiêm Đoàn
Huy Lâm
Nhân đọc bài “Suy Nghĩ sau Vesak 2008 ở Việt Nam” [i] của Tiêu Dao Bảo Cự (TDBC) và “Nhật ký Vesak 2008” [ii] của Trần Kiêm Đoàn, tôi xin trình bày một số ý kiến của tôi về sự kiện này và về hai bài báo đó.
Như TDBC đã viết, đây là“vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm”.[iii] Để có những nhận định đúng đắn về một vấn đề vừa phức tạp, vừa nhạy cảm, nhiều lúc ta phải làm như một nhà điều tra khi nghiên cứu ảnh chụp hiện trường tội phạm, có lúc phải nhìn thật gần, thậm chí phải dùng kính lúp mà soi, có lúc phải nhìn xa ra, nheo mắt lại mà đọc. Nói theo ngôn ngữ hiện đại là phải zoom-in và zoom-out nhiều lần mới có thể phát hiện những gì ẩn dấu đằng sau sự kiện.
Nhìn Gần
Trước hết chúng ta hãy nhìn gần để thử tìm hiểu những ý đồ của Nhà Nước cọng sản Việt Nam (CSVN) trước khi tổ chức lễ Vesak 2008, rồi so sánh những diển tiến xảy ra liên quan đến lễ hội này, khi đó mới có thể đánh giá hết chuyện được thua trong cuộc cờ này.
Trước khi TS LMT sang Bangkok để đại diện cho phía Nhà Nước Việt Nam chính thức đề nghị với Ban Tổ Chức Vesak Quốc Tế chấp thuận cho Việt Nam đăng cai tổ chức lễ Vesak 2008 tại Việt Nam, đã có những cuộc cuộc tranh luận sôi nổi giữa các tổ chức của Nhà Nước như Ban Tôn Giáo Chính Phủ, Bộ Thông Tin Văn Hóa về việc nên hay không nên tổ chức lễ Vesak 2008 tại Việt Nam. Những người đồng thuận cho rằng nên tổ chức, vì đây là cơ hội để Nhà Nước CSVN phản bác lại những cáo buộc của các tổ chức bảo vệ nhân quyền và các chính phủ dân chủ trên thế giới về việc Nhà Nước CSVN vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo và bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Những người chống lại đề nghị này thì cho rằng nếu tổ chức thì các tôn giáo khác sẽ phân bì và sẽ nói rằng Nhà Nước kỳ thị tôn giáo. Những người đồng thuận lập luận rằng đây là hoạt động của Liên Hiệp Quốc cho nên sẽ không thể cho là kỳ thị tôn giáo.
Nhà Nước CSVN cũng lo ngại rằng tổ chức lễ Vesak như vậy sẽ tuyên truyền cho giáo lý đạo Phật và đi ngược lại lý thuyết cọng sản. Tuy nhiên, cuối cùng sau khi cân nhắc lợi và hại, Nhà Nước CSVN quyết định tổ chức lễ Vesak 2008. Dĩ nhiên trong tính toán của Nhà Nước CSVN khi tổ chức lễ hội này còn nhằm đào sâu thêm mối chia rẽ giữa hai giáo hội Phật giáo Việt Nam, bôi nhọ những người trong Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất (GHPGVNTN) khi họ chống đối lại việc tổ chức Phật đản vinh danh Đức Phật, trình bày trước quần chúng Phật tử hình ảnh của những người trong GHPGVNTN là những người chuyên hoạt động chính trị và chống lại Nhà Nước Việt Nam, và mục đích là cô lập những người theo GHPGVNTN nhất là Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Độ.
Sự việc không phải dừng ở đó mà một vấn đề khác được đặt ra là ai sẽ là người tổ chức? Ban Tôn Giáo Chính Phủ nói rằng đây là vấn đề tôn giáo, vì vậy nên giao chuyện này cho Ban Tôn Giáo. Bộ Thông Tin Văn Hóa cho rằng đây là hoạt động của Liên Hiệp Quốc và có tính cách văn hóa, nên giao cho Bộ Thông Tin Văn Hóa. Còn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (của Nhà Nước) đề nghị rằng đây là lễ Phật Đản, nên giao cho Giáo Hội. Vì vậy, cuối cùng một Ban Tổ Chức gồm đại diện các tổ chức nói trên đã được hình thành như mọi người đã biết. Dài dòng kể lể như vậy để mọi người thấy rõ rằng tổ chức lễ Vesak 2008 tại Việt Nam là chủ trương của Nhà Nước Việt nam, là hoạt động của chính phủ Việt Nam nhằm thực hiện những ý đồ của đảng CSVN chứ không như nhiều người lầm tưởng rằng đó là quyết định của GHPGVN và chính phủ CSVN chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Chính TS Lê Mạnh Thát khi trả lời phỏng vấn của phóng viên đài SBTN Thanh Toàn đã thừa nhận:
“Chính phủ Việt nam với tư cách là thành viên của Liên Hiệp Quốc, thực hiện nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, đã đăng cai Đại lễ này, để thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết về vấn đề Đại lễ Phật Đản, thường được gọi là United Nations Vesak.
Mình phải thấy đây là một công tác đối ngoại của chính phủ Việt nam là chính.
Phật Giáo thực tế là vai trò phụ mà thôi! tại vì là đây của Liên Hiệp Quốc mà! Phật Giáo chỉ đóng vai trò hổ trợ, tại vì có liện hệ đến Phật Giáo! Những người làm ở đây là do chính phủ giao phó!
Đây là một hoạt động có tính cách chính phủ, có tính cách chính quyền. Hoàn toàn không phải là của Phật Giáo! " [iv]
Đến đây ta có thể thấy rõ rằng đây là một thế trận mà Nhà Nước CSVN bày ra để tấn công vào GHPGVNTN, và GHPGVN (thân chính quyền) là lực lượng xung kich chính yếu của Nhà nước trong cuộc tấn công này.
Thắng Lợi Đầu Tiên Của Nhà Nước
Điều thừa nhận trên đây của TS LMT là yếu tố chủ chốt trong việc xem xét và đánh giá thắng lợi hay thất bại trong ý đồ của Nhà Nước CSVN khi tổ chức lễ Vesak 2008.
Khi viết: “Điều mọi người có thể đoán trước là thắng lợi của nhà nước khi đồng ý và hỗ trợ việc tổ chức này”, TDBC đã ngộ nhận và lẫn lộn giữa người chủ trương và người thừa hành, người thực hiện. TS TKĐ cũng mắc phải sai lầm này khi trích dẫn lời của TS LMT: “Thầy Lê Mạnh Thát ...“vớt” ngay cơ hội có Trung tâm Hội nghị Quốc gia mới xây, thầy ngỏ ý mượn hội trường chính phủ và được chấp thuận.”
Chính các tác giả như TDBC, TKĐ là những người cập nhật thông tin từ nhiều nguồn trên thế giới mà còn có những ngộ nhận như vậy huống hồ đa số Phật tử trong nước ít thông tin, (ngay cả phật tử ở nước ngoài), làm sao có thể tránh khỏi ngộ nhận đó cho được? Đó là thắng lợi đầu tiên và lớn nhất của Nhà Nước CSVN trong trận thế này.
Thế trận phức tạp.
TDBC rất tâm đắc với đoạn sau đây trong bài viết của TKĐ: “Trong số hơn mấy chục quý thầy và sư cô mà tôi được duyên lành tiếp xúc, tuyệt nhiên chưa có một vị nào tự nhận rằng mình là người thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam thân chính quyền hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống chính quyền cả.”
Chắc chắn các thầy và sư cô mà TKĐ nói đến không thuộc GHPGVNTN “chống chính quyền”! Nhưng nói rằng họ không thuộc GHPGVN “thân chính quyền” thì cần phải xem lại, ít nhất là trên danh nghĩa! Thử hỏi trú xứ của các vị tu sĩ đó là ở đâu, chùa hay tu viện của các vị đó có thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (của Nhà Nước) hay không? Dễ dàng và rõ ràng nhất là xem trong tăng tịch của họ, họ thuộc về giáo hội nào?
Câu hỏi được đặt ra tiếp theo là tại sao các vị thầy và sư cô mà TS TKĐ nói đến, trên danh nghĩa, thuộc GHPGVN “thân chính quyền” mà lại không muốn nhận mình thuộc giáo hội đó?
Câu trả lời là có nhiều lý do, nhưng lý do nào cũng đều xuất phát từ sự sợ hãi!
Sự sợ hãi thứ nhất là sợ bị coi thường. Một tu sĩ cao cấp trong GHPGVN “thân chính quyền” đã nói với tôi trước khi TS LMT đi Bangkok để đăng ký tổ chức lễ Vesak 2008 rằng “các vị trong GHPGVN bị Nhà Nước xem thường và đây là dịp để các vị cởi bỏ bớt mặc cảm của mình.” Vị tu sĩ này còn nói: “chúng tôi, những người trong GHPGVN thầm cảm ơn các vị trong GHPGVNTN, nhờ những hoạt động của quý vị mà chính quyền bớt ăn hiếp chúng tôi.”
Sợ hãi thứ hai là mặc dù không muốn đứng vào hàng ngũ GHPGVN (của Nhà Nước) nhưng họ cũng không có dũng khí để thoát ly khỏi giáo hội đó vì không có đất đứng, vì Nhà Nước CSVN không cho phép họ làm như vậy. Làm gì mà ở trong nước Việt Nam hiện nay có “của quý và hiếm” là trên bảng hiệu của một chùa hay tu viện không thuộc GHPGVNTN “chống chính quyền” mà lại không có hàng chữ “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”.
Một nỗi sợ hãi khác là sợ mang tiếng làm chính trị! Họ không muốn thuộc về Giáo Hội Nhà nước, không dám thoát ly khỏi giáo hội đó nhưng cũng không đủ can đảm để đứng vào GHPGVNTN vì sợ mang tiếng làm chính trị. Sợ người khác dị nghị mà không dám làm điều mà mình cho là đúng cũng giống như nỗi sợ hãi của người tu sĩ không dám cho một người nữ trú mưa trong đêm một mình; như vậy còn đâu là hạnh bồ tát của trưởng tử Như Lai?
Các thầy hay ni sư mà TS TKĐ tiếp xúc “tuyệt nhiên chưa có một vị nào tự nhận rằng mình là người thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam thân chính quyền hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống chính quyền cả”, đó là họ trả lời với TS TKĐ, nhưng nếu muốn có một câu trả lời triệt để và rốt ráo hơn, chẳng hạn với một vị sĩ quan công an của Bộ Nội Vụ, họ có thể trả lời như vậy không? Tại Việt Nam hiện nay làm gì có chuyện đứng ngoài chính trị! “Không muốn dính dáng đến chính trị cũng là một hành động chính trị!” Đó là lời phát biểu của cựu ủy viên trung ương đảng CSVN kiêm cựu trưởng ban Tôn Giáo Chính Phủ Ngô Yên Thi với người viết bài này khi ông ta đang tại chức.
Việt Nam, đất nước có tự do tôn giáo?
TDBC viết tiếp: “Với danh nghĩa là quốc gia đăng cai tổ chức một hoạt động mang tính tôn giáo của Liên Hiệp Quốc, với sự tham dự của hơn 1000 đại biểu quốc tế của hơn 60 quốc gia và tổ chức Phật giáo, Việt Nam đã chứng tỏ là một đất nước có tự do tôn giáo, bác bỏ những tố cáo trước đây về việc đàn áp tôn giáo, đặc biệt vô hiệu hóa phần nào các tố cáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”
Thật thế ư? Chỉ với việc tổ chức lễ Vesak với sự tham dự của hơn 1000 đại biểu quốc tế của hơn 60 quốc gia và tổ chức Phật giáo là đủ để chứng tỏ một chính quyền tôn trọng quyền tự do tôn giáo ư? Thế thì cái mà TDBC gọi là Tự Do Tôn Giáo thật quá dễ, không thiêng liêng và quá quý báu đến mức để cho nhiều vị tu sĩ Phật giáo phải tự thiêu, nhiều người khác bị thủ tiêu, tù đày, tra tấn và cũng không đáng để cho nhị vị Hòa Thượng lãnh đạo GHPGVNTN là Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Độ phải bị giam cầm, lưu đày và quản chế hàng chục năm nay.
Theo tôi, và có lẽ nhiều người khác nữa, yếu tố quan trọng nhất của Tự Do Tôn Giáo là sự không can thiệp của chính quyền trong các hoạt động tôn giáo.
Có thể gọi là có tự do tôn giáo được không khi chính TDBC cũng đã công nhận rằng “... thực tế, một số giáo hội, một số tu sĩ đã và đang bị bức hại, tù đày, quản chế, gây khó khăn, chưa kể việc nhiều cơ sở tôn giáo bị tịch thu từ trước chưa được hoàn trả cho các giáo hội”.
Có thể gọi là có tự do tôn giáo được không khi Nhà Nước áp đặt các giáo hội vào trong một cơ chế chính trị là Mặt Trận Tổ Quốc?
Có thể gọi là có tự tôn giáo được không khi việc phong linh mục trong Thiên Chúa Giáo phải có ý kiến của Nhà Nước?
Có thể gọi là có tự do tôn giáo được không khi Nhà Nước bắt buộc trong giáo trình của các lớp Phật học phải có môn Triết Học Mác Lê-nin?
Vì vậy, cho dù biện minh như thế nào đi nữa, hình ảnh công an bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý trước tòa án cũng là một hình ảnh minh họa sống động nhất cách hành xử của Nhà Nước CSVN đối với tôn giáo.
Lời Khuyên của TDBC
TDBC viết: Vậy thì kết quả hôm nay phải chăng chính là sự tổng hợp của hai hoạt động tưởng như đối nghịch giữa hai giáo hội thân và chống chính quyền. Nếu cả hai phía đều có nhìn nhận rõ rệt về vấn đề này, thay vì chống đối lại hòa giải, hòa hợp, đoàn kết với nhau, có lẽ kết quả sẽ lớn hơn rất nhiều. (In đậm trong nguyên văn).
Trong tất cả các tôn giáo trên thế giới, giáo lý đạo Phật là giáo lý “phá chấp” triệt để nhất. Hai cái chấp mà giáo lý đạo Phật đả phá trước nhất là Ngã Chấp (cho rằng mình là nhất) và Kiến Chấp (cho rằng ý kiến của mình là đúng nhất). Cho nên chính hai vị Hòa Thượng lãnh đạo GHPGVNTN đã từng đề nghị với chính phủ Việt Nam để cho hai giáo hội Phật giáo được tự bàn bạc, giải quyết những vấn đề của Phật giáo mà không có sự can thiệp của Nhà Nước, nhưng Nhà Nước CSVN đã từ chối điều đó! Chữ Nếu in đậm của TDBC như vậy đã đặt không đúng chỗ!
Lễ hội quần chúng hay tham luận nghị trường?
TS TKĐ đã có một nhận xét rất sâu sắc mà tôi phải trích dẫn hơi dài:
“Một bà cụ ở Pháp về, trong số những người “chưa đăng ký”, đứng ngoài trời nắng vừa lau mồ hôi vừa phân bua (với ai không rõ), rằng bà đã từng tham dự những cuộc hội họp quốc tế mang tính cách tôn giáo, xã hội, chính trị với sự tham dự của cả trăm nghìn người mà mọi việc vẫn diễn ra trôi tròn. Theo bà, thì danh nghĩa ngày “Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc” tổ chức theo kiểu nghị trường, quần chúng không được tự do tham dự như một ngày lễ hội tôn giáo thế này cần phải được đổi lại là “Hội nghị Phật giáo Quốc tế nhân dịp kỷ niệm Tam hợp” (International Buddhist Conference on Vesak) mới đúng nghĩa. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Giáng sinh, Phật đản, Giỗ tổ Hùng vương… là ngày lễ của mọi người. Đặc biệt Vesak là dịp quy tụ những danh tăng quốc tế, những cư sĩ, trí thức, học giả có tiếng tăm của Phật giáo khắp thế giới; nhưng quần chúng không được tiếp cận, chiêm đón, lắng nghe, chia sẻ… là cả một sự thiệt thòi đáng tiếc cho cả đôi bên. Đành rằng vấn đề an ninh là ưu tiên hàng đầu cho mọi cuộc quy tụ, lễ hội quần chúng. Nhưng không thể vì thế mà biến một cuộc lễ hội đại chúng như ngày Phật đản trở thành một cuộc tham luận nghị trường! Mong Hội đồng Phật giáo Thế giới, mà Phật giáo Việt Nam là một thành viên, quan tâm đúng mức đến vấn đề này.”
Thật tình mà nói, phải có một sự tinh tế và nhạy cảm của một nhà văn như TS TKĐ hay sự từng trải của bà cụ ở Pháp về mới có thể nắm bắt được tính chất “Hội nghị” hay “tham luận nghị trường” hơn là một “lễ hội quần chúng” của Vesak 2008 này! Nhưng cũng thật tình mà nói TS TKĐ đã hơi “ngây thơ” khi cho rằng đó là sự đáng tiếc do “vấn đề an ninh” hay ban tổ chức đã không “quan tâm đúng mức đến vấn đề này”. Sự thật là những người chỉ đạo và ban tổ chức lễ Vesak 2008 đã quan tâm rất đúng mức và chính xác đến vấn đề này hơn là TS TKĐ nghĩ!
Trước khi quyết định tổ chức lễ Vesak 2008, Nhà Nước CSVN đã dè chừng việc tổ chức lễ Vesak này sẽ biến thành lễ hội quần chúng và quảng bá không công cho giáo lý nhà Phật mà họ cho là trái với chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy cho nên một ý kiến chỉ đạo trong việc tổ chức lễ Vesak này là Liên Hiệp Quốc vinh danh Đức Phật Thích Ca như là một nhà văn hóa chứ không phải như một giáo chủ của một tôn giáo. Chính vì vậy mà trong chương trình lễ Vesak này nghi lễ tôn giáo được giới hạn đến mức tối thiểu và các tham luận là những sinh hoạt chính.
Trong lịch sử của đảng các cọng sản trên thế giới và Việt Nam, từ lý thuyết đến thực tế, và nhất là với sự xác nhận của TS LMT, trưởng ban tổ chức Vesak 2008 tại Việt Nam: “đây là một công tác đối ngoại của chính phủ Việt nam là chính” và “Đây là một hoạt động có tính cách chính phủ, có tính cách chính quyền. Hoàn toàn không phải là của Phật Giáo! " không ai còn có thể mơ hồ gì về ý đồ của Nhà Nước CSVN là chỉ muốn có cái tiếng tổ chức lễ Vesak, làm cho lễ Vesak có vẻ bề ngoài “hoành tráng” để phân bua với thế giới về các thành tích đàn áp tôn giáo của họ, còn nội dung của những tham luận càng có tính cách kinh viện, càng mù mịt trong ngôn từ “cao siêu” khó hiểu càng hay.
TS TKĐ có nhiều nhận xét xác đáng:
- tôi để ý là có quá đông hội thảo viên người Việt không trở lại vào phòng mà xuống lầu và ra sân… tiếp tục giải trí.
- Trong lúc đó, nhiều tham dự viên người Việt là các đạo hữu từ các vùng núi rừng, thôn dã xa xôi, ngữ pháp tiếng Việt còn chưa thông, nói chi đến tiếng Tây, tiếng Mỹ.
- Vì chỉ đóng vai trò của một quan sát viên hơn là một tham dự viên, nên tôi không hiểu được là cuối cuộc hội thảo, những thành viên tham dự nghiêm túc đã gặt hái được bao nhiêu lợi lạc về mặt kiến thức lẫn kinh nghiệm.
- “ngôn ngữ toàn bằng tiếng Anh, tuy có “headphone” chuyển ngữ, nhưng khi mang thử còn khó hiểu hơn là nghe trực tiếp bằng tiếng Anh!”
TS TKĐ là giáo sư đại học ở Mỹ, là một huynh trưởng gia đình Phật tử, có hiểu biết sâu rộng về Phật học mà còn phải than“trình độ hội thảo cao quá, leo không tới, với không cùng” thì thử hỏi có bao nhiêu người Việt có thể hưởng được lợi lạc từ những bài tham luận này?
Tuy nhiên, TS TKĐ cho rằng “đây là một trở ngại đòi hỏi sự chọn lựa không đơn giản cho người tổ chức”; nhưng tôi lại nghĩ rằng những điều đó nằm trong ý đồ của ban tổ chức, bởi lẽ rất hiển nhiên khi họ mời những đại biểu “từ các vùng núi rừng, thôn dã xa xôi, ngữ pháp tiếng Việt còn chưa thông” để đi dự hội nghị bằng tiếng Tây, tiếng Mỹ, (cho dù có thông dịch), ban tổ chức hoàn toàn biết rõ những đại biểu đó chỉ tham dự để “ngồi chơi xơi nước” hay nói cách khác là để choán chỗ mà thôi.
Chông Gai và Cạm Bẫy
Tuy thế trận này do nhà cầm quyền Việt Nam nhưng không phải là không có chông gai đối với họ. Tuy Nhà Nước Việt Nam đã dè chừng không muốn cho phía Phật giáo lợi dụng cơ hội này để tập hợp, biểu dương lực lượng, quảng bá giáo pháp của Đức Phật và biến lễ Vesak 2008 thành một lễ hội quần chúng, nhưng Phật giáo của cả hai phía đều “giả mù sa mưa” đã làm cho lễ hội này thêm phần tưng bừng náo nhiệt. Chính quyền đã đàn áp một số chùa chiền của GHPGVNTN ở Lâm Đồng, Quảng Trị, Thừa Thiên, lấy cớ họ chống chính quyền nhưng lại không thể làm như vậy đối với GHPGVN (thân chính quyền). Cho nên Lễ Phật Đản năm nay tại Việt Nam, ngoài ý muốn của Nhà Nước, đã là một lễ hội với cờ Phật giáo ngợp trời, những lễ đài cao rộng, xe hoa trang hoàng rực rỡ mà nhiều người cho là còn hơn cả trước 1975. Ví dụ điển hình là việc xây dựng bảy bông sen khổng lồ trên sông Hương hay vòm hoa sen trên đường Lê Lợi ở Huế.
Phật Giáo - Quốc giáo?
Quần chúng Phật tử ở mọi nơi hân hoan vui mừng khi thấy ngày Đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được tổ chức linh đình, có khi còn hơn cả festival của Nhà Nước. Điều đó cũng làm cho một số tín đồ của tôn giáo khác ganh tỵ. Đó là phản ứng bình thường của người đời. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất trong bài viết của TDBC là sự lo lắng về cái mà TDBC gọi là “tham vọng, ý tưởng muốn đưa một tôn giáo trở thành quốc giáo.”
Nêu vấn đề Quốc Giáo tại một nước đang bị cai trị bởi một chế độc tài toàn trị như chế độ cọng sản, một chế độ bài xích tôn giáo là một điều hết sức phi lý! Lo lắng và ám chỉ về tham vọng, ý tưởng biến Phật giáo đang bị đàn áp thành quốc giáo lại càng phi lý hơn khi mà cuộc đấu tranh của GHPGVNTN cũng là chỗ dựa cho các tôn giáo khác như Công giáo, Tin Lành, Cao Đài đấu tranh đòi quyền lợi, quyền sinh hoạt và đất đai sở hữu của mình.
Đây là phản ứng quá nhạy cảm mà tôi tưởng chỉ có ở một số tín đồ tôn giáo nào đó trước sự bộc phát chưa từng có của những hoạt động có tính cách phô trương hết sức hoành tráng nhân dịp lễ Vesak 2008, chứ không phải ở một nhà văn, nhà báo sắc sảo như TDBC. Trong bất cứ một tôn giáo nào cũng có những kẻ cuồng tín muốn đưa tôn giáo của mình lên làm quốc giáo cho dù tỷ lệ tín đồ của tôn giáo đó chỉ là thiếu số. Cũng cần phải hiểu rằng đối nghịch lại với thái độ cuồng tín đó, một phản ứng “tự vệ” và nhạy cảm quá đáng thường xảy ra ở những người cuồng tín và quá khích trong tôn giáo tự xem là đối nghịch.
Trong giáo lý nhà Phật, Diệt Tham được đặt lên trước tiên và bất cứ Tham Vọng nào cũng đều bị lên án cho dù đó là tham vọng biến đạo của mình trở thành quốc giáo!
Trong các tôn giáo, đạo Phật là đạo hiếu hòa nhất! Trong lịch sử, đạo Phật là đạo duy nhất không có “thánh chiến”. Đạo Phật cũng là đạo chủ trương tuyệt đối bất bạo động. Cũng vì chủ trương bất bạo động mà đạo Phật đã bị tiêu diệt ở Afghanistan, nơi mấy ngàn năm trước đây đạo Phật cực kỳ hưng thịnh mà chứng tích là những pho tượng Phật lớn nhất thế giới.
Người Phật tử hiểu đạo đều biết rằng giáo lý nhà Phật không chủ trương cải đạo người khác. Trong vô số bài giảng có thể nghe được trên internet của tăng sĩ Phật giáo từ Thiền Sư Nhất Hạnh cho đến Ni Sư Trí Hải, chúng ta đều thấy đạo Phật không chủ trương cải đạo ai cả. Nhiều lần nhiều tín đồ các tôn giáo khác đến xin Ngài Đạt Lai Lạt Ma cho quy y, Ngài đã khuyên các người đó có thể thực hành giáo lý đạo Phật nhưng vẫn giữ tôn giáo của mình!. Cho nên nếu có những người nào đó tự xưng mình là Phật tử và có tư tưởng muốn biến đạo Phật thành quốc giáo thì không thể vì thế mà gán “tham vọng” đó cho tập thể Phật giáo Việt Nam được.
Vừa mới đây thôi, phản ứng trước những vụ khủng bố của các nhóm Hồi giáo đòi ly khai tại miền Nam Thái Lan, một số người đề nghị trưng cầu dân ý để ghi vào bản hiến pháp Thái Lan một điều khoản Phật Giáo là quốc giáo, thì người đầu tiên lên án đề nghị đó là công chúa Thái Lan, một người hết sức sùng mộ đạo Phật. Từ đó đề nghị này bị im luôn.
Đó là ở Thái Lan, một nước mà tỷ lệ người dân theo đạo Phật còn nhiều hơn ở Việt Nam và Phật tử Thái Lan cũng sùng bái chư tăng hơn Phật tử Việt Nam. Cho nên sự sợ hãi về một quốc giáo Phật giáo tại Việt Nam là một sự sợ hãi vô cớ! Vì sợ hãi một cách vô cớ mà nhiều khi đưa đến những tai họa lẽ ra không có. Vì hoảng hốt mà người ta có thể nhìn sợi dây thành con rắn rồi bỏ chạy, và trong cơn thất thần có thể vấp phải rễ cây, ngã xuống đập đầu vào đá mà chết vì dập não! Chính sự sợ hãi vô cớ đó có thể kích động những kẽ cuồng tín trong các tôn giáo khác làm những điều xằng bậy!
Thắng – Bại
Có lẽ đối với hơn 1000 đại biểu quốc tế và những người dân trong nước, lễ Vesak 2008 cho họ một cảm tưởng rằng Việt Nam có tự do tôn giáo. Nhưng không phải tất cả mọi người trên thế giới đều nghĩ như vậy! Có lẽ trong số hơn 1000 đại biểu quốc tế, ít người có thể hiểu tiếng Việt để nghe và xem bài phỏng vấn TS LMT trên đài SBTN. Còn đối với người Việt, không biết có bao nhiêu người theo dỏi cuộc phỏng vấn trên. Nếu có thể xem, nghe và hiểu cuộc phỏng vấn này, không biết người ta sẽ nghĩ gì về những câu trả lời của TS LMT?
TS LMT nói rằng đây là một công tác đối ngoại của chính phủ Việt nam là chính.
Rõ ràng đối tượng chính của công tác đối ngoại đó là chính giới Mỹ và Châu Âu. Thế nhưng chỉ vài ngày trước ngày khai mạc, ngày 02.05.2008 Ủy hội Hoa Kỳ Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo Trên Thế Giới (US Commission on International Religious Freedom) đề nghị
đặt Việt Nam vào lại trong danh sách 11 quốc gia đàn áp tôn giáo cần đặc biệt quan tâm (CPC, Country of Particular Concern). [v]
Ngày 10.5.2008, “năm mươi mốt nhân vật quốc tế bao gồm các Nhà lãnh đạo các tôn giáo, Giải Nobel Hoà bình, Đại biểu Quốc hội Châu Âu, Quốc hội Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ và Dân biểu Quốc hội Ý, Pháp và Anh ký chung lời kêu gọi giới lãnh đạo Hà Nội hãy ngưng cuộc đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) và trả tự do tức khắc cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ nhân dịp tổ chức Đại lễ Phật Đản Tam hợp LHQ từ 13 đến 17.5 tại Hà Nội.” [vi]
Trước đó vài tháng, vào ngày 12.7.2007 tại Strasbourg, “Quốc hội Châu Âu ra Quyết Nghị định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam và tố cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền và tôn giáo.” [vii]
Như vậy việc đánh giá thắng lợi hay thất bại của công tác đối ngoại của chính phủ Việt Nam trong việc tổ chức Vesak 2008 còn tùy theo cách nhìn của mỗi người nhưng chắc chắn không có một “thắng lợi hoàn toàn” cho một bên nào cả.
Để kết luận: Bên nầy - Bên kia
TS TKĐ viết: “Quý thầy và sư cô mà tôi được gặp đã nói lên một lời nhất quán rằng, đã là con Phật thì họ ở với Phật, tuyệt nhiên không ở phía nào – bên nầy hay bên kia – cả.”
Trước khi quyết định đứng vào bên này hay bên kia, ngoài việc xem xét những gì mỗi bên đã làm, một điều hết sức quan trọng là tìm hiểu Hạnh của những người lãnh đạo. Tôi không biết rõ về các vị lãnh đạo GHPGVN (thân chính quyền) cho nên không dám lạm bàn, chỉ biết về hai vị hòa thượng lãnh đạo GHPGVNTN.
Hòa Thượng Thích Huyền Quang khi còn rất trẻ (đại đức) được GHPGVNTN chọn để giữ trái tim Bồ Tát Thích Quảng Đức. Phải là một người có một nhân cách đặc biệt như thế nào đó, Đại Đức Thích Huyền Quang mới đuợc Giáo Hội chọn để giữ trái tim của Vị Bồ Tát mà sự hiến thân để bảo vệ đạo pháp đã làm xúc động cả thế giới, trong khi có hàng bao nhiêu hòa thượng, thượng tọa, đại đức, tăng ni trong đó có nhiều người tuổi cao, đức trọng, Phật học uyên thâm hơn Đại Đức. Việc mấy chục năm sau Ngài được chọn làm Đệ Tứ Tăng Thống một lần nữa đã nói lên nhân cách cao cả của một người lãnh đạo tôn giáo.
Muốn biết về cái Hạnh của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người mà Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã tôn xưng là Vô Úy Bồ Tát, những ai chưa từng gặp Ngài, không hay theo dỏi hoạt động của Ngài, chỉ cần đọc tập Thơ Tù của Ngài cũng có thể cảm được cái Hạnh Bồ Tát của Ngài. Trong số cả trăm bài thơ tả cảnh tù đày hàng chục năm, người đọc không tìm thấy một câu một chữ nào qua đó Ngài tỏ ra thù hận đối với những kẽ đã giam hãm Ngài, đã không cho Ngài gặp mẹ Ngài trước khi mẹ Ngài từ trần và cũng không cho Ngài chôn cất mẹ! Chỉ một điều đó thôi cũng đáng cho tôi sát đất đảnh lễ Ngài.
Người Phật tử Việt Nam khi chọn lựa Giáo Hội Phật Giáo nào đó không phải là sự chọn lựa phe phái mà là để xác định vai trò của mình đối với dân tộc, bởi lẽ như Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã nói trong Ðạo Từ Phật Đản 2549 (năm 2005 dương lịch) “không thể tách lìa vận mệnh dân tộc với vận mệnh chánh pháp.”
Ở thời điểm này, hiểm họa xâm lăng của Trung cọng đã cấp bách hơn lúc nào hết khi họ ồ ạt đưa người qua Lào để đồng hóa dân tộc hiền hòa với dân số trên 6 triệu người này, sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Tam Sa, thiết lập hải cảng tầu ngầm nguyên tử ở đảo Hải Nam, và đưa tàu thăm dò dầu khí có tàu hải quân hộ tống đến gần Quảng Nam. Trong tình hình đó, đảng CSVN dưới triều Nông Đức Mạnh với hậu trường có Đỗ Mười và Lê Đức Anh và chính phủ cầm đầu bởi Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng rõ ràng “thà mất nước hơn thà mất đảng”. Người chủ đã vậy, thì một bộ phận (Mặt Trận Tổ Quốc) có thể làm gì được huống hồ một bộ phận của bộ phận đó là GHPG “thân chính quyền? Các lực lượng dân chủ như khối 8406 chẳng hạn hết sức dũng cảm, nhạy bén và sắc sảo trong hành động nhưng chưa đủ sức để quy tụ quần chúng. GHPGVNTN với khối quần chúng đông đảo là nơi có thể tập hợp quần chúng không những chỉ để đòi tự do tôn giáo mà còn để đòi dân chủ, đòi quyền làm chủ vận mệnh của Tổ Quốc, hòng có thể chống lại thế lực bành trướng của Trung Cọng.
Xin ai đừng tự nhát mình, đừng vì nỗi ám ảnh vô cớ “Phật Giáo - quốc giáo” mà quên đi trách nhiệm của người dân đối với đất nước! Xin hãy lắng nghe lời của Hòa Thượng Thích Quảng Độ trích dẫn Lục Độ Tập Kinh: “Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ xông vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than.”
Chủ Nhật 01.06.2008
---------------------------
[i] http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13213&rb=0303
[ii] http://www.trankiemdoan.net/van/kysu-hoiuc/vesak.html
[iii] Nếu không có ghi chú khác, các đoạn in bằng chữ nghiêng được trích từ bài viết của hai tác giả TDBC và TKĐ.
[iv] Một Ngày Qua Ống Kính Sb-tn: Đại Lễ Vesak Năm 2008, Bản Tường Trình Đầu Tiên 5/13/2008 http://www.sbtn.net/?catid=297&newsid=27065&pid=157 và http://www.doi-thoai.com/baimoi0508_328.html
[v] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/USCIRF-Vietnam-Religious-CPC-list-Ntran-05022008125948.html?searchterm=None
[vi] http://www.queme.net/vie/index_detail.php?numb=1005
[vii] http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=822
Đăng nhận xét
Thông điệp trí huệ, từ bi, đơn giản nhưng thu hút, của Đức Phật, nhờ những phương tiện truyền thông đại chúng, đã hiện ra trước mặt của hàng chục triệu người Việt. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, lần đầu tiên được thấy, được nghe, và được cảm ứng bởi hình ảnh cao thượng, nhân bản của Đức Phật và bởi giáo pháp vi diệu, nhưng cũng rất thực tế, dễ áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, được thức dậy trong ánh đạo vàng cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo, được tắm gội trong dòng sông tươi mát của một giáo lý màu nhiệm, đầy tính tự do, bình đẳng, khoan dung và giác ngộ của Đức Phật. Năng lực tu tập và tấm lòng chân thành của gần 4.000 tăng, ni, Phật tử từ khắp nơi trên quê hương và trên thế giới đã biến tất cả những gì xảy ra trong khung cảnh của quốc lễ Phật đản thành những bài thuyết pháp hùng mạnh, cảm động.
Sáng ngày 14/5/2008, tại sân trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Ðình, lễ thượng cờ Phật giáo được tổ chức long trọng. Sau lời tuyên bố thượng cờ của Hoà thượng Thích Trí Quảng là một phút chào Phật kỳ. Đúng 7 giờ 40, lá cờ Phật giáo khổng lồ 473.76 mét vuông, nặng 60 ký, được kéo lên bởi 18 quả khí cầu trong tiếng hát cực kỳ hùng tráng bài “Phật giáo Việt Nam” và “Bay lên vì hạnh phúc con người” của 200 sinh viên trường Ðại học Quốc gia Hà Nội. Tiếp đó là nghi thức dâng hương, cúng dường Tam Bảo và vũ khúc Lục Cung truyền thống của cung đình Huế. Ca khúc Vesak thiêng liêng của Thượng toạ Thích Chơn Quang, tự thân, đã là một bài thuyết pháp hùng hồn, lại càng hùng mạnh, hào hứng hơn với sự hợp ca của 150 thanh niên, thiếu nữ. Giáo sư Lê Mạnh Thát, chủ tịch Ủy ban Tổ chức Quốc tế, mở đầu Đại lễ Vesak. Chính ông và những người cộng tác thân tín đã chủ động đề xuất sáng kiến tổ chức lễ Phật đản Liên hiệp quốc ở Việt Nam. Ðây quả là một sáng kiến lịch sử, làm thay đổi lịch sử Phật giáo và đất nước Việt Nam.
Trong năng lực vi diệu và hùng hậu của đại tăng, đại chúng tại hội trường, và trong không khí thời đại đượm nồng hương sắc Phật giáo, các bài diễn văn chính trị cũng được cảm hoá và trở thành những bài thuyết pháp đầy ý nghĩa. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu chào mừng các đại biểu và ông đã nói, một cách xuất thần, đến một “Niết bàn trong thế giới hiện thực”. Một cõi cực lạc giữa trần gian là giấc mơ của tất cả những người làm chính trị trên thế giới từ xưa đến nay. Bài diễn văn của ông thành công và có sức thu phục lòng người. Đây cũng là bài diễn văn rất hiếm có, để tôn vinh Phật giáo:
“Đại lễ Phật đản được tổ chức với sự cổ suý của Liên hiệp quốc nhằm tôn vinh những giá trị tư tưởng sâu sắc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni về hoà bình, hoà hợp, hoà giải, vị tha, nhân ái vốn đã có từ hơn 2.500 năm trước và vẫn còn nguyên giá trị trong thế giới ngày nay. Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc... là nhịp cầu giúp cho tất cả những người anh em có tín ngưỡng Phật giáo được gặp gỡ nhau để tưởng niệm, tôn vinh Đức Phật..., đồng thời chia sẻ và động viên nhau toàn tâm học tập, làm việc để đưa những tư tưởng tiến bộ của Đức Phật vào cuộc sống... Tôi hy vọng rằng Đại lễ Phật Đản Liên hiệp quốc năm nay sẽ là cơ hội tốt để chúng ta tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết, cùng nhau hợp tác xây dựng xã hội tốt đẹp, một Niết Bàn trong thế giới hiện thực, góp phần ngăn chặn sự xung đột, hoá giải các cuộc chiến tranh và đẩy lùi các nguy cơ nghèo đói, khổ đau trong đời sống xã hội, đưa con người đến cuộc sống an vui... Tôi hy vọng mỗi người hãy là một sứ giả của thiện chí, của hoà bình, từ Đại lễ này sẽ được tiếp thêm sức mạnh, sự quyết tâm để tiếp tục nêu cao chánh pháp của Đức Phật trong đời sống xã hội, vì tương lai tươi sáng và tốt đẹp của toàn nhân loại... Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và tôn trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo mang lại cho đời sống xã hội, trong đó có Phật giáo. Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2.000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, Hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời, phấn đấu vì hạnh phúc và an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời hộ quốc an dân.
Đặc biệt, lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lãnh đạo nhân dân bảo vệ tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi, từ bỏ giàu sang, quyền quý tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật, tu hành, sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm - một dòng thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.
Nối dòng chảy và truyền thống gần 2.000 năm qua, Phật giáo Việt Nam hôm nay đã làm được nhiều việc lợi đạo, ích đời, thực hiện cứu khổ độ sinh, thông qua hoằng dương Phật pháp vận động Tăng Ni, Phật tử cả nước sống trong chánh tín... tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhân đạo, giúp đỡ người già cả, neo đơn, trẻ tàn tật, mồ côi, người gặp hoàn cảnh khó khăn, thực hiện xoá đói giảm nghèo, xây dựng cuốc sống mới văn minh, tiến bộ... Những việc làm cao cả ấy ngày càng rõ nét và đạt thành quả lớn lao, khẳng định Phật giáo Việt Nam luôn gắn Đạo với Đời, là một Tôn giáo có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc.
Việt Nam chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống... luôn tôn trọng các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đóng góp cho đời sống xã hội, hướng con người tới Chân-Thiện-Mỹ, nhất là những giá trị phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức, lối sống hướng thiện của con người Việt Nam... Chúc quý vị sức khỏe, an lạc trong ánh từ quang của Đức Phật và trong niềm tin vào tương lai tốt đẹp của nhân loại”.
Thông điệp của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hoà thượng Thích Phổ Tuệ, người gọi Phật đản Vesak là “một phúc duyên lớn”, “một vinh dự to lớn và là thuận duyên đối với đất nước và Phật giáo Việt Nam: “Trải qua quá trình tu tập, hoằng pháp và độ sinh, Đức Giáo chủ đã để lại cho nhân loại một hệ thống tư tưởng giáo lý vô ngã về trí tuệ, lòng từ bi, tình thương, hoà bình, hoà hợp và phát triển”. Diễn văn của Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hoà thượng Thích Trí Tịnh, ngợi ca Đức Phật và giáo pháp siêu việt của Ngài.
Tổng thư ký Liên hiệp quốc, ông Ban Ki-moon, một Phật tử nhiệt thành, đã thuyết pháp bằng thông điệp chúc mừng ngắn gọn, nhưng nói lên đầy đủ tinh hoa, bản chất và con đường dấn thân của Phật giáo, lấy con người làm trung tâm và phụng sự con người làm lý tưởng:
“... Hàng triệu Phật tử và quần chúng trên khắp năm châu hân hoan đón chào thông điệp của tình thương và trí tuệ. Nhân dịp đại lễ thiêng liêng, cao quý này, mọi người trong chúng ta nên hoài tưởng lại cuộc đời sống động của Đức Phật Thích Ca, chiêm nghiệm lời dạy đầy ý nghĩa của Ngài, đồng thời cũng nên nguyện sống theo tinh thần cao cả , theo giáo pháp tuyệt vời ấy để kiến tạo cho mình những hạnh phúc an lạc... Trong thế giới hiện nay, những lời dạy của Đức Phật vì hoà bình, từ bi, tình thương đối với vạn loài chúng sinh cần phải được thực hiện ngay bây giờ. Ngài dạy chúng ta mở rộng lòng từ bi, giang rộng vòng tay nhân ái đối với mọi người, và nhất là những người đang lâm vào cảnh khổ. Điều đó nói lên rằng chúng ta cần tự nhận biết bản chất đồng nhất trong mỗi người, mỗi loài, và đặt hạnh phúc chung của nhân loại lên trên hạnh phúc riêng mình.”
Đây chính là con đường cứu khổ, cứu nạn của bồ tát Quán Thế Âm, của lý tưởng nhập thế cứu người, cứu đời, là kim chỉ nam hành động của người Phật tử chúng ta.
500 tăng, ni và cư sĩ Phật tử của Làng Mai xuất hiện, làm đầy sân khấu mênh mông và niệm danh hiệu Phật, bồ tát, hát thiền ca vang rền hội trường. Sau đó, 500 người ngồi thiền, im lặng. Sự xuất hiện hùng hậu, nhẹ nhàng, thảnh thơi của phái đoàn Làng Mai đã cống hiến cho mọi người một năng lượng an lạc kỳ diệu, biến hội trường thành cõi Tịnh độ, một “niết bàn trong thế giới hiện thực”. Thầy Nhất Hạnh thuyết pháp: Chiến tranh hay hoà bình, tất cả bắt đầu từ mỗi người, từ tâm thức, từ cách suy nghĩ, ăn nói, sinh sống. Thay đổi tư tưởng, lời nói, hành động theo hướng thiện lành, từ bi của đạo Phật là đóng góp tích cực nhất cho việc ngăn ngừa chiến tranh, xây dựng hoà bình.
Đêm nghệ thuật chào mừng khai mạc Vesak, dưới sự chỉ đạo một một vị sư trẻ tuổi, tài ba, là Đại đức Thích Minh Hiền, trụ trì chùa Hương lịch sử (năm nay đã có 1.500.000 người hành hương) đầy âm thanh và màu sắc, hội tụ những tinh hoa của âm nhạc Việt truyền thống cùng chất liệu âm nhạc Tây phương. Lục cúng hoa đăng biến ảo của những ngọn đèn sen hồng, hoa khai kiến Phật, vũ khúc hiện đại, điệu nhạc Lưu thuỷ của dàn nhạc cung đình Huế, kết hợp với dàn trống của Xuân Sơn... Những nghệ sĩ hàng đầu của Việt Nam đã thuyết pháp bằng lời ca điêu luyện, quyến rũ: Thanh Hoài với “Hương Sơn phong cảnh ca”, lời thơ Chu Mạnh Trinh; Mỹ Linh với “Chắp tay hoa”, nhạc Phạm Duy, thơ Phạm Thiên Thư; Trọng Tấn với “Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật” của Thẩm Oánh; Khánh Linh với bài “Lạy Phật con về” của Lê Mạnh Cương. Thuyết pháp không lời, huyền bí, của Mật tông bế mạc chương trình: một lá cờ lớn tung bay mang theo chữ Om - biểu tượng cho Chân như, và cũng là câu thần chú của bồ tát Quán Thế Âm của truyền thống Tây Tạng: Om mani padme hum. Mani là viên ngọc, là trí tuệ, padme là hoa sen, là lòng từ bi, hum là âm thanh của sự giác ngộ tối thượng.
Trong đêm bế mạc, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo và 500 nhạc công, nghệ sĩ và tăng, ni của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội đã thuyết pháp bằng một bản hợp tấu và hợp xướng vĩ đại, mang tên “Khai giác”. 4.000 đại biểu của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới được mời gọi khám phá hành trình hùng tráng, bằng âm nhạc, về cuộc đời của Đức Phật, về con đường chứng ngộ và về giáo pháp vi diệu của Ngài.
Đặc biệt là suốt trong ba ngày đại lễ, công ty thực phẩm chay Âu Lạc ở Sài Gòn đã cúng dường những buổi tiệc chay, rất ngon lành và hoàn toàn miễn phí, tương đương với hàng chục ngàn phần ăn, trị giá đến 10 tỷ đồng, cho tất cả đại biểu và Phật tử. Mỗi món chay đơn giản là một bài thuyết pháp về lòng từ bi, hoà bình và bảo vệ môi sinh, tôn trọng mọi sự sống. Hàng chục ngàn phần ăn chay là hàng chục ngàn thông điệp của tình thương đối với muôn loài và với trái đất, một hành tinh tuyệt đẹp, nhưng rất mong manh trong vũ trụ.
Ðêm cuối của đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2008: 20.000 ngọn nến được thắp lên bởi 10.000 sinh viên, mặc đồng phục áo màu vàng, với sự hội tụ tâm linh cầu nguyện cho hoà bình thế giới của 30.000 người tham dự. Đây là bài thuyết pháp sâu sắc, có ảnh hưởng rộng lớn trên toàn nước Việt Nam, vì được trực tiếp truyền hình trên đài VTV1. 10.000 sinh viên không những được nghe thuyết pháp, mà chính các em, khi ngồi yên, chắp tay, cầu nguyện, cũng đã ban cho hàng triệu người một bài thuyết pháp không lời. Nói rằng, với sự hưng thịnh của Phật giáo, đất nước này sẽ có một tương lai tươi sáng.
Trong không khí linh thiêng, dưới lá cờ Phật giáo, dưới một tượng Phật thật lớn, thật đẹp, uy nghi ngự trị giữa trời, hàng trăm thanh niên thiếu nữ hát vang bài ca “Bay lên vì hạnh phúc con người”, 20.000 ngàn ngọn nến được thắp lên, trong những lời niệm danh hiệu Phật và bồ tát Quán Thế Âm, những lời giảng thật dễ hiểu, thật nhẹ nhàng, nhưng cảm động, về giáo pháp từ bi của Đức Phật, nhiều người đã khóc, và khóc không thể ngừng được, vì quá hạnh phúc.
Ðại lễ Vesak 2008 đã trang bị cho dân Việt một niềm tự hào về truyền thống tâm linh và văn hoá hơn 2.000 năm của mình, và mở ra một giai đoạn mới đầy triển vọng, đầy niềm tin, đầy sức sống cho Phật giáo Việt Nam và cho quốc gia Việt Nam.
Một ngàn năm trước, sư Vạn Hạnh và Phật tử Lý Công Uẩn, cùng với thế hệ tăng ni, Phật tử đầu thế kỷ thứ 11, đã mở ra thời đại Thăng Long vinh quang, thời đại Rồng Bay với đôi cánh Phật giáo. Hôm nay, quốc lễ Phật đản 2008 đang báo hiệu một sự bắt đầu của một thời đại mới cho tổ quốc, thời đại Rồng Việt, với chủ đạo văn hoá-chính trị Phật giáo, tung bay trong kỷ nguyên lập quốc mới, kỷ nguyên hiện đại hoá đất nước trên nền tảng của quốc đạo truyền thống.
27.5.2008
Lý Khôi Việt
© 2008 talawas
Nhân đọc bài “Suy Nghĩ sau Vesak 2008 ở Việt Nam” của Tiêu Dao Bảo Cự và “Nhật ký Vesak 2008” của Trần Kiêm Đoàn
Huy Lâm
Nhân đọc bài “Suy Nghĩ sau Vesak 2008 ở Việt Nam” [i] của Tiêu Dao Bảo Cự (TDBC) và “Nhật ký Vesak 2008” [ii] của Trần Kiêm Đoàn, tôi xin trình bày một số ý kiến của tôi về sự kiện này và về hai bài báo đó.
Như TDBC đã viết, đây là“vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm”.[iii] Để có những nhận định đúng đắn về một vấn đề vừa phức tạp, vừa nhạy cảm, nhiều lúc ta phải làm như một nhà điều tra khi nghiên cứu ảnh chụp hiện trường tội phạm, có lúc phải nhìn thật gần, thậm chí phải dùng kính lúp mà soi, có lúc phải nhìn xa ra, nheo mắt lại mà đọc. Nói theo ngôn ngữ hiện đại là phải zoom-in và zoom-out nhiều lần mới có thể phát hiện những gì ẩn dấu đằng sau sự kiện.
Nhìn Gần
Trước hết chúng ta hãy nhìn gần để thử tìm hiểu những ý đồ của Nhà Nước cọng sản Việt Nam (CSVN) trước khi tổ chức lễ Vesak 2008, rồi so sánh những diển tiến xảy ra liên quan đến lễ hội này, khi đó mới có thể đánh giá hết chuyện được thua trong cuộc cờ này.
Trước khi TS LMT sang Bangkok để đại diện cho phía Nhà Nước Việt Nam chính thức đề nghị với Ban Tổ Chức Vesak Quốc Tế chấp thuận cho Việt Nam đăng cai tổ chức lễ Vesak 2008 tại Việt Nam, đã có những cuộc cuộc tranh luận sôi nổi giữa các tổ chức của Nhà Nước như Ban Tôn Giáo Chính Phủ, Bộ Thông Tin Văn Hóa về việc nên hay không nên tổ chức lễ Vesak 2008 tại Việt Nam. Những người đồng thuận cho rằng nên tổ chức, vì đây là cơ hội để Nhà Nước CSVN phản bác lại những cáo buộc của các tổ chức bảo vệ nhân quyền và các chính phủ dân chủ trên thế giới về việc Nhà Nước CSVN vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo và bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Những người chống lại đề nghị này thì cho rằng nếu tổ chức thì các tôn giáo khác sẽ phân bì và sẽ nói rằng Nhà Nước kỳ thị tôn giáo. Những người đồng thuận lập luận rằng đây là hoạt động của Liên Hiệp Quốc cho nên sẽ không thể cho là kỳ thị tôn giáo.
Nhà Nước CSVN cũng lo ngại rằng tổ chức lễ Vesak như vậy sẽ tuyên truyền cho giáo lý đạo Phật và đi ngược lại lý thuyết cọng sản. Tuy nhiên, cuối cùng sau khi cân nhắc lợi và hại, Nhà Nước CSVN quyết định tổ chức lễ Vesak 2008. Dĩ nhiên trong tính toán của Nhà Nước CSVN khi tổ chức lễ hội này còn nhằm đào sâu thêm mối chia rẽ giữa hai giáo hội Phật giáo Việt Nam, bôi nhọ những người trong Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất (GHPGVNTN) khi họ chống đối lại việc tổ chức Phật đản vinh danh Đức Phật, trình bày trước quần chúng Phật tử hình ảnh của những người trong GHPGVNTN là những người chuyên hoạt động chính trị và chống lại Nhà Nước Việt Nam, và mục đích là cô lập những người theo GHPGVNTN nhất là Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Độ.
Sự việc không phải dừng ở đó mà một vấn đề khác được đặt ra là ai sẽ là người tổ chức? Ban Tôn Giáo Chính Phủ nói rằng đây là vấn đề tôn giáo, vì vậy nên giao chuyện này cho Ban Tôn Giáo. Bộ Thông Tin Văn Hóa cho rằng đây là hoạt động của Liên Hiệp Quốc và có tính cách văn hóa, nên giao cho Bộ Thông Tin Văn Hóa. Còn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (của Nhà Nước) đề nghị rằng đây là lễ Phật Đản, nên giao cho Giáo Hội. Vì vậy, cuối cùng một Ban Tổ Chức gồm đại diện các tổ chức nói trên đã được hình thành như mọi người đã biết. Dài dòng kể lể như vậy để mọi người thấy rõ rằng tổ chức lễ Vesak 2008 tại Việt Nam là chủ trương của Nhà Nước Việt nam, là hoạt động của chính phủ Việt Nam nhằm thực hiện những ý đồ của đảng CSVN chứ không như nhiều người lầm tưởng rằng đó là quyết định của GHPGVN và chính phủ CSVN chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Chính TS Lê Mạnh Thát khi trả lời phỏng vấn của phóng viên đài SBTN Thanh Toàn đã thừa nhận:
“Chính phủ Việt nam với tư cách là thành viên của Liên Hiệp Quốc, thực hiện nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, đã đăng cai Đại lễ này, để thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết về vấn đề Đại lễ Phật Đản, thường được gọi là United Nations Vesak.
Mình phải thấy đây là một công tác đối ngoại của chính phủ Việt nam là chính.
Phật Giáo thực tế là vai trò phụ mà thôi! tại vì là đây của Liên Hiệp Quốc mà! Phật Giáo chỉ đóng vai trò hổ trợ, tại vì có liện hệ đến Phật Giáo! Những người làm ở đây là do chính phủ giao phó!
Đây là một hoạt động có tính cách chính phủ, có tính cách chính quyền. Hoàn toàn không phải là của Phật Giáo! " [iv]
Đến đây ta có thể thấy rõ rằng đây là một thế trận mà Nhà Nước CSVN bày ra để tấn công vào GHPGVNTN, và GHPGVN (thân chính quyền) là lực lượng xung kich chính yếu của Nhà nước trong cuộc tấn công này.
Thắng Lợi Đầu Tiên Của Nhà Nước
Điều thừa nhận trên đây của TS LMT là yếu tố chủ chốt trong việc xem xét và đánh giá thắng lợi hay thất bại trong ý đồ của Nhà Nước CSVN khi tổ chức lễ Vesak 2008.
Khi viết: “Điều mọi người có thể đoán trước là thắng lợi của nhà nước khi đồng ý và hỗ trợ việc tổ chức này”, TDBC đã ngộ nhận và lẫn lộn giữa người chủ trương và người thừa hành, người thực hiện. TS TKĐ cũng mắc phải sai lầm này khi trích dẫn lời của TS LMT: “Thầy Lê Mạnh Thát ...“vớt” ngay cơ hội có Trung tâm Hội nghị Quốc gia mới xây, thầy ngỏ ý mượn hội trường chính phủ và được chấp thuận.”
Chính các tác giả như TDBC, TKĐ là những người cập nhật thông tin từ nhiều nguồn trên thế giới mà còn có những ngộ nhận như vậy huống hồ đa số Phật tử trong nước ít thông tin, (ngay cả phật tử ở nước ngoài), làm sao có thể tránh khỏi ngộ nhận đó cho được? Đó là thắng lợi đầu tiên và lớn nhất của Nhà Nước CSVN trong trận thế này.
Thế trận phức tạp.
TDBC rất tâm đắc với đoạn sau đây trong bài viết của TKĐ: “Trong số hơn mấy chục quý thầy và sư cô mà tôi được duyên lành tiếp xúc, tuyệt nhiên chưa có một vị nào tự nhận rằng mình là người thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam thân chính quyền hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống chính quyền cả.”
Chắc chắn các thầy và sư cô mà TKĐ nói đến không thuộc GHPGVNTN “chống chính quyền”! Nhưng nói rằng họ không thuộc GHPGVN “thân chính quyền” thì cần phải xem lại, ít nhất là trên danh nghĩa! Thử hỏi trú xứ của các vị tu sĩ đó là ở đâu, chùa hay tu viện của các vị đó có thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (của Nhà Nước) hay không? Dễ dàng và rõ ràng nhất là xem trong tăng tịch của họ, họ thuộc về giáo hội nào?
Câu hỏi được đặt ra tiếp theo là tại sao các vị thầy và sư cô mà TS TKĐ nói đến, trên danh nghĩa, thuộc GHPGVN “thân chính quyền” mà lại không muốn nhận mình thuộc giáo hội đó?
Câu trả lời là có nhiều lý do, nhưng lý do nào cũng đều xuất phát từ sự sợ hãi!
Sự sợ hãi thứ nhất là sợ bị coi thường. Một tu sĩ cao cấp trong GHPGVN “thân chính quyền” đã nói với tôi trước khi TS LMT đi Bangkok để đăng ký tổ chức lễ Vesak 2008 rằng “các vị trong GHPGVN bị Nhà Nước xem thường và đây là dịp để các vị cởi bỏ bớt mặc cảm của mình.” Vị tu sĩ này còn nói: “chúng tôi, những người trong GHPGVN thầm cảm ơn các vị trong GHPGVNTN, nhờ những hoạt động của quý vị mà chính quyền bớt ăn hiếp chúng tôi.”
Sợ hãi thứ hai là mặc dù không muốn đứng vào hàng ngũ GHPGVN (của Nhà Nước) nhưng họ cũng không có dũng khí để thoát ly khỏi giáo hội đó vì không có đất đứng, vì Nhà Nước CSVN không cho phép họ làm như vậy. Làm gì mà ở trong nước Việt Nam hiện nay có “của quý và hiếm” là trên bảng hiệu của một chùa hay tu viện không thuộc GHPGVNTN “chống chính quyền” mà lại không có hàng chữ “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”.
Một nỗi sợ hãi khác là sợ mang tiếng làm chính trị! Họ không muốn thuộc về Giáo Hội Nhà nước, không dám thoát ly khỏi giáo hội đó nhưng cũng không đủ can đảm để đứng vào GHPGVNTN vì sợ mang tiếng làm chính trị. Sợ người khác dị nghị mà không dám làm điều mà mình cho là đúng cũng giống như nỗi sợ hãi của người tu sĩ không dám cho một người nữ trú mưa trong đêm một mình; như vậy còn đâu là hạnh bồ tát của trưởng tử Như Lai?
Các thầy hay ni sư mà TS TKĐ tiếp xúc “tuyệt nhiên chưa có một vị nào tự nhận rằng mình là người thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam thân chính quyền hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống chính quyền cả”, đó là họ trả lời với TS TKĐ, nhưng nếu muốn có một câu trả lời triệt để và rốt ráo hơn, chẳng hạn với một vị sĩ quan công an của Bộ Nội Vụ, họ có thể trả lời như vậy không? Tại Việt Nam hiện nay làm gì có chuyện đứng ngoài chính trị! “Không muốn dính dáng đến chính trị cũng là một hành động chính trị!” Đó là lời phát biểu của cựu ủy viên trung ương đảng CSVN kiêm cựu trưởng ban Tôn Giáo Chính Phủ Ngô Yên Thi với người viết bài này khi ông ta đang tại chức.
Việt Nam, đất nước có tự do tôn giáo?
TDBC viết tiếp: “Với danh nghĩa là quốc gia đăng cai tổ chức một hoạt động mang tính tôn giáo của Liên Hiệp Quốc, với sự tham dự của hơn 1000 đại biểu quốc tế của hơn 60 quốc gia và tổ chức Phật giáo, Việt Nam đã chứng tỏ là một đất nước có tự do tôn giáo, bác bỏ những tố cáo trước đây về việc đàn áp tôn giáo, đặc biệt vô hiệu hóa phần nào các tố cáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”
Thật thế ư? Chỉ với việc tổ chức lễ Vesak với sự tham dự của hơn 1000 đại biểu quốc tế của hơn 60 quốc gia và tổ chức Phật giáo là đủ để chứng tỏ một chính quyền tôn trọng quyền tự do tôn giáo ư? Thế thì cái mà TDBC gọi là Tự Do Tôn Giáo thật quá dễ, không thiêng liêng và quá quý báu đến mức để cho nhiều vị tu sĩ Phật giáo phải tự thiêu, nhiều người khác bị thủ tiêu, tù đày, tra tấn và cũng không đáng để cho nhị vị Hòa Thượng lãnh đạo GHPGVNTN là Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Độ phải bị giam cầm, lưu đày và quản chế hàng chục năm nay.
Theo tôi, và có lẽ nhiều người khác nữa, yếu tố quan trọng nhất của Tự Do Tôn Giáo là sự không can thiệp của chính quyền trong các hoạt động tôn giáo.
Có thể gọi là có tự do tôn giáo được không khi chính TDBC cũng đã công nhận rằng “... thực tế, một số giáo hội, một số tu sĩ đã và đang bị bức hại, tù đày, quản chế, gây khó khăn, chưa kể việc nhiều cơ sở tôn giáo bị tịch thu từ trước chưa được hoàn trả cho các giáo hội”.
Có thể gọi là có tự do tôn giáo được không khi Nhà Nước áp đặt các giáo hội vào trong một cơ chế chính trị là Mặt Trận Tổ Quốc?
Có thể gọi là có tự tôn giáo được không khi việc phong linh mục trong Thiên Chúa Giáo phải có ý kiến của Nhà Nước?
Có thể gọi là có tự do tôn giáo được không khi Nhà Nước bắt buộc trong giáo trình của các lớp Phật học phải có môn Triết Học Mác Lê-nin?
Vì vậy, cho dù biện minh như thế nào đi nữa, hình ảnh công an bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý trước tòa án cũng là một hình ảnh minh họa sống động nhất cách hành xử của Nhà Nước CSVN đối với tôn giáo.
Lời Khuyên của TDBC
TDBC viết: Vậy thì kết quả hôm nay phải chăng chính là sự tổng hợp của hai hoạt động tưởng như đối nghịch giữa hai giáo hội thân và chống chính quyền. Nếu cả hai phía đều có nhìn nhận rõ rệt về vấn đề này, thay vì chống đối lại hòa giải, hòa hợp, đoàn kết với nhau, có lẽ kết quả sẽ lớn hơn rất nhiều. (In đậm trong nguyên văn).
Trong tất cả các tôn giáo trên thế giới, giáo lý đạo Phật là giáo lý “phá chấp” triệt để nhất. Hai cái chấp mà giáo lý đạo Phật đả phá trước nhất là Ngã Chấp (cho rằng mình là nhất) và Kiến Chấp (cho rằng ý kiến của mình là đúng nhất). Cho nên chính hai vị Hòa Thượng lãnh đạo GHPGVNTN đã từng đề nghị với chính phủ Việt Nam để cho hai giáo hội Phật giáo được tự bàn bạc, giải quyết những vấn đề của Phật giáo mà không có sự can thiệp của Nhà Nước, nhưng Nhà Nước CSVN đã từ chối điều đó! Chữ Nếu in đậm của TDBC như vậy đã đặt không đúng chỗ!
Lễ hội quần chúng hay tham luận nghị trường?
TS TKĐ đã có một nhận xét rất sâu sắc mà tôi phải trích dẫn hơi dài:
“Một bà cụ ở Pháp về, trong số những người “chưa đăng ký”, đứng ngoài trời nắng vừa lau mồ hôi vừa phân bua (với ai không rõ), rằng bà đã từng tham dự những cuộc hội họp quốc tế mang tính cách tôn giáo, xã hội, chính trị với sự tham dự của cả trăm nghìn người mà mọi việc vẫn diễn ra trôi tròn. Theo bà, thì danh nghĩa ngày “Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc” tổ chức theo kiểu nghị trường, quần chúng không được tự do tham dự như một ngày lễ hội tôn giáo thế này cần phải được đổi lại là “Hội nghị Phật giáo Quốc tế nhân dịp kỷ niệm Tam hợp” (International Buddhist Conference on Vesak) mới đúng nghĩa. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Giáng sinh, Phật đản, Giỗ tổ Hùng vương… là ngày lễ của mọi người. Đặc biệt Vesak là dịp quy tụ những danh tăng quốc tế, những cư sĩ, trí thức, học giả có tiếng tăm của Phật giáo khắp thế giới; nhưng quần chúng không được tiếp cận, chiêm đón, lắng nghe, chia sẻ… là cả một sự thiệt thòi đáng tiếc cho cả đôi bên. Đành rằng vấn đề an ninh là ưu tiên hàng đầu cho mọi cuộc quy tụ, lễ hội quần chúng. Nhưng không thể vì thế mà biến một cuộc lễ hội đại chúng như ngày Phật đản trở thành một cuộc tham luận nghị trường! Mong Hội đồng Phật giáo Thế giới, mà Phật giáo Việt Nam là một thành viên, quan tâm đúng mức đến vấn đề này.”
Thật tình mà nói, phải có một sự tinh tế và nhạy cảm của một nhà văn như TS TKĐ hay sự từng trải của bà cụ ở Pháp về mới có thể nắm bắt được tính chất “Hội nghị” hay “tham luận nghị trường” hơn là một “lễ hội quần chúng” của Vesak 2008 này! Nhưng cũng thật tình mà nói TS TKĐ đã hơi “ngây thơ” khi cho rằng đó là sự đáng tiếc do “vấn đề an ninh” hay ban tổ chức đã không “quan tâm đúng mức đến vấn đề này”. Sự thật là những người chỉ đạo và ban tổ chức lễ Vesak 2008 đã quan tâm rất đúng mức và chính xác đến vấn đề này hơn là TS TKĐ nghĩ!
Trước khi quyết định tổ chức lễ Vesak 2008, Nhà Nước CSVN đã dè chừng việc tổ chức lễ Vesak này sẽ biến thành lễ hội quần chúng và quảng bá không công cho giáo lý nhà Phật mà họ cho là trái với chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy cho nên một ý kiến chỉ đạo trong việc tổ chức lễ Vesak này là Liên Hiệp Quốc vinh danh Đức Phật Thích Ca như là một nhà văn hóa chứ không phải như một giáo chủ của một tôn giáo. Chính vì vậy mà trong chương trình lễ Vesak này nghi lễ tôn giáo được giới hạn đến mức tối thiểu và các tham luận là những sinh hoạt chính.
Trong lịch sử của đảng các cọng sản trên thế giới và Việt Nam, từ lý thuyết đến thực tế, và nhất là với sự xác nhận của TS LMT, trưởng ban tổ chức Vesak 2008 tại Việt Nam: “đây là một công tác đối ngoại của chính phủ Việt nam là chính” và “Đây là một hoạt động có tính cách chính phủ, có tính cách chính quyền. Hoàn toàn không phải là của Phật Giáo! " không ai còn có thể mơ hồ gì về ý đồ của Nhà Nước CSVN là chỉ muốn có cái tiếng tổ chức lễ Vesak, làm cho lễ Vesak có vẻ bề ngoài “hoành tráng” để phân bua với thế giới về các thành tích đàn áp tôn giáo của họ, còn nội dung của những tham luận càng có tính cách kinh viện, càng mù mịt trong ngôn từ “cao siêu” khó hiểu càng hay.
TS TKĐ có nhiều nhận xét xác đáng:
- tôi để ý là có quá đông hội thảo viên người Việt không trở lại vào phòng mà xuống lầu và ra sân… tiếp tục giải trí.
- Trong lúc đó, nhiều tham dự viên người Việt là các đạo hữu từ các vùng núi rừng, thôn dã xa xôi, ngữ pháp tiếng Việt còn chưa thông, nói chi đến tiếng Tây, tiếng Mỹ.
- Vì chỉ đóng vai trò của một quan sát viên hơn là một tham dự viên, nên tôi không hiểu được là cuối cuộc hội thảo, những thành viên tham dự nghiêm túc đã gặt hái được bao nhiêu lợi lạc về mặt kiến thức lẫn kinh nghiệm.
- “ngôn ngữ toàn bằng tiếng Anh, tuy có “headphone” chuyển ngữ, nhưng khi mang thử còn khó hiểu hơn là nghe trực tiếp bằng tiếng Anh!”
TS TKĐ là giáo sư đại học ở Mỹ, là một huynh trưởng gia đình Phật tử, có hiểu biết sâu rộng về Phật học mà còn phải than“trình độ hội thảo cao quá, leo không tới, với không cùng” thì thử hỏi có bao nhiêu người Việt có thể hưởng được lợi lạc từ những bài tham luận này?
Tuy nhiên, TS TKĐ cho rằng “đây là một trở ngại đòi hỏi sự chọn lựa không đơn giản cho người tổ chức”; nhưng tôi lại nghĩ rằng những điều đó nằm trong ý đồ của ban tổ chức, bởi lẽ rất hiển nhiên khi họ mời những đại biểu “từ các vùng núi rừng, thôn dã xa xôi, ngữ pháp tiếng Việt còn chưa thông” để đi dự hội nghị bằng tiếng Tây, tiếng Mỹ, (cho dù có thông dịch), ban tổ chức hoàn toàn biết rõ những đại biểu đó chỉ tham dự để “ngồi chơi xơi nước” hay nói cách khác là để choán chỗ mà thôi.
Chông Gai và Cạm Bẫy
Tuy thế trận này do nhà cầm quyền Việt Nam nhưng không phải là không có chông gai đối với họ. Tuy Nhà Nước Việt Nam đã dè chừng không muốn cho phía Phật giáo lợi dụng cơ hội này để tập hợp, biểu dương lực lượng, quảng bá giáo pháp của Đức Phật và biến lễ Vesak 2008 thành một lễ hội quần chúng, nhưng Phật giáo của cả hai phía đều “giả mù sa mưa” đã làm cho lễ hội này thêm phần tưng bừng náo nhiệt. Chính quyền đã đàn áp một số chùa chiền của GHPGVNTN ở Lâm Đồng, Quảng Trị, Thừa Thiên, lấy cớ họ chống chính quyền nhưng lại không thể làm như vậy đối với GHPGVN (thân chính quyền). Cho nên Lễ Phật Đản năm nay tại Việt Nam, ngoài ý muốn của Nhà Nước, đã là một lễ hội với cờ Phật giáo ngợp trời, những lễ đài cao rộng, xe hoa trang hoàng rực rỡ mà nhiều người cho là còn hơn cả trước 1975. Ví dụ điển hình là việc xây dựng bảy bông sen khổng lồ trên sông Hương hay vòm hoa sen trên đường Lê Lợi ở Huế.
Phật Giáo - Quốc giáo?
Quần chúng Phật tử ở mọi nơi hân hoan vui mừng khi thấy ngày Đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được tổ chức linh đình, có khi còn hơn cả festival của Nhà Nước. Điều đó cũng làm cho một số tín đồ của tôn giáo khác ganh tỵ. Đó là phản ứng bình thường của người đời. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất trong bài viết của TDBC là sự lo lắng về cái mà TDBC gọi là “tham vọng, ý tưởng muốn đưa một tôn giáo trở thành quốc giáo.”
Nêu vấn đề Quốc Giáo tại một nước đang bị cai trị bởi một chế độc tài toàn trị như chế độ cọng sản, một chế độ bài xích tôn giáo là một điều hết sức phi lý! Lo lắng và ám chỉ về tham vọng, ý tưởng biến Phật giáo đang bị đàn áp thành quốc giáo lại càng phi lý hơn khi mà cuộc đấu tranh của GHPGVNTN cũng là chỗ dựa cho các tôn giáo khác như Công giáo, Tin Lành, Cao Đài đấu tranh đòi quyền lợi, quyền sinh hoạt và đất đai sở hữu của mình.
Đây là phản ứng quá nhạy cảm mà tôi tưởng chỉ có ở một số tín đồ tôn giáo nào đó trước sự bộc phát chưa từng có của những hoạt động có tính cách phô trương hết sức hoành tráng nhân dịp lễ Vesak 2008, chứ không phải ở một nhà văn, nhà báo sắc sảo như TDBC. Trong bất cứ một tôn giáo nào cũng có những kẻ cuồng tín muốn đưa tôn giáo của mình lên làm quốc giáo cho dù tỷ lệ tín đồ của tôn giáo đó chỉ là thiếu số. Cũng cần phải hiểu rằng đối nghịch lại với thái độ cuồng tín đó, một phản ứng “tự vệ” và nhạy cảm quá đáng thường xảy ra ở những người cuồng tín và quá khích trong tôn giáo tự xem là đối nghịch.
Trong giáo lý nhà Phật, Diệt Tham được đặt lên trước tiên và bất cứ Tham Vọng nào cũng đều bị lên án cho dù đó là tham vọng biến đạo của mình trở thành quốc giáo!
Trong các tôn giáo, đạo Phật là đạo hiếu hòa nhất! Trong lịch sử, đạo Phật là đạo duy nhất không có “thánh chiến”. Đạo Phật cũng là đạo chủ trương tuyệt đối bất bạo động. Cũng vì chủ trương bất bạo động mà đạo Phật đã bị tiêu diệt ở Afghanistan, nơi mấy ngàn năm trước đây đạo Phật cực kỳ hưng thịnh mà chứng tích là những pho tượng Phật lớn nhất thế giới.
Người Phật tử hiểu đạo đều biết rằng giáo lý nhà Phật không chủ trương cải đạo người khác. Trong vô số bài giảng có thể nghe được trên internet của tăng sĩ Phật giáo từ Thiền Sư Nhất Hạnh cho đến Ni Sư Trí Hải, chúng ta đều thấy đạo Phật không chủ trương cải đạo ai cả. Nhiều lần nhiều tín đồ các tôn giáo khác đến xin Ngài Đạt Lai Lạt Ma cho quy y, Ngài đã khuyên các người đó có thể thực hành giáo lý đạo Phật nhưng vẫn giữ tôn giáo của mình!. Cho nên nếu có những người nào đó tự xưng mình là Phật tử và có tư tưởng muốn biến đạo Phật thành quốc giáo thì không thể vì thế mà gán “tham vọng” đó cho tập thể Phật giáo Việt Nam được.
Vừa mới đây thôi, phản ứng trước những vụ khủng bố của các nhóm Hồi giáo đòi ly khai tại miền Nam Thái Lan, một số người đề nghị trưng cầu dân ý để ghi vào bản hiến pháp Thái Lan một điều khoản Phật Giáo là quốc giáo, thì người đầu tiên lên án đề nghị đó là công chúa Thái Lan, một người hết sức sùng mộ đạo Phật. Từ đó đề nghị này bị im luôn.
Đó là ở Thái Lan, một nước mà tỷ lệ người dân theo đạo Phật còn nhiều hơn ở Việt Nam và Phật tử Thái Lan cũng sùng bái chư tăng hơn Phật tử Việt Nam. Cho nên sự sợ hãi về một quốc giáo Phật giáo tại Việt Nam là một sự sợ hãi vô cớ! Vì sợ hãi một cách vô cớ mà nhiều khi đưa đến những tai họa lẽ ra không có. Vì hoảng hốt mà người ta có thể nhìn sợi dây thành con rắn rồi bỏ chạy, và trong cơn thất thần có thể vấp phải rễ cây, ngã xuống đập đầu vào đá mà chết vì dập não! Chính sự sợ hãi vô cớ đó có thể kích động những kẽ cuồng tín trong các tôn giáo khác làm những điều xằng bậy!
Thắng – Bại
Có lẽ đối với hơn 1000 đại biểu quốc tế và những người dân trong nước, lễ Vesak 2008 cho họ một cảm tưởng rằng Việt Nam có tự do tôn giáo. Nhưng không phải tất cả mọi người trên thế giới đều nghĩ như vậy! Có lẽ trong số hơn 1000 đại biểu quốc tế, ít người có thể hiểu tiếng Việt để nghe và xem bài phỏng vấn TS LMT trên đài SBTN. Còn đối với người Việt, không biết có bao nhiêu người theo dỏi cuộc phỏng vấn trên. Nếu có thể xem, nghe và hiểu cuộc phỏng vấn này, không biết người ta sẽ nghĩ gì về những câu trả lời của TS LMT?
TS LMT nói rằng đây là một công tác đối ngoại của chính phủ Việt nam là chính.
Rõ ràng đối tượng chính của công tác đối ngoại đó là chính giới Mỹ và Châu Âu. Thế nhưng chỉ vài ngày trước ngày khai mạc, ngày 02.05.2008 Ủy hội Hoa Kỳ Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo Trên Thế Giới (US Commission on International Religious Freedom) đề nghị
đặt Việt Nam vào lại trong danh sách 11 quốc gia đàn áp tôn giáo cần đặc biệt quan tâm (CPC, Country of Particular Concern). [v]
Ngày 10.5.2008, “năm mươi mốt nhân vật quốc tế bao gồm các Nhà lãnh đạo các tôn giáo, Giải Nobel Hoà bình, Đại biểu Quốc hội Châu Âu, Quốc hội Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ và Dân biểu Quốc hội Ý, Pháp và Anh ký chung lời kêu gọi giới lãnh đạo Hà Nội hãy ngưng cuộc đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) và trả tự do tức khắc cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ nhân dịp tổ chức Đại lễ Phật Đản Tam hợp LHQ từ 13 đến 17.5 tại Hà Nội.” [vi]
Trước đó vài tháng, vào ngày 12.7.2007 tại Strasbourg, “Quốc hội Châu Âu ra Quyết Nghị định giá lại chính sách hợp tác với Việt Nam và tố cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền và tôn giáo.” [vii]
Như vậy việc đánh giá thắng lợi hay thất bại của công tác đối ngoại của chính phủ Việt Nam trong việc tổ chức Vesak 2008 còn tùy theo cách nhìn của mỗi người nhưng chắc chắn không có một “thắng lợi hoàn toàn” cho một bên nào cả.
Để kết luận: Bên nầy - Bên kia
TS TKĐ viết: “Quý thầy và sư cô mà tôi được gặp đã nói lên một lời nhất quán rằng, đã là con Phật thì họ ở với Phật, tuyệt nhiên không ở phía nào – bên nầy hay bên kia – cả.”
Trước khi quyết định đứng vào bên này hay bên kia, ngoài việc xem xét những gì mỗi bên đã làm, một điều hết sức quan trọng là tìm hiểu Hạnh của những người lãnh đạo. Tôi không biết rõ về các vị lãnh đạo GHPGVN (thân chính quyền) cho nên không dám lạm bàn, chỉ biết về hai vị hòa thượng lãnh đạo GHPGVNTN.
Hòa Thượng Thích Huyền Quang khi còn rất trẻ (đại đức) được GHPGVNTN chọn để giữ trái tim Bồ Tát Thích Quảng Đức. Phải là một người có một nhân cách đặc biệt như thế nào đó, Đại Đức Thích Huyền Quang mới đuợc Giáo Hội chọn để giữ trái tim của Vị Bồ Tát mà sự hiến thân để bảo vệ đạo pháp đã làm xúc động cả thế giới, trong khi có hàng bao nhiêu hòa thượng, thượng tọa, đại đức, tăng ni trong đó có nhiều người tuổi cao, đức trọng, Phật học uyên thâm hơn Đại Đức. Việc mấy chục năm sau Ngài được chọn làm Đệ Tứ Tăng Thống một lần nữa đã nói lên nhân cách cao cả của một người lãnh đạo tôn giáo.
Muốn biết về cái Hạnh của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người mà Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã tôn xưng là Vô Úy Bồ Tát, những ai chưa từng gặp Ngài, không hay theo dỏi hoạt động của Ngài, chỉ cần đọc tập Thơ Tù của Ngài cũng có thể cảm được cái Hạnh Bồ Tát của Ngài. Trong số cả trăm bài thơ tả cảnh tù đày hàng chục năm, người đọc không tìm thấy một câu một chữ nào qua đó Ngài tỏ ra thù hận đối với những kẽ đã giam hãm Ngài, đã không cho Ngài gặp mẹ Ngài trước khi mẹ Ngài từ trần và cũng không cho Ngài chôn cất mẹ! Chỉ một điều đó thôi cũng đáng cho tôi sát đất đảnh lễ Ngài.
Người Phật tử Việt Nam khi chọn lựa Giáo Hội Phật Giáo nào đó không phải là sự chọn lựa phe phái mà là để xác định vai trò của mình đối với dân tộc, bởi lẽ như Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã nói trong Ðạo Từ Phật Đản 2549 (năm 2005 dương lịch) “không thể tách lìa vận mệnh dân tộc với vận mệnh chánh pháp.”
Ở thời điểm này, hiểm họa xâm lăng của Trung cọng đã cấp bách hơn lúc nào hết khi họ ồ ạt đưa người qua Lào để đồng hóa dân tộc hiền hòa với dân số trên 6 triệu người này, sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Tam Sa, thiết lập hải cảng tầu ngầm nguyên tử ở đảo Hải Nam, và đưa tàu thăm dò dầu khí có tàu hải quân hộ tống đến gần Quảng Nam. Trong tình hình đó, đảng CSVN dưới triều Nông Đức Mạnh với hậu trường có Đỗ Mười và Lê Đức Anh và chính phủ cầm đầu bởi Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng rõ ràng “thà mất nước hơn thà mất đảng”. Người chủ đã vậy, thì một bộ phận (Mặt Trận Tổ Quốc) có thể làm gì được huống hồ một bộ phận của bộ phận đó là GHPG “thân chính quyền? Các lực lượng dân chủ như khối 8406 chẳng hạn hết sức dũng cảm, nhạy bén và sắc sảo trong hành động nhưng chưa đủ sức để quy tụ quần chúng. GHPGVNTN với khối quần chúng đông đảo là nơi có thể tập hợp quần chúng không những chỉ để đòi tự do tôn giáo mà còn để đòi dân chủ, đòi quyền làm chủ vận mệnh của Tổ Quốc, hòng có thể chống lại thế lực bành trướng của Trung Cọng.
Xin ai đừng tự nhát mình, đừng vì nỗi ám ảnh vô cớ “Phật Giáo - quốc giáo” mà quên đi trách nhiệm của người dân đối với đất nước! Xin hãy lắng nghe lời của Hòa Thượng Thích Quảng Độ trích dẫn Lục Độ Tập Kinh: “Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ xông vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than.”
Chủ Nhật 01.06.2008
---------------------------
[i] http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13213&rb=0303
[ii] http://www.trankiemdoan.net/van/kysu-hoiuc/vesak.html
[iii] Nếu không có ghi chú khác, các đoạn in bằng chữ nghiêng được trích từ bài viết của hai tác giả TDBC và TKĐ.
[iv] Một Ngày Qua Ống Kính Sb-tn: Đại Lễ Vesak Năm 2008, Bản Tường Trình Đầu Tiên 5/13/2008 http://www.sbtn.net/?catid=297&newsid=27065&pid=157 và http://www.doi-thoai.com/baimoi0508_328.html
[v] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/USCIRF-Vietnam-Religious-CPC-list-Ntran-05022008125948.html?searchterm=None
[vi] http://www.queme.net/vie/index_detail.php?numb=1005
[vii] http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=822
<< Home
