26/11/08

 

Bùi Tín

Thư gửi bạn bên nhà

Vụ đón tầu tuần dương Trịnh Hòa

Con người của chữ nghĩa làm thơm thế giới

...

Xem tiep...


Comments:
Ngày 18 - 11 tầu tuần dương Trung quốc mang tên Trịnh Hòa ghé thăm cảng Đà nẵng cho đến ngày 22-11.
Vẫn cái kiểu "chăn dắt", kiểm soát chặt báo chí. Ngang ngược, lộ liễu, và trẻ con! Bộ thông tin truyền thông và vụ báo chí bộ ngoại giao ở Hà nội chỉ thị cho các ban biên tập báo chí, phát thanh, vô tuyến ...không được tuyên truyền quá đậm sự kiện này, và cấm dùng tên phiên âm tiếng Việt Trịnh Hòa, chỉ dùng tên phiên âm la-tinh theo tiếng Bắc kinh là : Cheng Ho hoặc Zheng Ha.
Sao lạ thế ?
Trịnh Hòa là tên viên Thuỷ sư đô đốc người gốc Mông cổ, hồi thế kỷ 15 thời nhà Minh, theo đạo Hồi. Ông có công xây dựng, huấn luyện, chỉ huy một hạm đội hùng mạnh, làm những cuộc hải hành rộng lớn xa xôi, với hàng trăm tầu thuyền, hàng vạn thuỷ thủ, bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc xuống phia Nam, sang Ấn Độ Dương, sang cả Trung Đông, rồi sang cả Thái Bình Dương và châu Mỹ.
Những năm gần đây, lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc có ý đồ hiện đại hoá gấp quốc phòng, chú trọng bành trướng nhanh hải quân, thực hiện " lam sắc quốc thổ chiến lược "
- chiến lược lãnh thổ quốc gia màu xanh lam (ngụ ý là màu xanh nước biển). Các nhà học giả Trung quốc giải thích nội dung của chiến lược này là coi chủ quyền Trung quốc mở rộng ra các vùng biển và đại dương phía Đông và phía Nam, rộng đến 300 triệu km vuông, gồm vùng biển nội địa và vùng lãnh hải, đều thuộc chủ quyền kinh tế của Trung quốc. Họ trịch thượng bỏ qua mọi tranh chấp còn tồn tại với Việt nam, Philippin, Malaixia, Nam dương, Brunây...
Do đó cuộc thao diễn về phía Nam của tuần dương hạm hiện đại Trịnh Hòa là một cuộc biểu dương lực lượng mang tính chất bành trướng, khống chế, đe doạ các lân quốc phương Nam của Bắc kinh. Nó vượt xa tính chất xã giao, hữu nghị được công bố.
Điều này rất rõ. Mấy tháng nay, báo Nhân dân Giải phóng Quân ở Bắc kinh giới thiệu đô đốc Trịnh Hòa từng cùng tàu chiến và tàu buôn đặt chân lên thị trấn Hội An của Việt nam, đặt nền tảng thông thương Trung - Việt; đô đốc Trịnh Hòa còn ghé Hoàng Sa và Trường Sa, - nhằm chứng minh rằng 2 quần đảo này từ thời Minh đã thuộc chủ quyền của Trung quốc(!).
Thật ra, sự kiện tuần dương hạm Trịnh Hòa cập bến Đà nẵng không phải ngẫu nhiên, bình thường, cũng không phải chỉ là triển khai thực hiện chiến lược nói trên. Nó còn có một mục tiêu khác. Nhóm lãnh đạo Bắc kinh muốn nhóm lãnh đạo Hànội duy trì dứt khoát hướng ngả theo Bắc kinh - " nhất biên đảo ", không được chập chờn, giao động, phải giáo dục lại toàn xã hội theo hướng đó. Họ yêu cầu 14 vị trong bộ chính trị phải luôn nhất trí theo hướng đó, phải mạnh tay bóp chết từ trong trứng mọi ý tưởng muốn gắn bó với thế giới dân chủ trong thanh niên, trí thức, phài kiên quyết cô lập và chuyên chính mạnh với các chiến sỹ dân chủ, cứ coi đó là những kẻ "trẻ người non dạ", háo danh, vi phạm pháp luật cần nghiêm trị.
Ngay với nhóm lãnh đạo, Bắc kinh cũng không ngần ngại thị uy để phòng ngừa xu hướng rời xa họ dù chỉ về chiến thuật. Từ Hànội, một bạn làm việc ở cơ quan trung ương đảng cho biết, đoàn ông thủ tướng Dũng sang thăm chính thức Bắc kinh, dự định đầu tiên là sẽ dừng chân ở Quảng châu (Quảng đông) trước khi đến Bắc kinh, nhưng vào giờ chót, Bắc kinh lại yêu cầu "mời " ghé ra đảo Hài nam, rõ ràng là trái đường, mua lối. Sao lại mời đoàn khách dừng chân ở ngay cửa ngõ phía cạnh nhà người ta ? Để làm gì ? Để gián tiếp khoe rằng Hải Nam đã trở thành không phải chỉ là một khu kinh tế thương mại đặc biệt mà điều quan trọng hơn là đã là một căn cứ hải quân tiền phương hiện đại nhất, với căn cứ cho tàu ngầm nguyên tử ở Sanya (Tam Á) ngay bờ Nam của đảo, hướng về phương Nam. Phía Trung quốc khoe riêng với đoàn ông Dũng về những hầm sâu, dài, nơi trú ẩn của những tàu ngầm nguyên tử kiểu Vũ Lâm (Yulin), rằng hạm đội Nam hải với vũ khí nguyên tử vô địch nay là lực lượng mũi nhọn vươn rộng, vươn xa; - đừng có đùa với lửa.
Chính những tàu chiến ở căn cứ này đang tuần tiễu vùng biển phía Nam, đã doạ bắn các tàu kỹ thuật của Mỹ, Nga, Na uy được Petro VN thuê làm việc trong vùng biển Việt nam, buộc các tàu này phải lần lượt yên lặng bỏ cuộc từ tháng 5 đến tháng 10 này.
Hơn nữa, những tay Đại hán quả là thâm. Họ đưa ông Dũng ra Hải Nam còn để nhắc rằng đó là tỉnh nhỏ, nhưng là tỉnh đang quản lý hành chính Hoàng Sa và Trường Sa đó.
Cũng lại một chi tiết lễ tân; đón thủ tướng một nước láng giềng lẽ ra phải có một quan chức ở trung ương, chí ít là một thứ trưởng ngoại giao xuống đón, nhưng ra đón đoàn ông Dũng không có một mống nào ở trung ương, chỉ có viên phó tỉnh trưởng của địa phương, lại là tỉnh bé nhỏ nhất nước ! Vẫn là cái kiểu cách kiêu ngạo khinh người kiểu đại Hán.
Thế còn vì sao tàu tuần dương Trịnh Hoà lại ghé Đà Nẵng, mà không là Hải Phòng, Vinh hay Vũng Tàu, hay Sài gòn ? Vì Đà Nẵng là trụ sở của Bộ tư lệnh Quân khu V và trụ sở của Vùng Hải quân Nam Trung bộ trực tiếp có nhiệm vụ quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng đang trắng tay. Một kiểu làm nhục đối tác để buộc phải thần phục.

Cho nên sự kiện tuần dương Trịnh Hoà có thể phân tích ý nghĩa trên nhiều mặt, nhiều phía.
Nhóm lãnh đạo khi một mực thần phục nước lớn bành trướng để duy trí quyền lực và đặc lợi luôn ở thế trên đe dưới búa. Họ bị nước lớn lợi dụng, đe doạ hiếp đáp, mặt khác họ bị nhân dân khinh thị, chê bai, chống đối, nên vừa phải vâng lời nước lớn, vừa lo sợ rằng quá liều lượng nịnh bợ bọn bành trướng sẽ đổ thêm dầu vào lửa căm hờn của quần chúng yêu nước.
Cho đến khi nào họ mới buộc phải mở mắt, phải chịu nhận ra lẽ phải là đi với nhân dân, để đi với nền dân chủ đa nguyên đa đảng vững mạnh của thế giới, từ bỏ chế độ độc quyền đảng trị, dựa vào luật pháp quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của đất nước.
Sống bên nước láng giềng lớn hung bạo đâu phải là định mệnh hiểm nghèo. Mông cổ, Ấn độ, Pakistan, Népal, Nga ... đều là láng giềng với Trung quốc, đâu có chịu làm chư hầu cho Bắc kinh dưới bất kỳ hình thức nào.
Chúng ta vẫn gọi là tầu tuần dương Trịnh Hòa. Sợ ai, việc gì mà phải từ bỏ tiếng Việt mẹ đẻ của mình, để gọi trệch đi là Cheng He hay Zhang Ha! Vô duyên!

Bùi Tín. Paris 17-11-2008


Thư gửi bạn bên nhà: (số 7)

Vụ đón tầu tuần dương Trịnh Hòa

Ngày 18 - 11 tầu tuần dương Trung quốc mang tên Trịnh Hòa sẽ ghé thăm cảng Đà nẵng cho đến ngày 22-11.
Vẫn cái kiểu "chăn dắt", kiểm soát chặt báo chí . Ngang ngược, lộ liễu, và trẻ con !
bộ thông tin truyền thông và vụ báo chí bộ ngoại giao ở Hànội chỉ thị cho các ban biên tập báo chí, phát thanh, vô tuyến ...không được tuyên truyền quá đậm sự kiện này, và cấm dùng tên phiên âm tiếng Việt Trịnh Hòa, chỉ dùng tên phiên âm la-tinh theo tiếng Bắc kinh là : Cheng Ho hoặc Zheng Ha.
Sao lạ thế ?
Trịnh Hòa là tên viên Thuỷ sư đô đốc người gốc Mông cổ, hồi thế kỷ 15 thời nhà Minh, theo đạo Hồi. Ông có công xây dựng, huấn luyện, chỉ huy một hạm đội hùng mạnh, làm những cuộc hải hành rộng lớn xa xôi, với hàng trăm tầu thuyền, hàng vạn thuỷ thủ, bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc xuống phia Nam, sang Ấn Độ Dương, sang cả Trung Đông, rồi sang cả Thái Bình Dương và châu Mỹ.
Những năm gần đây, lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc có ý đồ hiện đại hoá gấp quốc phòng, chú trọng bành trướng nhanh hải quân, thực hiện " lam sắc quốc thổ chiến lược "
- chiến lược lãnh thổ quốc gia màu xanh lam (ngụ ý là màu xanh nước biển). Các nhà học giả Trung quốc giải thích nội dung của chiến lược này là coi chủ quyền Trung quốc mở rộng ra các vùng biển và đại dương phía Đông và phía Nam, rộng đến 300 triệu km vuông, gồm vùng biển nội địa và vùng lãnh hải, đều thuộc chủ quyền kinh tế của Trung quốc. Họ trịch thượng bỏ qua mọi tranh chấp còn tồn tại với Việt nam, Philippin, Malaixia, Nam dương, Brunây...
Do đó cuộc thao diễn về phía Nam của tuần dương hạm hiện đại Trịnh Hòa là một cuộc biểu dương lực lượng mang tính chất bành trướng, khống chế, đe doạ các lân quốc phương Nam của Bắc kinh. Nó vượt xa tính chất xã giao, hữu nghị được công bố.
Điều này rất rõ. Mấy tháng nay, báo Nhân dân Giải phóng Quân ở Bắc kinh giới thiệu đô đốc Trịnh Hòa từng cùng tàu chiến và tàu buôn đặt chân lên thị trấn Hội An của Việt nam, đặt nền tảng thông thương Trung - Việt; đô đốc Trịnh Hòa còn ghé Hoàng Sa và Trường Sa, - nhằm chứng minh rằng 2 quần đảo này từ thời Minh đã thuộc chủ quyền của Trung quốc(!).
Thật ra, sự kiện tuần dương hạm Trịnh Hòa cập bến Đà nẵng không phải ngẫu nhiên, bình thường, cũng không phải chỉ là triển khai thực hiện chiến lược nói trên. Nó còn có một mục tiêu khác. Nhóm lãnh đạo Bắc kinh muốn nhóm lãnh đạo Hànội duy trì dứt khoát hướng ngả theo Bắc kinh - " nhất biên đảo ", không được chập chờn, giao động, phải giáo dục lại toàn xã hội theo hướng đó. Họ yêu cầu 14 vị trong bộ chính trị phải luôn nhất trí theo hướng đó, phải mạnh tay bóp chết từ trong trứng mọi ý tưởng muốn gắn bó với thế giới dân chủ trong thanh niên, trí thức, phài kiên quyết cô lập và chuyên chính mạnh với các chiến sỹ dân chủ, cứ coi đó là những kẻ "trẻ người non dạ", háo danh, vi phạm pháp luật cần nghiêm trị.
Ngay với nhóm lãnh đạo, Bắc kinh cũng không ngần ngại thị uy để phòng ngừa xu hướng rời xa họ dù chỉ về chiến thuật. Từ Hànội, một bạn làm việc ở cơ quan trung ương đảng cho biết, đoàn ông thủ tướng Dũng sang thăm chính thức Bắc kinh, dự định đầu tiên là sẽ dừng chân ở Quảng châu (Quảng đông) trước khi đến Bắc kinh, nhưng vào giờ chót, Bắc kinh lại yêu cầu "mời " ghé ra đảo Hài nam, rõ ràng là trái đường, mua lối. Sao lại mời đoàn khách dừng chân ở ngay cửa ngõ phía cạnh nhà người ta ? Để làm gì ? Để gián tiếp khoe rằng Hải Nam đã trở thành không phải chỉ là một khu kinh tế thương mại đặc biệt mà điều quan trọng hơn là đã là một căn cứ hải quân tiền phương hiện đại nhất, với căn cứ cho tàu ngầm nguyên tử ở Sanya (Tam Á) ngay bờ Nam của đảo, hướng về phương Nam. Phía Trung quốc khoe riêng với đoàn ông Dũng về những hầm sâu, dài, nơi trú ẩn của những tàu ngầm nguyên tử kiểu Vũ Lâm (Yulin), rằng hạm đội Nam hải với vũ khí nguyên tử vô địch nay là lực lượng mũi nhọn vươn rộng, vươn xa; - đừng có đùa với lửa.
Chính những tàu chiến ở căn cứ này đang tuần tiễu vùng biển phía Nam, đã doạ bắn các tàu kỹ thuật của Mỹ, Nga, Na uy được Petro VN thuê làm việc trong vùng biển Việt nam, buộc các tàu này phải lần lượt yên lặng bỏ cuộc từ tháng 5 đến tháng 10 này.
Hơn nữa, những tay Đại hán quả là thâm. Họ đưa ông Dũng ra Hải Nam còn để nhắc rằng đó là tỉnh nhỏ, nhưng là tỉnh đang quản lý hành chính Hoàng Sa và Trường Sa đó.
Cũng lại một chi tiết lễ tân; đón thủ tướng một nước láng giềng lẽ ra phải có một quan chức ở trung ương, chí ít là một thứ trưởng ngoại giao xuống đón, nhưng ra đón đoàn ông Dũng không có một mống nào ở trung ương, chỉ có viên phó tỉnh trưởng của địa phương, lại là tỉnh bé nhỏ nhất nước ! Vẫn là cái kiểu cách kiêu ngạo khinh người kiểu đại Hán.
Thế còn vì sao tàu tuần dương Trịnh Hoà lại ghé Đà Nẵng, mà không là Hải Phòng, Vinh hay Vũng Tàu, hay Sài gòn ? Vì Đà Nẵng là trụ sở của Bộ tư lệnh Quân khu V và trụ sở của Vùng Hải quân Nam Trung bộ trực tiếp có nhiệm vụ quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng đang trắng tay. Một kiểu làm nhục đối tác để buộc phải thần phục.

Cho nên sự kiện tuần dương Trịnh Hoà có thể phân tích ý nghĩa trên nhiều mặt, nhiều phía.
Nhóm lãnh đạo khi một mực thần phục nước lớn bành trướng để duy trí quyền lực và đặc lợi luôn ở thế trên đe dưới búa. Họ bị nước lớn lợi dụng, đe doạ hiếp đáp, mặt khác họ bị nhân dân khinh thị, chê bai, chống đối, nên vừa phải vâng lời nước lớn, vừa lo sợ rằng quá liều lượng nịnh bợ bọn bành trướng sẽ đổ thêm dầu vào lửa căm hờn của quần chúng yêu nước.
Cho đến khi nào họ mới buộc phải mở mắt, phải chịu nhận ra lẽ phải là đi với nhân dân, để đi với nền dân chủ đa nguyên đa đảng vững mạnh của thế giới, từ bỏ chế độ độc quyền đảng trị, dựa vào luật pháp quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của đất nước.
Sống bên nước láng giềng lớn hung bạo đâu phải là định mệnh hiểm nghèo. Mông cổ, Ấn độ, Pakistan, Népal, Nga ... đều là láng giềng với Trung quốc, đâu có chịu làm chư hầu cho Bắc kinh dưới bất kỳ hình thức nào.
Chúng ta vẫn gọi là tầu tuần dương Trịnh Hòa. Sợ ai, việc gì mà phải từ bỏ tiếng Việt mẹ đẻ của mình, để gọi trệch đi là Cheng He hay Zhang Ha ! Vô duyên !

Bùi Tín. Paris 17-11-2008
 
Thư gửi bạn bên nhà: (số 1 )

Con người của chữ nghĩa làm thơm thế giới

Thật là thú vị khi được biết tổng thống Mỹ Barack Obama mới được bầu không những là nhà báo có tay nghề vững, từng nhiều năm là tổng biên tập tuần báo " Luật pháp " của trường đại học hàng đầu nước Mỹ Havard, còn là một nhà thơ và nhà văn có hạng.
Obama làm thơ sớm, năm 19 tuổi (1981), khi là sinh viên đã có 2 bài thơ đăng trên tạp chí văn Feast, được bàn đến từ tháng 7-2007 trên báo New Yorker, được các nhà bình luận văn học nhận xét là có tư tưởng cấp tiến, có phong cách hình tượng và bút pháp riêng.
Năm 2005, Obama đưa in cuốn sách "Dreams of my Father" - Những giấc mơ của Cha tôi, kể lại cuộc đời nhọc nhằn của người cha gốc Kenya châu Phi, sang đảo Hawaii lập nghiệp rồi lại trở về quê cũ ở Kenya, với những giấc mơ đẹp chưa thành hiện thực. Sau đó Obama đưa in cuốn sách thứ 2 : "the Audacity of Hope" - Ước vọng táo bạo, nói về sự nảy sinh của những ước vọng đẹp đẽ và khả năng thực tế thực hiện ước vọng ở thế hệ ngày nay.
Theo hãng CNN, 2 cuốn sách này được bạn đọc Mỹ, nhất là bạn trẻ tìm đọc trước khi Obama là ứng cử viên tổng thống, bán được hàng triệu cuốn, là những văn phẩm "bestseller" - bán chạy nhất, đầu thế kỷ 21.
Thật đáng mừng, tổng thống trẻ tuổi của nước Mỹ không những là một trí thức thực sự, loại hiểu biết cao rộng, còn là một nhà báo tài năng, cũng là một thi sĩ có hạng và một nhà văn được ưa chuộng.
Không phải ai khác, chính nữ văn sĩ Mỹ giải báo chí Pulitzer 1988, giải Nobel văn học 1993 Toni Morrison, gốc da đen, bang Ohio, đã hứng khởi chào mừng tân tổng thống Obama rằng : tôi trẻ hẳn lại (bà 87 tuổi), được sống cùng thời với Obama, được có một tổng thống không phải chỉ chung một màu da, mà đáng mừng hơn nhiều, "tổng thống thứ 44 của chúng ta là một con người của chữ nghĩa, là một người làm vẻ vang cho ngòi bút ".
Có lẽ đây là một lời khen thú vị nhất, đáng mừng nhất, sâu sắc hơn cả về tổng thống Obama.
Anh em trí thức, văn nghệ sỹ chân chính ở trong nước chắc cũng vui thêm khi được tin này. Tôi nghĩ đến niềm vui thú của anh chị em ở bên nhà, như Võ Thị Hảo, Trần Thị Hồng Sương, Trần Khải Thanh Thuỷ, Dương Tường, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Duy, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, và biết bao nhà văn, nhà văn hoá khác...
Con người của chữ nghĩa khai phóng làm thơm tho thế giới.
Những người cầm quyền tối tăm, nghèo văn hoá, thù nghịch với báo chí tự do, chỉ làm ô nhiễm, huỷ hoại đất nước họ thống trị.

Bùi Tín. Paris 11-11-2008.
*(mở Google, bấm Obama - poetry - book ... sẽ có bìa sách và thơ...)



Thư gửi bạn bên nhà : ( số 2 )

Thày giỏi và trò lười

Ở Việt nam lâu nay có phong trào học thêm. Nhiều gia đình thuê thầy giỏi về nhà dạy thêm cho con cháu.
Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng lo học. Ông thuê thày quốc tế kèm cặp thêm về kinh tế - tài chính đã hơn 1 năm nay.
Ông Dũng biết kén thày giỏi. Ông thuê Đại học mũi nhọn Harvard ở Mỹ làm thầy. Cứ 3 tháng một lần tổ giáo sư lại viết một tổng hợp, nhận xét và kiến nghị, đề xuất giải pháp cho tình hình kinh tế - tài chính Việt nam. Tháng 10 vừa qua, họ đã đưa tận tay ông Dũng bài nghiên cứu- góp ý lần thứ 3.
Nhóm thầy của Harvard gồm 5 giáo sư thuộc "Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright" nằm trong tổ chức Harvard - Kennedy School :
D.Dapice, J.Pineus, B.Wilkinson, Nguyễn Xuân Thành và Vũ Thành Tự Anh, - cực giỏi. Cũng phải trả khối tiền. Tiền nào của nấy.

Điều đáng nói về câu chuyện này là theo tin từ Đại học Harvard, các thày
nói trên hiện rất băn khoan, xen lẫn với buồn nản, và cả bực mình.
5 giáo sư rất tận tình nghiên cứu, thời gian nằm tại chỗ không ít, đã làm 3 bản báo cáo, đánh giá, kiến nghị cực kỳ công phu, nhưng xem ra học sinh có vấn đề; các giáo sư đều hiểu rõ là trò của mình học hành yếu kém, không cơ bản, không có hệ thống, lại chậm hiểu và lười. Thật ra học trò còn tệ hơn thế. Đã thất học, còn không muốn học nữa.
Học trò đây không phải là chỉ một mình ông thủ tướng Dũng, mà tất cả các phó thủ tướng, bộ trưởng, cả 14 uỷ viên bộ chính trị đều được cung cấp mỗi người 1 bản báo cáo, để cùng học, nhưng có vẻ như 3 bản báo cáo dày cộp đều nằm im trong ngăn kéo.
Khá đông trí thức, chuyên gia Việt nam trong và ngoài nước tìm đọc và quí trọng những bản tài liệu trên đây. Nhiều bạn đánh giá cao tầm nghiên cứu, nhận xét thẳng và sâu, nhất là những kiến nghị trúng phắp của các tác giả. Nhiều thực tế cực kỳ hệ trọng trong đó không hề được các phiên họp quốc hội hay trung ương đảng CS đề cập, bàn đến.
Thí dụ trong bản nghiên cứu thứ 3 có những nhận định :" những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết. "; " các giải pháp mới chỉ cứu chữa triệu chứng chứ chưa phải là nguyên nhân của căn bệnh "; "triển vọng tăng trưởng phụ thuộc vào quyết tâm chính trị của các nhà lãnh đạo để giải quyết những thách thức này ".
Vẫn nhắc lại ý của 2 bản nghiên cứu trước, bản này phàn nàn về sự khan hiếm thông tin tin cậy, nhất là về tài chính và kế toán, và đặt ra câu hỏi: họ đang cố gắng che dấu điều gì ? !
Báo cáo chỉ rõ:" thật đáng lo khi Việt nam bị xếp thứ 49 trên 52 nước châu Á về nền tài chính công khai minh bạch, thứ 50 trên 52 nước về kế toán, kiểm toán". Sau nhiều lần được đề nghị, Việt nam nay vẫn chưa thành lập Uỷ ban Giám sát Tài chính để kiểm tra, thẩm sát, điều chỉnh mọi chi tiêu, kiểm chứng, công bố các số liệu về thu, chi của quốc gia.
Bản báo cáo không ngần ngại chỉ ra những báo cáo đầy hoang tưởng và dối trá của bộ trưởng kế hoạch - đầu tư, khi phô trương những con số khổng lồ về vốn FDI (gần 60 tỷ đôla !) trong khi đó chỉ là những ý định, dự định, hứa hẹn còn vu vơ, với những dự án thổi phồng quá đáng. 5 tác giả hoài nghi về "dự án của một nhà đầu tư Malaixia định rót một núi tiền lớn hơn ngân sách giáo dục hàng năm của cả Việtnam chỉ cho một khu đại học", hay về dự án của Brunây xây dựng một khu dân cư ở tỉnh nhỏ Phú yên lên đến 4 tỷ đôla ! Bản báo cáo phơi bày:" Các nhà đầu tư được khuyến khích phóng đại các số tiền đầu tư nhằm gây ấn tượng với chính quyền địa phương, giúp đẩy nhanh tiến độ cấp phép và tiếp cận khu đất tốt và rộng nhất ". Phóng đại con số 60 tỷ, mà giài ngân được có 10 tỷ !
Một ý kiến được nêu lên từ nửa năm trước là cục bướu những Tập đoàn Quốc doanh kiểu Chaebol Hàn quốc, như PetroVietnam, EVN, Vinashin, FPT, Vinatex, Vinacomin đang bung ra đầu cơ ngành Ngân hàng, bất động sản, xuất khẩu...chỉ tạo ra rối loạn và rủi ro cho nhà nước.
Bản báo cáo nhắc lại kiến nghị ưu tiên phát triển rộng khắp các cơ sở kinh doanh cá nhân vừa và nhỏ, khẩn cấp lập Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia để thu thập, xử lý và phân tích thông tin về hệ thống tài chính, hiện là khu vực mù mờ, bị che dấu, thiếu công khai và minh bạch và tai hại nhất. Việc tái cấu trúc Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cũng đã trở nên cấp bách, không thể để chậm trễ thêm nữa.
Cuộc họp quốc hội đang bàn về tài chính, cắt giảm chi của các tập đoàn kinh tế, nhưng có ai biết ngân sách cắt ngầm cho bộ chính trị là mấy trăm nghìn tỷ đồng ? do Ban tài chính quản trị trung ương đảng nắm, quản lý vô vàn nhà khách, nhà nghỉ, công ty thương nghiệp, quản lý nhà đất, kinh doanh tài chính ngân hàng, chứng khoán, xuất nhập khẩu riêng của đảng? Có ông nghị nào dám hỏi không ? Đó là một nhà nước trong nhà nước, một ngân sách khổng lồ trong ngân sách quốc gia, không ai được nói đến, hỏi đến, đụng đến.

Cho đến nay, những kiến nghị công khai hoá và giám sát nghiêm nền tài chính quốc gia của các giáo sư Havard vẫn bị học trò cố tình quên mất. Vậy thì thuê thầy làm gì ? Vẫn chỉ tiền mất tật mang.
Quốc hội vừa rồi thông qua một số luật, chất vấn một số bộ trưởng 5 điều 3 chuyện, rồi bế mạc; việc cải cách cơ cấu cấp bách, nhất là cải cách tận gốc cơ cấu chính trị quốc gia - được coi là then chốt, vẫn chỉ nằm ở ý định ... trong tương lai.

Bùi Tín - Paris 11-11-2008.




Thư gửi bạn bên nhà: (số 3)

Ông Lê Công Phụng lưỡi hơi bị cứng

Ông Lê Công Phụng từng là trưởng ban đàm phán về biên giới của Việt nam những năm 1996 đến 2.000; ông cũng từng là trưởng ban biên giới , là thứ trưởng ngoại giao, nay là đại sứ Việt nam tại Hoa kỳ.
Tháng 10 vừa qua ông đã trả lời phỏng vấn của nhà báo Lý Kiến Trúc, tạp chí Văn hoá ở Nam Cali (Hoa kỳ), nói về 2 Hiệp định Việt - Trung về biên giới : Hiệp định 30-12-1999 (trên bộ) và Hiệp định 25-12-2.000 (về Vịnh Bắc bộ). Mục đích của ông Phụng là thanh minh rằng 2 hiệp định ấy rất công bằng, bình đẳng, hợp lẽ, hợp luật quốc tế, phía Việt nam không hớ, không bị ép, không thua thiệt gì cả .
Là người theo dõi tình hình, tôi đã gửi đến ông Lý Kiến Trúc và ông Lê Công Phụng 7 câu hỏi, để yêu cầu ông Phụng trả lời, - trả lời riêng hay chung thì tuỳ ông - , nhằm soi sáng công luận trong và ngoài nước về một vấn đề cực kỳ hệ trọng của đất nước.
Ngay sau đó, nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn ở Marseille (Pháp), tác giả cuốn sách "Biên giới Việt - Trung, 1885 - 2000 " - 856 trang, đã lên tiếng chứng minh rằng ông Phụng đã nói không đúng sự thật, nghĩa là sai, nói dối, đặc biệt về các khu vực Ải Nam Quan, thác Bản Dốc, vùng Bằng Tường, Quảng Ninh, Hà Giang và Vịnh Bác bộ...
Ông Phụng im thin thít, cho đến nay. Ông có thể trả lời riêng, hoặc gửi báo Văn hoá của ông Lý Kiến Trúc, hoặc qua một tờ báo ở trong nước, hoặc qua mạng thông tin internet của Bô ngoại giao.
Tôi không hỏi ông Phụng về một địa danh cụ thể nào. Tôi chỉ hỏi ông về một số nét không bình thường, khác lạ và yêu cầu ông giải thích sao cho hợp lý, trôi chảy.
Đây không phải những vướng mắc riêng, mà là của khá đông bạn bè tôi. Xin nhắc lại vài câu hỏi để bà con ta cùng biết.
* Trước hết, tại sao từ khi đàm phán (năm 1992) đến khi kết thúc (năm 2000), không thông báo cho nhân dân, cho dư luận biết về quá trình đàm phán diễn ra, như hồi đàm phán Việt - Mỹ (1968 - 1973) : công khai hoá mỗi buổi họp, ai tham gia, đề tài tranh cãi, thông báo về từng phiên họp, từng buổi tiến triển ra sao ...; tại sao cũng không báo cáo cho Quốc hội, hay cho Ban thường trực quốc hội ? Sau khi ký đến 6 tháng mới báo cáo cho quốc hội (ngày 9-6-2000), mà báo cáo quá sơ sài, không có thảo luận, chất vấn gì cả, đối với một vấn đề hệ trọng đến vậy? Ông suy nghĩ ra sao về tình hình như thế? Nó không bình thường ở chỗ không công khai, như có nhiều điều khuất tất, cần che dấu nhân dân, không tận dụng sức ép của công luận, của dư luận của thế giới .
* Tại sao 2 hiệp định đều ký vào những ngày cuối cùng của năm (30/12 và 25/12) , và cứ vào mỗi giữa năm phía Trung quốc đều nhắc rằng " lãnh đạo cao nhất của 2 đảng đã thoả thuận sẽ ký xong trước khi năm nay kết thúc ". Đó là sức ép ghê gớm. Họ ép tổng bí thư phía Việt nam phải hứa, lấy đó ép đoàn đàm phán. Có ai đi đàm phán lại bị động, để đối phương ép thời hạn buộc phải thoả thuận có lợi cho họ như thế !
* Vì sao các tập bản đồ chi tiết tỷ lệ 1/25.000 được ghi nhận là "bộ phận cấu thành của hiệp định" lại không được công bố, bị dấu kỹ đến nay ? Viện lý do bản đồ lớn quá, in không hết được, là không ổn, vì có thể phổ biến trên mạng internet, tỷ lệ mấy cũng đủ.
Cuối năm nay, 2 bên sẽ đặt xong hơn 2 ngàn cột mốc dọc 1400 km biên giới, sẽ ký Hiệp định thư kết thúc việc cắm mốc, kèm theo bản đồ chi tiết tỷ lệ 1/5.000, phía Việt nam có ý định công bố cho nhân dân biết tập bản đồ biên giới cực kỳ chi tiết này hay không ?
* Về phân chia Vịnh Bắc bộ, ông Phụng có biết khi tranh cãi chủ quyền của một vịnh, đã có những tiêu chuẩn và kinh nghiệm là : - số dân mỗi bên sinh sống nhờ vào vịnh là bao nhiêu ? ( số dân Việt nam ở đông Bắc bộ và bắc Trung bộ là 24 triệu, số dân ở phía Tây đảo Hải Nam và bán đảo Lôi châu chỉ có 8 triệu, nghĩa là 3/1); - chiều dài đường cơ sở ven bờ biển và ven các đảo (Việt nam có hàng ngàn đảo, Trung quốc chỉ có 4 đảo , đường cơ sở phía Việt nam gấp hàng trăm lần phía Trung quốc ); - số sông mỗi bên với tổng lưu lượng nước chảy hàng năm cùng tổng số phù sa đóng góp vào hình thành Vịnh của mỗi bên : phía Việt nam có hơn 20 con sông lớn nhỏ, các sông Hồng, Lô, Đà, Thương, Đáy, Mã, Chu, Lam, Gianh... trong khi Trung quốc chỉ có 2 con sông nhỏ, về lượng nước và phù sa, phía ta gấp hàng chục lần Trung quốc. Ta có đòi 3/4 diện tích Vịnh Bắc bộ cũng là thoả đáng.

Trong khi chờ lưỡi ông Phụng khỏi cứng, xin kể chuyến đi thăm thác Bản Dốc do Sứ quán Tàu ở Hànội tổ chức, mời phóng viên các báo, quan chức vụ báo chí bộ thông tin truyền thông và bộ ngoại giao Hànội, được nhà báo Điếu Cày và cô phóng viên Nụ kể lại rất sinh động.
Đoàn xe sang trọng, từ Hànội, qua Bằng tường đi sâu sang đất Quảng Tây rồi quay lại phía Nam, ghé thăm đệ nhất Hùng Quan ở Phương Nam, một thắng cảnh giá trị và ăn khách du lịch bậc nhất ở phía Nam, với khách sạn 3 tầng, nhà nghỉ hiện đại mái đỏ như son, bãi xe rộng lớn. Các phóng viên Việt nam sững sờ, ngỡ ngàng, khám phá ra chuyện lạ: đây chính là khu Bản Dốc của Việt nam ta đã bị lấn chiếm và chính thức hoá bằng Hiệp định 25-12-2000. Các bạn cay đắng nói với nhau :
"Ôi! thì ra mình được họ rước về thăm ngôi nhà của...chính mình!". Không biết nên cười hay khóc ! Các quan chức bộ thông tin vẫn hý hửng một cách lỳ lợm, còn lườm nguýt bộ hạ : " Cấm nói với nhau bằng tiếng Việt, các đồng chí bạn giỏi tiếng Việt lắm đấy, nghe không !".
Xin hỏi ông Phụng : ông nghĩ gì về sự kiện chủ nhà được mời về thăm ngôi nhà của chính mình ? Và ông biết chăng, nhà báo Điếu Cày đang nằm trong tù một phần do dám khóc trước sự kiện kỳ quặc này đấy.

Bùi Tín . Paris 14-11-2008.
Thư gửi bạn bên nhà: (số 4 )

Khi ông Nguyễn Tấn Dũng
nói ngược với ông Nguyễn Văn Linh

Ông Nguyễn Văn Linh khi mới nhận chức tổng bí thư năm 1986 đã tỏ ra
khá cởi mở. Được ông Trần Độ góp ý, ông Linh rất gần, còn tỏ ra quý trọng các văn nghệ sỹ, các nhà báo.
Những câu nói của ông Linh, đến nay nhiều người còn nhớ. Trong 2 ngày gặp văn nghệ sỹ và nhà báo, ông nghe nhiều hơn nói. Sau khi lắng nghe 9 tiếng đồng hồ, ông phát biểu có 20 phút. Ông nói đại ý :
- anh chị em phải tự mình dành quyền tự do nghĩ và tự do viết;
- hãy tự mình cởi trói cho mình;
- nếu không đứng dậy tự cứu thì không ai cứu mình đâu;
- anh chị em chớ bao giờ bẻ cong ngòi bút; không ai có thể ngăn cấm mình viết lên sự thật;
- người lãnh đạo giỏi chính là người biết phát huy hết khả năng tự do sáng tạo của anh chị em ...
Trong cơn hăng hái, ông viết liền gần 80 bài báo N.V.L.:" Nói Và Làm"
(Nguyễn Văn Linh) góp ý về những khuyết điểm, thiếu sót trong bộ máy nhà nước và lãnh đạo.
Đáng tiếc là ông Nguyễn Văn Linh bỏ cuộc hơi bị sớm. Ông giật mình khi thấy các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bị nhào, tường Berlin đổ, ông mở cửa đã bị trúng gió, liền đóng sập cửa xuống đài xin giữ vai cố vấn.
Những lời khuyên chí tình của ông đã góp phần mở ra thời kỳ khởi sắc của văn nghệ và báo chí, với những tác phẩm, bài viết của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Huy Quang, Nguyễn Duy, Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Kim Hạnh, Trần Đình Bá, Thái Duy ...

Vậy mà gần đây, ông Nguyễn Tấn Dũng lại nói ngược lại.
Ông Dũng ra lệnh đảng cho phép nói điều gì, viết ra sao thì báo mới được nói và viết. Ban biên tập và nhà báo không được tự do nữa.
Ông Dũng ra lệnh: đảng bảo ai đúng ai sai thì báo chí phải viết đúng như thế, dù đó là sai sự thật. Như trong vụ PMU 18, đảng bảo ông Nguyễn Việt Tiến không tham nhũng, rằng Bùi Tiến Dũng không chạy án thì báo cứ phải viết theo như thế. Như vậy ông Dũng bắt nhà báo bẻ cong ngòi bút .
Ông Dũng ra lệnh dù cho báo Nhật và báo Mỹ nêu lên vụ Pacific Consultant Institute PCI và Công ty Nexon hối lộ các quan chức Việt nam hàng triệu đôla, không báo nào được nói đến 2 vụ này, dù chỉ một tin nhỏ, chưa nói đến việc cử phóng viên đi điều tra, lấy tài liệu, viết bài, phối hợp với ngành điều tra và tổ chức xã hội khác, như ở mọi nước khác. Có phải như vậy là trói tay nhà báo không ?
Tại sao ông Dũng lại khinh ghét nhà báo đến vậy ? Ông còn tuyên bố :" Tôi nghiêm cấm tư nhân làm báo ". Ai cũng biết về bản chất mỗi bài báo là một sản phẩm tư nhân. Mỗi bài báo lớn nhỏ đều có ký tên người viết. Không có 2 bài báo viết hệt như nhau. Không có 2 tờ báo giống nhau. Mỗi bài báo mang dấu ấn riêng của cá nhân nhà báo, trình độ, sở trường, lập luận, xét đoán, trách nhiệm, tay nghề, cống hiến của tác giả. Cái hay, lý thú, bổ ích của mỗi bài báo là ở đó.
Ông Dũng cấm tư nhân làm báo, biến hơn 10 ngàn nhà báo viết, báo nói, báo ảnh thành viên chức nhà nước hết để họ viết theo lệnh của đảng và chính quyền, công chức hoá triệt để ngành báo, thế là ông thủ tướng đã thủ tiêu bản chất tự do của báo chí, thủ tiêu tính chất thông tin nhanh nhậy, chất sinh động, hấp dẫn, từ đó bóp chết tác dụng xã hội cao quý của báo chí.
Ông thủ tứơng có nghĩ rằng làm như vậy là ông đã tự mình thủ tiêu một công cụ đắc lực giúp cho việc cầm quyền của chính ông trong việc chống tham ô lãng phí, phổ biến luật pháp, xây dựng nếp sống văn minh ? tự ông đã lấy đá nện ngay xuống bàn chân mình !
Điều rất lạ là cả 14 uỷ viên bộ chính trị và cả chính phủ không ai can ngăn ông thủ tướng về một quyết định hệ trọng nhưng tối tăm và dại dột này. Chính cái quyết định kỳ khôi này làm cho thế giới xếp Việt nam vào hàng thứ 169 trên 173 nước về tự do báo chí, chỉ hơn có Congo, Cameroun, Cuba, Miến điện. Thật đẹp mặt giữa thời mở cửa.
Một lý do có thể là vì lớp bộ chính trị hiện nay là giàu nhất về đôla, nhà cửa, nhưng lại kém nhất về học vấn và nhân cách. Có thể nói cả 14 vị BCT không ai tự viết được một bài báo. Cho nên họ không hiểu gì về báo chí, khinh ghét, dị ứng đến thế với nghề báo chí.
Là nhà báo tự do, tôi xót xa với hoàn cảnh hiện tại của đồng nghiệp trong nước, vô số là bạn cũ, một số vẫn là bạn thân, lại có hơn 80 đồng nghiệp trẻ vốn là "học viên " của tôi trong 2 lớp báo chí những năm 1984-88. Tôi mến phục nhà báo Trần Đình Bá trong tố cáo vụ nhà cửa bê tha của Tô Duy, tính cương trực của nhà báo Nguyễn trần Thiết trong vạch mặt cơ hội của tên Đặng Đình Loan, bản lĩnh trung thực của nhà báo Kim Hạnh, lòng dạ ngay thật của nhà báo già dặn Thái Duy...Họ đều bị các quan chức lườm nguýt, doạ dẫm.
Vụ đày đoạ nhà báo không đảng viên Nguyễn Việt Chiến 24 tháng tù giam làm cốc nước căm hờn cường quyền của cả làng báo trong nước tràn miệng.
Thật quá thể! Thật quá đáng! Thật không thể tưởng tượng nổi! Các bạn trong nước đang góp lòng góp sức an ủi, chữa bệnh cho anh Chiến đang nằm trong tù, giúp chị Chiến và cháu, trong khi Hội nhà báo bỏ rơi anh trong cơn hoạn nạn. Các bạn quyết đứng vững, không thể bẻ cong ngòi bút. Hơn bao giờ hết các bạn càng yêu quý nghề báo, rủ nhau trụ vững, không đi tìm nghề khác, vì các bạn hiểu rằng không có nghề nào thú vị, đáng mê say, thật sự cao quý và tự do bằng nghề làm báo. Nhiều bạn tạm chuyển sang làm blogger.

Bùi Tín . Paris 15-11-2008.




Thư gửi bạn bên nhà: (số 4)

Vụ CPI - tích cực hợp tác, quyết tâm
chống tham ô như thế ư ? !

Vụ CPI nổ ra đã hơn 3 tháng, gần 100 ngày.
Cuối tháng 7, báo chí Nhật đưa tin một vụ án mở ra ở Tokyo liên quan đến tổ chức PCI - Pacific Consultant Institut - Công ty tư vấn Pacific, đưa hối lộ lớn cho một số quan chức Việt nam để được nhận thầu những dự án cầu đường béo bở từ tiền viện trợ của chính phủ Nhật.
Phía Nhật khẩn trương phá án. 4 viên chức cấp cao của PCI bị bắt giữ, bị hỏi cung, cả một kho tài liệu bị niêm phong, nghiên cứu. Công tác điều tra, xét hỏi được tiến hành. Việc xử án đã bắt đầu ngày 11-11 này; 4 bị cáo sơ bộ thú nhận số tiền đưa hối lộ cho phía Việt nam là từ 80O.000 US$ đến 2 triệu,5 US$. Họ còn khai tên quan chức Việt nam đã nhiều lần nhận những số tiền lớn, tiền tươi hẳn hoi.
Phía Nhật báo tin chính thức cho Chính phủ Việt nam, còn cử phái viên sang Hànội trình bày sự việc. Phía Việt nam lúc đầu lờ tịt sự việc, còn qua người phát ngôn của Bộ ngoại giao Lê Dũng phàn nàn rằng những gì phía Nhật nói tỏ ra không có cơ sở (!), yêu cầu phía Nhật thận trọng không đưa ra gì thêm (!). Phóng viên báo Nhật hỏi thẳng bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm ông đã nhận được công văn của phía Nhật về chuyện này chưa, ông bộ trưởng ấp úng rồi trả lời :" chưa nhận được gì cả ", sau đó bị nhà báo này giận dữ đáp: " không thể thế được; tôi biết công văn đã gửi vài ngày, họ đã nhận được; bộ trưởng mà nói dối, không xứng đáng là bộ trưởng ".
Sau đó 2 tuần phía Việt nam mới thú nhận đã được thông báo, đã gặp phái viên Nhật, và hứa hẹn sẽ hợp tác với phía Nhật.
Nhưng phía Việt nam có vẻ đủng đỉnh, "tích cực điều tra" và "hợp tác một cách chặt chẽ với phía Nhật " chỉ trên đầu lưỡi.
Cho đến phiên họp quốc hội tháng 11 này, khi bị chất vấn, ông thủ tướng cũng như bộ trưởng công an, tổng thanh tra chính phủ đều không đưa một chi tiết nào dù nhỏ nhất của vụ án lớn, ngoài một lời hứa hão của ông Dũng : "sẽ hợp tác với phía Nhật và sẽ cùng giải quyết vụ này với quyết tâm chính trị chống tham nhũng cao (!)".
Đến tên viên chức Việt nam bị phía Nhật nêu ra là Huỳnh Ngọc Sỹ cũng bị coi là tên huý, không ai được nhắc đến. Báo chí buộc phải câm.
Người dân bình thường cũng như người am hiểu về luật pháp đặt ra nhiều câu hỏi :
- sao phía Việt nam lại vào cuộc kiểu rùa bò như thế ? Vụ án lớn này xảy ra trên đất Việt nam, liên quan đến những dự án cầu đường lớn trị giá hàng chục tỷ US$, liên quan đến cả một bộ sậu quan chức các ngành giao thông, xây dựng, kế hoạch đầu tư, hành chính, đảng uỷ, sao phía Việt nam không mở ngay cuộc điều tra rộng khắp từ cuối
tháng 7? sao qua 100 ngày rối mà phía Việt nam vẫn bất động, vẫn im như thóc !
Sao lại trì hoãn, đủng đỉnh, cứ như chờ phía Nhật tiến hành điều tra đến đâu, phía Nhật nắm được đến đâu thì phía ta sẽ miễn cưỡng nhận đến đấy ?
Làm sao phía Nhật bản và các nhà đầu tư quốc tế không hoài nghi, bực tức và nản lòng ? Tiền bạc của dân nước họ không thể bị xà xẻo rồi "khoanh lại", ỉm đi một cách trâng tráo như vậy.
Uy tín quốc gia đang bị tổn hại từng ngày. Luật chống tham nhũng, Uỷ ban chống tham nhũng làm gì ?

Quyết tâm chính trị chống tham nhũng của bộ chính trị , của ông thủ tướng như thế thật là đáng sợ. Chả trách vụ PMU18 bị khui ra từ Tết 2006, gần 3 năm rồi mà vẫn chưa xử, vẫn còn lây bây dang dở, chưa biết còn kéo đến bao giờ.
Trong vụ án PCI này, nếu phía Việt nam chây ỳ lỳ lợm thì phía Nhật sẽ bế tắc, không thể xử xong xuôi, vì tội phạm chính là người Việt nam, những kẻ ăn bẩn ắt đều là quan chức quyền cao chức trọng Việt nam, số tiền lớn có thể chia chác cho nhiều quan chức lớn nhỏ. nếu phía Việt nam không sắn tay vào cuộc thật sự thì vụ án sẽ ách tắc kéo dài.
Có nhiều lý do để người dân lương thiện than rằng đất nước ta ra đường là có thể gặp nhan nhản những địa tặc, tiền tặc, lâm tặc, gia tặc (cướp nhà), nhật tặc(cướp ngày), dạ tặc (cướp đêm), nay là ODA tặc, FDI tặc. Ăn xong rồi họ chùi mép, lộ thì bênh che nhau.
Những Bao công cần cấp bách cho đất nước, các ngài đang ở đâu ?
Thời đổi mới "ảo" và "hờ" , ý nghĩa của chữ nghĩa trên đất Việt cũng thay đổi một cách huyền ảo. "Tích cực hợp tác" với phía bạn là như rùa bò; "quyết tâm chính trị chống tham nhũng" là như ngủ gật, vật vờ.
Quốc hội khoá sau chưa chắc đã biết kết thúc của vụ PCI. Còn vụ Nexon với Mỹ nữa, cũng như vụ án xa xưa PMU18 nữa !
Đến Tết Congo, như dân vỉa hè thường nói !

Bùi Tín . Paris , 15-11-2008.




Thư gửi bạn bên nhà: (số 6)

Diễn văn thắng cử,
áng văn chương mang dấu Obama

Một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ trong 4 năm có không biết bao nhiêu bài diễn văn, trong đó những bài quan trọng nhất là :
- Diễn văn chấp nhận việc đảng của mình đề cử làm ứng cử viên tổng thống đọc trước Đại hội đảng họp vào đầu năm bầu cử, thường gọi tắt là Diễn văn chấp nhận đề cử;
- tiếp đó là Diễn văn thắng cử thường được đọc ngay đêm bầu cử, sau khi kết quả được chính thức công bố, khi thắng lợi đã rõ ràng, dứt khoát, không có nghi ngờ và khiếu kiện gì nữa, được đọc trước một cuộc họp quần chúng đông đảo, là những ủng hộ viên của mình;
- sau đó là Diễn văn khai mạc nhiệm kỳ được đọc vào trưa ngày 20 tháng giêng năm sau trước toàn thể Quốc hội gồm Thượng Viện và Viện Dân biểu cùng bộ máy nhà nước ở Trung ương, được tổ chức ở ngoài trời trên khán đài lớn dựng trên thềm trước của trụ sở Quốc hội trên Đồi Capitol, ngay sau khi Tổng thống mới tuyên thệ nhận chức, tay đặt trên cuốn Kinh Thánh; sau đó là cuộc duyệt binh của Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang; buổi lễ khai mạc nhiệm kỳ kết thúc bằng cuộc đi bộ lớn dọc theo Đại lộ Pensylvania, đưa Tổng thống mới từ Đồi Capitol đến Nhà Trắng, nơi ở và làm việc của Tổng thống . Những năm sau, vào ngày 20 tháng giêng, Tổng thống lại đọc báo cáo trước 2 Viện và Chính phủ, gọi là Bản báo cáo hàng năm về Tình hình liên bang.
Các bài diễn văn nói trên, mỗi loại, mỗi bài đều có tầm quan trọng riêng, tuỳ theo tình hình và hoàn cảnh lịch sử. Theo kinh nghiệm của 44 đời tổng thống Mỹ kéo dài hơn 200 năm, các nhà bình luận chính trị, thời sự, văn học, lịch sử ... cho rằng các bài Diễn văn Thắng cử thường được quan tâm đánh giá, phân tích, bình luận nhiều nhất.
Trước hết vì Diễn văn Thắng cử thường là được thảo ra trong một thời gian kỷ lục rất ngắn, chỉ trong vài tiếng đồng hồ để hòan thành, đưa ra đọc tức thì, còn nóng hổi.
Vì cuộc bỏ phiếu diễn ra phần lớn trong có 1 ngày chính thức, trong khắp 50 bang và thủ đô Washington; sáng sớm hôm bỏ phiếu, không có vị ứng cử viên tổng thống nào có thể tự coi mình là nhất định trúng cử để viết sẵn bài Diễn văn Thắng cử. Dù cho có chuẩn bị kỹ càng đến đâu thì người viết vẫn chỉ là đóng kịch, đóng vai giả làm như đã trúng cử, như mình đã là tổng thống, trong khi cuộc bỏ phiếu chưa diễn ra xong xuôi và kết quả chưa được công bố. Người viết trước về mặt tâm lý không thể có sự xúc động chân thực, không thể có sự hứng khởi chân thực để nảy ra những ý tưởng chân thực.
Thêm nữa, một số cuộc tranh cử còn mang kịch tính cao; trong quá trình kiểm phiếu các nơi, gom dần lại, một ứng cử viên có khi hồi hộp, hy vọng và thất vọng, thành và bại , nổi lên và chìm xuống nối tiếp nhau, do đó khả năng sẽ đọc diễn văn thắng cử hay sẽ không đọc cũng thay thế nhau, cho đến khi ngả ngũ rõ rệt. Khi ngả ngũ rõ rệt là ứng cử viên thắng cử chỉ còn nghĩ đến bài diễn văn thắng cử, tập trung tất cả tinh lực vào đó.
Tuỳ theo phong cách của từng người; trong thời gian cực kỳ gấp gáp, có người vốn có trình độ và năng khiếu " văn hay chữ tốt ", tự tin, tự mình thảo lấy diễn văn.
Cũng có người phải dùng đến 1 hay vài chuyên viên làm công việc thảo diễn văn cho mình, đó là những "speech writer" chuyên nghiệp, những thợ viết, chấp bút nhanh, hay, đẹp, tất nhiên là theo gợi ý và chỉ đạo của tổng thống vừa thắng cử.
Đêm 4-11 vừa qua, theo nhiều nhà bình luận Mỹ, tổng thống trúng cử Obama đã tự mình thảo lấy bài Diễn văn Thắng cử của mình. Ông chỉ có chừng 2 đến 3 tiếng để làm công việc nặng nề gấp rút này. Vài ngày sau các nhà báo Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Nhật... đều có bình luận, nhận xét thuận lợi, khen và đánh giá cao bài diễn văn gần như là ứng khẩu, mang tính chất hùng biện và sinh động này. Các báo Mỹ và Pháp cho rằng Obama tỏ rõ tài hùng biện khá là đặc biệt ngay từ khi bắt đầu tranh cử. Obama có cách nói lưu loát, dễ hiểu, lập luận chặt chẽ, lại hay dùng hình ảnh và so sánh, đưa ra dẫn chứng thực tế có sức thuyết phục; ông lại có duyên ở chỗ biết nói hóm hỉnh, gây cười một cách thâm thuý. Như khi ông McCain cố tình chụp cho ông là muốn xây dựng "chủ nghĩa xã hội" ( ngụ ý là đáng sợ như ở Liên xô, Trung quốc hay Việt nam ...), Obama mỉm cười đáp lại rằng : sao không nói luôn là tôi có ý định xây dựng "chủ nghĩa cộng sản" ngay từ khi còn ở vườn trẻ, vì lúc ấy tôi coi bánh kẹo, đồ chơi là của sở hữu chung hết !
Bài diễn văn thắng cử đêm 4-11 của Obama chỉ có 3 trang giấy. Mở đầu ông nói ngay rằng những ai hoài nghi về khả năng phát triển của nền dân chủ Mỹ, để biến mọi ước mơ thành hiện thực, thì hôm nay đã có câu trả lời. Ông nhắc đến cảnh toàn dân nô nức, sắp hàng chờ đợi 3, 4 tiếng để cùng nhau mang lại Thay đổi, Hy vọng cho Hợp chúng quốc Hoa kỳ. Ngay sau đó ông nhắc đến, cám ơn từng người : cặp tranh cử McCain - Palin, bạn liên danh Biden, bà vợ Michelle, 2 con gái nhỏ, ông nhắc đến bà ngoại vừa mới ra đi, bố mẹ, các anh chị em, rồi những chuyên gia, cố vấn trong ban tham mưu tranh cử.
Ông nhắc lại bước khởi đầu tranh cử rất khiêm tốn, rất ít tiền bạc, ít nhân vật danh tiếng ủng hộ; để rồi đông đảo cử tri góp những món tiền riêng nhỏ mọn, từ hàng triệu người Mỹ tự nguyện tập họp, tổ chức lại trong cuộc vận động của dân, do dân và vì dân.
Về nhiệm vụ trước mắt, Obama đưa hình ảnh rất ấn tượng :" ngọn núi ta trèo rất dốc ", để
rồi khẳng định : " Tôi hứa với Tổ quốc : cả dân tộc sẽ đến đích ". Bằng cách : Tái thiết từng ngôi nhà, từ từng viên gạch, bằng từng bàn tay nối nhau, nhằm dựng lại nước Mỹ.
Obama khẳng định vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ. Ông nghiêm khắc cảnh cáo : chúng ta sẽ đánh bại những kẻ muốn phá huỷ thế giới. Ông nhấn mạnh lý tưởng dân chủ, tự do, cơ hội và niềm hy vọng là ngọn Hải đăng của Hoa kỳ.
Để truyền đến mọi người niềm tin vững, Obama tả hình ảnh của bà cụ 106 tuổi Ann Nixon Cooper ông gặp khi bà xếp hàng chờ bỏ phiếu. Cả cuộc đời bà nói biết bao điều. Bà ra đời khi ô tô và máy bay chưa có, khi chế độ nô lệ còn khắp, lớn lên bà không được bầu vì là đàn bà, lại da đen. Thế rồi bà được hưởng tất cả những điều ấy. Bà chứng kiến bi kịch Trân Châu cảng bị bom, nền độc tài quốc tế Đức - Ý - Nhật, để thấy chúng bị loại, nền dân chủ được bảo vệ. Bà chứng kiến Con Người lên Mặt Trăng, bức tường Berlin sập, và hôm nay bà bỏ phiếu bằng đưa ngón tay chạm lên màn hình máy bầu cử hiện đại. Một đời người, biết bao thử thách ghê gớm, cũng biết bao thay đổi, tiến bộ, thành công.
Từ hình ảnh sinh động cuộc đời bà Ann Cooper, Obama kết luận: thách thức, cơ hội trước mắt, thời điểm này là của chúng ta, chúng ta hy vọng và vững tin thực hiện Giấc Mơ Mỹ để phục hồi sự Thịnh vượng và gìn giữ Hoà bình. Thành công đang ở phía trước.
Được biết tối 4-11, trước khi đọc bài Diễn văn thắng cử này, Obama gọi điện cho bà cụ Ann xin phép được nói về cụ trong diễn văn sắp đọc.

Mời các bạn tìm đọc toàn bài; các bạn biết tiếng Anh ở bên nhà nên tìm đọc nguyên bản ( có thể bấm Google - Obama , Victory Speech ).
Đúng như Giải Nobel Văn học Toni Morrison nhận xét : "Obama là con người nhân hậu, dấn thân cho đất nước, nhưng vẻ đẹp nhất ở ông là ở chỗ ông là một nhà thơ, một nhà văn, là con người của chữ nghĩa, làm vẻ vang cho ngòi bút ".
Một nhà báo Nhật còn cho biết Obama am hiểu khá sâu văn hoá châu Á và châu Phi.
Diễn văn thắng cử của Tổng thống Obama là một áng văn chương đẹp.

Bùi Tín . Paris 16-11-2008.
 
Đăng nhận xét



<< Home

This page is powered by Blogger. Isn't yours?