23/11/08
Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh ...
Chương V: Những bước thăng trầm của
công cuộc đổi mới và những vụ “đánh đấm”
“qui kết, chụp mũ” của cánh bảo thủ và cơ
hội chủ nghĩa.
Comments:
<< Home
Năm 1986, nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI chính thức phát động
công cuộc đổi mới đất nước. Đời sống văn nghệ chưa bao giờ vui đến thế. Lúc
nào cũng như sống trong hội hè. Đúng là không có gì sướng bằng dân chủ thật
sự, được tự do nghĩ và nói thực sự.
Trần Độ lên thay Hà Xuân Trường phụ trách Ban văn hóa Văn nghệ trung
ương. Hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh
gặp gỡ các văn nghệ sĩ ( 4 Nguyễn Cảnh Chân ). Lần đầu tiên giới văn nghệ sĩ
được nghe những lời phát biểu đầy tính kích động tự do dân chủ ở một ông tổng
bí thư Đảng Cộng Sản. Nào là “cởi trói”, “hãy tự cứu lấy mình”, “không bẻ
cong ngòi bút”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật”, “giờ không phải là
lúc bón phân cho lúa, phải nhổ cỏ cho lúa có sức mọc lên”, “hồi phụ trách bí
thư ở Sài Gòn, tôi đã làm chui nhiều việc đấy. Những anh em dưới quyền tôi sợ
quá mỗi khi có Trung ương về thăm. Tôi nói với họ: Các anh cứ làm, nếu phải đi
tù, tôi vào tù với các anh”, “hãy giải phóng cho con chim văn nghệ bay
cao”..vv…
Những lời lẽ và khẩu khí ấy khiến mọi người không còn nghi ngờ gì ở chủ
trương đổi mới thật sự của Đảng. Ông Nguyễn Văn Linh đích thị là Goócbachốp
của Việt Nam rồi – chúng tôi lúc đó đều đinh ninh như thế.
Buổi trưa, tổng bí thư ngồi cùng bàn ăn với anh em, mỗi người một bát
phở. Buổi tối lại cùng ngồi xem phim Tướng về hưu và Chuyện tử tế.
Hai ngày liền, ông Linh chỉ nói mấy câu mở đầu còn để cho anh chị em
tha hồ phát biểu tự do. Toàn phê phán lãnh đạo làm nhiều chuyện thậm vô lý.
Chẳng hạn ái Vân thuật chuyện anh chị em sân khấu khổ cực như thế nào. Cấp
phát thì cấp áo, không cấp quần, tất rách không có để thay, khi biểu diễn phải
đứng thế nào để che được phía chân đi tất rách. Trong khi người này biểu diễn
trên sân khấu thì người khác bán trà chén ở cửa rạp. Ca sĩ Xuân Thanh xưng hô
bác cháu với ông Linh, vừa nói vừa khóc: “Đi thi quốc tế, lãnh đạo không cho đi
sớm để chuẩn bị, không cho tiền để bồi dưỡng bà giáo Liên Xô tập luyện cho.
Nhưng khi được giải thì thu hết tiền.” Hoạ sĩ Nguyễn Thụ tố cáo: “Sang Liên Xô
triển lãm tranh, tranh bán được, tiền bị thu hết.” Trường hợp Nguyên Ngọc cũng
tương tự. Anh được nhận giải thưởng quốc tế á Phi (Đất nước đứng lên), tiền
thưởng cũng bị thu hết, không bớt cho lấy một xu để chiêu đãi những người đến
chúc mừng. Anh lại nói, hồi lãnh đạo Văn nghệ ở quân khu năm, cứ vài tháng
anh lại phải lên Cục chính trị lĩnh tư tưởng về cho anh em viết. Hết tư tưởng lại
đi lĩnh chuyến khác, y như lĩnh tiền hay lĩnh gạo vậy. Phạm Thị Thành thì nói về chuyện duyệt kịch. Mỗi lần duyệt, chị không quan tâm gì đến hội đồng chuyên
môn, mà chỉ chăm chú theo dõi một ông to đầu nào đấy vui chân tạt vào xem.
Ông ta gật gù là yên trí lớn, ông ta lắc đầu là hỏng bét.Tào Mạt, sau Cách mạng
tháng Tám đã là huyện uỷ viên. Nhưng anh không đi tiếp con đường chính trị
mà chuyển sang làm văn nghệ. Anh nói, nếu cứ làm chính trị, anh là người tiến
bộ, nhưng chuyển sang làm Văn nghệ thì bị coi là phức tạp. Nguyễn Khắc Viện
thì nói về những cái án Văn nghệ gọi là “xét lại” “phản động” “gây rối”, “phạm
nhân” văn nghệ sĩ phải chịu hình phạt suốt đời. Hồ Ngọc thì lên án lãnh đạo biến
văn nghệ thành thứ văn tuyên truyền phục vụ chính trị… Vui nhất là cuộc xung
đột giữa Dương Thu Hương và Nguyễn Đình Thi. Hương bảo Thi là đồ hèn, trí
thức hèn hạ, đã tự nhận là hạt bụi. Thi thì cho Hương là lưu manh, nhà văn đã
đến lúc bị lưu manh hoá. Anh nói: “Đúng, tôi hay nói hạt bụi, giọt nắng, giọt
lửa. Nhưng có hiểu gì không – anh gào to – tôi nói nhà văn là hạt bụi có tư
tưởng.” Thực ra anh đã không nhắc lại đầy đủ lời anh phát biểu ở đại hội nhà
văn lần thứ ba: “hạt bụi lấp lánh tư tưởng của các anh” (vừa nói vừa chỉ tay lên
chủ tịch đoàn). ý kiến này chẳng qua cũng là học theo câu nói của một nhà văn
Pháp: “con người là cây sậy có tư tưởng.” Tôi cũng phát biểu rất thẳng thắn và
thoải mái, đại ý rằng, “tôi đã từng được gặp một ông to, không to bằng anh Linh
đâu (ý nói Tố Hữu), tôi thấy ông ấy cứ nói liên miên, chỉ lo ban phát chân lý chứ
không nghe quần chúng nói. Nay anh Linh nói ít, để anh em nói nhiều, nội điều
đó thôi cũng là rất mới rồi. Về lãnh đạo văn nghệ, tôi cho “lãnh đạo khinh bỉ sâu
sắc văn nghệ sĩ”, và dùng lối chăn vịt, “lãnh đạo văn nghệ theo lối chăn vịt đàn.”
“con người mà bị khinh bỉ mãi thì tự nhiên cũng thấy mình nhỏ bé lại, cũng hèn
kém. Biết tôn trọng con người thì con người tự thấy mình cao lớn hơn.” Tôi lại
ví văn nghệ như con chim. “Nhốt lại nó không hót hay hót không ra gì . Thả nó
ra nó hót hay hơn, nhưng lại sợ nó bay mất…”
Còn nhiều người phát biểu nữa như mấy anh đạo diễn điện ảnh, Nguyễn
Quang Sáng, Lưu Quang Vũ, Anh Đức…, nhưng tôi không còn nhớ. Hồi đó giá
có băng ghi âm ghi lại, giờ mở ra nghe thì thật thứ vị. Nguyễn Khải, Nguyễn
Minh Châu không thấy nói gì.
Về lý luận phê bình văn học, tôi là người duy nhất được dự cuộc gặp mặt
này.
Trần Độ gọi cuộc gặp gỡ này là “Hội nghị Diên Hồng của văn nghệ.”
Sau cuộc gặp Nguyễn Văn Linh, đời sống văn học nghệ thuật còn sôi nổi
và vui hơn nữa với những cuộc tranh luận rất dân chủ trên báo Văn nghệ của
Nguyên Ngọc và những cuộc hội thảo rất thẳng thắn chuẩn bị cho nghị quyết 05
của Bộ chính trị về văn nghệ tổ chức thường xuyên ở Ban văn hóa Văn nghệ của
anh Trần Độ. Tôi nhớ anh Nguyễn Minh Châu nói, nhà văn Việt Nam cả ba thế
hệ đều hèn. Trước Cách mạng là nhà văn nô lệ; từ 1945 đến 1975 là nhà văn –
lính, rất sợ cấp trên; sau 1975 là nhà văn đói nên cũng hèn. Anh lại nói Thánh
Gióng ngày xưa đánh xong giặc thì bay lên trời. Bây giờ các ông đánh xong giặc
lẽ ra cũng phải biến đi để người khác quản lý đất nước. Như anh Độ, anh cũng
nên thôi đi thì phải. Đấy, hồi ấy cứ ăn nói thoải mái như thế nên rất vui. Cánh đổi mới thường tụ họp với nhau, vừa nhậu vừa trao đổi những suy nghĩ của
mình. Ngoài Bắc có Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Xuân Cang, Hoàng
Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Ngô Thảo, Văn Tâm, Dương Thu Hương,
Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trọng Oánh,
Nguyễn Quang Thân, Trần Quốc Vượng, Hồ Ngọc Đại..vv… Trong Nam thì có
Thu Bồn, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Quang Sáng, Trần Hữu Tá,
Lê Ngọc Trà, Phan Đắc Lập…vv… Hoàng Phủ Ngọc Tường mỗi lần vào Sài
Gòn cũng nhập vào nhóm này. Trần Mạnh Hảo một thời gian đóng vai đổi mới,
thỉnh thoảng cũng đưa vợ đến tụ tập ở chỗ Thu Bồn.
ở Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi cũng hăng hái đứng ra tổ chức
nhiều cuộc hội thảo rất vui về thời sự văn học, về đổi mới giảng dạy văn học, về
cải cách chương trình và sách giáo khoa, thu hút được khá nhiều cây bút cấp tiến
trong trường, ngoài trường như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên
Ngọc, Nguyễn Kiên, Nguyễn Trọng Oánh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn,
Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn…
Nguyễn Khải hồi này được ông Trần Độ triệu ra Hà Nội để chuẩn bị Đại
hội nhà văn lần thứ IV. Anh cùng Nguyên Ngọc hoạt động rất hăng hái, hô hào
văn nghệ sĩ nói thẳng nói thật.
Nhưng chẳng bao lâu, thế cờ bị lật ngược. Nguyên Ngọc mất chức Tổng
biên tập báo Văn nghệ. Nguyễn Khải thấy động, lặn biến vào Nam. Tố Hữu nắm
lại lá cờ Văn nghệ. Trần Độ mất chức (1989). Tố Hữu phê phán bản Đề cương
văn hoá văn nghệ của Nguyên Ngọc ở hội nghị nhà văn đảng viên. Nguyễn Đình
Thi trở lại cùng với cánh bảo thủ chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ IV.
Cánh đổi mới bị đánh dồn dập: Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên
Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy
Thiệp, Văn Tâm, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh bị tước giải thưởng. Hội
đồng chung khảo phải viết bài sám hối ( riêng Nguyên Ngọc và Lê Ngọc Trà
không chịu )
Bọn bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa nổi lên, ngày càng làm mưa làm gió.
Trong Nam có Chế Lan Viên, Bảo Định Giang, Anh Đức, Vũ Hạnh, Diệp Minh
Tuyền, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm, Hoàng Nhân, Phạm Tường Hạnh,
Trần Trọng Đăng Đàn… Ngoài Bắc có Hà Xuân Trường, Nguyễn Đình Thi,
Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Đông Hoài, Hồ Phương, Bùi Đình Thi, đám Văn
nghệ quân đội, Thành Duy, Lưu Trọng Lư, Nông Quốc Chấn, Hoàng Xuân Nhị,
Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Lưu, Vũ Quần Phương,
Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hữu Thỉnh, Hồng Diệu… Cánh này rất có thế lực vì đằng
sau có Lê Đức Thọ, Nguyễn Đức Bình, Trần Trọng Tân… Nguyễn Văn Linh giờ
lại xoay ra chửi Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện.
Vào cuối những năm 80, hai lực lượng cấp tiến và bảo thủ, cơ hội, từ chỗ
tương đương về thế và lực, chuyển dần đến chỗ cánh bảo thủ hầu như làm chủ
trận địa. Lãnh đạo về sau dùng cả đến bọn lưu manh, đầu gấu trong văn nghệ
như Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo…
Vì những lẽ đó, từ cuối những năm 80, đặc biệt là từ đầu những năm 90,tình hình văn học xuống cấp ngày càng nghiêm trọng, nhất là về lý luận, phê
bình.
Kết thúc thập kỷ 80, có một sự kiện văn học rất vui không thể không nói
đến: Đại hội nhà văn lần thứ IV. Tôi nhớ, trên giường bệnh, Nguyễn Minh Châu
có nói thế này, giá Đại hội làm luôn từ 1986, 1987, thì bọn bảo thủ chỉ có quỳ
lậy. Chuẩn bị đại hội kéo dài quá, giờ thì bọn bảo thủ lại nổi lên rồi… Tuy vậy
Đại hội nhà văn lần thứ IV tổ chức vào năm 1989 cũng vẫn rất vui, rất sôi nổi.
Đây là đại hội đầu tiên và duy nhất tính cho đến ngày hôm nay, được triệu
tập toàn thể hội viên. Đại hội thể hiện một sự phân hoá rất quyết liệt. Từ chuyện
to đến chuyện nhỏ, rất nhỏ, thậm chí lặt vặt nữa, đều nổ ra xung đột, không thể
hoà giải với nhau được. Chuyện to như vụ bãi chức Tổng biên tập báo Văn nghệ
của Nguyên Ngọc, chuyện đánh giá tình hình văn học những năm 1987,1988 là
khởi sắc hay tiêu cực do buông lỏng lãnh đạo, vụ Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu
mắc nạn ở Đà lạt, vụ Nguyễn Văn Hạnh đọc thư Trần Độ, việc bầu Tổng thư ký
Hội nhà văn trực tiếp hay gián tiếp…, chuyện nhỏ thì như việc bầu chủ tịch, thư
ký đoàn và ban kiểm phiếu, chuyện kiểm phiếu, đếm phiếu sao cho tránh được
gian lận…
Sự phân hoá diễn ra cả trong giờ nghỉ. Ngồi uống cà phê hay bia bọt với
nhau ở căng tin cũng phe nào ngồi riêng với phe ấy. Ai ngồi nhầm chỗ lập tức
bỏ đi ngay.
Hội nghị kéo dài tới 11 ngày, thỉnh thoảng lại dừng lại để họp riêng đảng
viên. Nhưng họp đảng viên cũng thế thôi. Những đại biểu thuộc phái cơ hội chủ
nghĩa lên diễn đàn thường bị la hét hay vỗ tay đuổi xuống như Mai Ngữ, Anh
Đức, Hoàng Xuân Nhị... Trần Bạch Đằng trong chủ tịch đoàn bị Dương Thu
Hương đuổi vì không phải phiên mình điều khiển cũng khệnh khạng ra giải thích
theo phái bảo thủ – theo Nguyễn Trọng Tín, đây là trường hợp không thể có đối
với ông “vua không ngai” này ở Miền Nam.
Cuộc xung đột có khi còn diễn ra ở hậu trường Đại hội bằng những lời đe
doạ dùng đến cả bạo lực. ( Có đại biểu đề nghị chủ tịch đoàn bảo vệ mình vì có
kẻ đe doạ hành hung ). Một số đại biểu thuộc cánh bảo thủ quá hoảng hốt, buổi
tối chạy đến kể lể khóc lóc, cầu cứu Lê Đức Thọ (Bác Sáu à, bác Sáu ơi, Nhà ta
nó phá tan rồi còn đâu.” Nguyễn Duy).
Sự phân hoá hai phe nói trên trong Đại hội đã được Nguyễn Duy mô tả rất
vui trong một bài vè gọi là Đại hội nhìn từ gần ( nhại lại tên bài thơ Tổ quốc
nhìn từ xa của anh). Dưới đây, trích vài đoạn:
Thủa trời đất nổi cơn Đại hội,
Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên;
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai xuyên tạc cho nên nỗi này.
Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt,
Sương Ba Đình mù mịt thức mây;
Mấy lần nghị quyết trao tay,
Đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương...
(…) Ngôn luận chiến ào ào sấm nổ
Tưởng cơ đồ sụp đổ đến nơi
Bác Sáu à, bác Sáu ơi
Nhà ta nó phá tan rồi còn đâu
Trang giấy trắng một màu quan ải,
Oan khiên này biết giãi cùng ai;
Giận hờn mấy kẻ đơn sai
Văn đàn bỗng hoá võ đài phải chăng?
(…) Nguyễn Khải lặn mất tăm đâu đó
Chính Hữu chờ sóng gió qua mau
Bùi Bình Thi rút ván cầu
Phạm Tiến Duật ẩn mình đâu mất rồi
Chàng Hữu Thỉnh dở cười dở khóc
Ngọc Tú nàng rứt tóc vò tai
Đỗ Chu tế ngựa vòng ngoài
Gặp ai cũng hỏi rằng ai nhớ mình
(…) Nguyễn Văn Hạnh một mình một ngựa
Phá vòng vây ở giữa sa trường
Không lùi bước chẳng tạt ngang
Đã vì đồng đội gian nan xá gì
Biết cứu nạn lắm khi mắc nạn
Tâm huyết nhiều mất mạng như chơi
(...) Đại hội bỗng chia làm hai phái,
Phái vui tươi và phái hầm hầm;
Chúng ta cùng bạn làng văn,
Cớ sao mặt cứ gằm gằm khó coi...
(...) Mai ngữ sử dao găm súng lục,
Mắt Liên Nam đục đục điên điên,
Thu Bồn nộ khí xung thiên,
Bỗng đâu một trận Mai Liên ào ào.
Thu Hương nổ pháo tầm cao,
Tường Hạnh hụt một đường đao bất ngờ,
Trần Độ vắng mặt bao giờ,
Phất phơ để lại một tờ tâm thư.
Nguyễn Văn Hạnh dịch ngôn từ,
Đoàn chủ tịch cũng ậm ừ cho qua...
(...) Anh Đức mặt vênh vênh véo véo
Mắt đăm đăm liếc xéo hội trường...
(...) Thuỳ Mai nước mắt lưng tròng
Cõng Bùi Minh Quốc khỏi vòng hiểm nguy...
(...) Buổi bế mạc chấp hành ra mắt,
Chín người đà đứng sắp hàng ra,
Tổng thư ký của hội ta:
Tướng công họ Vũ tên là văn Ngan...
Đại hội nhà văn lần thứ IV có thể coi là ngày hội lớn, cuộc vui lớn cuối
cùng của phe cấp tiến. Đại hội càng về cuối chầu, càng nhạt. Với sự sắp đặt,
điều khiển hội nghị một cách khôn khéo mềm dẻo, vừa đánh vào chỗ yếu của
phe cấp tiến ( không có tổ chức chặt chẽ, thiếu cương lĩnh đàng hoàng, không có
mưu mẹo gì cả, mải vui chơi, chủ quan mất cảnh giác...), vừa dựa vào quyền thế
của lãnh đạo chóp bu, kết thúc Đại hội, phe bảo thủ về cơ bản đã giành được
thắng lợi.
Nguyễn Khải cho là do sự chèo chống rất khôn khéo của Nguyễn Đình
Thi. Anh nói với tôi khi kết thúc Đại hội: “ở nước này chỉ có hai người biết làm
chính trị là Lê Đức Thọ và Nguyễn Đình Thi.
*
Hãy trở lại với những trận đánh đấm, qui chụp ngày càng bừa bãi và trắng
trợn của phe cơ hội bảo thủ đối với phái cấp tiến, từ cuối những năm 80 của thế
kỷ trước. ở đây – vì là hồi ký của tôi – nên tôi chủ yếu chỉ nói về những trường
hợp liên quan đến tôi mà thôi.
Tôi là một trong số những người bị đánh đấm qui chụp nhiều nhất. Mà
không phải chỉ bị đánh từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với tội danh “đổi
mới cực đoan”, “phủ nhận văn học cách mạng, phủ nhận quá khứ”, “đối lập tư
tưởng chính trị với tư tưởng nghệ thuật”, “khinh bạc hơn cả Nguyễn Tuân”,
“hạ thấp thơ Hồ Chí Minh và loại Tuyên ngôn độc lập ra khỏi sách giáo
khoa”...
Bài viết đầu tiên của tôi bị phê phán là bài Con đường Nguyễn Tuân đi
đến bút ký chống Mỹ ( Tạp chí Văn học số 8 – 1968 )
Như đã nói, bài này ông Hoài Thanh rất thích. Nhưng ông đã bị Trường
Chinh triệu lên để phê bình vì bài viết quá đề cao Nguyễn Tuân. Là một nhà
lãnh đạo rất cẩn trọng, Trường Chinh dặn Hoài Thanh không nói lại với tôi vì sợ
“anh ấy hoang mang”.
Nhưng Hoài Thanh vẫn nói lại với tôi. Hôm ấy gặp ông ở một cuộc họp ở
Viện khoa học giáo dục, sau khi thuật lại ý kiến Trường Chinh, ông nói: “Theo
tôi một bài phê bình không nhất thiết phải nói toàn diện. Nhưng anh đã gặp rủi:
bài của anh ra đời cùng một lúc với bài Tình rừng của Nguyễn Tuân đăng trên
Văn nghệ.
Bài Nguyễn Tuân của tôi liên quan đến bài Vũ Trọng Phụng ( “Mâu thuẫn
cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng”) viết cùng
năm ấy (1968).
Tôi đưa bài này cho ông Hoài Thanh, lúc đó ông sống với bà Bền ở Trần
Quốc Toản. Hoài Thanh đồng ý đăng. Nhưng liền sau đó ông bị điều sang phụ
trách báo Văn nghệ. Vũ Đức Phúc thay ông phụ trách thư ký toà soạn Tạp chí
văn học. Anh Phúc sai Phong Lê gọi tôi đến gặp anh ở Viện Văn học. Anh nói:
“Bài Nguyễn Tuân của anh có thể làm mất huân chương của tạp chí chúng tôi đấy”. Anh từ chối không đăng tiếp bài Vũ Trọng Phụng nữa. Tôi đã tranh luận
với anh một chập. Tôi nhớ anh Phúc nói rất quyết liệt, xùi cả bọt mép. Và cứ
chuyện nọ sọ chuyện kia. Nghĩa là không thể tranh luận với anh được. Chẳng
hạn tôi nói, anh Như Phong cho biết Vũ Trọng Phụng rất thích thơ Tố Hữu (
đăng báo công khai thời Mặt trận dân chủ Đông Dương). Vũ Đức Phúc nói:
“Như Phong lúc đó chưa phải đảng viên”. Đúng là lý lẽ chẳng đâu vào đâu cả.
Trong khi tôi và anh Phúc tranh luận thì Phong Lê quanh quẩn rót nước
mời khách. Tôi hỏi: “Anh Phong Lê, ý kiến anh thế nào?” Phong Lê vội lảng:
“Chuyện này tôi không rõ, tuỳ các anh”.
Nhân đây, xin nói một chút về Vũ Đức Phúc.
Vũ Đức Phúc có lẽ là một sản phẩm đặc biệt của một thời - cái thời mà
quan điểm giai cấp được vận dụng một cách rất thô thiển. Tôi vẫn tin Vũ Đức
Phúc là người chân thật và thẳng thắn, nhưng chân thật, thẳng thắn một cách rất
máy móc, cứng nhắc và thô bạo. Chẳng thế mà Xuân Diệu gọi anh là cái “xe
tăng mù”. Có lần nhà thơ nói với tôi: “Vũ Đức Phúc cứ ném ra những ý kiến rất
thô như quăng ra những thanh củi vậy.”
Hôm ấy tranh luận với Vũ Đức Phúc tôi mới thấy nhận xét của Xuân Diệu
không ngoa ngoắt chút nào. Đại khái anh nói về Thiếu quê hương của Nguyễn
Tuân thế này: “Sao lại kêu “thiếu quê hương”! Lại còn đòi đi Mỹ theo đám múa
Xuân Phả và định cho em đi lính thợ sang Tây. Yêu nước gì Nguyễn Tuân!
Nguyễn Tuân là absence d‘humanisme. Ghét gia đình. Đối với những đàn bà
hiền dịu lại ghét. Không thương vợ con. Chơi bời như thế nhất định làm khổ vợ
con. Nói Nguyễn Tuân kênh kiệu chưa đủ. Phải nói là không nhân đạo, không
yêu nước gì cả. Còn vì sao ông ấy đi theo Cách mạng thì là vấn đề phải suy xét.
Vang bóng một thời tả Huế, mỹ hoá bọn bịp bợm trên Sông Hương. Bọn ấy là lũ
bóc lột, lừa đảo, truỵ lạc, không đẹp, không tao nhã như Nguyễn Tuân viết đâu.”
Còn đây là ý kiến của anh về Vũ Trọng Phụng: “Hà Nội báo là tờ báo
chống Hải Triều. Vậy mà Vũ Trọng Phụng đã viết ở đó. Vũ Trọng Phụng là loại
dân nghèo lưu manh hoá vùng ngoại ô (làng Mọc). Vũ Trọng Phụng ca tụng
Quỳnh, Vĩnh như là trí thức hạng nhất.”
Anh cho tôi đánh giá quá cao Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê.
Anh cũng không tán thành ý kiến của tôi nêu ra mâu thuẫn cơ bản trong
thế giới quan Vũ Trọng Phụng gồm hai nhân tố: tư tưởng bi quan định mệnh chủ
nghĩa và tâm trạng phẫn uất đối với xã hội. Anh nói: “Hai mặt mâu thuẫn đều
tiêu cực cả thì không biện chứng. Nhưng triết lý không quan trọng bằng tư tưởng
chính trị. Vũ Trọng Phụng là chống cộng, là phản động. Còn Chủ nghĩa duy vật
của Vũ là duy vật hưởng lạc, là Freud”.
Đấy Vũ Đức Phúc là như thế đấy!
Tất nhiên anh từ chối không đăng bài Vũ Trọng Phụng của tôi, tuy ông
Hoài Thanh đã duyệt và cho in.
Nhưng đến năm 1971, nhân gặp nhau ở trụ sở báo Văn nghệ, nghe
Nguyễn Đình Thi nói về Vỡ bờ, không hiểu sao anh lại bảo tôi đưa bài Vũ Trọng
Phụng cho anh.
Nhưng anh nói: “Tôi đăng bài này với điều kiện, sau đó có bài uốn nắn
lại, anh có đồng ý không?” Tôi đồng ý. Năm 1971, bài tôi đăng số trước thì số
sau có bài uốn nắn lại của Nguyễn Đức Đàn.
Năm 1980, tôi được giao làm Tuyền tập Nguyễn Tuân. Hồi ấy có quan
niệm làm tuyển tập là một cái gì ghê gớm lắm: Chỉ được phép làm tuyển tập Hồ
Chí Minh hay các lãnh tụ cao cấp của Đảng, chí ít phải là Tố Hữu. Còn các nhà
văn dù lớn đến đâu cũng chỉ được làm sau khi chết. Mà phải là nhà văn không
có “vấn đề” gì, như Ngô Tất Tố, Nam Cao... Nhưng ông Lý Hải Châu giám đốc
nhà xuất bản Văn học quyết định làm tuyển tập các nhà văn còn sống, thuộc tầm
cỡ lớn, trước hết là Nguyễn Tuân. Lý Hải Châu từng là một nhà tình báo cách
mạng hoạt động ở Sài Gòn, đã từng bị bắt và kết án tử hình, nhưng may trốn
thoát được ra Bắc nhờ hiệp định Genève. Ông là một trí thức, rất đạo đức và có
bản lĩnh. Ông cứ quyết định làm Tuyển tập Nguyễn Tuân đầu tiên, mặc cho Hoài
Thanh và Hoàng Trung Thông can ngăn.
Tôi thì mừng quá, vì nghiên cứu Nguyễn Tuân mãi, giờ mới được dùng
đến. Ngoài việc tuyển lựa tác phẩm Nguyễn Tuân, tôi lo viết bài giới thiệu sao
cho thật tốt. Nguyễn Tuân chọn tôi chứ không chọn Vũ ngọc Phan, vậy tôi phải
viết sao cho xứng đáng với sự tín nhiệm của ông. Mà người đọc bài Tựa trước
hết là chính Nguyễn Tuân. Viết cho Nguyễn Tuân đọc đâu có dễ. Tôi dự kiến
viết bài gồm ba phần:
I. Quan điểm sáng tác
II Quá trình sáng tác
III Phong cách nghệ thuật
Viết phần đầu cứ tắc lại mãi. Tôi đến Xuân Diệu than phiền với anh. Xuân
Diệu nói: “Viết tắc giống như bị táo bón. Nhưng táo bón còn hơn tháo dạ. Viết
văn cũng vậy”. Và anh truyền kinh nghiệm cho tôi: “ Chỗ nào tắc, cứ bỏ đấy viết
sang phần khác rồi quay lại sau, sẽ viết được. Vẽ cũng thế. Vẽ người đâu cứ phải
vẽ từ đầu xuống. Vẽ từ đít lên cũng được chứ. Đánh đồn cũng vậy, có thể đánh
tung thâm thẳng vào hầm Đờ Cát chứ không cứ phải đánh lần lượt từ ngoài
vào”.
Tôi nghe Xuân Diệu, viết nhảy cóc sang phần hai, phần ba, sau đó mới
quay lại phần một và thấy quả là trôi chảy thông thuận.
Tuyển tập làm xong, nhiều người khen. Lý Hải Châu, Nguyễn Tuân, Lê
Khánh ( biên tập viên ) đều vừa lòng. Anh Nguyễn Văn Bổng hồi đó làm tổng
biên tập báo Văn nghệ, tổ chức một cuộc hội thảo về Tuyển tập Nguyễn Tuân ở
trụ sở báo ( 17 Trần Quốc Toản ). Hôm ấy có mặt Nguyễn Tuân, Lý Hải Châu,
Xuân Diệu, Tế Hanh, Phạm Hổ, Từ Sơn, Ngọc Trai, Lê Khánh và tôi.
Tuyển tập in ra được Trương Chính, Quang Huy viết bài khen, nhưng bị
Phan Cự Đệ phê phán, cho là quá đề cao Nguyễn Tuân trước Cách mạng mà
chưa chú ý đúng mức đến tác phẩm của nhà văn sau Cách mạng.
Anh Lý Hải Châu rất tín nhiệm tôi. Tập tiểu luận phê bình văn học đầu
tiên của tôi do nhà xuất bản Tác phẩm mới in năm 1979 ( Nhà văn, tư tưởng và
phong cách ), anh cho tái bản ngay năm 1983, bổ sung vào đấy bài giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân.
Tập sách này được nhận giải thưởng về lý luận phê bình của hội nhà văn
năm 1985 ( giải thưởng văn học 4 năm: 1941 – 1944 ). Hôm họp hội đồng lý
luận phê bình để xét giải thưởng, tôi vẫn bị anh Phan Cự Đệ phê phán và bác bỏ.
Chị Ngọc Trai, thư ký hội đồng thuật lại với tôi như thế. Hội đồng có 6 người:
Hà Xuân Trường, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Nam, Lê Đình Kỵ,
Hoàng Trung Thông. Lê Đình Kỵ ở trong Nam không ra. Hoàng Trung Thông
thì ốm đang nằm bệnh viện. Phan Cự Đệ tự đi phát và thu phiếu điều tra dư luận.
Kết quả Đệ, Đức nhiều phiếu tán thành hơn cả, thứ hai là Hà Xuân Trường.
Ngọc Trai cũng phát phiếu điều tra về mấy cuốn sách của Đức, Đệ, Hà Xuân
Trường, nhưng chị cho biết, họ cho rằng chỉ hỏi về mấy cuốn sách ấy thì họ
không trả lời.
Ngọc Trai đề nghị đưa vào giải thưởng mấy cuốn của Nguyễn Đăng
Mạnh, Nhị Ca và Thành Duy. Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức bác đi. Đệ rất quyết
liệt, cho sách của tôi là sách tái bản không hợp lệ. Hà Xuân Trương chủ tịch hội
đồng tán thành đề nghị của Ngọc Trai thêm hai cuốn của Nguyễn Đăng Mạnh và
Nhị Ca, còn cuốn của mình thì xin rút. Mọi người nhất trí, bỏ phiếu 100%. Phan
Cự Đệ lại hội ý với Hà Minh Đức đề nghị sách của Nguyễn Đăng Mạnh xếp
xuống loại B vì lý do, nếu anh Hoàng Trung Thông có mặt, chắc không tán
thành, vì anh từng nói với Đệ bài Nguyễn Tuân có vấn đề. Chính Hữu phó tổng
thư ký Hội nhà văn có mặt hôm ấy gạt đi. Ngọc Trai mang phiếu đến bệnh viện
lấy ý kiến của Hoàng Trung Thông. Thông cũng tán thành và nói không hề có ý
kiến gì về bài Nguyễn Tuân trong Tuyển tập cả. Chỉ nói bài viết từ xưa của anh
Mạnh từng bị Vũ Đức Phúc phê phán... Nhưng chuyện qua lâu rồi...
Thế mà sau hội nghị, Phan Cự Đệ lại là người viết thư riêng cho tôi báo
tin mừng tôi đã được giải thưởng.
Vào năm 1983, tôi còn bị đánh một trận nữa. người ta đánh một bài viết
của tôi chưa hề được công bố.
Hồi ấy cuộc xung đột ta với Tầu ở biên giới còn nóng hổi. Anh Nguyên
Ngọc vừa ở chiến trường ra, được đề bạt làm bí thư đảng đoàn Hội nhà văn, chủ
trương làm một cuộc cách mạng trong đời sống văn học, đặc biệt là chống
Maoít. Hôm ấy nhân có một cuộc họp của giới lý luận phê bình văn học ở trụ sở
báo Văn nghệ, Nguyên Ngọc và Nguyễn Khải đến hô hào chúng tôi dũng cảm
nói sự thật, đảm bảo không sợ bị “tai nạn lao động”.
Một số người phát biểu hưởng ứng, trong đó có Hoàng Ngọc Hiến và tôi.
Thấy ý kiến nghe được, anh Từ Sơn ở báo Văn nghệ đề nghị viết thành bài để
đăng báo.
Bài của Hiến chính là bài “hiện thực phải đạo” nổi tiếng, được coi như mở
đầu cuộc đổi mới văn học. Bài đăng được ít lâu thì bị phê phán quyết liệt cùng
với bản Đề cương của Nguyên Ngọc. Vì thế bài của tôi đã lên khuôn vội rút về.
Nhưng nhiều người cứ đồn bài này còn táo tợn hơn cả bài của Hiến, và lời đồn
đại này cứ lan rộng mãi. Hoàng Trung Thông lúc bấy giờ là Viện trưởng viện
văn học phát biểu trong một cuộc hội nghị ở Viện, nói tôi đã đối lập tư tưởng chính trị với tư tưởng Văn nghệ. Chuyện này tôi chẳng quan tâm làm gì nếu không liên quan đến kỳ phong
học hàm phó giáo sư của tôi lúc bấy giờ. Hồi ấy, người đăng ký phong học hàm,
trước khi được đưa ra bầu bán về chuyên môn, phải thông qua đảng uỷ của cơ
quan công tác về tư tưởng. Trường hợp của tôi trở thành gay go vì tiếng đồn về
bài viết của tôi đã vang đến đảng uỷ trường đại học Sư phạm và đảng bộ khoa
văn. Hoàng Dung, tổ trưởng chuyên môn và bí thư liên chi đảng, tỏ ra có trách
nhiệm, cho người đi dò hỏi một số nhân vật công tác ở các cơ quan văn hoá của
Đảng như ban văn hoá văn nghệ Trung ương, Viện văn học, báo Văn nghệ...
Anh còn cho người đến trụ sở Văn nghệ đề nghị cho đọc biên bản cuộc họp về lý
luận phê bình để xem tôi đã phát biểu như thế nào...
Thấy tình hình có vẻ nguy, tôi bèn lấy bản thảo bài viết của mình đưa cho
anh Phạm Quý Tư đọc (lúc này anh Phạm Quý Tư là hàng xóm của tôi, cùng ở
tầng năm, nhà B2, khu tập thể cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Hà Nội). Anh
Tư là hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ tịch Hội đồng khoa học
trường, đồng thời là đảng uỷ viên. Anh Tư cẩn thận, đưa cho chị Trần Thị Thục
Nga, bí thư đảng uỷ trường đọc nữa. Rất may là các vị kết luận: không có vấn đề
quan điểm gì cả. Anh Tư còn khen bài viết hay. Anh hỏi tôi có yêu cầu gì không.
Tôi nói, nếu chuyện đồn đại diễn ra ở đâu đó thì cứ mặc kệ không quan tâm làm
gì. Nhưng nếu vấn đề được đưa ra bàn ở đảng uỷ, thì anh là người đã đọc, anh
cứ phát biểu như anh vừa nói với tôi.
Chuyện phong của tôi vì thế trở thành xuôn xẻ.
Sau này biết chuyện, nhiều người đề nghị cho đọc bài ấy, nhưng tôi từ
chối. Việc đọc văn, hiểu văn lắm chuyện lắm. Nếu có động cơ xấu thì càng rách
việc.
Năm 1984, tôi được phong phó giáo sư.
* *
*
Sau Đại hội Đảng lần thứ Sáu (1986), đất nước bắt đầu đổi mới, người
đánh tôi đầu tiên vẫn là Phan Cự Đệ. Nguyên là tôi có viết một bài nhan đề là
“Phê bình văn học trong tình hình mới” đăng trên Văn nghệ năm 1987. Phan Cự
Đệ liền viết trên Văn nghệ quân đội một bài phê phán tôi “phủ nhận văn học
Cách mạng”, “phủ nhận quá khứ”. Giọng điệu có vẻ ôn tồn nhưng qui kết rất
nặng.Tôi bực lắm, vì từ lâu vốn đã không ưa Phan Cự Đệ từ con người đến cách
viết.
Hồi ấy, như đã nói, Nguyễn Khải được anh Trần Độ gọi ra để chuẩn bị đại
hội nhà văn lần thứ IV. Sau bài anh Đệ phê phán tôi ít lâu, Nguyễn Khải có tổ
chức một cuộc họp lý luận phê bình văn học ở 65 Nguyễn Du. Tôi nhớ hôm ấy
có mặt rất đông: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Nam, Hoàng Trung
Thông, Nguyễn Văn Hạnh, Thiếu Mai, Phong Lê, Ngọc Trai, Lê Thị Đức
Hạnh..vv... Nguyễn Khải điều khiển cuộc họp. Tôi ngồi gần Đệ. Tôi nói với
Nguyễn Khải: “Anh Khải này, anh là người lắm chữ, tôi thì ít chữ, tôi không biết gọi anh Đệ thế nào. xin anh tìm cho tôi một chữ nào đấy, còn tôi thì chỉ biết gọi
anh Đệ là thằng đểu”.
Không khí cuộc họp trở nên căng thẳng. Hoàng Trung Thông và Nguyễn
Văn Hạnh ngồi cùng một cái ghế tựa dài với tôi. Nguyễn Văn Hạnh ngồi giữa.
Hoàng Trung Thông chồm người qua Nguyễn Văn Hạnh nói với tôi: “Anh Mạnh
này, tôi không bao giờ đọc anh Đệ đâu nhé.” Tôi nghĩ bụng, chính anh đã đề tựa
cho cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại của Đệ, sao lại nói là không đọc?
Đệ ngồi im không nói gì. chờ cho vài người phát biểu xong, anh mới nói,
đại ý khoe có một bài viết gì đó đã được dịch đăng trên một tạp chí của Liên Xô
( lúc này Liên Xô chưa sụp đổ )
Tôi lại bồi thêm một đòn nữa: “Không biết Liên Xô đánh giá anh thế nào,
chứ tôi đánh giá anh rất kém, viết chẳng hay ho gì đâu”.
Lúc ấy chắc bộ dạng tôi dữ dội lắm. Cuộc họp kết thúc, Hà Minh Đức nói
với tôi: “Ông Đệ ông ấy thần kinh vững lắm. Chứ tôi bị anh nói thế, tôi không
chịu được. Tôi đau tim mà!”
Tôi để ý, khi diễn ra cuộc xung đột giữa tôi với Phan Cự Đệ, không có ai
bênh Đệ cả, tuy lúc ấy có đủ mặt giới lý luận phê bình và một số anh sáng tác,
cấp tiến có, bảo thủ có. Hiện tượng này chứng tỏ hồi ấy (1987), cánh đổi mới
đang ở thế áp đảo.
Tôi thấy Hà Minh Đức nói rất đúng, Đệ quả là một tay thần kinh vững.
Hôm ấy, cuộc họp tan, anh vẫn bắt tay tôi, coi như không có chuyện gì xảy ra.
Nhưng đừng tưởng anh đã chịu thua tôi đâu. Đầu năm 1989, anh lại đăng
trên Nhân dân một bài tiếp tục phê phán ý kiến của tôi trong bài viết năm 1987,
đồng thời còn móc lại những ý kiến của tôi phát biểu trước Tổng bí thư Nguyễn
Văn Linh để lên án. Và đến năm 2000 thì nổ ra vụ luận án tiến sĩ của Trần Hạnh
Mai. Anh đã tấn công tôi quyết liệt. Số là luận án của Mai, cán bộ giảng dạy
khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội, do tôi hướng dẫn, sau khi bảo vệ ở Hội đồng
cơ sở (1998) được Bộ đưa cho anh Đệ phản biện kín. Luận án viết về “Sự
nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh”. Tôi và Mai chủ trương phản bác ý
kiến cho rằng, trước Cách mạng Tháng Tám, Hoài Thanh hoàn toàn viết theo
quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Đệ cho như thế là sai lầm căn bản. Anh viết
hẳn trong bản nhận xét phản biện “Trần Hạnh Mai đã theo quan điểm đổi mới
cực đoan của Nguyên Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh.” Và anh gọi Mai đến đề nghị
chữa luận án theo ý anh, lại nói để yên lòng cô nghiên cứu sinh: người hướng
dẫn không có trong hội đồng bảo vệ nên không sợ.
Trần Hạnh Mai không nghe. Cô nghĩ bụng, không bảo vệ thì thôi chứ
không thể phản lại thầy và chân lý. Thế là Đệ báo cáo lên ban tư tưởng văn hóa
trung ương, coi như một vấn đề thuộc quan điểm chính trị cần có ý kiến của cơ
quan Đảng. Rất may là về sau, Ban Tư tưởng văn hóa lại gửi luận án của Mai
cho Viện Văn học hỏi ý kiến. Viện ủng hộ Mai và cuộc bảo vệ cấp Nhà nước
được tiến hành suôn sẻ (năm 2000). Luận án được đánh giá xuất sắc.
Buổi bảo vệ kết thúc, tôi phát biểu với tư cách người hướng dẫn. Tôi nói:
“Thông thường khi bảo vệ thành công luận án, nghiên cứu sinh cám ơn người hướng dẫn. Nhưng hôm nay tôi làm ngược lại, tôi xin cám ơn Hạnh Mai đã giữ
vững lập trường của mình. Tôi cũng xin cám ơn giáo sư Phan Cự Đệ. Nhờ có
anh mà tôi mới biết được, một cô gái có vẻ yếu đuối như Trần Hạnh Mai mà té
ra lại có bản lĩnh vững vàng như thế.”
Cuộc bảo vệ tuy thế, do Phan Cự Đệ, đã bị trì hoãn lại đến hơn tám tháng.
Sau cuộc bảo vệ này, một lần nữa tôi lại thấy Đệ đúng là thần kinh rất
vững. Anh gặp tôi luôn, thường do cùng ở chung trong một hội đồng bảo vệ luận
án tiến sĩ nào đấy. Anh vẫn bắt tay tôi và trò chuyện rất thân mật.
Năm 1995 tôi còn bị một đòn phê phán nữa khá quyết liệt. Đòn của Trần
Thanh Đạm. Điều này tôi đã kể ở trên rồi, ở đây chỉ nói thêm về nội dung của
vấn đề mà thôi.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của Tạp chí Văn học do Phạm Xuân
Nguyên thực hiện, tôi cho rằng từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, văn học
Việt Nam có ba cuộc nhận đường. Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng và trong
những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Lần thứ hai, sau Điện Biên
Phủ, hoà bình được lập lại trên miền Bắc. Lần thứ ba, sau 1975. hai lần trước, tôi
cho là không khó khăn lắm, vì chỉ là nhận thức nhiệm vụ chính trị của Văn nghệ
sĩ, mà chính trị lúc bấy giờ thực chất chỉ là yêu nước, chống xâm lược rất dễ
thông suốt. Văn nghệ sĩ vốn rất yêu nước, nên dễ dàng giác ngộ về điều này, họ
sẵn sàng hy sinh tất cả, từ tài sản, tính mạng đến cả bản thân nghệ thuật cho
cuộc kháng chiến.
Nhưng cuộc nhận đường thứ ba này thì rất phức tạp vì đây mới là cuộc
nhận đường của bản thân văn học nghệ thuật với hàng loạt câu hỏi: Văn nghệ là
gì? Chức năng của văn nghệ? Tiêu chí giá trị tác phẩm văn nghệ? Văn nghệ và
chính trị? Văn nghệ và hiện thực?..vv... Những câu hỏi không dễ trả lời.
Viết bài trên Sài Gòn giải phóng, Trần Thanh Đạm cho tôi là không hiểu
gì cả, lại dám khinh bạc Cách mạng. Con đường cứu nước đầy gian khổ, bao
nhiêu văn nghệ sĩ đã hy sinh, một số đã phải bỏ cuộc, vậy mà lại nói là đơn giản,
dễ dàng.
Không biết vô tình hay cố ý, anh đã đánh tráo khái niệm. Tôi nói nhận
đường, tức nhận ra con đường cứu quốc không khó, chứ có nói con đường ấy là
dễ dàng đâu, là không phải hy sinh xương máu, không phải trường kỳ gian khổ
đâu. Giặc đến nhà, phải đánh đuổi nó đi, anh cho là điều khó hiểu lắm hay sao?
Nhưng thôi, bắt bẻ anh làm gì. Bài viết của anh đầy mâu thuẫn logích.
Nhưng điều khó hiểu hơn nhiều là bản chất con người anh là thế nào nhỉ?
Nguyễn Khải có lần hỏi tôi như thế, tôi cũng chịu.
Từ cuối những năm 80 cho đến nay, tôi còn bị nhiều người phê phán:
Phan Trọng Luận, Nguyễn Văn Lưu, Đỗ Minh Tuấn, Lê Tuấn Anh, Hồ Phương,
Trần Mạnh Hảo. Tôi không kể hết ra đây làm gì, chỉ xin nêu một số trường hợp
có ấn tượng khó quên hơn cả.
Trước hết là Phan Trọng Luận với vụ Tuyên ngôn độc lập.
Năm 1989, tôi được giao chủ biên biên soạn lại chương trình và Sách giáo
khoa PTTH môn văn ( gọi là chương trình và SGK cải cách giáo dục )
Phương châm cải cách của tôi là: Chương trình văn phải đích thực là
chương trình văn. Lúc ấy tôi quan niệm Văn theo nghĩa chặt chẽ và hiện đại:
Văn là văn hình tượng, văn nghệ thuật, văn mỹ thuật ( belles lettres ), tác động
đến người đọc trước hết về tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ thông qua hình tượng
nghệ thuật. Vì thế khi xây dựng chương trình về văn thơ Hồ Chí Minh, tôi chỉ
chọn vào phần giảng văn những tác phẩm văn thơ hình tượng hay văn thơ nghệ
thuật mà thôi. ( Vi hành, Mộ, Tảo giải, Vãn cảnh, Tân xuất ngục học đăng sơn,
Nguyên Tiêu, Báo Tiệp, Cảnh khuya...). Tuyên ngôn độc lập không thuộc loại
văn nghệ thuật, tôi chuyển sang chương trình tập làm văn, về thể nghị luận chính
trị ( chứ không hề bỏ ra ngoài chương trình ).
Vì chương trình cũ có giảng văn Tuyên ngôn độc lập, nên thấy sách giáo
khoa mới không có, nhiều người tưởng tôi loại ra khỏi chương trình và có phản
ứng khá ồn ào.
Thực ra chương trình cải cách giáo dục đã loại bỏ nhiều tác phẩm trong
chương trình cũ như Sống như Anh của Trần Đình Vân, Buổi Sáng của Nguyễn
Thị Ngọc Tú và đưa vào nhiều tác phẩm từng bị phê phán trước kia, như Tờ Hoa
của Nguyễn Tuân, Tây Tiến của Quang Dũng và nhiều bài Thơ mới lãng mạn.
Nhưng Tuyên ngôn độc lập là của Hồ Chí Minh. Đụng đến Hồ Chí Minh
là chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của người Việt Nam, nên lập tức ầm ĩ như đổ
trời. Mai Thúc Lân đưa vào Quốc Hội. Hà Xuân Trường suy diễn: họ đưa ra
ngoài chương trình học Tuyên ngôn độc lập chắc sẽ tiến tới loại bỏ cả Hịch
tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn và Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Phạm
Tường Hạnh thì la lối ( Nhân dân 10 – 1995 ) “bỏ không học Tuyên ngôn độc
lập thì còn nói gì giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho
thế hệ trẻ”. Không khí “báo động” này lại được bọn cơ hội chủ nghĩa trong giới
làm báo kích động thêm lên làm cho càng trở nên căng thẳng.
Chuyện đến tai ông cố vấn Phạm Văn Đồng. Ông tuy đã già lăm rồi, mắt
gần như loà, vậy mà vẫn muốn có ý kiến về mọi việc quốc gia đại sự và vẫn
hăng hái biên soạn sách này sách khác. Ông cho gọi tôi lên để góp ý kiến với
ông về vấn đề văn hoá mà ông đang chuẩn bị viết, nhân tiện hỏi tôi về chuyện
Tuyên ngôn độc lập. Tôi nói như đã viết ở trên: không loại ra khỏi chương trình,
chỉ xếp vào đúng chỗ của nó thuộc thể văn chính luận. ở trường học phải thế
mới khoa học. Ông không có ý kiến gì, chỉ vung tay nói lớn: “Bài văn hay lắm!
hay lắm!”
Còn anh Việt Phương có mặt hôm ấy thì nói: “ở nhà trường phải khoa
học. Anh Mạnh anh ấy nói đúng đấy.”
Nhưng Phan Trọng Luận thì viết bài phê phán gay gắt, quy kết tư tưởng
nặng nề. Đánh hơi được khuynh hướng của lãnh đạo, Luận lập tức hưởng ứng
ngay.
Công chúng nhiều người không hiểu gì cả nên có phản ứng. Phan Trọng
Luận là thành viên của Hội đồng ngữ văn, không phát biểu trong hội đồng mà lại
viết báo phê phán. Mà anh thừa biết đâu phải loại ra khỏi chương trình. Đây chỉ
là sự chuyển chỗ của tác phẩm từ môn giảng văn nghệ thuật đến môn tập làm văn về thể nghị luận, chính luận mà thôi. Tôi cho như vậy là thiếu trung thực.
Trong một cuộc họp của Hội đồng ngữ văn, tôi đã nói thẳng như thế với
Phan Trọng Luận. Luận nổi nóng cãi lại. Anh Hoàng Tuệ hồi đó là chủ tịch Hội
đồng can không được, đành tuyên bố giải tán cuộc họp.
Thực ra Phan Trọng Luận vốn từ lâu đã không ưa tôi.
Năm 1988 tôi có viết một bài trên báo Văn nghệ “Vài suy nghĩ về đổi mới
tư duy trong giảng dạy văn học”. Trong bài này tôi cho rằng, phương pháp giảng
dạy tức môn giáo học pháp, không phải không cần, nhưng trong tình hình hiện
nay, điều quan trọng hơn là phải hiểu được bài văn đã. Phải giải quyết nội dung
thì mới có cái mà truyền đạt chứ. Lâu nay nội dung ý nghĩa của bài văn thường
bị chính trị hoá, nhiều người coi tiêu chí cao nhất để đánh giá tác phẩm văn học
là tiêu chí chính trị. Phân tích tác phẩm họ thường suy diễn bừa bãi theo lối xã
hội học dung tục hay biến ngôn ngữ nghệ thuật thành ngôn ngữ chính trị trực
tiếp, giá trị văn chương không được coi trọng. Nghĩa là có rất nhiều vấn đề cần
giải quyết xung quanh việc phân tích, thẩm định tác phẩm như những giá trị văn
chương.
Phan Trọng Luận bèn xui một giáo viên phổ thông thân cận với anh (Vũ
Dương Quỹ) viết bài phê phán tôi không hiểu tầm quan trọng của giáo học pháp.
Thực tình thì tôi không coi thường bộ môn khoa học này nhưng quả có
coi thường những người dạy môn học này. Không có kinh nghiệm dạy văn cụ
thể nên toàn lý thuyết suông, phát biểu những nguyên lý chung chung vô bổ. Có
lần tôi đã nói toạc ra như thế khi trả lời học viên một lớp gọi là cốt cán cấp II (
lớp bồi dưỡng giáo viên cấp II giỏi lên trình độ đại học ). Cô Bích Ba, trưởng
lớp, trịnh trọng đứng lên hỏi tôi khi bài học kết thúc: “Thưa thầy, thầy dạy văn
đã lâu năm, vậy kinh nghiệm của thầy làm thế nào để dạy văn cho tốt.” Tôi trả
lời ngắn gọn: “Muốn dạy văn cho tốt, theo kinh nghiệm của tôi, không nên học
giáo học pháp.”
Cách ăn nói giật gân như thế tất được truyền bá nhanh chóng và rộng rãi,
và các vị giáo học pháp rất căm ghét, trong đó có Phan Trọng Luận là người tự
phong là giáo sư đầu ngành về môn học này.
Nhưng người tập trung đánh tôi nhiều nhất là Trần Mạnh Hảo.
Muốn hiểu hiện tượng Trần Mạnh Hảo, cần thấy y không phải là kẻ đơn
độc và xuất hiện ngẫu nhiên, mà tiêu biểu cho một xu hướng cơ hội chủ nghĩa
trong đời sống văn học của đất nước do một lực lượng cầm quyền tạo ra, đặc
biệt là từ khi có phong trào đổi mới.
Lực lượng này có nhu cầu dẹp phong trào đổi mới, đòi dân chủ thật sự mà
họ gọi là cực đoan, quá khích. Họ dẹp báo Văn nghệ của Nguyên Ngọc, họ cách
chức Trần Độ, họ xoá bỏ giải thưởng trao cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, cấm phim Hà Nội trong mắt ai của Trần Văn Thuỷ, chèo Bài ca
giữ nước của Tào Mạt, vở Em đẹp dần trong mắt ai của đoàn kịch Hà Nội…, Họ
phê phán Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Dương Thu
Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…, tập truyện Bi kịch nhỏ của Lê
Minh Khuê, đánh Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm, Nguyễn Đăng Mạnh…, xoá bỏ trường viết văn Nguyễn Du do Khái Vinh, Phạm Vĩnh Cư,
Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc phụ trách..vv…
Họ cần có những “thợ đánh” giỏi. Họ tìm được Phan Cự Đệ, Trần Thanh
Đạm, Hoàng Nhân, Mai Quốc Liên, Hồng Diệu, Nguyễn Văn Lưu, Hồ Phương,
Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Trương Vĩnh Tuấn..vv… Tuy thế vẫn chưa có ai
đáp ứng được đầy đủ nhu cầu “đánh dẹp” của họ.
Phải nói nghề “đánh đấm” này xem ra khá hấp dẫn với loại người cơ hội
chủ nghĩa, vì nếu khôn ngoan ra có thể tiến thân rất nhanh chóng…
Nhưng hành nghề này cũng không đơn giản. Phải có một số điều kiện chủ
quan:
- Hoàn toàn vứt bỏ lương tâm, cắt hết mọi “dây thần kinh xấu hổ”
- Có biệt tài dối trá, xỏ xiên, bịa đặt, nguỵ biện.
- Có khả năng diễn đạt giáo hoạt, hấp dẫn ( tất nhiên đối với loại công
chúng văn hoá thấp .)
- Thất nghiệp, nhàn rỗi, được nuôi dưỡng đầy đủ để có thể ngày ngày tiêu
thì giờ bằng cách sản xuất ra thật nhiều những “văn bản đánh đấm” cung cấp
cho nhu cầu chống đổi mới, chống dân chủ.
Trần Mạnh Hảo xuất hiện đã đáp ứng tuyệt vời những điều kiện ấy.
Cho nên không phải ngẫu nhiên mà những Nguyễn Đức Bình, Nguyễn
Hữu Thọ, rồi Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh… đã vồ lấy anh ta như một của
quý. Họ thừa biết đây là một tên đầu gấu, nổi tiếng phản bội (phản chúa, phản
đảng, phản vợ, phản bạn, phản chủ, “phản thơ”, “phản phê bình”), từng bị khai
trừ đảng vì viết Ly Thân, nhưng trước mắt có thể dùng làm tay sai đắc lực.
Nguyễn Hữu Thọ đã nói thẳng như thế với anh em biên tập tạp chí Thế giới mới
ở Sài Gòn ( Nguyễn Khắc Hoan đã kể lại như thế với Nguyên Ngọc ). Nguyễn
Khoa Điềm cũng vậy. Điềm vào Đại học Sư phạm Hà Nội nói chuyện với cán
bộ, sinh viên khoa văn, ngang nhiên đánh giá Trần Mạnh Hảo là “trong sáng” và
“dũng cảm”.
Cho nên bài của Hảo toàn đăng trên báo lớn: Nhân dân, Quân đội nhân
dân, An ninh quốc gia, Văn nghệ… y được đám Văn nghệ quân đội ca tụng,
được nhận rất nhiều giải thưởng của Hội Nhà văn, được đưa vào chương trình
vô tuyến. Nhiều người viết bài tranh luận lại với Hảo bị báo chí từ chối. Nguyễn
Hữu Sơn tập hợp một số bài viết tranh luận với Hảo, in ở Nxb Hải Phòng. Nhà
xuất bản này đã bị phê bình, cảnh cáo.
Hảo viết bài đánh nhiều người, nhưng đánh tôi nhiều hơn cả.
Về chuyện tôi bị đánh dồn dập như thế, có người, như Hoàng Ngọc Hiến,
giải thích là do sự chỉ đạo của Nguyễn Khoa Điềm. Anh nói: “Vì Nguyễn Khoa
Điềm đã đích thân đến tận nhà mời cậu vào Hội đồng lý luận phê bình của Hội
nhà văn mà cậu nhất quyết từ chối, nên hắn chỉ đạo Hảo đánh cậu chứ sao!
Điềm lên làm tổng thư ký Hội nhà văn, lại là trung ương uỷ viên, đã hạ cố đến
nhà riêng của hội viên mà lại bị từ chối, như thế là cậu coi thường anh ta, xúc
phạm anh ta rồi còn gì!”
Sau Đại hội nhà văn lần thứ 5 (1995), đúng là Nguyễn Khoa Điềm và Ma
Văn Kháng có đến tôi ( ở ngõ 68, Quan Hoa). Điềm nói đại ý, tôi được giới lý
luận phê bình và sáng tác tín nhiệm, vậy muốn mời tôi làm chủ tịch Hội đồng lý
luận phê bình. Lúc ấy tôi dứt khoát từ chối vì, một là thấy danh sách uỷ viên Hội
đồng do Điềm dự kiến có những tay bảo thủ cơ hội chủ nghĩa tôi rất ghét, hai là
có nhiều người thuộc phái cấp tiến khuyên tôi không tham gia, như Nguyên
Ngọc, Nguyễn Quang Thân, Lê Ngọc Trà. Vả lại đã từng phụ trách Hội đồng lý
luận phê bình sau Đại hội nhà văn lần thứ 4, tôi thấy Hội đồng này thực chất
không có vai trò gì, bị vô hiệu hoá ngay cả đến việc kết nạp hội viên và tặng giải
thưởng (về lý luận phê bình).
Nhưng có phải vì thế mà Điềm căm ghét và trả thù tôi hay không thì lúc
ấy tôi không tin. Tôi vẫn nghĩ, Điềm làm gì đến nỗi tiểu nhân như thế.
Nhưng thôi, hãy trở lại chuyện Trần Mạnh Hảo.
Lần đầu tiên tôi biết Hảo là do Hữu Thỉnh. Hữu Thỉnh buộc phải tổ chức
một cuộc trao đổi về tiểu thuyết Ly Thân. Thỉnh nói riêng với tôi nương nhẹ khi
phát biểu để đỡ tội cho Hảo.Té ra giữa Hữu Thỉnh và Hảo đã có quan hệ thân
tình rất lâu rồi.
ở Đại hội nhà văn lần thứ IV và lần thứ V, Hảo ngồi cạnh tôi, nói chuyện
rất thân mật. Y còn tặng sách tôi và chép thơ vào sổ tay tôi.
Tôi thường được mời vào Sài Gòn công tác. Hảo có lần tìm đến thăm tôi
ở một căn hộ trong chung cư 21 Lý Tự Trọng, nơi ở của con trai tôi, có thời gian
công tác ở Thế giới mới (Hiện tôi còn giữ hai tấm ảnh chụp với Hảo ở căn hộ
này.) Mỗi lần vào Sài Gòn, tôi thường được gọi đến nhậu ở “dinh cơ” Thu Bồn.
Nhiều lần tôi thấy Hảo cũng có mặt ở đấy cùng với vợ. Lúc ấy Hảo đóng vai cấp
tiến.
Vậy mà vào đầu nhưng năm 90, hảo trở cờ, đánh vào phái cấp tiến từng
nhậu với y ở chỗ Thu Bồn.
Lúc đầu những bài trở cờ của Hảo đăng ở báo Công an Thanh phố Hồ Chí
Minh. Con trai tôi hỏi Hảo: “Sao anh lại viết như thế?”, Hảo trả lời: “Chú mày
phải cho anh kiếm bát cháo chứ!”. Nghe nói, vợ hắn quốc tịch Pháp, thường
buôn thuốc tây từ Paris về Sài Gòn. Hắn cần trở cờ để giúp vợ dễ dàng giao
thiệp với Công an, với Hải quan. Anh Đức đã bầy cho hắn mẹo ấy và chỉ đạo
hắn đánh vào cánh đổi mới. Đúng là hắn đã chừa ra không đụng đến bọn cơ hội
bảo thủ như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Anh Đức, Bảo Định Giang, Trần Thanh
Đạm, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Phương Lựu..vv…
Hảo đánh vào hầu hết những bài viết của tôi, từ sách chuyên luận (Con
đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ) đến sách giáo khoa, từ bài viết
về Hồ Chí Minh, về Văn học giai đoạn 1945 – 1975, bài Tổng quan văn học Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử đến bài viết về Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên
Hồng, Hoài Thanh..vv…
Tất nhiên tôi chẳng kể lại làm gì những bài viết mà những người có học
hành hẳn hoi và đứng đắn đều thấy là vừa ngu vừa đểu. Tôi chỉ ghi lại một
trường hợp, do sử dụng Hảo mà nhiều nhân vật trong bộ máy quản lý văn hoá,
giáo dục của ta trở thành trò cười.
Năm 1977, báo Nhân dân đăng một bài của Hảo phê phán bài viết của tôi
trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục lớp 12. ấy là các bài Nguyễn ái Quốc –
Hồ Chí Minh và Khái quát về Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975. Đại khái y
cho tôi phủ nhận giá trị văn chương của văn thơ Hồ Chí Minh khi cho rằng, đối
với Hồ Chí Minh, sáng tác văn thơ trước hết là hành vi chính trị và đưa ra luận
điểm phân biệt thơ của Người làm hai loại: một là thơ tuyên truyền chính trị trực
tiếp giống như những bài ca, bài vè nhằm vào đại chúng văn hoá thấp, hai là thơ
nghệ thuật làm để giải trí cho mình hay một số cán bộ cao cấp gần gũi với mình,
thường viết bằng chữ Hán. Còn về bài Khái quát văn học 1945 – 1975 thì cho là
tôi phủ nhận văn học Cách mạng.
Nguyễn Đức Bình tán thành bài viết này. Ông triệu tập một hội nghị gồm
nhiều vị quản lý văn hoá văn nghệ như Trần Hồng Quân, Phạm Minh Hạc,
Nguyễn Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Đặng Hữu, Nông Quốc Chấn, Hữu
Thỉnh…
Tất cả đều nhất trí vất bỏ hai bài viết của tôi và tìm người viết thay. Điều
đáng chú ý là tất cả các vị có mặt trong cuộc họp này không có ai làm công tác
nghiên cứu văn học, không có ai nghiên cứu về văn thơ Hồ Chí Minh cả.
Các ý kiến đều được viết ra, nghĩa là có văn bản. Anh Hà Bình Trị, thư ký
của hội nghị, có gửi cho tôi một số bản chụp.
Đọc các ý kiến này mới biết những ông lãnh đạo văn hoá như Nguyễn
Đức Bình, Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Khoa Điềm,
Hữu Thỉnh, cứ tưởng trình độ nhận thức cũng khá, hoá ra không phải. Cũng y
như lý lẽ của Trần Mạnh Hảo vậy thôi. Mà đều rất chủ quan, toàn nói giọng
khẳng định không chút dè dặt những điều rất nông cạn, hời hợt ( Chỉ có Nguyễn
Đình Thi có tỏ ra dè dặt – anh không dự hội nghị nhưng có gửi thư đến. Anh đề
nghị việc xem xét, sửa chữa sách giáo khoa nên mời các nhà chuyên môn trao
đổi với các giáo sư soạn sách.)
Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá
một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn, lại
dựa theo ý kiến một tên vô lại. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không
mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến. Mà
không phải không có những thông tin khác. Giáo sư Hoàng Như Mai và giáo sư
Lê Trí Viễn có phản ứng trên báo. ngoài ra có một số bài nói lại khá cặn kẽ về
Trần Mạnh Hảo và về vấn đề Tuyên ngôn độc lập trong chương trình PTTH
ccgd của Đỗ Ngọc Thống, Đặng Lưu, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Gia Phong… Lại
có cả một bản tường trình cặn kẽ của Nhà xuất bản Giáo dục chung quanh vị trí
của bài Tuyên ngôn độc lập trong sách giáo khoa từ tiểu học, phổ thông cơ sở
đến phổ thông trung học để thấy chưa có bài văn nào được học quá nhiều như
thế.
Nhưng mặc, họ vẫn tin ở Trần Mạnh Hảo hơn ( tuy Hữu Thọ là học trò
của giáo sư Hoàng Như Mai .)
ít lâu sau, tôi được ông Trần Hồng Quân, bộ trưởng Bộ giáo dục và đào
tạo mời đến gặp sau giờ làm việc. Tôi đến nơi thì đã thấy mặt Trần Hồng Quân, Đỗ Bình Trị, Vũ Quốc Anh, Nguyễn Như ý, và một thư ký riêng của ông Quân.
Trần Hồng Quân phổ biến cho tôi về nhận định và cách sử lý hai bài viết
của tôi trong sách giáo khoa. Sau đó hỏi tôi có ý kiến gì không.
Tôi nói, nếu anh gọi tôi đến chỉ để phổ biến như thế thì tôi chả có ý kiến
gì, còn nếu anh hỏi tôi như một nhà nghiên cứu văn học thì tôi sẽ nói. Quân mời
tôi nói.
Buổi ấy tôi phát biểu rất thẳng thắn và quyết liệt, đại khái như sau: Các
anh khinh thường sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh quá, chả cần nghiên cứu
gì cũng hiểu được. Thực ra các anh chẳng hiểu gì. Nếu gọi tôi đến, tôi giảng cho
các anh nghe 15 phút các anh sẽ hiểu ra ngay.
Tôi lại nói, việc bỏ bài viết của tôi khỏi sách giáo khoa làm thiệt thòi cho
hai đối tượng: một là Hồ Chí Minh, hai là giáo viên, học sinh. Hồ Chí Minh thiệt
vì từ nay sẽ bị hiểu sai, đánh giá sai. Giáo viên học sinh thiệt vì từ nay không
được dạy và học một bài viết chính xác, khoa học. Còn tôi thì chẳng thiệt hại gì.
Vì tiêu chuẩn phong phó giáo sư, giáo sư người ta không tính điểm cho sách
giáo khoa phổ thông.
Tôi nói tiếp, càng sôi nổi hơn: hiện nay chúng ta đang ra sức chống nhiều
tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm… Theo tôi Trần Mạnh Hảo là một tệ nạn
nguy hại hơn nhiều vì hắn làm cho trí thức mất tin tưởng ở Đảng.
Hôm ấy, tiễn tôi ra xe, Vũ Quốc Anh bảo tôi: “Anh Quân nói, anh Mạnh
anh ấy phát biểu đúng đấy”.
Nhân đây xin kể một chuyện vui.
Đầu năm 1996, ở Pác Bó, Cao Bằng, người ta tổ chức lễ kỷ niệm rất to
ngày Bác Hồ về Pác Bó ( 2/ 1941 ). Tôi và nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học
được mời lên dự. ở Pác Bó người ta xây dựng một ngôi đền thờ Bác Hồ. Mọi
người lên Pác Bó thường vào đền dâng hương. Tôi tới thắp hương và khấn ( cho
vui thôi ): “Cháu viết về Bác cũng nhiều, và viết cũng khá. Vậy mà Bác không
phù hộ cháu, để chúng nó đánh cháu như thế!”
Dịp ấy giáp Tết âm lịch. Tôi vừa về đến nhà thì có biên tập viên Tạp chí
Cộng Sản đến đặt viết bài về văn thơ Hồ Chí Minh để đăng vào dịp kỷ niệm sinh
nhật cụ Hồ. Bài viết của tôi nhan đề: “Một sự nghiệp văn học lớn, phong phú, đa
dạng” Nội dung lặp lại những luận điểm hệt như trong sách giáo khoa ( Tạp chí
Cộng Sản 19/5/1996 ) Bài này được dịch ra nước ngoài trong Sciences Sociales
cùng năm ấy.
Cụ Hồ thế mà thiêng thật!
Hai bài viết của tôi trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục lớp 12, tuy đã
bị thay bằng bài của anh Hà Minh Đức, nhưng nhiều giáo viên nói với tôi vẫn
dạy theo bài cũ.
Bây giờ lại cải cách chương trình và sách giáo khoa một lần nữa. Hai bài
của tôi lại được lấy lại. Không biết các ông Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Hữu
Thọ, Hà Xuân Trường, Hữu Thỉnh có còn phản đối nữa không?
Gần đây bộ mặt Trần Mạnh Hảo thế nào, ai nấy đều rõ cả, chả cần nói làm
gì. Chỉ thương cho những vị chót dùng Hảo, chót tin Hảo.
Nghe nói Hảo nay lại có nhu cầu khác, nhu cầu này đòi hỏi phải chửi
Đảng thật ác. Và Hảo thấy cần phải trở cờ lần nữa, trở cờ ngược lại. Đối với Hảo
thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì y vốn có máu phản bội. Nhưng thật tội cho
những người dùng Hảo. Đúng là Bá Kiến dùng Chí Phèo, cuối cùng trở thành
nạn nhân của hắn.
Nhớ hồi nào, khi Hảo bắt đầu đánh tôi, tôi gọi điện cho Nguyễn Khoa
Điềm ( lúc ấy anh chưa vào Bộ chính trị ) rằng sao Đảng lại dùng Trần Mạnh
Hảo. Đảng dùng một kẻ như thế thì tôi thương Đảng lắm. Lúc đó tôi nhớ Điềm
đã trả lời tôi: “Anh nói thế người ta khó tiếp thu lắm”
Bây giờ không biết Điềm có còn nhớ cú điện thoại đó không?
Hẳn là anh phải thừa nhận tôi đã nói đúng.
Đây là một bài học đau đớn đối với nhiều nhà lãnh đạo văn hoá giáo dục.
Họ đã bị Hảo lỡm cho một vố thật đau. Một bài học cần rút ra: dùng người phải
chú ý đến nhân cách, đến cái tâm, cái đức của anh ta. Đừng chỉ có tin vào lời
phát ngôn. Phát ngôn tiến bộ mà nhân cách kém thì đích thị là cơ hội chủ nghĩa.
Nhưng nói cho vui thế thôi, chứ mục đích không tốt thì dùng người tốt sao
được! Người tốt nào lại đi làm tay sai cho họ chứ?
Cuối cùng tôi phải nói đến bố con Lê Xuân Đức, Lê Tuấn Anh. Cuộc đời
tôi chưa bao giờ gặp phải loại người bỉ ổi đến thế.
Lê Tuấn Anh là sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Bố là Lê
Xuân Đức dạy trường chuyên văn Lam Sơn Thanh Hoá. Đức nhờ chạy chọt
được cho con gái Hà Trọng Hoà, bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá, thi đỗ học sinh giỏi
và vào được đại học, Hoà trả công, đề bạt y làm phó chủ tịch Hội văn nghệ
Thanh Hoá, rồi đại biểu quốc hội. ở đây, hắn lại chạy được một chân ở vụ báo
chí hay giáo dục gì đó của quốc hội.
Khi Lê Tuấn Anh còn là sinh viên, Lê Xuân Đức còn ở trường Lam Sơn
Thanh Hoá, tôi có lần được mời vào dự trại bồi dưỡng giáo viên. Tối nào Lê
Xuân Đức cũng đem nem và rượu đến khách sạn nơi tôi ở, mời nhậu. Y còn mời
tôi tới nhà chiêu đãi.
Vậy mà khi là đại biểu quốc hội, con được giữ lại làm cán bộ giảng dạy,
lập tức hắn trở mặt. Tôi nhớ trong một kỳ hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Nguyễn Khoa Điềm vốn là sinh viên cũ, đang học ở Nguyễn ái Quốc, đến dự.
Tôi ngồi cùng Nguyễn Khoa Điềm nghe sinh viên đọc thơ, Lê Xuân Đức không
biết từ xó xỉnh nào chồm tới bắt tay Nguyễn Khoa Điềm. Tôi ngồi bên cạnh, hắn
lờ đi coi như không quen biết. Hắn cũng lặp lại một cử chỉ như thế khi tôi đang
ngồi với Nguyễn Văn Hạnh, lúc đó là thứ tưởng Bộ giáo dục. Hắn từ một hàng
ghế xa, chạy lại bắt tay Hạnh và lờ tôi đi.
Tất nhiên được Đức bắt tay thì có danh giá gì đâu. Tôi nêu chi tiết này
chẳng qua vì nó thể hiện rất rõ bản chất con người Lê Xuân Đức. Thảo nào khi
tôi vào Thanh Hoá, giáo viên trường Lam Sơn gọi hắn là Xuân tóc đỏ.
Lê Tuấn Anh khi còn là sinh viên, thường chạy đến tôi luôn, tỏ ý hâm mộ
và sẵn sàng phục vụ tôi khi tôi cần đến. Nhưng đến khi được giữ lại trường làm
cán bộ giảng dạy thì hắn đã viết bài phê phán tôi với giọng điệu rất hỗn.
Thì ra bố con Lê Xuân Đức, Lê Tuấn Anh đã đánh hơi được con đường
tiến thân kiểu Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo.
Theo Chu Văn Sơn, bạn từ thời học sinh phổ thông của anh, thì từ khi Lê
Tuấn Anh còn nhỏ, bố là Lê Xuân Đức đã bồi dưỡng cho cậu con trai thứ tâm lý
“vĩ cuồng.” Do một tai nạn ngẫu nhiên ảnh hưởng tới não bộ, tâm lý vĩ cuồng
càng phát triển, trở thành bệnh hoạn thật sự. Tuấn Anh học giỏi, có tham vọng
lớn, nhưng quá nôn nóng được nổi danh, lại sẵn có cái gien Xuân tóc đỏ của bố,
nên đã cùng bố đi theo con đường cơ hội chủ nghĩa bất chấp đạo lý làm người.
Tuấn Anh đã viết liền hai bài rất dài đăng trên Quân đội nhân dân tháng 4
năm 1995 phê phán tôi đã hạ bệ thơ văn Hồ Chí Minh.( bài Đọc thơ Bác, thời
nay và Bàn về cách đánh giá thơ văn Hồ Chí Minh trong Sách giáo khoa 12 – ký
tên Nguyễn Ngọc Châu )
So với cách viết của Trần Mạnh Hảo, Lê Tuấn Anh xuyên tạc, qui chụp có
vẻ tinh vi hơn, nghĩa là xảo quyệt hơn, khoe kiến thức một cách kín đáo hơn.
Nhưng mục đích cũng thế thôi: đánh vào cánh đổi mới. Không phải ngẫu nhiên
mà dưới đầu đề Đọc thơ Bác, thời nay, hắn nói tôi, trước công cuộc đổi mới, viết
về thơ Bác rất tốt, nhưng từ khi đổi mới đã chạy theo phong trào, hạ bệ Hồ Chí
Minh.
Do một cơn vĩ cuồng nổi lên khi chưa đạt được “chí lớn”, Tuấn Anh đã
nhảy lầu tự tử trong thời gian làm nghiên cứu sinh ở Nga.
Nếu Tuấn Anh còn sống, có lẽ Trần Mạnh Hảo phải gọi bằng cụ.
Tôi thật buồn vì có một học trò như thế. Nhưng nghĩ lại thấy cũng còn
may, may hơn Đức Chúa Giê Su rất nhiều. Chúa Giê Su có mười ba học trò thì
có một kẻ phản bội. Tôi có hàng nghìn học trò, một kẻ phản bội thì có nghĩa lý
gì đâu – vì thế có người cho tôi là có cung học trò trong lá số tử vi. GiêSu bị
phản bội đến nỗi phải chết. Tôi bị Lê Tuấn Anh phản bội, chẳng những không
chết mà uy tín cũng chẳng sứt mẻ gì.
Lê Tuấn Anh chết rồi, bố Lê Xuân Đức vẫn cố vớt vát danh vọng cho đứa
con bất hạnh. Y đề nghị tặng giải thưởng lý luận phê bình của Hội nhà văn cho
một tập bài viết của Lê Tuấn Anh. ( vì thấy sách của Trần Mạnh Hảo đã được
nhận giải thưởng ) Và, không biết dùng cách nào y đã lôi kéo được khá nhiều
“tri thức” tới hội thảo về sự nghiệp của Lê Tuấn Anh ở Thư viện quốc gia Hà
Nội và viết bài ca ngợi. Đáng chú ý là bài của ông giáo sư Mai Quốc Liên đăng
trên Văn nghệ Trẻ, đánh giá LêTuấn Anh là một “nhà bác học trẻ” và nêu vấn đề
chúng ta phải làm gì để xứng đáng với người thanh niên tài năng xuất chúng
này.
Anh Nguyễn Xuân Đức, chuyên viên ở Ban văn hoá tư tưởng Trung ương
nói với tôi: “Những lời lẽ Mai Quốc Liên ca ngợi Lê Tuấn Anh chỉ thấy ở bài
Điếu văn của ông Lê Duẩn ca ngợi Bác Hồ.”
Nhưng nghĩ đi, nghĩ lại, thấy Lê Tuấn Anh thật đáng thương. Giá cậu ta
có một ông bố tử tế thì đâu đến nỗi. Có lần cậu ta đã theo ông bác là Hoàng Tiến
Tựu đến tôi và một lần khác, nhờ người chuyển thư xin lỗi tôi. Nghĩa là cũng có
những giây phút ăn năn hối hận. Nhưng chắc rồi lại bị ông bố cuốn vào con đường danh lợi nên lương tâm lại tắt ngấm. Anh Nguyễn Hải Hà tổ trưởng tổ
văn học nước ngoài của khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội mà Lê Tuấn Anh là
tổ viên, đã khuyên nên cho cậu nghỉ ngơi để điều trị bệnh. Nhưng Lê Xuân Đức
không nghe, vẫn tiếp tục khuyến khích con lao vào giành giật danh và lợi để đến
nỗi học hành quá căng thẳng khiến bệnh tình tái phát (trước cuộc nhảy lầu ở
Nga, Tuấn Anh đã có một lần lao đầu vào xe lửa xuýt chết ).
* *
*
Có lẽ vì tôi luôn luôn bị qui chụp chính trị như thế, nên có những
chuyện đồn đại thất thiệt cả ở nước ngoài.
Đầu tháng 3 năm 1993, một ngày mưa gió ướt át. Tôi lúc ấy còn ở
Đồng Xa. Bỗng có một cô nhân viên phòng văn thư Hội Nhà văn lặn lội tới
đem giấy mời và thư riêng của anh Chính Hữu, phó tổng thư ký Hội nhà văn.
Giấy mời đến dự cuộc nói chuyện của đoàn nhà văn Thuỵ Điển, sau đó
nghe đọc thơ của các nhà thơ Việt Nam và Thuỵ Điển. Địa điểm 65 Nguyễn
Du, 9 giờ sáng thứ Năm 4 – 3 – 1993.
Còn thư riêng của anh Chính Hữu thì cho biết “Đoàn nhà văn này (nhà
văn Thuỵ Điển ) sang có mang theo một danh sách những nhà văn nói là bị
bắt, và họ muốn tìm hiểu thực hư - Đáng tiếc là trong danh sách ấy có tên
anh!!”
Hôm ấy đến gặp mấy ông Thuỵ Điển ở trụ sở Hội Nhà văn, tôi được
Ban chấp hành giới thiệu với đủ mọi danh hiệu cao quý: đảng viên, giáo sư,
nhà giáo ưu tú..vv…
Tôi hỏi tin tôi bị bắt ở đâu ra. Họ nói đọc trên một tờ báo ở Hồng
Kông.
Một điều lạ là tất cả những người có trong danh sách bị bắt đều không
có ai bị bắt cả: Trần Huy Quang, Phùng Quán, Nguyễn Duy, Nguyễn Minh
Châu ( đã chết ), Nguyễn Đăng Mạnh.
Phần ba - Tư liệu riêng về một số nhà văn Việt nam hiện đại
Nghiên cứu, phê bình văn học, tôi rất thích tiếp xúc với giới sáng tác.
Người tài, người đẹp bao giờ cũng có sức hấp dẫn đối với tôi.
Người tài, người đẹp, người tốt là những của quý hiếm trên đời, phải
biết nể trọng. Ai không biết nể trọng ba đối tượng ấy tôi cho là kẻ thô bỉ, thiếu
văn hoá.
Tôi tin ở người sáng tác – tất nhiên phải là những tài năng thật sự – hơn
là giới lý luận phê bình. Có lẽ vì khi tôi bắt đầu gia nhập vào giới nghiên cứu
phê bình văn học (1960) thì nhiều ông tiêu biểu, hay nói đúng hơn, được coi là
chính thống trong giới này, dường như đều không có tín nhiệm gì đối với những
người sáng tác: Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Hà Xuân
Trường, Thành Duy, Thế Toàn, Đông Hoài, Hoàng Xuân Nhị... Lê Đình Ky,
Nguyễn Văn Hạnh có khá hơn, thì đều bị đánh – nghĩa là phi chính thống. Ngay
Hoài Thanh cũng không được ưa. Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Nguyễn Đình Thi đều ghét Hoài Thanh. Đến như Xích Điểu (Trần Minh
Tước) mà cũng nói giọng giễu cợt: “Hoài Thanh thấy Tố Hữu làm bài thơ nào
cũng: Hay lắm! Hay lắm!”- Ông vừa nói vừa vung tay.
Nguyên nhân sự chia rẽ giữa phê bình và sáng tác có lẽ bắt nguồn từ ý
kiến của Trường Chinh, cho rằng Đảng lãnh đạo văn nghệ thông qua phê bình.
Vậy là biến phê bình thành cán bộ tuyên huấn rồi còn gì! Và phê bình đóng vai
lãnh đạo, tự đặt mình lên trên sáng tác, cao giọng dạy dỗ sáng tác.
Ngoài ra, hồi ấy, tôi thấy lí luận có nhiều điều chẳng ăn nhập gì với
thực tế của văn học. Nghĩa là hết sức giáo điều. Vì thế tôi chủ trương phải tiếp
xúc trực tiếp với giới sáng tác. Từ kinh nghiệm thực tế của họ mà khái quát lên.
Tất nhiên cũng phải đọc lý luận, nhưng phải từ thực tế mà tiếp nhận lý luận.
Lúc đầu tiếp xúc với nhà văn, tôi chưa có ý thức tích luỹ tư liệu, nên
không ghi chép lại cẩn thận. Ngày nay, chỗ nhớ, chỗ quên, rất tiếc. Về sau thấy
có ích cho việc viết lách của mình, nhất là viết chân dung, tôi bèn ghi lại kín đặc
gần 40 cuốn sổ tay. Những nhà văn tôi không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp thì
tôi tìm gặp những người từng có quan hệ với nhà văn ấy để khai thác. Như
trường hợp Hồ Chí Minh hay các nhà văn đã mất như Vũ Trọng Phụng, Nam
Cao...
Những tư liệu này tôi đã sử dụng một phần để viết những bài chân
dung. Khi viết, vì lý do tế nhị, nhiều trường hợp tôi phải dấu tên người này,
người khác. Ngoài ra có những tư liệu quá tục tĩu, không sạch sẽ, tôi không dám
dùng, hay nếu dùng thì cũng phải gột rửa đi.
Bây giờ tôi cứ bày tất cả ra. Tư liệu thì chỉ cần xác thực. Ai lại đi phân
biệt tư liệu thô và tư liệu tinh, tư liệu bẩn và tư liệu sạch!
Chắc có người thắc mắc, những tư liệu ấy thì có ý nghĩa gì? Tôi cho rằng có ý nghĩa hay không là tuỳ ở người biết sử dụng.
Vâng, tôi cứ bầy ra đây những ghi chép ở dạng thô mộc nhất, không gọt
rũa, tắm rửa gì hết, chỉ sắp xếp lại đôi chút cho mạch lạc mà thôi.
Tôi cứ trình bầy lần lượt từng nhân vật một. Tôi sẽ không nói lại những
điều người khác đã viết ra, như Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng,
Xuân Diệu... trong Cát bụi chân ai?, như Vũ Bằng viết về Nguyễn Tuân, Nam
Cao... trong Bốn mươi năm nói láo, như Trần Dân Tiên viết về Cụ Hồ trong
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, hay Vũ Thư Hiên viết
về Cụ Hồ trong Đêm giữa ban ngày...
Tôi chỉ viết những điều tôi trực tiếp nghe được, biết được- nghĩa là
muốn đây là những tư liệu riêng của tôi.
Đối với mỗi người, tôi viết nhiều hay ít, không phải do thái độ khinh
trọng khác nhau, mà đơn giản chỉ là tôi biết đến đâu thì viết đến đấy. Có người
tôi biết nhiều, có người tôi biết ít. Cũng có trường hợp, tôi biết không ít, nhưng
những điều tôi biết, tôi đã viết cả ra rồi trong một bài chân dung nào đấy, nên
không còn gì để viết thêm nữa. Đấy là lý do họ không có mặt trong hồi ký này,
như trường hợp Nguyễn Minh Châu, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Nguyễn
Lương Ngọc.
Chương VII: Hồ Chí Minh
Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần. Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa
tháng tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về Thị xã Bắc Ninh. Tôi
tiếp tục học cấp II ở trường Hàn Thuyên.
Một hôm được tin Hồ Chủ Tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được
nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ
Tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.
Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi Chủ tịch
Hồ Chí Minh tới.
Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa
phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu
liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông
tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.
Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người
gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý
gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô “Hồ chủ tịch muôn
năm!”
Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác,
rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp,
cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế.
Hồi đó, ở Bắc Ninh, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động khá mạnh. Đã
có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở
Thị Cầu. Chắc vì thế nên Ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.
Lần thứ hai tôi được thấy Hồ Chủ Tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó,
hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư phạm Vinh.
Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho Ông gặp đồng bào ở một cái
sân vận động của thị xã.
Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre – có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên
đó với một số cán bộ Tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi
người:
- Đảng lao động Việt Nam Muôn năm!
- Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!
Ông Hồ vung tay rất cao.
Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!
Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội
rụt tay xuống.
Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.
Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.
Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn,
không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang
nói dở một câu tục ngữ: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy...” thì vội ngừng lại và lảng
sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả
lại “cậy thần” là thần nào, thần Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên
không nói tiếp câu ấy nữa.
Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn
học Việt Nam hiện đại. Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn
Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về
Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Vũ
Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về Ông Hồ, trước hết
là chung quanh sự kiện Ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật kí
trong tù.
Ông Hồ về PắcBó đầu năm 1941 ngày 28 – 01, tháng 8 – 1942 ông trở
lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và
mua vũ khí về cho Việt Minh.
Ông Lê Quảng Ba cùng đi với Ông Hồ. Đến một địa điểm nào đó thuộc
Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau,
cố đi một cách khó khăn. Để động viên người đồng hành với mình, Ông Hồ vừa
đi vừa kể Chính phụ ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba muơi năm, Hồ
Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh phụ ngâm.
Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại
tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, Ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông
có một thanh niên Trung Quốc tên là Dương Đào – tất nhiên cũng là một cơ sở
cách mạng. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn
Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27 – 8 – 1942).
Không phải Ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể
sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu
phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở PắcBó, có người đã thấy ông phơi
đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ
khí cho Việt Minh.
Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ
đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung
Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù
cũng đã nói rõ trong thơ của mình:
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian
(Đường đời hiểm trở)
Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.
(Đi Nam Ninh)
Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy gio ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ
Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt... nghe tin cụ Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người
sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt
tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng
Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.
Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển
Hồ Chí Minh sáng chế độ nhà tù khác. Trong Nhật kí trong tù, bài Bốn tháng
rồi có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cũng
cực khổ của Ông Hồ – “Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn hơn
mười năm trời”
Chuyển sang chế độ nhà tù mới, Ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá
hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều
sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này
ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều đáng
chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú thì bài Bốn tháng rồi là bài
thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì
sao vậy? Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện
làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị cho
cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm “Tam dân
chủ nghĩa” của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch tặng (Cuốn
“Trung Quốc đích mệnh vận”)...
Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. ở cuối tập Nhật kí còn có
tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc
báo lan, và những thu hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan
Mới biết, viết bài Mở đầu (Khai quyển) Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh
đã nói thật lòng mình:
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Hồ Chí Minh được bọn Tầu Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên,
chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.
Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù ông Hồ
gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu)) cùng với
Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi
(tháng 12 – 1943). Trong liên hoan, họ có thử tài nhau bằng thách đối.
Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối khá hóc hiểm:
“Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh”
Ông Hồ xin đối:
“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách”
Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi: “Đối hay lắm!”. Còn
Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói: “Hồ Tiên Sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục!”
Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt:
nhảy điệu Nga – la – tư. Một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.
Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông Hồ
có nói, khi mới ra tù “chân mềm như bún”, đi không được, phải tập leo núi rất
khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy điệu Nga –
la – tư?
Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là ông Hồ, không
phải Hán gian, nhà chức trách Trung Quốc cho ông được hưởng chế độ quản
thúc. Nghĩa là chỉ không được ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra
ngoài nhà tù để leo núi, tập đi, tập luyện mắt (Cho nên mới có chuyện, ở Liễu
Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương Phát Khuê). Khoảng giữa
tháng 9 – 1943, sau một thời gian tập luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi
vững mà còn trèo được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Ông cao hứng làm một
bài thơ chữ Hán:
Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Nam vọng trùng dương ức cố nhân
(Vừa đi đường vừa kể chuyện)
Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao
Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp, trong tập hồi kí Những chặng đường lịch sử cho biết: “Bữa ấy, tôi về cơ quan
hội báo tình hình thì thấy anh Đông, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh
một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:
- Anh xem có đúng là chữ của Bác không?
Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, trên mép trắng có mấy hàng
chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ Bác, Bác viết: “Chúc chư
huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. ở bên này bình yên”
Phía dưới lại có một bài thơ”.
Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9 – 1943) trước cuộc liên
hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12 – 1943)
Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong buổi liên hoan tiễn cụ Hồ về nước
hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi
theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.
Về tập Nhật kí trong tù, có người nói, ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra
khỏi tù. Thực ra không phải.
Ngày 16 – 9 -1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn
được ông giữ cẩn thận.
Ngày 14 – 9 – 1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt,
trưởng ban tổ chức triển lãm cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu: “Tôi có quyển
sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem
có triển lãm được thì dùng”. Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bầy ở phòng “Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương”
Nhật kí trong tù hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết hoạ sĩ Diệp Minh
Châu từng sống với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở Việt Bắc thời kháng chiến chống
Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp hoạ sĩ ở nhà riêng.
Hai vợ chồng cùng là hoạ sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có
thể nói là tanh bành. Đất sét, thạch cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền
nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân...
bằng đất sét.
Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ sọ chuyện
kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.
ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.
Diệp Minh Châu ở với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở chiến khu Việt Bắc
trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội hoạ, điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn
với Hồ Chủ Tịch.
Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp Minh
Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là
chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo: “Chú cứ ăn trước đi”.Tất nhiên
Châu không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với hoạ sỹ: “Về sau
chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước, khổ lắm!”
Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh vừa
qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục nổi các đồng
chí của mình: Người ta đang sùng bái Staline, Mao Trạch Đông, không chịu
nghe Hồ Chí Minh, chắc thế.(Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản
chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ (khi hai người
cùng công tác ở Liên Xô): Năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông
ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí (tavarich).
ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh
Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật kí trong
tù: “Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba
cách: một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành,
ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ”. Thì ra đối
với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy
thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật kí trong tù như một tập thơ, ông đều từ
chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không
phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi,
thế thôi. (Trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông đã nói như thế).
Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng,
Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam
Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc.
Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị
Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.
Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh
viên văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất
trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,
oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi
đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều
chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa
đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ.
Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu
của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác
chỉ chỗ cho mà đi”
Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi
nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí
Minh.
Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoievsky trong Anh em
nhà Karamadôp: “Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con
người nói riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều
khi tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (...) thế những tôi lại không thể
sống chung với bất kì ai trong một căn phòng”. Đó là loại người mà
Dostoievsky gọi là chỉ có “ tình yêu mơ mộng” chứ không có tình yêu thực sự.
Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể
thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.
Anh Trần Việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương tự về ông
Hồ. Trước căn nhà sàn của chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương
anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho
anh ta ăn. Anh lính không dám ăn vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ
nói: Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ.
Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử với mọi
người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn trọng con người: Hồi kháng chiến chống
Pháp, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời
gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt (Chắc là Dương Bích Liên thích
vẽ Hồ Chí Minh trong sinh hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ
chăng?). Tố Hữu quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi
ông Hồ biết chuyện này thì Dương Bích Liên đã đi rồi. Hồ Chí Minh không
bằng lòng với cách đối xử như thế. Ông cho người đuổi theo mời hoạ sĩ trở lại
để có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.
Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa
là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình
thường.Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có
khi Hồ Chí Minh cũng phải “diễn” những điều trái với bản chất của mình. Vì
thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt
cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông nói: “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!”
Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại
cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng
chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người
chở thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.
Hoạ sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông
thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi (Người ta nuôi một
con bò để lấy sữa cho ông).
Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh
thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn
viên cho đỡ nhớ – hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.
Hà Huy Giáp cho biết: Một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông Hồ,
bảo ông là surnature - ông Hồ nói: “Chúng mình là contrenature”.
Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ Chủ Tịch. Ông kể chuyện hồi
năm 1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và
ở với Cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ: “Sao Bác không lấy vợ mà chịu được”. Ông Hồ
nói: “Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là
40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi. Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày,
mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh
ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng.
Nên mặc quần áo vải. Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu.
Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Để khỏi “nhàn cư vi bất
thiện”.
Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho
chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của cụ Hồ.
Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm gì về Hồ Chí Minh. ấn tượng
để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ
cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc
lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi: “Các đồng chí có bao
nhiêu nữ?”
Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế: Để râu
dài. áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy...
Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của
người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.
Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng, ông Hồ có ý
thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt
minh hoạ đường lối chính trị. Những bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc
loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ
thuật diễn đạt tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau
những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có
cách gì để làm việc cho cách mạng.
Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã phê phán tôi về sự phân
biệt này: Thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ thuật và thơ Bác là thơ cách
mạng sao lại bảo là để giải trí.
Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.
Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị, khiêm tốn
của cụ Hồ: khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều
người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sửa chữa cho thật dễ hiểu, dễ nhớ
đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt
nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý tập
thể như thế!
Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi thường được nhiều nơi mời đi
nói chuyện về thơ Hồ Chủ Tịch. Thường có chị Trần Thị Tuyết cùng đi để
ngâm thơ minh hoạ. Chị Tuyết cho biết, khi Hồ Chủ Tịch còn sống, vào dịp
cuối năm, chị thường được gọi đến để ngâm thơ chúc Tết của Chủ tịch và phát
luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông trong Bộ Chính trị. Khi ngâm thơ
chúc Tết, chị để ý thấy ông Hồ có vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông
thường bảo chị chuyển ngay sang ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm đoạn
Kiều nào. Chị nói, thường Bác bảo ngâm đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.
*
Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không
biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.
- Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố Hồ Chí
Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà Thị Xuân người dân tộc
Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ
đòi chính thức hoá, người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị
em.
Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên
trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh
được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy Sử ở
Đại học Sư phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng
gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể
trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá: điều
này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị
Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị
cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng
đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn
giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một
cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích,
không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống
sông Bằng Giang, Cao Bằng.
Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái
đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi
quần, slip... rất vô ý. Có một cô người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói
đầu, ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy –
lấy vì mục đích chính trị – chắc ông nói cho vui.
Tô Hoài cũng cho biết, Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng
Tầu, có lần cùng đi với Hồ Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi
sáng, Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: “Không có vợ, khổ
thế!”
- Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra
nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?
Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình báo
cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang
Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người
bán nước mắm, từ Nghệ An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả
Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội
Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái
là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.
Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái,
sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.
Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.
Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho
Nguyễn Tất Thành đi Pháp.
- Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?
Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh
hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài
liệu: khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có
đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát
với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa
chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được).
Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi,
thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên
đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá
Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.
Xem chừng Hồ Chí Minh thích tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên
hơn. ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây,
Trung Quốc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu cách mạng
của Tôn Trung Sơn.
Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến:
Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị
sớm quá! ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt
Nam chính thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với nước mình.
Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần
Huy Liệu, Huy Cận đã lên đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông
muốn cho người đuổi theo để gọi trở lại, nhưng không kịp. Anh Phạm Tuyên
cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện
lỡ rồi, ông chỉ còn biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi (ông gặp hai bà con gái của Phạm Quỳnh). Hồi mới sang Pháp, Nguyễn Tất
Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh (cùng với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường).
Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.
Ngoài ra, từ hồi dự hội nghị Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ Chí Minh
đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương lượng hoà bình với chính
quyền Sài Gòn.
- Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm
lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt đại chiến thế giới thứ hai và cách mạng
tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950);
năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).
Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.
Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài Diễn ca lịch sử nước ta:
“Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu
cường trong phe Đồng Minh là Staline, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh
chấm dứt năm1946.
Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ,
lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến
tranh chống phát xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện
đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!
Trần Quốc Vượng kết luận: Cụ Hồ có tử vi.
Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở thư viện quốc gia có
cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư
nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư
viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho Cụ Hồ
đọc rồi. Sách đang ở chỗ Cụ Hồ.
Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc
chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng
đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền
Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:
- Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?
- Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là
các chú - Ông Hồ trả lời như vậy.
Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày
nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các
chú”.
- Một câu hỏi khác đặt ra: Cụ Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình
không? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh, nay lại nói ông có ý thức
thần thánh hoá? Tôi cho hai chuyện có chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có
khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải diễn kịch nữa – Về mặt này, ông Hồ cũng
khá “siêu” đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng
người già và sùng bái thần thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho
nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là già Hồ. Và cũng không
phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán
những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư
luận quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ Chí Minh hay chỉ là “sáng kiến” của
Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ? Nhưng ông Trần Dân Tiên viết Những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn
hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!.
- Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch,
sống cứ phải “diễn” như thế, kể cũng khổ. “Không có gì quý hơn độc lập tự
do”. “Diễn” tức là bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa! Liệu
đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này?
Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt
đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm
1946, Hồ Chí Minh ở hội nghị Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và
một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, Cụ Hồ diễn trò nhẩy son lá son với
các thuỷ thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không
theo Hồ Chí Minh nữa. Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang.
Nhưng Hoàng Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau này
có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.
- Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ Chí Minh. Ngày sinh cũng
do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc Tuyên
ngôn độc lập (2/9)
Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày lịch sử ấy.
Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết lấy lại họ Hồ là dòng máu thật của
mình (Hồ Sĩ Tạo) thì cũng có thể quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước,
ngày mà ông đọc Tuyên ngôn độc lập.
- Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh
mình – Tôi cãi lại Hiến.
- Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần dứt hết những
dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ sao! – Hiến khẳng định thế.
Một phán đoán không phải là không có lý!
Hà Nội, ngày 6.7.2006.
Chương VIII: Tố Hữu
Nhớ lại ba, bốn chục năm về trước, vào những năm 60, 70 của thế kỷ
vừa qua, biết bao thế hệ đã từng mê thơ Tố Hữu. Mê thật sự. Đọc những bài như
Bài ca mùa xuân 61 mà chảy nước mắt. Hồi ấy ông rất xứng đáng với danh hiệu
“Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”. Để phục vụ cách mạng và
kháng chiến, thơ ca hồi ấy bám rất sát từng nhiệm vụ chính trị, nên thường viết
chung một số đề tài: anh bộ đội, anh giải phóng quân, Bác Hồ, anh Trỗi, mẹ
Suốt, chị Trần Thị Lý, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Bắc tiến lên chủ
nghĩa xã hội... Ngẫu nhiên mà thành ra những cuộc thi thơ toàn quốc. Trong
những “cuộc thi” như thế, Tố Hữu hầu như đều chiếm giải nhất.
Vinh quang của Tố Hữu đâu chỉ ở tư cách nhà thơ. Về chính trị ông
cũng lên vòn vọt, có lúc tưởng như là người kế cận Lê Duẩn, thay Lê Duẩn đến
nơi. Cho nên ngày Tết, người ta xếp hàng nối đuôi nhau ra tận ngoài đường để
chúc Tết Tố Hữu. Loại như Nguyễn Văn Hạnh, Hà Xuân Trường thì phải xếp
hàng mãi tít ngoài đường, rất xa. Còn Hoàng Xuân Nhị thì chỉ rình rình chen
ngang... Lúc bấy giờ được viết về Tố Hữu cũng danh giá lắm! Tôi nhớ có lần
anh Lý Hải Châu, giám đốc nhà xuất bản Văn học có ngỏ ý giao cho tôi làm
Tuyển tập thơ Tố Hữu. Định thế thôi chứ đã giao thật đâu. Vậy mà tiếng đồn ra,
nhiều người đã mừng cho tôi. Anh Xuân Diệu gặp tôi, bắt tay chúc mừng: “Thế
là Mạnh bắt đầu được tiếp cận với nhà đỏ rồi đấy!”
Thế mà bây giờ! Không thể ngờ Tố Hữu xuống giá nhanh chóng và
thảm hại đến thế, ở cả hai tư cách: nhà chính trị và nhà thơ. Hầu như các thế hệ
làm thơ bây giờ không ai còn làm theo phong cách Tố Hữu nữa.
ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội (có lẽ khoa Văn các trường Đại
học khác cũng thế) có điều này, nếu Tố Hữu sống lại chắc buồn lắm: hàng năm
cán bộ giảng dạy phải hướng dẫn hàng trăm sinh viên cao học, hàng chục
nghiên cứu sinh làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Đề tài ngày càng bí, quanh đi quẩn
lại khai thác mãi những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam
Cao, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh
Châu... hầu như đã cạn kiệt. Rất bí. Cả thầy lẫn trò đều bí. Vậy mà không ai
chịu làm về Tố Hữu, tuy Tố Hữu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương
trình phổ thông và đại học như một tác gia lớn của nền văn học hiện đại Việt
Nam.
Kể cũng lạ! Tôi cho rằng hiện tượng này cần được giải thích, nhất là đối
với những thế hệ lớn lên sau 1975, đặc biệt là sau 1986, khi đất nước bước vào
thời kì đổi mới. Tất nhiên, giải thích theo quan điểm lịch sử.
Theo tôi tốt nhất là tôi thuật lại những lần được trò chuyện với Tố Hữu
trước 1986. Chính những lời phát biểu của ông về chính trị, về thơ ca sẽ giải
thích cụ thể sự thăng trầm của số phận ông. Ngoài ra cũng phải hiểu ông đã
quan niệm về thơ như thế nào và làm thơ như thế nào. Vì vẫn phải giảng thơ
ông trong nhà trường, vì dù sao ông cũng là một nhà thơ tiêu biểu nhất, vẻ vang
nhất, có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại và trong chương
trình môn văn ở các trường phổ thông và đại học.
Tôi được gặp riêng Tố Hữu hai lần, không kể những lần được nghe ông
nói chuyện ở các hội nghị.
Qua hai lần tiếp xúc với Tố Hữu, tôi thấy ông là người thông minh, nói
rất giỏi. Một nhà hùng biện. Ông rất tin ở những điều mình nói như là những
chân lý tuyệt đối. Nói rất sôi nổi, say sưa, không cho ai cắt ngang dòng biện
thuyết của mình.
Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất là năm 1967. Địa điểm: nhà riêng Tố Hữu,
76 Phan Đình Phùng.
Hồi ấy gặp riêng Tố Hữu rất khó. Anh Huỳnh Lý, lúc ấy là chủ nhiệm
khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, đã liên hệ trước như thế nào đó mới xin phép
được. Rất tiếc cuốn sổ tay tôi ghi chép về cuộc tiếp xúc này tôi đã để thất lạc
mất thành ra chỉ còn lưu lại được trong óc một vài ấn tượng.
Tố Hữu nói về chính trị là chính. Ông say sưa ca tụng dân tộc mình
trong chiến tranh chống Mỹ vừa thông minh vừa anh hùng. Ông nói về Nguyễn
Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé. Ông rất lạc quan và hoàn toàn thoả mãn về Đảng, về
cách mạng Việt Nam chỉ có tiến lên theo đường thẳng. Con đường chỉ có toàn
ánh sáng. Cách mạng Việt Nam không hề có bi kịch.
Tố Hữu tỏ ra rất phục Lê Duẩn. Ông cho Lê Duẩn đúng là một penseur.
ấn tượng khó quên nhất của tôi là ông nói liên miên, nói rất nhiều. Tôi
nhớ ông nói từ khoảng hai ba giờ chiều. Nói rất bốc. Lúc đầu còn ngồi ngay
ngắn, sau co chân xếp bằng tròn trên salon. Tôi ngồi sát cạnh, thỉnh thoảng ông
còn vỗ mạnh vào đùi tôi, hỏi một câu gì đó. Hỏi không phải để nghe trả lời, mà
là cách gây chú ý, để nghe ông nói tiếp. Ông nói cho đến khoảng năm giờ chiều.
Anh thư kí riêng đi ra, xem đồng hồ, ý nhắc ông nghỉ cho đỡ mệt. Ông không
để ý, đứng dậy bật đèn, nói tiếp.
Thực tình lúc ấy tôi mót đi tiểu quá. Ngồi ngay cạnh ông, đứng lên
không tiện. Vả lại biết đi to Toalét ở chỗ nào! Mà cũng nghĩ ông sắp nghỉ rồi, vì
trời đã muộn. Nhưng ông cứ nói, nói liên miên, nói say sưa hào hứng. Lúc đó,
thực bụng tôi nghĩ: Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương,
chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất.
Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghỉ, có lẽ do cách nhắc khéo của anh
Huỳnh Lý. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, không hiểu sao, ông lại còn
giữ tay, nói tiếp mấy câu nữa. Sợ quá!
Cuộc tiếp xúc thứ hai. Địa điểm: ở ngôi nhà bát giác cạnh trường Chu
Văn An bên Hồ Tây, năm 1980.
Lần này do anh Đoàn Trọng Huy, phó chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư
phạm Hà Nội liên hệ được. Lúc này tôi đã được chuyển ra công tác tại Hà Nội.
Cũng như lần trước, Tố Hữu vẫn nói nhiều, nói liên miên. Ông nói về
chính trị, về thơ, về việc giảng dạy văn trong nhà trường. Sau năm 1975, tình
hình đất nước đã ít nhiều đổi khác. Vì thế ông cũng nói đến chuyện mở cửa, đến
chống chủ nghĩa Mao, đến mở rộng đề tài thơ và phát triển phong cách thơ.
Nhưng tinh thần vẫn như cũ, vẫn Đảng ta là đúng nhất, sáng suốt nhất,
nhân dân ta, dân tộc ta là tuyệt vời, Mác Lênin là chân lý tuyệt đối, và văn học
gắn với chính trị, phục vụ chính trị là chân lý muôn thuở.
Dưới đây là lời độc thoại triền miên của Tố Hữu, tôi ghi lại được:
" Vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, tưởng không còn
chuyện gì nữa, hoá ra không đơn giản. Vẫn còn có nhiều người chưa nhận ra cái
lẽ lớn ấy.
Văn học phải góp phần tạo ra con người mới, con người xã hội chủ
nghĩa, để bảo vệ và xây dựng đất nước. Với dân tộc ta, động viên hy sinh xương
máu dường như dễ hơn là động viên đổ mồ hôi, đổ trí óc để tăng năng suất lao
động, cải thiện đời sống cho mình.
Tiêu chuẩn đánh giá một nền văn học lớn là góp sức tạo ra con người
mới. Đó là thước đo, nói là cao nhất cũng được, nói là duy nhất cũng được.
Cũng có thể gọi đó là quan điểm thẩm mỹ của ta.
Đúng là các vấn đề văn học nên đưa ra tranh luận, kể cả với quan điểm
đối địch. Nên làm quen với những cách suy nghĩ khác nhau. Nên học cả những
vũ khí của địch. Muốn hay không muốn, trái đất cũng có những cuộc giao lưu
như thế. Không nên bịt cửa. Trong thời đại này, không có dân tộc nào sống như
thế. Chủ nghĩa Mao nẩy sinh trong sự bịt cửa, tự bịt cửa trong ngu dốt và tàn
bạo.
Phải mở cửa. Mở cửa để đón ánh sáng và gió mát chứ không phải để
đón ma quỷ. Vì đời có cả thiên thần và ma quỷ... Phải biết đóng cửa, mở cửa
một cách khoa học. Mở cửa cũng còn để trao đổi với ngoài. Có vay có trả, có
góp cho đời. Ta rất tự hào về văn học ta là văn học của một dân tộc tiên phong,
có vẻ đẹp của nó.
Quy luật từ xưa đến nay là quy luật riêng chung.
Xưa cái chung lấn át cái riêng.
Nay cái riêng lấn át cái chung.
Cần hoà hợp riêng chung. Cái chung mà không phát huy cái riêng, cái
riêng nó sẽ quay lại chống lại cái chung.
Làm chính trị là l’art des possibités. Làm sao sử dụng được đến ngón tay
út của con người. Tập thể là vô cùng. Con người cũng là vô cùng. Nói vượt
mình là không đúng. Nên nói phát huy khả năng của mình. Làm sao vượt mình
được! Chủ nghĩa Mác ý thức được khả năng vô tận của con người.
Con người là gì? Cuộc sống là gì?
Là vật chất, trí tuệ, tình cảm – là con – người – mới.
Khổng Tử phủ nhận “con” là dối trá. Thực ra Khổng Tử coi con người
là trâu chó.
Con người khác con vật là có trí tuệ và tình cảm. Có cái đầu pensant.
Mao không cần. Tư sản cần nhưng chỉ cần để phục vụ nó. Làm trái nó, nó chặt
đầu. Mọi chế độ bóc lột đều ngu dân ở những mức độ khác nhau, mức hạn chế
khác nhau, do lợi ích giai cấp. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản là parti de
l’intelligence.
Cái “con” là nécessité. Nhưng trí tuệ, tình cảm mới là đặc trưng của
người. Chủ nghĩa xã hội là làm chủ tập thể cộng với công nghiệp hoá. Lênin thì
nói: Chính quyền Xô viết và điện khí hoá...
Bác Hồ thì nói độc lập tự do. Tự do là chuyện muôn đời. Nécessité
comprise là chuyện muôn đời. Vĩ nhân là làm chủ quy luật và chiến đấu cho tự
do. Đúng thế. Nhưng thực sự là người tự do, khó lắm! Hạnh phúc lớn nhất là tự
do, là làm chủ.
Uống ngụm nước suối trong đỡ khát
Trông trời cao mà mát tâm can.
Nước suối mà sao ngon? Vì đó là tự do, là nécessité, quy định bởi cái
nécessité cao hơn tức là cứu nước. Tôi chỉ nói tới nói lui những điều đã cũ,
không có gì mới. Vì không cần nói gì hơn.
“Bay vào vũ trụ” là nécessité
Dép lốp là nécessité.
Tôi thừa nhận dép lốp, cơm khoai, vì đó là nécessité. Song tôi cũng có
cái đầu để mơ ước chứ! Cho nên tôi thấy bay vào vũ trụ cũng là nécessité.
Nói vị nghệ thuật là dối trá. Ai chả vì cuộc sống này khác. Chỉ có người
cộng sản là nói ouvertement. Phong kiến, tư sản không dám nói. Còn tiểu tư sản
là tù binh của mọi nguồn, bơi trong mọi dòng nước, tự lừa dối mình. Tiểu tư sản
không có đời sống độc lập. Ta nói ouvertement vì ta nói sự thật và chỉ có ta mới
nói được.
Thanh niên bây giờ có xu hướng “Tây loăng quăng hoá”, dễ mất tính
dân tộc. Ông cha ta bản lĩnh lắm, mãnh liệt lắm nên mới tránh được Tây hoá.
Nhưng dân tộc phải nhịp theo thời đại. Đó là sự thật khách quan.
Thời đại là: ba dòng thác cộng với cách mạng khoa học kỹ thuật.
Nhật Bản đã trở thành 2 ème puissance vì có ba yếu tố:
1. Tinh thần Đại Nhật Bản (Đảng Cộng sản lẽ ra phải tranh lấy ngọn cờ
dân tộc. De Gaulle và tư bản Nhật nắm dân tộc hơn đảng cộng sản).
2. Cách mạng khoa học kỹ thuật
3. Quản lý xã hội, quản lý kinh tế rất khôn ngoan (quản lý theo lối tư
bản cộng với truyền thống gia trưởng)
Conscience và Science. Thời đại này có hai cái đó thì thắng. Trẻ con ta
có Conscience politique rất sớm. Nói phải có lý nó mới phục, nó mới nghe.
Tài nguyên thì ta có dầu, có sắt. Cho nên lắm kẻ đã ve vãn “xôn xao
ngoài cửa thiếu gì yến oanh”
Dân tộc ta có truyền thống rất mạnh. Tinh thần thời đại cũng mạnh. Hai
cái đều mạnh. Nhiều dân tộc phải xấu hổ vì ông cha của mình: ăn cướp, quân
phiệt, hoặc đầu hàng khiếp nhược.
Dân tộc ta, cái dominant là nhân dân. Không cần tư sản. Do chống ngoại
xâm mà hình thành dân tộc. Chống xâm lược trên quy mô lớn nên dân tộc lập
tức gắn với nhân dân.
Dân ta profondement – athée – vô thần – pratique. Lừa cả thần, lừa cả
Phật (Trạng Quỳnh). Bất chấp Khổng, Phật, Thiên Chúa. Rất matérialiste. Cái
nôi dân tộc ở chính Việt Nam. Nhân dân ta là miếng đất lí tưởng cho chủ nghĩa
cộng sản.
Dân tộc – Nhân dân – pratique. Lại có tính nhân dân nữa. Thừa nhận giá
trị con người rộng rãi lắm “Thương người như thể thương thân”. Nhân ái lắm!
Không lấy mình làm chuẩn như Khổng Tử “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Tình
làng xóm, cha con, vợ chồng rất khác đạo Nho. Tầu nói trọng nghĩa khinh tài,
đào viên kết nghĩa mà dối nhau, giết nhau.
Thời đại ta có chủ nghĩa Mác nên tránh được tự phát, tuỳ tiện. Cái yếu
nhất của ta là khoa học kĩ thuật. Đảng đề ra cách mạng khoa học kĩ thuật là then
chốt, trúng quá!
Cuộc thắng Mỹ của Việt Nam lớn lắm. ảnh hưởng đến nhiều dân tộc
trên thế giới. Họ không sợ Mỹ nữa. Mỹ không dám gây sự, không dám có một
Việt Nam thứ hai.
Tố Hữu ngừng lại một lát rồi tiếp: “Đấy là tất cả những gì tôi đã nghĩ và
đã nói bằng thơ.
Từ Từ ấy tôi vẫn nói thế thôi: lẽ phải, chân lý, tình cảm. Chân lý chói
qua tim. Chân lý phải qua tim mới dẫn tới hành động. Tình cảm lớn phải có
chân lý lớn chỉ đạo. Mao không có tim và chân lý. Tôi nói Mỵ Châu “Trái tim
lầm chỗ để lên đầu” làm mất nỏ thần. Mao thù. Tầu bay Việt Nam không cho
qua Trung Quốc.
Thơ Tố Hữu là nói lẽ phải lớn của dân tộc và thời đại. Tôi viết bài “Một
nhành xuân”. Có lẽ người ta đã quên lẽ phải lớn chăng, nên phải nói lại. Người
ta nói tầm bậy về Đảng quá. Apolitique nặng. Không biết lịch sử dân tộc do
Đảng đem lại. Chủ nghĩa công thần, tính công trạng mình nhiều quá mà không
tính công Đảng . Hoàng Văn Hoan tách Đảng, thành phản quốc. Còn gắn với
Đảng là mùa xuân vĩnh viễn.
Nhà văn phải có message nhắn gửi cho đời. Vấn đề là có cái gì đáng
nhắn gửi thật không? Chuyện văn là chuyện đời, chuyện lẽ phải.
Nghệ thuật phải có hình thức adéquate 100%. Nhưng đó là chuyện dĩ
nhiên. Art là personnel, không phải individualiste. Rất riêng song không cá
nhân chủ nghĩa.Bên cạnh hoàng anh, hoạ mi, phải có sẻ sẻ, chim chích, thích
chứ, vui chứ! Nhưng cá tính là gì? Cá tính có ý nghĩa thực là góp một tiếng nói
cho đời. Hoạ mi hót mà đời insensible thì phục vụ ai, có ích gì, vô nghĩa.
Có người chủ trương viết cho mai sau, không cần đời chấp nhận. Vô lý.
Mai sau ai sinh ra? Trên trời rơi xuống à? Người mai sau là ai? Chẳng qua là
trốn dư luận, ai biết mai sau là gì!
Nghệ sĩ phải sống với thời đại của mình. Có convention, có giao ước
của nó chứ! Rút lại phải sao cho người đương thời chấp nhận.
Có nhà thơ chỉ nói tình yêu, tình bạn, hoa đẹp. Thích chứ! Có người nói
thời buổi chiến tranh không nên vẽ phong cảnh, vẽ hoa. Tầm bậy! Cảm thụ
được cái đẹp của thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, lớn lắm chứ! Nhưng phải bàn
thế nào là đẹp. Rút cuộc là trở về hunanisme.
Rất mừng là thế hệ trẻ đang lên. Lê Thị Kim có bài Cỏ. Tôi không viết được. Yêu thiên nhiên và yêu tình yêu. Khánh Chi rất nên ủng hộ. Tuổi mình
không còn là tuổi tình yêu, nói gì được nữa.
Rất may là thời đại ta cùng tồn tại bốn thế hệ: thế hệ già, thế hệ thời
chống Pháp, thời chống Mỹ, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội. Già có vẻ đẹp của
già (đừng có lẩm cẩm). Trẻ biết đâu mà nói. Mỗi thế hệ có vẻ đẹp riêng, có ưu
thế riêng. Hãy nói to lên những điều đẹp nhất của mình.
Tôi rất chú ý từ ngữ, âm điệu, nhạc điệu. Không dùng từ ẩu bao giờ.
Thơ phải tiết kiệm, không nói dài. Tôi không có khả năng sáng tạo từ mới. Từ
vựng của tôi nghèo lắm! Từ ít và không thông minh như của Chế Lan Viên.
Phạm Tiến Duật, Bằng Việt cũng lắm từ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ.
Chỗ yếu của tôi là thường dùng từ ngữ quen thuộc. Không nói được điều
gì bất ngờ, làm nên sự giật mình về hình thức.
Nhạc điệu ngôn ngữ Việt Nam hay lắm. Âm thanh diễn đạt chính xác,
cụ thể, nhiều giọng điệu. Mỗi bài thơ phải tìm một giọng thích hợp: Emily con,
Kính gửi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác... Bác thích loại thơ rigoureux. Bác rất
Classique. Vì thế Theo chân Bác phải dùng thể thất ngôn mới thích hợp.
Nhịp sống thay đổi, cũng phải tạo nhạc điệu mới. Phải phá thể, phá
cách. Lục bát cũng thế:
“Thác, bao nhiêu thác cũng qua”
Các cụ xưa không làm thế.
Tôi rất nghiêm trong việc dùng chấm và phẩy. Học sinh bây giờ chấm
phẩy bừa quá. Phải học tính chính xác, khoa học, khẩn trương, hoạt bát. Ông bà
ta không làm được điều đó vì nhịp điệu nông nghiệp quen rồi.
Tôi cố gắng phục vụ mọi người. Xã hội ta có ba loại:
- Loại văn hoá thấp: Trình độ cấp I. Người lao động phần lớn ở mức độ
này.
- Loại trình độ cấp II, cấp III, tuổi 30, 40. Loại này cũng có hàng triệu
người.
- Loại đại học. Trí thức.
Bài Emily,con... phục vụ độc giả từ trung học trở lên. Viết cho loại này,
tiện, vì cùng loại với tác giả. Có thể làm một cách tự nhiên, không mất công.
Viết cho loại một cực lắm. Đối tượng là dân gian. Bài Ba muơi năm đời
ta có Đảng viết cho hàng chục triệu người. Gọi là vè rất đúng, là khen, vì dụng
ý của tôi là làm vè.
Bài Mẹ Suốt viết cho chính mẹ Suốt. Nhưng không giữ mức vè. Đó là
bài thành công với nhiều tầng lớp.
Bài Theo chân Bác phải vừa hợp phong cách Bác, vừa phục vụ toàn dân,
cho cả trí thức. Dùng thất ngôn có thể giải quyết được.
Bài Nước non ngàn dặm chủ yếu nói cho miền Nam. Cần gợi cảm nên
dùng lục bát là tiện. Nhưng có savant hơn một chút. Cấu tứ không khó lắm!
Khó là forme nào, giọng nào. Năm ba câu đầu mà bắt được giọng rồi thì dễ lọt.
Câu đầu lợi hại lắm. Bài Một nhành xuân tôi đã làm năm năm trước.
”Năm 20 của thế kỉ XX”. Sau nghĩ làm lý lịch làm gì, anh là gì mà khai lí lịch!
Tôi phải nghĩ hai câu mở đầu khác:
Vâng xin kể cùng Xuân đồng chí
Chuyện riêng chung một cuộc đời bình dị.
Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên.
Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn vẩn, thế hay hơn.
Còn từ câu đầu đến câu cuối không biết trước, không tự giác. Trước khi
viết nghĩ nhiều. Khi viết quên đi và thả cho xúc cảm, cứ như tìm hoa trong đêm.
Thơ kị nhất đọc câu trước người ta đoán được câu sau. Chính mình cũng không
biết, không ngờ. Phải cho thơ tự nó sinh sôi, phát triển. Có ai đó nói rằng, nhà
thơ hoàn toàn biết rõ tiến trình sáng tác một bài thơ, hoàn toàn biết trước câu
thơ cuối cùng của tác phẩm. Tôi thì có khi làm xong bài thơ, cũng ngơ ngơ ngác
ngác về tác phẩm của mình. sáng tác là cảm xúc không luôn luôn tỉnh táo. Văn
xuôi có tỉnh hơn chăng? ở đây có những yếu tố ngẫu nhiên, tình cờ. Có khi cũng
không biết là hay hay dở nữa kia. Anh Xuân Diệu hỏi tôi, sao anh lại tạo ra
được hai câu: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi, Mà mưa xối xả trắng trời Thừa
Thiên”? Tôi cũng không biết sao mình lại tài thế!
Thơ có quy luật riêng của nó.
Phạm Tiến Duật là anh lính thì hay. Đến lúc luận là chết. Vòng trắng.
Sao đời lại tự tử! Hai lần tự tử! Giết anh và giết người chết rồi. Không hiểu đời
đã luận đời!
Trần Đăng Khoa đang dở dang, hết trẻ con, nhưng chưa thành người
lớn. Nói giọng ông già là trật.
Phải luôn đề cao thế giới quan, nhân sinh quan. Nhưng đối với lớp trẻ,
nó thấy khắc khổ quá. Phải nói đạo lý thế nào đấy không xa lạ với nó. Nên đề
cập đến tất cả những gì nó quan tâm. Đừng nói đại nghĩa trước mà phải đi từ
tiểu nghĩa trước (tình yêu, tình bạn). Từ bỏ tiểu nghĩa, nó không nghe đâu!
Không chấp nhận tình yêu và thơ tình là không đúng, là nihilisme. Thơ tình là
loại thơ khó nhất: nói được cái gì mới? Tôi không làm được.
Nói thơ Tố Hữu không nói hết mọi vấn đề là đúng. Nhưng cho rằng thơ
Tố Hữu chỉ nói cái to không nói cái nhỏ thì oan. Nhưng chuyện cụ thể chỉ là cái
cớ để nói cái to. Cái tật quen của tôi nó vậy. Tố Hữu có nói cả hoa và rác đấy
chứ. Nhưng phải có trách nhiệm, phải làm cách mạng, phải quét rác (Tiếng chổi
tre)...
Bài Hồ Chí Minh. Khi viết bài này, tôi chưa được thấy Bác, chỉ biết qua
về Bác, chưa đọc gì của Bác. “Vung gươm lắp súng” là nghĩ thế, viết thế.
Nhưng nói “Người lính già” là bạo, thế mà đúng. Lúc bấy giờ nói thế là bạo,
trái với xu hướng quan niệm về lãnh tụ, về vĩ nhân, lúc đó. Đúng, Bác là người
lính.
Bà má Hậu Giang. Có chuyện thật nghe nói ở Ban Mê Thuột: một bà
má nấu nồi cơm to, bị Tây chặt đầu. Còn phịa ra cả. Lúc đó Bắc Sơn thất bại,
Nam kỳ thất bại. Tư tưởng défaitisme, cần góp phần khôi phục lại niềm tin.
Ly rượu thọ. Có chuyện một viên tướng có bà mẹ yêu nước. Còn chuyện
chúc thọ là bịa.
Mẹ Suốt, có chuyện đẻ con bị xẩy, có chuyện vải màn nguỵ trang thật
và cũng có hỏi mẹ mấy câu. Nhưng đặt thêm ra lời hỏi và câu trả lời. “Cá tôm
cũng sướng” là bịa.
Nhân tiện thấy ông nói về những bài thơ cụ thể, tôi tranh thủ hỏi về bài
Ân hận tôi đọc trên báo thời Mặt trận dân chủ Đông Dương, đề tặng một “nàng
trinh nữ” nào đấy. Ông nói bài này làm trong nhà tù. Hồi ấy yêu một cô. Cô ấy
đi lấy chồng. Đơn giản thế thôi.
Nói mãi cũng mệt. Tố Hữu nghỉ, uống nước .
Qua ý kiến của Tố Hữu, thấy ông quả là một nhà thơ có kinh nghiệm.
Và không phải là không có tài.
Nhưng vì sao thơ ông không có giá trị lâu dài? Có lẽ vì ông chọn cho
mình con đường làm thơ chính trị. Ông đã đáp ứng xuất sắc tâm lý chính trị của
dân tộc một thời. Nhưng thời ấy đã qua rồi.
Thơ tuyên truyền chính trị nên phải đơn nghĩa. Và vì phải hướng chủ
yếu về đối tượng công nông binh, nên phải sử dụng những thể điệu truyền thống
kể cả lối ca vè và phải dùng những hình ảnh, những ngôn từ quen thuộc, tránh
sáng tạo hình ảnh và từ ngữ mới lạ.
Tố Hữu lại tiếp tục nói. Ông chuyển sang nói về giáo dục, về việc dạy
văn. Ông cho rằng muốn dạy tốt phải dựa trên nghiên cứu khoa học. Giáo viên
không được tiếp xúc với các công trình khoa học thì như người lính ra trận
không có vũ khí. Giáo viên văn học là giáo viên khổ nhất mà đáng lẽ sướng
nhất. Học sinh nộp bài như nộp thuế.
Ta còn thiếu những công trình khoa học có sức thuyết phục. Tôi chưa tin
có ai đã dạy Kiều, hiểu Kiều một cách đầy đủ. Và liệu đã có ai hiểu hết một bài
Bình ngô đại cáo. Bài văn lạ lùng trên nhiều mặt. Lượng thông tin ghê gớm.
Từng từ có giá trị xã hội, đại diện cho một thực thể xã hội. Trí tuệ, tư tưởng ghê
gớm lắm: “Lấy nhân nghĩa”, “lấy chí nhân”. “Chí nhân” thời ấy là gì? “Cường
bạo” nội dung thời ấy là gì? “Trúc chẻ ngói tan”phải là một chiến dịch ghê
gớm lắm. Bao nhiêu ý nghĩa nhận thức!
Thày giáo văn học là đắt nhất. Nghề này không chỉ đòi hỏi hiểu biết.
Anh phải sống đẹp. Thông tin văn học khác. Phải gây hiểu biết và xúc động thật
sự. Không cảm thụ được và truyền đạt được cảm xúc thì nghề dạy văn là vô
nghĩa.
“Đau đớn thay phận đàn bà”, không có gì sáng tạo cả mà hay, vì là
tiếng kêu giữa trời cho ba trăm năm sau. Thiên tài là sự nhuần thấm máu thịt
đến mức như như là cảm quan ngẫu nhiên, tạo ra cái đẹp mà không biết. “Long
lanh đáy nước in trời”. “Long lanh” sau mới thấy “đáy nước” và thấy “trời”.
Được nghe, hiểu một câu thơ như thế, chết cũng sướng.
Nếu loài người hiểu hết vẻ đẹp của mình thì là thiên thần. Là thoát ra
khỏi tấn bi kịch lớn. Bi kịch của loài người là không ý thức được vẻ đẹp của
mình, do mình tạo ra, và tất cả thấy cần phải sống đẹp như thế. Làm sao một
dân tộc rất đẹp như Campuchia lại bị tiêu diệt có vẻ dễ dàng như thế? Tôi vẫn
suy nghĩ mãi về điều đó.
“Phải đặc biệt coi trọng giáo dục, coi trọng văn học. Chủ nghĩa xã hội
đâu phải chỉ cần cơ sở khoa học kỹ thuật. Con người còn cần tâm hồn nữa chứ.
Nếu không chỉ là con thôi, một thứ con cao cấp thôi”.
ý kiến của Tố Hữu về giáo dục, về dạy văn nói chung là đúng, tuy không
có gì mới mẻ đặc sắc. Sức hấp dẫn vẫn chỉ là ở nhiệt tình sôi nổi và niềm tin
mãnh liệt, đã trở thành phong cách riêng, khẩu khí riêng của ông.
Lúc đó anh Đoàn Trọng Huy vừa mua được cuốn Tuyển tập thơ Tố Hữu
do Hà Minh Đức soạn. Anh xin chữ kí của Tố Hữu. Tôi đọc bài Mẹ Tơm, thấy
câu thơ “ Sống trên cát, chết vùi trong cát” in là “ Sống trên cát, chết hoà trong
cát”, bèn nhân tiện hỏi Tố Hữu: hoà hay vùi? Tố Hữu nói “vùi chứ hoà thì còn
văn chương gì nữa”. Ông tỏ ra tán thành lời bình của Hoài Thanh về chữ vùi
trong bài thơ này.
*
Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất
hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác
bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”. Tôi đã chứng kiến Nguyễn
Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con
ếch.
Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà
văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương
chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện
tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc,
người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục
này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến
vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần
đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo
này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có
vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai
anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ
niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.
Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn
là chúa hay phóng đại.
Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu
nói nhỏ với anh: “Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?” Khải sợ quá, vội chối:
“Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.
Gần đây anh Hoàng Dũng cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, học trò thân thiết của Nguyễn Tài Cẩn, cho biết, Tố
Hữu có lần gọi Huy Cận, bảo phải biên soạn cuốn từ điển về thơ Tố Hữu:
“Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”. Huy Cận nhờ nhà ngôn
ngữ học Nguyễn Tài Cẩn giúp cho việc này. Cẩn từ chối không được, bèn dùng mẹo, nhận nhưng không làm, tuy thỉnh thoảng lại giả vờ đến Tố Hữu “xin” ý
kiến về câu này, chữ khác của thơ ông. Bây giờ Tố Hữu chết rồi, chẳng có trang
từ điển nào cả. Anh đồ nghệ láu thật!
Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự
tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có
tang. Ông nói với Từ Sơn: “ Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”.
Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến
khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ!
Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản
Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế
những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?” Tất nhiên Tố Hữu rất
ghét Gooc bachốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của
ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp,
cũng chóp chóp”.
Những năm cuối đời, ở Tố Hữu, có chuyện này cũng lạ: thường phủ
nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần
Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng.
Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến
thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều
Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố hữu
từng viét bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài Chiến
thắng Điện Biên thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”
Lại có chuyện Nhật Hoa Khanh công bố một bài phỏng vấn Tố Hữu rất
dài. Đọc bài phỏng vấn này, thấy Tố Hữu nói ngược hẳn những điều ông nghĩ,
ông viết và ông làm trước đây đối với các nhà văn thuộc nhóm Nhân văn giai
phẩm. Ngược hẳn lại như quay 180 độ, khiến rất khó tin là có thật. Trần Đăng
Khoa cho rằng, Tố Hữu quả cũng hay phủ nhận những điều mình đã nói, đã
làm, nhưng không đến nỗi quá quắt như trong bài phỏng vấn của Nhật Hoa
Khanh. Tô Hoài thì nói, những sự kiện, những chi tiết trong bài phỏng vấn đều
có thật cả, chỉ có điều Tố Hữu nói ngược lại. Nhật Hoa Khanh thì nói, anh có
ghi âm, còn giữ băng ghi âm.
Hiện tượng này tôi vẫn thấy khó tin và cũng khó giải thích. Hay là giải
thích bằng tính cách của người Huế chăng: “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm...”
Tố Hữu ngay khi đã mất hết chức vụ, vẫn rất hách. Trong một cuộc gặp
mặt của các nhà văn lão thành (Hữu Thỉnh hằng năm cứ vào đầu xuân lại mời
các nhà văn ở Hà Nội từ 70 tuổi trở lên đến gặp mặt để chúc Tết và mừng tuổi),
người đã đến đông, Tố Hữu đến sau, ông nhìn khẩu hiệu trên tường: “Hoan
nghênh các nhà văn lão thành cách mạng”, nói thủng thẳng: “Lão, nhưng liệu
có thành không chứ!”
Tính cách như thế nên nói chung văn nghệ sĩ không ưa. Khi ông có chức
có quyền, người ta sợ, người ta phải đến – như xếp hàng chúc Tết ông chẳng
hạn. Nay hết chức quyền rồi, người ta lảng hết. Tôi nhớ đám tang Lưu Quang
Vũ, Xuân Quỳnh ở 51 Trần Hưng Đạo, người đến viếng đông lắm. Viếng xong,
mọi người sang phòng bên uống nước và trò chuyện. Tôi thấy Tố Hữu ngồi một
mình. Chả có ai đến nói chuyện. Ông ngồi một lúc rồi lẳng lặng bỏ về.
Hết mọi quyền lực rồi, Tố Hữu vẫn có tật nói nhiều. Hôm báo Văn nghệ
tổ chức hội thảo về cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, ông có
đến dự. Một mình ông nói hàng tiếng đồng hồ.
Lúc Tố Hữu đã mệt nặng, Nguyễn Khải có đến thăm. Khải nói, ông đã
mệt lắm, nói không ra tiếng, vậy mà miệng vẫn mấp máy, lắp bắp. Đúng là mắc
bệnh nói.
Hình như Gala cười có diễn một tiết mục văn nghệ về một anh chàng
mắc bệnh nói nhiều thì phải.
Ca dao có câu:
Rượu lạt uống lắm cũng say,
Người khôn nói lắm, dẫu hay cùng nhàm.
Láng Hạ, ngày 22 – 5 – 2007.
Đăng nhận xét
công cuộc đổi mới đất nước. Đời sống văn nghệ chưa bao giờ vui đến thế. Lúc
nào cũng như sống trong hội hè. Đúng là không có gì sướng bằng dân chủ thật
sự, được tự do nghĩ và nói thực sự.
Trần Độ lên thay Hà Xuân Trường phụ trách Ban văn hóa Văn nghệ trung
ương. Hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh
gặp gỡ các văn nghệ sĩ ( 4 Nguyễn Cảnh Chân ). Lần đầu tiên giới văn nghệ sĩ
được nghe những lời phát biểu đầy tính kích động tự do dân chủ ở một ông tổng
bí thư Đảng Cộng Sản. Nào là “cởi trói”, “hãy tự cứu lấy mình”, “không bẻ
cong ngòi bút”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật”, “giờ không phải là
lúc bón phân cho lúa, phải nhổ cỏ cho lúa có sức mọc lên”, “hồi phụ trách bí
thư ở Sài Gòn, tôi đã làm chui nhiều việc đấy. Những anh em dưới quyền tôi sợ
quá mỗi khi có Trung ương về thăm. Tôi nói với họ: Các anh cứ làm, nếu phải đi
tù, tôi vào tù với các anh”, “hãy giải phóng cho con chim văn nghệ bay
cao”..vv…
Những lời lẽ và khẩu khí ấy khiến mọi người không còn nghi ngờ gì ở chủ
trương đổi mới thật sự của Đảng. Ông Nguyễn Văn Linh đích thị là Goócbachốp
của Việt Nam rồi – chúng tôi lúc đó đều đinh ninh như thế.
Buổi trưa, tổng bí thư ngồi cùng bàn ăn với anh em, mỗi người một bát
phở. Buổi tối lại cùng ngồi xem phim Tướng về hưu và Chuyện tử tế.
Hai ngày liền, ông Linh chỉ nói mấy câu mở đầu còn để cho anh chị em
tha hồ phát biểu tự do. Toàn phê phán lãnh đạo làm nhiều chuyện thậm vô lý.
Chẳng hạn ái Vân thuật chuyện anh chị em sân khấu khổ cực như thế nào. Cấp
phát thì cấp áo, không cấp quần, tất rách không có để thay, khi biểu diễn phải
đứng thế nào để che được phía chân đi tất rách. Trong khi người này biểu diễn
trên sân khấu thì người khác bán trà chén ở cửa rạp. Ca sĩ Xuân Thanh xưng hô
bác cháu với ông Linh, vừa nói vừa khóc: “Đi thi quốc tế, lãnh đạo không cho đi
sớm để chuẩn bị, không cho tiền để bồi dưỡng bà giáo Liên Xô tập luyện cho.
Nhưng khi được giải thì thu hết tiền.” Hoạ sĩ Nguyễn Thụ tố cáo: “Sang Liên Xô
triển lãm tranh, tranh bán được, tiền bị thu hết.” Trường hợp Nguyên Ngọc cũng
tương tự. Anh được nhận giải thưởng quốc tế á Phi (Đất nước đứng lên), tiền
thưởng cũng bị thu hết, không bớt cho lấy một xu để chiêu đãi những người đến
chúc mừng. Anh lại nói, hồi lãnh đạo Văn nghệ ở quân khu năm, cứ vài tháng
anh lại phải lên Cục chính trị lĩnh tư tưởng về cho anh em viết. Hết tư tưởng lại
đi lĩnh chuyến khác, y như lĩnh tiền hay lĩnh gạo vậy. Phạm Thị Thành thì nói về chuyện duyệt kịch. Mỗi lần duyệt, chị không quan tâm gì đến hội đồng chuyên
môn, mà chỉ chăm chú theo dõi một ông to đầu nào đấy vui chân tạt vào xem.
Ông ta gật gù là yên trí lớn, ông ta lắc đầu là hỏng bét.Tào Mạt, sau Cách mạng
tháng Tám đã là huyện uỷ viên. Nhưng anh không đi tiếp con đường chính trị
mà chuyển sang làm văn nghệ. Anh nói, nếu cứ làm chính trị, anh là người tiến
bộ, nhưng chuyển sang làm Văn nghệ thì bị coi là phức tạp. Nguyễn Khắc Viện
thì nói về những cái án Văn nghệ gọi là “xét lại” “phản động” “gây rối”, “phạm
nhân” văn nghệ sĩ phải chịu hình phạt suốt đời. Hồ Ngọc thì lên án lãnh đạo biến
văn nghệ thành thứ văn tuyên truyền phục vụ chính trị… Vui nhất là cuộc xung
đột giữa Dương Thu Hương và Nguyễn Đình Thi. Hương bảo Thi là đồ hèn, trí
thức hèn hạ, đã tự nhận là hạt bụi. Thi thì cho Hương là lưu manh, nhà văn đã
đến lúc bị lưu manh hoá. Anh nói: “Đúng, tôi hay nói hạt bụi, giọt nắng, giọt
lửa. Nhưng có hiểu gì không – anh gào to – tôi nói nhà văn là hạt bụi có tư
tưởng.” Thực ra anh đã không nhắc lại đầy đủ lời anh phát biểu ở đại hội nhà
văn lần thứ ba: “hạt bụi lấp lánh tư tưởng của các anh” (vừa nói vừa chỉ tay lên
chủ tịch đoàn). ý kiến này chẳng qua cũng là học theo câu nói của một nhà văn
Pháp: “con người là cây sậy có tư tưởng.” Tôi cũng phát biểu rất thẳng thắn và
thoải mái, đại ý rằng, “tôi đã từng được gặp một ông to, không to bằng anh Linh
đâu (ý nói Tố Hữu), tôi thấy ông ấy cứ nói liên miên, chỉ lo ban phát chân lý chứ
không nghe quần chúng nói. Nay anh Linh nói ít, để anh em nói nhiều, nội điều
đó thôi cũng là rất mới rồi. Về lãnh đạo văn nghệ, tôi cho “lãnh đạo khinh bỉ sâu
sắc văn nghệ sĩ”, và dùng lối chăn vịt, “lãnh đạo văn nghệ theo lối chăn vịt đàn.”
“con người mà bị khinh bỉ mãi thì tự nhiên cũng thấy mình nhỏ bé lại, cũng hèn
kém. Biết tôn trọng con người thì con người tự thấy mình cao lớn hơn.” Tôi lại
ví văn nghệ như con chim. “Nhốt lại nó không hót hay hót không ra gì . Thả nó
ra nó hót hay hơn, nhưng lại sợ nó bay mất…”
Còn nhiều người phát biểu nữa như mấy anh đạo diễn điện ảnh, Nguyễn
Quang Sáng, Lưu Quang Vũ, Anh Đức…, nhưng tôi không còn nhớ. Hồi đó giá
có băng ghi âm ghi lại, giờ mở ra nghe thì thật thứ vị. Nguyễn Khải, Nguyễn
Minh Châu không thấy nói gì.
Về lý luận phê bình văn học, tôi là người duy nhất được dự cuộc gặp mặt
này.
Trần Độ gọi cuộc gặp gỡ này là “Hội nghị Diên Hồng của văn nghệ.”
Sau cuộc gặp Nguyễn Văn Linh, đời sống văn học nghệ thuật còn sôi nổi
và vui hơn nữa với những cuộc tranh luận rất dân chủ trên báo Văn nghệ của
Nguyên Ngọc và những cuộc hội thảo rất thẳng thắn chuẩn bị cho nghị quyết 05
của Bộ chính trị về văn nghệ tổ chức thường xuyên ở Ban văn hóa Văn nghệ của
anh Trần Độ. Tôi nhớ anh Nguyễn Minh Châu nói, nhà văn Việt Nam cả ba thế
hệ đều hèn. Trước Cách mạng là nhà văn nô lệ; từ 1945 đến 1975 là nhà văn –
lính, rất sợ cấp trên; sau 1975 là nhà văn đói nên cũng hèn. Anh lại nói Thánh
Gióng ngày xưa đánh xong giặc thì bay lên trời. Bây giờ các ông đánh xong giặc
lẽ ra cũng phải biến đi để người khác quản lý đất nước. Như anh Độ, anh cũng
nên thôi đi thì phải. Đấy, hồi ấy cứ ăn nói thoải mái như thế nên rất vui. Cánh đổi mới thường tụ họp với nhau, vừa nhậu vừa trao đổi những suy nghĩ của
mình. Ngoài Bắc có Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Xuân Cang, Hoàng
Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Ngô Thảo, Văn Tâm, Dương Thu Hương,
Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trọng Oánh,
Nguyễn Quang Thân, Trần Quốc Vượng, Hồ Ngọc Đại..vv… Trong Nam thì có
Thu Bồn, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Quang Sáng, Trần Hữu Tá,
Lê Ngọc Trà, Phan Đắc Lập…vv… Hoàng Phủ Ngọc Tường mỗi lần vào Sài
Gòn cũng nhập vào nhóm này. Trần Mạnh Hảo một thời gian đóng vai đổi mới,
thỉnh thoảng cũng đưa vợ đến tụ tập ở chỗ Thu Bồn.
ở Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi cũng hăng hái đứng ra tổ chức
nhiều cuộc hội thảo rất vui về thời sự văn học, về đổi mới giảng dạy văn học, về
cải cách chương trình và sách giáo khoa, thu hút được khá nhiều cây bút cấp tiến
trong trường, ngoài trường như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên
Ngọc, Nguyễn Kiên, Nguyễn Trọng Oánh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn,
Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn…
Nguyễn Khải hồi này được ông Trần Độ triệu ra Hà Nội để chuẩn bị Đại
hội nhà văn lần thứ IV. Anh cùng Nguyên Ngọc hoạt động rất hăng hái, hô hào
văn nghệ sĩ nói thẳng nói thật.
Nhưng chẳng bao lâu, thế cờ bị lật ngược. Nguyên Ngọc mất chức Tổng
biên tập báo Văn nghệ. Nguyễn Khải thấy động, lặn biến vào Nam. Tố Hữu nắm
lại lá cờ Văn nghệ. Trần Độ mất chức (1989). Tố Hữu phê phán bản Đề cương
văn hoá văn nghệ của Nguyên Ngọc ở hội nghị nhà văn đảng viên. Nguyễn Đình
Thi trở lại cùng với cánh bảo thủ chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ IV.
Cánh đổi mới bị đánh dồn dập: Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên
Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy
Thiệp, Văn Tâm, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh bị tước giải thưởng. Hội
đồng chung khảo phải viết bài sám hối ( riêng Nguyên Ngọc và Lê Ngọc Trà
không chịu )
Bọn bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa nổi lên, ngày càng làm mưa làm gió.
Trong Nam có Chế Lan Viên, Bảo Định Giang, Anh Đức, Vũ Hạnh, Diệp Minh
Tuyền, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm, Hoàng Nhân, Phạm Tường Hạnh,
Trần Trọng Đăng Đàn… Ngoài Bắc có Hà Xuân Trường, Nguyễn Đình Thi,
Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Đông Hoài, Hồ Phương, Bùi Đình Thi, đám Văn
nghệ quân đội, Thành Duy, Lưu Trọng Lư, Nông Quốc Chấn, Hoàng Xuân Nhị,
Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Lưu, Vũ Quần Phương,
Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hữu Thỉnh, Hồng Diệu… Cánh này rất có thế lực vì đằng
sau có Lê Đức Thọ, Nguyễn Đức Bình, Trần Trọng Tân… Nguyễn Văn Linh giờ
lại xoay ra chửi Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện.
Vào cuối những năm 80, hai lực lượng cấp tiến và bảo thủ, cơ hội, từ chỗ
tương đương về thế và lực, chuyển dần đến chỗ cánh bảo thủ hầu như làm chủ
trận địa. Lãnh đạo về sau dùng cả đến bọn lưu manh, đầu gấu trong văn nghệ
như Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo…
Vì những lẽ đó, từ cuối những năm 80, đặc biệt là từ đầu những năm 90,tình hình văn học xuống cấp ngày càng nghiêm trọng, nhất là về lý luận, phê
bình.
Kết thúc thập kỷ 80, có một sự kiện văn học rất vui không thể không nói
đến: Đại hội nhà văn lần thứ IV. Tôi nhớ, trên giường bệnh, Nguyễn Minh Châu
có nói thế này, giá Đại hội làm luôn từ 1986, 1987, thì bọn bảo thủ chỉ có quỳ
lậy. Chuẩn bị đại hội kéo dài quá, giờ thì bọn bảo thủ lại nổi lên rồi… Tuy vậy
Đại hội nhà văn lần thứ IV tổ chức vào năm 1989 cũng vẫn rất vui, rất sôi nổi.
Đây là đại hội đầu tiên và duy nhất tính cho đến ngày hôm nay, được triệu
tập toàn thể hội viên. Đại hội thể hiện một sự phân hoá rất quyết liệt. Từ chuyện
to đến chuyện nhỏ, rất nhỏ, thậm chí lặt vặt nữa, đều nổ ra xung đột, không thể
hoà giải với nhau được. Chuyện to như vụ bãi chức Tổng biên tập báo Văn nghệ
của Nguyên Ngọc, chuyện đánh giá tình hình văn học những năm 1987,1988 là
khởi sắc hay tiêu cực do buông lỏng lãnh đạo, vụ Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu
mắc nạn ở Đà lạt, vụ Nguyễn Văn Hạnh đọc thư Trần Độ, việc bầu Tổng thư ký
Hội nhà văn trực tiếp hay gián tiếp…, chuyện nhỏ thì như việc bầu chủ tịch, thư
ký đoàn và ban kiểm phiếu, chuyện kiểm phiếu, đếm phiếu sao cho tránh được
gian lận…
Sự phân hoá diễn ra cả trong giờ nghỉ. Ngồi uống cà phê hay bia bọt với
nhau ở căng tin cũng phe nào ngồi riêng với phe ấy. Ai ngồi nhầm chỗ lập tức
bỏ đi ngay.
Hội nghị kéo dài tới 11 ngày, thỉnh thoảng lại dừng lại để họp riêng đảng
viên. Nhưng họp đảng viên cũng thế thôi. Những đại biểu thuộc phái cơ hội chủ
nghĩa lên diễn đàn thường bị la hét hay vỗ tay đuổi xuống như Mai Ngữ, Anh
Đức, Hoàng Xuân Nhị... Trần Bạch Đằng trong chủ tịch đoàn bị Dương Thu
Hương đuổi vì không phải phiên mình điều khiển cũng khệnh khạng ra giải thích
theo phái bảo thủ – theo Nguyễn Trọng Tín, đây là trường hợp không thể có đối
với ông “vua không ngai” này ở Miền Nam.
Cuộc xung đột có khi còn diễn ra ở hậu trường Đại hội bằng những lời đe
doạ dùng đến cả bạo lực. ( Có đại biểu đề nghị chủ tịch đoàn bảo vệ mình vì có
kẻ đe doạ hành hung ). Một số đại biểu thuộc cánh bảo thủ quá hoảng hốt, buổi
tối chạy đến kể lể khóc lóc, cầu cứu Lê Đức Thọ (Bác Sáu à, bác Sáu ơi, Nhà ta
nó phá tan rồi còn đâu.” Nguyễn Duy).
Sự phân hoá hai phe nói trên trong Đại hội đã được Nguyễn Duy mô tả rất
vui trong một bài vè gọi là Đại hội nhìn từ gần ( nhại lại tên bài thơ Tổ quốc
nhìn từ xa của anh). Dưới đây, trích vài đoạn:
Thủa trời đất nổi cơn Đại hội,
Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên;
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai xuyên tạc cho nên nỗi này.
Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt,
Sương Ba Đình mù mịt thức mây;
Mấy lần nghị quyết trao tay,
Đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương...
(…) Ngôn luận chiến ào ào sấm nổ
Tưởng cơ đồ sụp đổ đến nơi
Bác Sáu à, bác Sáu ơi
Nhà ta nó phá tan rồi còn đâu
Trang giấy trắng một màu quan ải,
Oan khiên này biết giãi cùng ai;
Giận hờn mấy kẻ đơn sai
Văn đàn bỗng hoá võ đài phải chăng?
(…) Nguyễn Khải lặn mất tăm đâu đó
Chính Hữu chờ sóng gió qua mau
Bùi Bình Thi rút ván cầu
Phạm Tiến Duật ẩn mình đâu mất rồi
Chàng Hữu Thỉnh dở cười dở khóc
Ngọc Tú nàng rứt tóc vò tai
Đỗ Chu tế ngựa vòng ngoài
Gặp ai cũng hỏi rằng ai nhớ mình
(…) Nguyễn Văn Hạnh một mình một ngựa
Phá vòng vây ở giữa sa trường
Không lùi bước chẳng tạt ngang
Đã vì đồng đội gian nan xá gì
Biết cứu nạn lắm khi mắc nạn
Tâm huyết nhiều mất mạng như chơi
(...) Đại hội bỗng chia làm hai phái,
Phái vui tươi và phái hầm hầm;
Chúng ta cùng bạn làng văn,
Cớ sao mặt cứ gằm gằm khó coi...
(...) Mai ngữ sử dao găm súng lục,
Mắt Liên Nam đục đục điên điên,
Thu Bồn nộ khí xung thiên,
Bỗng đâu một trận Mai Liên ào ào.
Thu Hương nổ pháo tầm cao,
Tường Hạnh hụt một đường đao bất ngờ,
Trần Độ vắng mặt bao giờ,
Phất phơ để lại một tờ tâm thư.
Nguyễn Văn Hạnh dịch ngôn từ,
Đoàn chủ tịch cũng ậm ừ cho qua...
(...) Anh Đức mặt vênh vênh véo véo
Mắt đăm đăm liếc xéo hội trường...
(...) Thuỳ Mai nước mắt lưng tròng
Cõng Bùi Minh Quốc khỏi vòng hiểm nguy...
(...) Buổi bế mạc chấp hành ra mắt,
Chín người đà đứng sắp hàng ra,
Tổng thư ký của hội ta:
Tướng công họ Vũ tên là văn Ngan...
Đại hội nhà văn lần thứ IV có thể coi là ngày hội lớn, cuộc vui lớn cuối
cùng của phe cấp tiến. Đại hội càng về cuối chầu, càng nhạt. Với sự sắp đặt,
điều khiển hội nghị một cách khôn khéo mềm dẻo, vừa đánh vào chỗ yếu của
phe cấp tiến ( không có tổ chức chặt chẽ, thiếu cương lĩnh đàng hoàng, không có
mưu mẹo gì cả, mải vui chơi, chủ quan mất cảnh giác...), vừa dựa vào quyền thế
của lãnh đạo chóp bu, kết thúc Đại hội, phe bảo thủ về cơ bản đã giành được
thắng lợi.
Nguyễn Khải cho là do sự chèo chống rất khôn khéo của Nguyễn Đình
Thi. Anh nói với tôi khi kết thúc Đại hội: “ở nước này chỉ có hai người biết làm
chính trị là Lê Đức Thọ và Nguyễn Đình Thi.
*
Hãy trở lại với những trận đánh đấm, qui chụp ngày càng bừa bãi và trắng
trợn của phe cơ hội bảo thủ đối với phái cấp tiến, từ cuối những năm 80 của thế
kỷ trước. ở đây – vì là hồi ký của tôi – nên tôi chủ yếu chỉ nói về những trường
hợp liên quan đến tôi mà thôi.
Tôi là một trong số những người bị đánh đấm qui chụp nhiều nhất. Mà
không phải chỉ bị đánh từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với tội danh “đổi
mới cực đoan”, “phủ nhận văn học cách mạng, phủ nhận quá khứ”, “đối lập tư
tưởng chính trị với tư tưởng nghệ thuật”, “khinh bạc hơn cả Nguyễn Tuân”,
“hạ thấp thơ Hồ Chí Minh và loại Tuyên ngôn độc lập ra khỏi sách giáo
khoa”...
Bài viết đầu tiên của tôi bị phê phán là bài Con đường Nguyễn Tuân đi
đến bút ký chống Mỹ ( Tạp chí Văn học số 8 – 1968 )
Như đã nói, bài này ông Hoài Thanh rất thích. Nhưng ông đã bị Trường
Chinh triệu lên để phê bình vì bài viết quá đề cao Nguyễn Tuân. Là một nhà
lãnh đạo rất cẩn trọng, Trường Chinh dặn Hoài Thanh không nói lại với tôi vì sợ
“anh ấy hoang mang”.
Nhưng Hoài Thanh vẫn nói lại với tôi. Hôm ấy gặp ông ở một cuộc họp ở
Viện khoa học giáo dục, sau khi thuật lại ý kiến Trường Chinh, ông nói: “Theo
tôi một bài phê bình không nhất thiết phải nói toàn diện. Nhưng anh đã gặp rủi:
bài của anh ra đời cùng một lúc với bài Tình rừng của Nguyễn Tuân đăng trên
Văn nghệ.
Bài Nguyễn Tuân của tôi liên quan đến bài Vũ Trọng Phụng ( “Mâu thuẫn
cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng”) viết cùng
năm ấy (1968).
Tôi đưa bài này cho ông Hoài Thanh, lúc đó ông sống với bà Bền ở Trần
Quốc Toản. Hoài Thanh đồng ý đăng. Nhưng liền sau đó ông bị điều sang phụ
trách báo Văn nghệ. Vũ Đức Phúc thay ông phụ trách thư ký toà soạn Tạp chí
văn học. Anh Phúc sai Phong Lê gọi tôi đến gặp anh ở Viện Văn học. Anh nói:
“Bài Nguyễn Tuân của anh có thể làm mất huân chương của tạp chí chúng tôi đấy”. Anh từ chối không đăng tiếp bài Vũ Trọng Phụng nữa. Tôi đã tranh luận
với anh một chập. Tôi nhớ anh Phúc nói rất quyết liệt, xùi cả bọt mép. Và cứ
chuyện nọ sọ chuyện kia. Nghĩa là không thể tranh luận với anh được. Chẳng
hạn tôi nói, anh Như Phong cho biết Vũ Trọng Phụng rất thích thơ Tố Hữu (
đăng báo công khai thời Mặt trận dân chủ Đông Dương). Vũ Đức Phúc nói:
“Như Phong lúc đó chưa phải đảng viên”. Đúng là lý lẽ chẳng đâu vào đâu cả.
Trong khi tôi và anh Phúc tranh luận thì Phong Lê quanh quẩn rót nước
mời khách. Tôi hỏi: “Anh Phong Lê, ý kiến anh thế nào?” Phong Lê vội lảng:
“Chuyện này tôi không rõ, tuỳ các anh”.
Nhân đây, xin nói một chút về Vũ Đức Phúc.
Vũ Đức Phúc có lẽ là một sản phẩm đặc biệt của một thời - cái thời mà
quan điểm giai cấp được vận dụng một cách rất thô thiển. Tôi vẫn tin Vũ Đức
Phúc là người chân thật và thẳng thắn, nhưng chân thật, thẳng thắn một cách rất
máy móc, cứng nhắc và thô bạo. Chẳng thế mà Xuân Diệu gọi anh là cái “xe
tăng mù”. Có lần nhà thơ nói với tôi: “Vũ Đức Phúc cứ ném ra những ý kiến rất
thô như quăng ra những thanh củi vậy.”
Hôm ấy tranh luận với Vũ Đức Phúc tôi mới thấy nhận xét của Xuân Diệu
không ngoa ngoắt chút nào. Đại khái anh nói về Thiếu quê hương của Nguyễn
Tuân thế này: “Sao lại kêu “thiếu quê hương”! Lại còn đòi đi Mỹ theo đám múa
Xuân Phả và định cho em đi lính thợ sang Tây. Yêu nước gì Nguyễn Tuân!
Nguyễn Tuân là absence d‘humanisme. Ghét gia đình. Đối với những đàn bà
hiền dịu lại ghét. Không thương vợ con. Chơi bời như thế nhất định làm khổ vợ
con. Nói Nguyễn Tuân kênh kiệu chưa đủ. Phải nói là không nhân đạo, không
yêu nước gì cả. Còn vì sao ông ấy đi theo Cách mạng thì là vấn đề phải suy xét.
Vang bóng một thời tả Huế, mỹ hoá bọn bịp bợm trên Sông Hương. Bọn ấy là lũ
bóc lột, lừa đảo, truỵ lạc, không đẹp, không tao nhã như Nguyễn Tuân viết đâu.”
Còn đây là ý kiến của anh về Vũ Trọng Phụng: “Hà Nội báo là tờ báo
chống Hải Triều. Vậy mà Vũ Trọng Phụng đã viết ở đó. Vũ Trọng Phụng là loại
dân nghèo lưu manh hoá vùng ngoại ô (làng Mọc). Vũ Trọng Phụng ca tụng
Quỳnh, Vĩnh như là trí thức hạng nhất.”
Anh cho tôi đánh giá quá cao Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê.
Anh cũng không tán thành ý kiến của tôi nêu ra mâu thuẫn cơ bản trong
thế giới quan Vũ Trọng Phụng gồm hai nhân tố: tư tưởng bi quan định mệnh chủ
nghĩa và tâm trạng phẫn uất đối với xã hội. Anh nói: “Hai mặt mâu thuẫn đều
tiêu cực cả thì không biện chứng. Nhưng triết lý không quan trọng bằng tư tưởng
chính trị. Vũ Trọng Phụng là chống cộng, là phản động. Còn Chủ nghĩa duy vật
của Vũ là duy vật hưởng lạc, là Freud”.
Đấy Vũ Đức Phúc là như thế đấy!
Tất nhiên anh từ chối không đăng bài Vũ Trọng Phụng của tôi, tuy ông
Hoài Thanh đã duyệt và cho in.
Nhưng đến năm 1971, nhân gặp nhau ở trụ sở báo Văn nghệ, nghe
Nguyễn Đình Thi nói về Vỡ bờ, không hiểu sao anh lại bảo tôi đưa bài Vũ Trọng
Phụng cho anh.
Nhưng anh nói: “Tôi đăng bài này với điều kiện, sau đó có bài uốn nắn
lại, anh có đồng ý không?” Tôi đồng ý. Năm 1971, bài tôi đăng số trước thì số
sau có bài uốn nắn lại của Nguyễn Đức Đàn.
Năm 1980, tôi được giao làm Tuyền tập Nguyễn Tuân. Hồi ấy có quan
niệm làm tuyển tập là một cái gì ghê gớm lắm: Chỉ được phép làm tuyển tập Hồ
Chí Minh hay các lãnh tụ cao cấp của Đảng, chí ít phải là Tố Hữu. Còn các nhà
văn dù lớn đến đâu cũng chỉ được làm sau khi chết. Mà phải là nhà văn không
có “vấn đề” gì, như Ngô Tất Tố, Nam Cao... Nhưng ông Lý Hải Châu giám đốc
nhà xuất bản Văn học quyết định làm tuyển tập các nhà văn còn sống, thuộc tầm
cỡ lớn, trước hết là Nguyễn Tuân. Lý Hải Châu từng là một nhà tình báo cách
mạng hoạt động ở Sài Gòn, đã từng bị bắt và kết án tử hình, nhưng may trốn
thoát được ra Bắc nhờ hiệp định Genève. Ông là một trí thức, rất đạo đức và có
bản lĩnh. Ông cứ quyết định làm Tuyển tập Nguyễn Tuân đầu tiên, mặc cho Hoài
Thanh và Hoàng Trung Thông can ngăn.
Tôi thì mừng quá, vì nghiên cứu Nguyễn Tuân mãi, giờ mới được dùng
đến. Ngoài việc tuyển lựa tác phẩm Nguyễn Tuân, tôi lo viết bài giới thiệu sao
cho thật tốt. Nguyễn Tuân chọn tôi chứ không chọn Vũ ngọc Phan, vậy tôi phải
viết sao cho xứng đáng với sự tín nhiệm của ông. Mà người đọc bài Tựa trước
hết là chính Nguyễn Tuân. Viết cho Nguyễn Tuân đọc đâu có dễ. Tôi dự kiến
viết bài gồm ba phần:
I. Quan điểm sáng tác
II Quá trình sáng tác
III Phong cách nghệ thuật
Viết phần đầu cứ tắc lại mãi. Tôi đến Xuân Diệu than phiền với anh. Xuân
Diệu nói: “Viết tắc giống như bị táo bón. Nhưng táo bón còn hơn tháo dạ. Viết
văn cũng vậy”. Và anh truyền kinh nghiệm cho tôi: “ Chỗ nào tắc, cứ bỏ đấy viết
sang phần khác rồi quay lại sau, sẽ viết được. Vẽ cũng thế. Vẽ người đâu cứ phải
vẽ từ đầu xuống. Vẽ từ đít lên cũng được chứ. Đánh đồn cũng vậy, có thể đánh
tung thâm thẳng vào hầm Đờ Cát chứ không cứ phải đánh lần lượt từ ngoài
vào”.
Tôi nghe Xuân Diệu, viết nhảy cóc sang phần hai, phần ba, sau đó mới
quay lại phần một và thấy quả là trôi chảy thông thuận.
Tuyển tập làm xong, nhiều người khen. Lý Hải Châu, Nguyễn Tuân, Lê
Khánh ( biên tập viên ) đều vừa lòng. Anh Nguyễn Văn Bổng hồi đó làm tổng
biên tập báo Văn nghệ, tổ chức một cuộc hội thảo về Tuyển tập Nguyễn Tuân ở
trụ sở báo ( 17 Trần Quốc Toản ). Hôm ấy có mặt Nguyễn Tuân, Lý Hải Châu,
Xuân Diệu, Tế Hanh, Phạm Hổ, Từ Sơn, Ngọc Trai, Lê Khánh và tôi.
Tuyển tập in ra được Trương Chính, Quang Huy viết bài khen, nhưng bị
Phan Cự Đệ phê phán, cho là quá đề cao Nguyễn Tuân trước Cách mạng mà
chưa chú ý đúng mức đến tác phẩm của nhà văn sau Cách mạng.
Anh Lý Hải Châu rất tín nhiệm tôi. Tập tiểu luận phê bình văn học đầu
tiên của tôi do nhà xuất bản Tác phẩm mới in năm 1979 ( Nhà văn, tư tưởng và
phong cách ), anh cho tái bản ngay năm 1983, bổ sung vào đấy bài giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân.
Tập sách này được nhận giải thưởng về lý luận phê bình của hội nhà văn
năm 1985 ( giải thưởng văn học 4 năm: 1941 – 1944 ). Hôm họp hội đồng lý
luận phê bình để xét giải thưởng, tôi vẫn bị anh Phan Cự Đệ phê phán và bác bỏ.
Chị Ngọc Trai, thư ký hội đồng thuật lại với tôi như thế. Hội đồng có 6 người:
Hà Xuân Trường, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Nam, Lê Đình Kỵ,
Hoàng Trung Thông. Lê Đình Kỵ ở trong Nam không ra. Hoàng Trung Thông
thì ốm đang nằm bệnh viện. Phan Cự Đệ tự đi phát và thu phiếu điều tra dư luận.
Kết quả Đệ, Đức nhiều phiếu tán thành hơn cả, thứ hai là Hà Xuân Trường.
Ngọc Trai cũng phát phiếu điều tra về mấy cuốn sách của Đức, Đệ, Hà Xuân
Trường, nhưng chị cho biết, họ cho rằng chỉ hỏi về mấy cuốn sách ấy thì họ
không trả lời.
Ngọc Trai đề nghị đưa vào giải thưởng mấy cuốn của Nguyễn Đăng
Mạnh, Nhị Ca và Thành Duy. Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức bác đi. Đệ rất quyết
liệt, cho sách của tôi là sách tái bản không hợp lệ. Hà Xuân Trương chủ tịch hội
đồng tán thành đề nghị của Ngọc Trai thêm hai cuốn của Nguyễn Đăng Mạnh và
Nhị Ca, còn cuốn của mình thì xin rút. Mọi người nhất trí, bỏ phiếu 100%. Phan
Cự Đệ lại hội ý với Hà Minh Đức đề nghị sách của Nguyễn Đăng Mạnh xếp
xuống loại B vì lý do, nếu anh Hoàng Trung Thông có mặt, chắc không tán
thành, vì anh từng nói với Đệ bài Nguyễn Tuân có vấn đề. Chính Hữu phó tổng
thư ký Hội nhà văn có mặt hôm ấy gạt đi. Ngọc Trai mang phiếu đến bệnh viện
lấy ý kiến của Hoàng Trung Thông. Thông cũng tán thành và nói không hề có ý
kiến gì về bài Nguyễn Tuân trong Tuyển tập cả. Chỉ nói bài viết từ xưa của anh
Mạnh từng bị Vũ Đức Phúc phê phán... Nhưng chuyện qua lâu rồi...
Thế mà sau hội nghị, Phan Cự Đệ lại là người viết thư riêng cho tôi báo
tin mừng tôi đã được giải thưởng.
Vào năm 1983, tôi còn bị đánh một trận nữa. người ta đánh một bài viết
của tôi chưa hề được công bố.
Hồi ấy cuộc xung đột ta với Tầu ở biên giới còn nóng hổi. Anh Nguyên
Ngọc vừa ở chiến trường ra, được đề bạt làm bí thư đảng đoàn Hội nhà văn, chủ
trương làm một cuộc cách mạng trong đời sống văn học, đặc biệt là chống
Maoít. Hôm ấy nhân có một cuộc họp của giới lý luận phê bình văn học ở trụ sở
báo Văn nghệ, Nguyên Ngọc và Nguyễn Khải đến hô hào chúng tôi dũng cảm
nói sự thật, đảm bảo không sợ bị “tai nạn lao động”.
Một số người phát biểu hưởng ứng, trong đó có Hoàng Ngọc Hiến và tôi.
Thấy ý kiến nghe được, anh Từ Sơn ở báo Văn nghệ đề nghị viết thành bài để
đăng báo.
Bài của Hiến chính là bài “hiện thực phải đạo” nổi tiếng, được coi như mở
đầu cuộc đổi mới văn học. Bài đăng được ít lâu thì bị phê phán quyết liệt cùng
với bản Đề cương của Nguyên Ngọc. Vì thế bài của tôi đã lên khuôn vội rút về.
Nhưng nhiều người cứ đồn bài này còn táo tợn hơn cả bài của Hiến, và lời đồn
đại này cứ lan rộng mãi. Hoàng Trung Thông lúc bấy giờ là Viện trưởng viện
văn học phát biểu trong một cuộc hội nghị ở Viện, nói tôi đã đối lập tư tưởng chính trị với tư tưởng Văn nghệ. Chuyện này tôi chẳng quan tâm làm gì nếu không liên quan đến kỳ phong
học hàm phó giáo sư của tôi lúc bấy giờ. Hồi ấy, người đăng ký phong học hàm,
trước khi được đưa ra bầu bán về chuyên môn, phải thông qua đảng uỷ của cơ
quan công tác về tư tưởng. Trường hợp của tôi trở thành gay go vì tiếng đồn về
bài viết của tôi đã vang đến đảng uỷ trường đại học Sư phạm và đảng bộ khoa
văn. Hoàng Dung, tổ trưởng chuyên môn và bí thư liên chi đảng, tỏ ra có trách
nhiệm, cho người đi dò hỏi một số nhân vật công tác ở các cơ quan văn hoá của
Đảng như ban văn hoá văn nghệ Trung ương, Viện văn học, báo Văn nghệ...
Anh còn cho người đến trụ sở Văn nghệ đề nghị cho đọc biên bản cuộc họp về lý
luận phê bình để xem tôi đã phát biểu như thế nào...
Thấy tình hình có vẻ nguy, tôi bèn lấy bản thảo bài viết của mình đưa cho
anh Phạm Quý Tư đọc (lúc này anh Phạm Quý Tư là hàng xóm của tôi, cùng ở
tầng năm, nhà B2, khu tập thể cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Hà Nội). Anh
Tư là hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ tịch Hội đồng khoa học
trường, đồng thời là đảng uỷ viên. Anh Tư cẩn thận, đưa cho chị Trần Thị Thục
Nga, bí thư đảng uỷ trường đọc nữa. Rất may là các vị kết luận: không có vấn đề
quan điểm gì cả. Anh Tư còn khen bài viết hay. Anh hỏi tôi có yêu cầu gì không.
Tôi nói, nếu chuyện đồn đại diễn ra ở đâu đó thì cứ mặc kệ không quan tâm làm
gì. Nhưng nếu vấn đề được đưa ra bàn ở đảng uỷ, thì anh là người đã đọc, anh
cứ phát biểu như anh vừa nói với tôi.
Chuyện phong của tôi vì thế trở thành xuôn xẻ.
Sau này biết chuyện, nhiều người đề nghị cho đọc bài ấy, nhưng tôi từ
chối. Việc đọc văn, hiểu văn lắm chuyện lắm. Nếu có động cơ xấu thì càng rách
việc.
Năm 1984, tôi được phong phó giáo sư.
* *
*
Sau Đại hội Đảng lần thứ Sáu (1986), đất nước bắt đầu đổi mới, người
đánh tôi đầu tiên vẫn là Phan Cự Đệ. Nguyên là tôi có viết một bài nhan đề là
“Phê bình văn học trong tình hình mới” đăng trên Văn nghệ năm 1987. Phan Cự
Đệ liền viết trên Văn nghệ quân đội một bài phê phán tôi “phủ nhận văn học
Cách mạng”, “phủ nhận quá khứ”. Giọng điệu có vẻ ôn tồn nhưng qui kết rất
nặng.Tôi bực lắm, vì từ lâu vốn đã không ưa Phan Cự Đệ từ con người đến cách
viết.
Hồi ấy, như đã nói, Nguyễn Khải được anh Trần Độ gọi ra để chuẩn bị đại
hội nhà văn lần thứ IV. Sau bài anh Đệ phê phán tôi ít lâu, Nguyễn Khải có tổ
chức một cuộc họp lý luận phê bình văn học ở 65 Nguyễn Du. Tôi nhớ hôm ấy
có mặt rất đông: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Nam, Hoàng Trung
Thông, Nguyễn Văn Hạnh, Thiếu Mai, Phong Lê, Ngọc Trai, Lê Thị Đức
Hạnh..vv... Nguyễn Khải điều khiển cuộc họp. Tôi ngồi gần Đệ. Tôi nói với
Nguyễn Khải: “Anh Khải này, anh là người lắm chữ, tôi thì ít chữ, tôi không biết gọi anh Đệ thế nào. xin anh tìm cho tôi một chữ nào đấy, còn tôi thì chỉ biết gọi
anh Đệ là thằng đểu”.
Không khí cuộc họp trở nên căng thẳng. Hoàng Trung Thông và Nguyễn
Văn Hạnh ngồi cùng một cái ghế tựa dài với tôi. Nguyễn Văn Hạnh ngồi giữa.
Hoàng Trung Thông chồm người qua Nguyễn Văn Hạnh nói với tôi: “Anh Mạnh
này, tôi không bao giờ đọc anh Đệ đâu nhé.” Tôi nghĩ bụng, chính anh đã đề tựa
cho cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại của Đệ, sao lại nói là không đọc?
Đệ ngồi im không nói gì. chờ cho vài người phát biểu xong, anh mới nói,
đại ý khoe có một bài viết gì đó đã được dịch đăng trên một tạp chí của Liên Xô
( lúc này Liên Xô chưa sụp đổ )
Tôi lại bồi thêm một đòn nữa: “Không biết Liên Xô đánh giá anh thế nào,
chứ tôi đánh giá anh rất kém, viết chẳng hay ho gì đâu”.
Lúc ấy chắc bộ dạng tôi dữ dội lắm. Cuộc họp kết thúc, Hà Minh Đức nói
với tôi: “Ông Đệ ông ấy thần kinh vững lắm. Chứ tôi bị anh nói thế, tôi không
chịu được. Tôi đau tim mà!”
Tôi để ý, khi diễn ra cuộc xung đột giữa tôi với Phan Cự Đệ, không có ai
bênh Đệ cả, tuy lúc ấy có đủ mặt giới lý luận phê bình và một số anh sáng tác,
cấp tiến có, bảo thủ có. Hiện tượng này chứng tỏ hồi ấy (1987), cánh đổi mới
đang ở thế áp đảo.
Tôi thấy Hà Minh Đức nói rất đúng, Đệ quả là một tay thần kinh vững.
Hôm ấy, cuộc họp tan, anh vẫn bắt tay tôi, coi như không có chuyện gì xảy ra.
Nhưng đừng tưởng anh đã chịu thua tôi đâu. Đầu năm 1989, anh lại đăng
trên Nhân dân một bài tiếp tục phê phán ý kiến của tôi trong bài viết năm 1987,
đồng thời còn móc lại những ý kiến của tôi phát biểu trước Tổng bí thư Nguyễn
Văn Linh để lên án. Và đến năm 2000 thì nổ ra vụ luận án tiến sĩ của Trần Hạnh
Mai. Anh đã tấn công tôi quyết liệt. Số là luận án của Mai, cán bộ giảng dạy
khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội, do tôi hướng dẫn, sau khi bảo vệ ở Hội đồng
cơ sở (1998) được Bộ đưa cho anh Đệ phản biện kín. Luận án viết về “Sự
nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh”. Tôi và Mai chủ trương phản bác ý
kiến cho rằng, trước Cách mạng Tháng Tám, Hoài Thanh hoàn toàn viết theo
quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Đệ cho như thế là sai lầm căn bản. Anh viết
hẳn trong bản nhận xét phản biện “Trần Hạnh Mai đã theo quan điểm đổi mới
cực đoan của Nguyên Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh.” Và anh gọi Mai đến đề nghị
chữa luận án theo ý anh, lại nói để yên lòng cô nghiên cứu sinh: người hướng
dẫn không có trong hội đồng bảo vệ nên không sợ.
Trần Hạnh Mai không nghe. Cô nghĩ bụng, không bảo vệ thì thôi chứ
không thể phản lại thầy và chân lý. Thế là Đệ báo cáo lên ban tư tưởng văn hóa
trung ương, coi như một vấn đề thuộc quan điểm chính trị cần có ý kiến của cơ
quan Đảng. Rất may là về sau, Ban Tư tưởng văn hóa lại gửi luận án của Mai
cho Viện Văn học hỏi ý kiến. Viện ủng hộ Mai và cuộc bảo vệ cấp Nhà nước
được tiến hành suôn sẻ (năm 2000). Luận án được đánh giá xuất sắc.
Buổi bảo vệ kết thúc, tôi phát biểu với tư cách người hướng dẫn. Tôi nói:
“Thông thường khi bảo vệ thành công luận án, nghiên cứu sinh cám ơn người hướng dẫn. Nhưng hôm nay tôi làm ngược lại, tôi xin cám ơn Hạnh Mai đã giữ
vững lập trường của mình. Tôi cũng xin cám ơn giáo sư Phan Cự Đệ. Nhờ có
anh mà tôi mới biết được, một cô gái có vẻ yếu đuối như Trần Hạnh Mai mà té
ra lại có bản lĩnh vững vàng như thế.”
Cuộc bảo vệ tuy thế, do Phan Cự Đệ, đã bị trì hoãn lại đến hơn tám tháng.
Sau cuộc bảo vệ này, một lần nữa tôi lại thấy Đệ đúng là thần kinh rất
vững. Anh gặp tôi luôn, thường do cùng ở chung trong một hội đồng bảo vệ luận
án tiến sĩ nào đấy. Anh vẫn bắt tay tôi và trò chuyện rất thân mật.
Năm 1995 tôi còn bị một đòn phê phán nữa khá quyết liệt. Đòn của Trần
Thanh Đạm. Điều này tôi đã kể ở trên rồi, ở đây chỉ nói thêm về nội dung của
vấn đề mà thôi.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của Tạp chí Văn học do Phạm Xuân
Nguyên thực hiện, tôi cho rằng từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, văn học
Việt Nam có ba cuộc nhận đường. Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng và trong
những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Lần thứ hai, sau Điện Biên
Phủ, hoà bình được lập lại trên miền Bắc. Lần thứ ba, sau 1975. hai lần trước, tôi
cho là không khó khăn lắm, vì chỉ là nhận thức nhiệm vụ chính trị của Văn nghệ
sĩ, mà chính trị lúc bấy giờ thực chất chỉ là yêu nước, chống xâm lược rất dễ
thông suốt. Văn nghệ sĩ vốn rất yêu nước, nên dễ dàng giác ngộ về điều này, họ
sẵn sàng hy sinh tất cả, từ tài sản, tính mạng đến cả bản thân nghệ thuật cho
cuộc kháng chiến.
Nhưng cuộc nhận đường thứ ba này thì rất phức tạp vì đây mới là cuộc
nhận đường của bản thân văn học nghệ thuật với hàng loạt câu hỏi: Văn nghệ là
gì? Chức năng của văn nghệ? Tiêu chí giá trị tác phẩm văn nghệ? Văn nghệ và
chính trị? Văn nghệ và hiện thực?..vv... Những câu hỏi không dễ trả lời.
Viết bài trên Sài Gòn giải phóng, Trần Thanh Đạm cho tôi là không hiểu
gì cả, lại dám khinh bạc Cách mạng. Con đường cứu nước đầy gian khổ, bao
nhiêu văn nghệ sĩ đã hy sinh, một số đã phải bỏ cuộc, vậy mà lại nói là đơn giản,
dễ dàng.
Không biết vô tình hay cố ý, anh đã đánh tráo khái niệm. Tôi nói nhận
đường, tức nhận ra con đường cứu quốc không khó, chứ có nói con đường ấy là
dễ dàng đâu, là không phải hy sinh xương máu, không phải trường kỳ gian khổ
đâu. Giặc đến nhà, phải đánh đuổi nó đi, anh cho là điều khó hiểu lắm hay sao?
Nhưng thôi, bắt bẻ anh làm gì. Bài viết của anh đầy mâu thuẫn logích.
Nhưng điều khó hiểu hơn nhiều là bản chất con người anh là thế nào nhỉ?
Nguyễn Khải có lần hỏi tôi như thế, tôi cũng chịu.
Từ cuối những năm 80 cho đến nay, tôi còn bị nhiều người phê phán:
Phan Trọng Luận, Nguyễn Văn Lưu, Đỗ Minh Tuấn, Lê Tuấn Anh, Hồ Phương,
Trần Mạnh Hảo. Tôi không kể hết ra đây làm gì, chỉ xin nêu một số trường hợp
có ấn tượng khó quên hơn cả.
Trước hết là Phan Trọng Luận với vụ Tuyên ngôn độc lập.
Năm 1989, tôi được giao chủ biên biên soạn lại chương trình và Sách giáo
khoa PTTH môn văn ( gọi là chương trình và SGK cải cách giáo dục )
Phương châm cải cách của tôi là: Chương trình văn phải đích thực là
chương trình văn. Lúc ấy tôi quan niệm Văn theo nghĩa chặt chẽ và hiện đại:
Văn là văn hình tượng, văn nghệ thuật, văn mỹ thuật ( belles lettres ), tác động
đến người đọc trước hết về tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ thông qua hình tượng
nghệ thuật. Vì thế khi xây dựng chương trình về văn thơ Hồ Chí Minh, tôi chỉ
chọn vào phần giảng văn những tác phẩm văn thơ hình tượng hay văn thơ nghệ
thuật mà thôi. ( Vi hành, Mộ, Tảo giải, Vãn cảnh, Tân xuất ngục học đăng sơn,
Nguyên Tiêu, Báo Tiệp, Cảnh khuya...). Tuyên ngôn độc lập không thuộc loại
văn nghệ thuật, tôi chuyển sang chương trình tập làm văn, về thể nghị luận chính
trị ( chứ không hề bỏ ra ngoài chương trình ).
Vì chương trình cũ có giảng văn Tuyên ngôn độc lập, nên thấy sách giáo
khoa mới không có, nhiều người tưởng tôi loại ra khỏi chương trình và có phản
ứng khá ồn ào.
Thực ra chương trình cải cách giáo dục đã loại bỏ nhiều tác phẩm trong
chương trình cũ như Sống như Anh của Trần Đình Vân, Buổi Sáng của Nguyễn
Thị Ngọc Tú và đưa vào nhiều tác phẩm từng bị phê phán trước kia, như Tờ Hoa
của Nguyễn Tuân, Tây Tiến của Quang Dũng và nhiều bài Thơ mới lãng mạn.
Nhưng Tuyên ngôn độc lập là của Hồ Chí Minh. Đụng đến Hồ Chí Minh
là chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của người Việt Nam, nên lập tức ầm ĩ như đổ
trời. Mai Thúc Lân đưa vào Quốc Hội. Hà Xuân Trường suy diễn: họ đưa ra
ngoài chương trình học Tuyên ngôn độc lập chắc sẽ tiến tới loại bỏ cả Hịch
tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn và Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Phạm
Tường Hạnh thì la lối ( Nhân dân 10 – 1995 ) “bỏ không học Tuyên ngôn độc
lập thì còn nói gì giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho
thế hệ trẻ”. Không khí “báo động” này lại được bọn cơ hội chủ nghĩa trong giới
làm báo kích động thêm lên làm cho càng trở nên căng thẳng.
Chuyện đến tai ông cố vấn Phạm Văn Đồng. Ông tuy đã già lăm rồi, mắt
gần như loà, vậy mà vẫn muốn có ý kiến về mọi việc quốc gia đại sự và vẫn
hăng hái biên soạn sách này sách khác. Ông cho gọi tôi lên để góp ý kiến với
ông về vấn đề văn hoá mà ông đang chuẩn bị viết, nhân tiện hỏi tôi về chuyện
Tuyên ngôn độc lập. Tôi nói như đã viết ở trên: không loại ra khỏi chương trình,
chỉ xếp vào đúng chỗ của nó thuộc thể văn chính luận. ở trường học phải thế
mới khoa học. Ông không có ý kiến gì, chỉ vung tay nói lớn: “Bài văn hay lắm!
hay lắm!”
Còn anh Việt Phương có mặt hôm ấy thì nói: “ở nhà trường phải khoa
học. Anh Mạnh anh ấy nói đúng đấy.”
Nhưng Phan Trọng Luận thì viết bài phê phán gay gắt, quy kết tư tưởng
nặng nề. Đánh hơi được khuynh hướng của lãnh đạo, Luận lập tức hưởng ứng
ngay.
Công chúng nhiều người không hiểu gì cả nên có phản ứng. Phan Trọng
Luận là thành viên của Hội đồng ngữ văn, không phát biểu trong hội đồng mà lại
viết báo phê phán. Mà anh thừa biết đâu phải loại ra khỏi chương trình. Đây chỉ
là sự chuyển chỗ của tác phẩm từ môn giảng văn nghệ thuật đến môn tập làm văn về thể nghị luận, chính luận mà thôi. Tôi cho như vậy là thiếu trung thực.
Trong một cuộc họp của Hội đồng ngữ văn, tôi đã nói thẳng như thế với
Phan Trọng Luận. Luận nổi nóng cãi lại. Anh Hoàng Tuệ hồi đó là chủ tịch Hội
đồng can không được, đành tuyên bố giải tán cuộc họp.
Thực ra Phan Trọng Luận vốn từ lâu đã không ưa tôi.
Năm 1988 tôi có viết một bài trên báo Văn nghệ “Vài suy nghĩ về đổi mới
tư duy trong giảng dạy văn học”. Trong bài này tôi cho rằng, phương pháp giảng
dạy tức môn giáo học pháp, không phải không cần, nhưng trong tình hình hiện
nay, điều quan trọng hơn là phải hiểu được bài văn đã. Phải giải quyết nội dung
thì mới có cái mà truyền đạt chứ. Lâu nay nội dung ý nghĩa của bài văn thường
bị chính trị hoá, nhiều người coi tiêu chí cao nhất để đánh giá tác phẩm văn học
là tiêu chí chính trị. Phân tích tác phẩm họ thường suy diễn bừa bãi theo lối xã
hội học dung tục hay biến ngôn ngữ nghệ thuật thành ngôn ngữ chính trị trực
tiếp, giá trị văn chương không được coi trọng. Nghĩa là có rất nhiều vấn đề cần
giải quyết xung quanh việc phân tích, thẩm định tác phẩm như những giá trị văn
chương.
Phan Trọng Luận bèn xui một giáo viên phổ thông thân cận với anh (Vũ
Dương Quỹ) viết bài phê phán tôi không hiểu tầm quan trọng của giáo học pháp.
Thực tình thì tôi không coi thường bộ môn khoa học này nhưng quả có
coi thường những người dạy môn học này. Không có kinh nghiệm dạy văn cụ
thể nên toàn lý thuyết suông, phát biểu những nguyên lý chung chung vô bổ. Có
lần tôi đã nói toạc ra như thế khi trả lời học viên một lớp gọi là cốt cán cấp II (
lớp bồi dưỡng giáo viên cấp II giỏi lên trình độ đại học ). Cô Bích Ba, trưởng
lớp, trịnh trọng đứng lên hỏi tôi khi bài học kết thúc: “Thưa thầy, thầy dạy văn
đã lâu năm, vậy kinh nghiệm của thầy làm thế nào để dạy văn cho tốt.” Tôi trả
lời ngắn gọn: “Muốn dạy văn cho tốt, theo kinh nghiệm của tôi, không nên học
giáo học pháp.”
Cách ăn nói giật gân như thế tất được truyền bá nhanh chóng và rộng rãi,
và các vị giáo học pháp rất căm ghét, trong đó có Phan Trọng Luận là người tự
phong là giáo sư đầu ngành về môn học này.
Nhưng người tập trung đánh tôi nhiều nhất là Trần Mạnh Hảo.
Muốn hiểu hiện tượng Trần Mạnh Hảo, cần thấy y không phải là kẻ đơn
độc và xuất hiện ngẫu nhiên, mà tiêu biểu cho một xu hướng cơ hội chủ nghĩa
trong đời sống văn học của đất nước do một lực lượng cầm quyền tạo ra, đặc
biệt là từ khi có phong trào đổi mới.
Lực lượng này có nhu cầu dẹp phong trào đổi mới, đòi dân chủ thật sự mà
họ gọi là cực đoan, quá khích. Họ dẹp báo Văn nghệ của Nguyên Ngọc, họ cách
chức Trần Độ, họ xoá bỏ giải thưởng trao cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, cấm phim Hà Nội trong mắt ai của Trần Văn Thuỷ, chèo Bài ca
giữ nước của Tào Mạt, vở Em đẹp dần trong mắt ai của đoàn kịch Hà Nội…, Họ
phê phán Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Dương Thu
Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…, tập truyện Bi kịch nhỏ của Lê
Minh Khuê, đánh Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm, Nguyễn Đăng Mạnh…, xoá bỏ trường viết văn Nguyễn Du do Khái Vinh, Phạm Vĩnh Cư,
Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc phụ trách..vv…
Họ cần có những “thợ đánh” giỏi. Họ tìm được Phan Cự Đệ, Trần Thanh
Đạm, Hoàng Nhân, Mai Quốc Liên, Hồng Diệu, Nguyễn Văn Lưu, Hồ Phương,
Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Trương Vĩnh Tuấn..vv… Tuy thế vẫn chưa có ai
đáp ứng được đầy đủ nhu cầu “đánh dẹp” của họ.
Phải nói nghề “đánh đấm” này xem ra khá hấp dẫn với loại người cơ hội
chủ nghĩa, vì nếu khôn ngoan ra có thể tiến thân rất nhanh chóng…
Nhưng hành nghề này cũng không đơn giản. Phải có một số điều kiện chủ
quan:
- Hoàn toàn vứt bỏ lương tâm, cắt hết mọi “dây thần kinh xấu hổ”
- Có biệt tài dối trá, xỏ xiên, bịa đặt, nguỵ biện.
- Có khả năng diễn đạt giáo hoạt, hấp dẫn ( tất nhiên đối với loại công
chúng văn hoá thấp .)
- Thất nghiệp, nhàn rỗi, được nuôi dưỡng đầy đủ để có thể ngày ngày tiêu
thì giờ bằng cách sản xuất ra thật nhiều những “văn bản đánh đấm” cung cấp
cho nhu cầu chống đổi mới, chống dân chủ.
Trần Mạnh Hảo xuất hiện đã đáp ứng tuyệt vời những điều kiện ấy.
Cho nên không phải ngẫu nhiên mà những Nguyễn Đức Bình, Nguyễn
Hữu Thọ, rồi Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh… đã vồ lấy anh ta như một của
quý. Họ thừa biết đây là một tên đầu gấu, nổi tiếng phản bội (phản chúa, phản
đảng, phản vợ, phản bạn, phản chủ, “phản thơ”, “phản phê bình”), từng bị khai
trừ đảng vì viết Ly Thân, nhưng trước mắt có thể dùng làm tay sai đắc lực.
Nguyễn Hữu Thọ đã nói thẳng như thế với anh em biên tập tạp chí Thế giới mới
ở Sài Gòn ( Nguyễn Khắc Hoan đã kể lại như thế với Nguyên Ngọc ). Nguyễn
Khoa Điềm cũng vậy. Điềm vào Đại học Sư phạm Hà Nội nói chuyện với cán
bộ, sinh viên khoa văn, ngang nhiên đánh giá Trần Mạnh Hảo là “trong sáng” và
“dũng cảm”.
Cho nên bài của Hảo toàn đăng trên báo lớn: Nhân dân, Quân đội nhân
dân, An ninh quốc gia, Văn nghệ… y được đám Văn nghệ quân đội ca tụng,
được nhận rất nhiều giải thưởng của Hội Nhà văn, được đưa vào chương trình
vô tuyến. Nhiều người viết bài tranh luận lại với Hảo bị báo chí từ chối. Nguyễn
Hữu Sơn tập hợp một số bài viết tranh luận với Hảo, in ở Nxb Hải Phòng. Nhà
xuất bản này đã bị phê bình, cảnh cáo.
Hảo viết bài đánh nhiều người, nhưng đánh tôi nhiều hơn cả.
Về chuyện tôi bị đánh dồn dập như thế, có người, như Hoàng Ngọc Hiến,
giải thích là do sự chỉ đạo của Nguyễn Khoa Điềm. Anh nói: “Vì Nguyễn Khoa
Điềm đã đích thân đến tận nhà mời cậu vào Hội đồng lý luận phê bình của Hội
nhà văn mà cậu nhất quyết từ chối, nên hắn chỉ đạo Hảo đánh cậu chứ sao!
Điềm lên làm tổng thư ký Hội nhà văn, lại là trung ương uỷ viên, đã hạ cố đến
nhà riêng của hội viên mà lại bị từ chối, như thế là cậu coi thường anh ta, xúc
phạm anh ta rồi còn gì!”
Sau Đại hội nhà văn lần thứ 5 (1995), đúng là Nguyễn Khoa Điềm và Ma
Văn Kháng có đến tôi ( ở ngõ 68, Quan Hoa). Điềm nói đại ý, tôi được giới lý
luận phê bình và sáng tác tín nhiệm, vậy muốn mời tôi làm chủ tịch Hội đồng lý
luận phê bình. Lúc ấy tôi dứt khoát từ chối vì, một là thấy danh sách uỷ viên Hội
đồng do Điềm dự kiến có những tay bảo thủ cơ hội chủ nghĩa tôi rất ghét, hai là
có nhiều người thuộc phái cấp tiến khuyên tôi không tham gia, như Nguyên
Ngọc, Nguyễn Quang Thân, Lê Ngọc Trà. Vả lại đã từng phụ trách Hội đồng lý
luận phê bình sau Đại hội nhà văn lần thứ 4, tôi thấy Hội đồng này thực chất
không có vai trò gì, bị vô hiệu hoá ngay cả đến việc kết nạp hội viên và tặng giải
thưởng (về lý luận phê bình).
Nhưng có phải vì thế mà Điềm căm ghét và trả thù tôi hay không thì lúc
ấy tôi không tin. Tôi vẫn nghĩ, Điềm làm gì đến nỗi tiểu nhân như thế.
Nhưng thôi, hãy trở lại chuyện Trần Mạnh Hảo.
Lần đầu tiên tôi biết Hảo là do Hữu Thỉnh. Hữu Thỉnh buộc phải tổ chức
một cuộc trao đổi về tiểu thuyết Ly Thân. Thỉnh nói riêng với tôi nương nhẹ khi
phát biểu để đỡ tội cho Hảo.Té ra giữa Hữu Thỉnh và Hảo đã có quan hệ thân
tình rất lâu rồi.
ở Đại hội nhà văn lần thứ IV và lần thứ V, Hảo ngồi cạnh tôi, nói chuyện
rất thân mật. Y còn tặng sách tôi và chép thơ vào sổ tay tôi.
Tôi thường được mời vào Sài Gòn công tác. Hảo có lần tìm đến thăm tôi
ở một căn hộ trong chung cư 21 Lý Tự Trọng, nơi ở của con trai tôi, có thời gian
công tác ở Thế giới mới (Hiện tôi còn giữ hai tấm ảnh chụp với Hảo ở căn hộ
này.) Mỗi lần vào Sài Gòn, tôi thường được gọi đến nhậu ở “dinh cơ” Thu Bồn.
Nhiều lần tôi thấy Hảo cũng có mặt ở đấy cùng với vợ. Lúc ấy Hảo đóng vai cấp
tiến.
Vậy mà vào đầu nhưng năm 90, hảo trở cờ, đánh vào phái cấp tiến từng
nhậu với y ở chỗ Thu Bồn.
Lúc đầu những bài trở cờ của Hảo đăng ở báo Công an Thanh phố Hồ Chí
Minh. Con trai tôi hỏi Hảo: “Sao anh lại viết như thế?”, Hảo trả lời: “Chú mày
phải cho anh kiếm bát cháo chứ!”. Nghe nói, vợ hắn quốc tịch Pháp, thường
buôn thuốc tây từ Paris về Sài Gòn. Hắn cần trở cờ để giúp vợ dễ dàng giao
thiệp với Công an, với Hải quan. Anh Đức đã bầy cho hắn mẹo ấy và chỉ đạo
hắn đánh vào cánh đổi mới. Đúng là hắn đã chừa ra không đụng đến bọn cơ hội
bảo thủ như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Anh Đức, Bảo Định Giang, Trần Thanh
Đạm, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Phương Lựu..vv…
Hảo đánh vào hầu hết những bài viết của tôi, từ sách chuyên luận (Con
đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ) đến sách giáo khoa, từ bài viết
về Hồ Chí Minh, về Văn học giai đoạn 1945 – 1975, bài Tổng quan văn học Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử đến bài viết về Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên
Hồng, Hoài Thanh..vv…
Tất nhiên tôi chẳng kể lại làm gì những bài viết mà những người có học
hành hẳn hoi và đứng đắn đều thấy là vừa ngu vừa đểu. Tôi chỉ ghi lại một
trường hợp, do sử dụng Hảo mà nhiều nhân vật trong bộ máy quản lý văn hoá,
giáo dục của ta trở thành trò cười.
Năm 1977, báo Nhân dân đăng một bài của Hảo phê phán bài viết của tôi
trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục lớp 12. ấy là các bài Nguyễn ái Quốc –
Hồ Chí Minh và Khái quát về Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975. Đại khái y
cho tôi phủ nhận giá trị văn chương của văn thơ Hồ Chí Minh khi cho rằng, đối
với Hồ Chí Minh, sáng tác văn thơ trước hết là hành vi chính trị và đưa ra luận
điểm phân biệt thơ của Người làm hai loại: một là thơ tuyên truyền chính trị trực
tiếp giống như những bài ca, bài vè nhằm vào đại chúng văn hoá thấp, hai là thơ
nghệ thuật làm để giải trí cho mình hay một số cán bộ cao cấp gần gũi với mình,
thường viết bằng chữ Hán. Còn về bài Khái quát văn học 1945 – 1975 thì cho là
tôi phủ nhận văn học Cách mạng.
Nguyễn Đức Bình tán thành bài viết này. Ông triệu tập một hội nghị gồm
nhiều vị quản lý văn hoá văn nghệ như Trần Hồng Quân, Phạm Minh Hạc,
Nguyễn Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Đặng Hữu, Nông Quốc Chấn, Hữu
Thỉnh…
Tất cả đều nhất trí vất bỏ hai bài viết của tôi và tìm người viết thay. Điều
đáng chú ý là tất cả các vị có mặt trong cuộc họp này không có ai làm công tác
nghiên cứu văn học, không có ai nghiên cứu về văn thơ Hồ Chí Minh cả.
Các ý kiến đều được viết ra, nghĩa là có văn bản. Anh Hà Bình Trị, thư ký
của hội nghị, có gửi cho tôi một số bản chụp.
Đọc các ý kiến này mới biết những ông lãnh đạo văn hoá như Nguyễn
Đức Bình, Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Khoa Điềm,
Hữu Thỉnh, cứ tưởng trình độ nhận thức cũng khá, hoá ra không phải. Cũng y
như lý lẽ của Trần Mạnh Hảo vậy thôi. Mà đều rất chủ quan, toàn nói giọng
khẳng định không chút dè dặt những điều rất nông cạn, hời hợt ( Chỉ có Nguyễn
Đình Thi có tỏ ra dè dặt – anh không dự hội nghị nhưng có gửi thư đến. Anh đề
nghị việc xem xét, sửa chữa sách giáo khoa nên mời các nhà chuyên môn trao
đổi với các giáo sư soạn sách.)
Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá
một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn, lại
dựa theo ý kiến một tên vô lại. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không
mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến. Mà
không phải không có những thông tin khác. Giáo sư Hoàng Như Mai và giáo sư
Lê Trí Viễn có phản ứng trên báo. ngoài ra có một số bài nói lại khá cặn kẽ về
Trần Mạnh Hảo và về vấn đề Tuyên ngôn độc lập trong chương trình PTTH
ccgd của Đỗ Ngọc Thống, Đặng Lưu, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Gia Phong… Lại
có cả một bản tường trình cặn kẽ của Nhà xuất bản Giáo dục chung quanh vị trí
của bài Tuyên ngôn độc lập trong sách giáo khoa từ tiểu học, phổ thông cơ sở
đến phổ thông trung học để thấy chưa có bài văn nào được học quá nhiều như
thế.
Nhưng mặc, họ vẫn tin ở Trần Mạnh Hảo hơn ( tuy Hữu Thọ là học trò
của giáo sư Hoàng Như Mai .)
ít lâu sau, tôi được ông Trần Hồng Quân, bộ trưởng Bộ giáo dục và đào
tạo mời đến gặp sau giờ làm việc. Tôi đến nơi thì đã thấy mặt Trần Hồng Quân, Đỗ Bình Trị, Vũ Quốc Anh, Nguyễn Như ý, và một thư ký riêng của ông Quân.
Trần Hồng Quân phổ biến cho tôi về nhận định và cách sử lý hai bài viết
của tôi trong sách giáo khoa. Sau đó hỏi tôi có ý kiến gì không.
Tôi nói, nếu anh gọi tôi đến chỉ để phổ biến như thế thì tôi chả có ý kiến
gì, còn nếu anh hỏi tôi như một nhà nghiên cứu văn học thì tôi sẽ nói. Quân mời
tôi nói.
Buổi ấy tôi phát biểu rất thẳng thắn và quyết liệt, đại khái như sau: Các
anh khinh thường sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh quá, chả cần nghiên cứu
gì cũng hiểu được. Thực ra các anh chẳng hiểu gì. Nếu gọi tôi đến, tôi giảng cho
các anh nghe 15 phút các anh sẽ hiểu ra ngay.
Tôi lại nói, việc bỏ bài viết của tôi khỏi sách giáo khoa làm thiệt thòi cho
hai đối tượng: một là Hồ Chí Minh, hai là giáo viên, học sinh. Hồ Chí Minh thiệt
vì từ nay sẽ bị hiểu sai, đánh giá sai. Giáo viên học sinh thiệt vì từ nay không
được dạy và học một bài viết chính xác, khoa học. Còn tôi thì chẳng thiệt hại gì.
Vì tiêu chuẩn phong phó giáo sư, giáo sư người ta không tính điểm cho sách
giáo khoa phổ thông.
Tôi nói tiếp, càng sôi nổi hơn: hiện nay chúng ta đang ra sức chống nhiều
tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm… Theo tôi Trần Mạnh Hảo là một tệ nạn
nguy hại hơn nhiều vì hắn làm cho trí thức mất tin tưởng ở Đảng.
Hôm ấy, tiễn tôi ra xe, Vũ Quốc Anh bảo tôi: “Anh Quân nói, anh Mạnh
anh ấy phát biểu đúng đấy”.
Nhân đây xin kể một chuyện vui.
Đầu năm 1996, ở Pác Bó, Cao Bằng, người ta tổ chức lễ kỷ niệm rất to
ngày Bác Hồ về Pác Bó ( 2/ 1941 ). Tôi và nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học
được mời lên dự. ở Pác Bó người ta xây dựng một ngôi đền thờ Bác Hồ. Mọi
người lên Pác Bó thường vào đền dâng hương. Tôi tới thắp hương và khấn ( cho
vui thôi ): “Cháu viết về Bác cũng nhiều, và viết cũng khá. Vậy mà Bác không
phù hộ cháu, để chúng nó đánh cháu như thế!”
Dịp ấy giáp Tết âm lịch. Tôi vừa về đến nhà thì có biên tập viên Tạp chí
Cộng Sản đến đặt viết bài về văn thơ Hồ Chí Minh để đăng vào dịp kỷ niệm sinh
nhật cụ Hồ. Bài viết của tôi nhan đề: “Một sự nghiệp văn học lớn, phong phú, đa
dạng” Nội dung lặp lại những luận điểm hệt như trong sách giáo khoa ( Tạp chí
Cộng Sản 19/5/1996 ) Bài này được dịch ra nước ngoài trong Sciences Sociales
cùng năm ấy.
Cụ Hồ thế mà thiêng thật!
Hai bài viết của tôi trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục lớp 12, tuy đã
bị thay bằng bài của anh Hà Minh Đức, nhưng nhiều giáo viên nói với tôi vẫn
dạy theo bài cũ.
Bây giờ lại cải cách chương trình và sách giáo khoa một lần nữa. Hai bài
của tôi lại được lấy lại. Không biết các ông Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Hữu
Thọ, Hà Xuân Trường, Hữu Thỉnh có còn phản đối nữa không?
Gần đây bộ mặt Trần Mạnh Hảo thế nào, ai nấy đều rõ cả, chả cần nói làm
gì. Chỉ thương cho những vị chót dùng Hảo, chót tin Hảo.
Nghe nói Hảo nay lại có nhu cầu khác, nhu cầu này đòi hỏi phải chửi
Đảng thật ác. Và Hảo thấy cần phải trở cờ lần nữa, trở cờ ngược lại. Đối với Hảo
thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì y vốn có máu phản bội. Nhưng thật tội cho
những người dùng Hảo. Đúng là Bá Kiến dùng Chí Phèo, cuối cùng trở thành
nạn nhân của hắn.
Nhớ hồi nào, khi Hảo bắt đầu đánh tôi, tôi gọi điện cho Nguyễn Khoa
Điềm ( lúc ấy anh chưa vào Bộ chính trị ) rằng sao Đảng lại dùng Trần Mạnh
Hảo. Đảng dùng một kẻ như thế thì tôi thương Đảng lắm. Lúc đó tôi nhớ Điềm
đã trả lời tôi: “Anh nói thế người ta khó tiếp thu lắm”
Bây giờ không biết Điềm có còn nhớ cú điện thoại đó không?
Hẳn là anh phải thừa nhận tôi đã nói đúng.
Đây là một bài học đau đớn đối với nhiều nhà lãnh đạo văn hoá giáo dục.
Họ đã bị Hảo lỡm cho một vố thật đau. Một bài học cần rút ra: dùng người phải
chú ý đến nhân cách, đến cái tâm, cái đức của anh ta. Đừng chỉ có tin vào lời
phát ngôn. Phát ngôn tiến bộ mà nhân cách kém thì đích thị là cơ hội chủ nghĩa.
Nhưng nói cho vui thế thôi, chứ mục đích không tốt thì dùng người tốt sao
được! Người tốt nào lại đi làm tay sai cho họ chứ?
Cuối cùng tôi phải nói đến bố con Lê Xuân Đức, Lê Tuấn Anh. Cuộc đời
tôi chưa bao giờ gặp phải loại người bỉ ổi đến thế.
Lê Tuấn Anh là sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Bố là Lê
Xuân Đức dạy trường chuyên văn Lam Sơn Thanh Hoá. Đức nhờ chạy chọt
được cho con gái Hà Trọng Hoà, bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá, thi đỗ học sinh giỏi
và vào được đại học, Hoà trả công, đề bạt y làm phó chủ tịch Hội văn nghệ
Thanh Hoá, rồi đại biểu quốc hội. ở đây, hắn lại chạy được một chân ở vụ báo
chí hay giáo dục gì đó của quốc hội.
Khi Lê Tuấn Anh còn là sinh viên, Lê Xuân Đức còn ở trường Lam Sơn
Thanh Hoá, tôi có lần được mời vào dự trại bồi dưỡng giáo viên. Tối nào Lê
Xuân Đức cũng đem nem và rượu đến khách sạn nơi tôi ở, mời nhậu. Y còn mời
tôi tới nhà chiêu đãi.
Vậy mà khi là đại biểu quốc hội, con được giữ lại làm cán bộ giảng dạy,
lập tức hắn trở mặt. Tôi nhớ trong một kỳ hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Nguyễn Khoa Điềm vốn là sinh viên cũ, đang học ở Nguyễn ái Quốc, đến dự.
Tôi ngồi cùng Nguyễn Khoa Điềm nghe sinh viên đọc thơ, Lê Xuân Đức không
biết từ xó xỉnh nào chồm tới bắt tay Nguyễn Khoa Điềm. Tôi ngồi bên cạnh, hắn
lờ đi coi như không quen biết. Hắn cũng lặp lại một cử chỉ như thế khi tôi đang
ngồi với Nguyễn Văn Hạnh, lúc đó là thứ tưởng Bộ giáo dục. Hắn từ một hàng
ghế xa, chạy lại bắt tay Hạnh và lờ tôi đi.
Tất nhiên được Đức bắt tay thì có danh giá gì đâu. Tôi nêu chi tiết này
chẳng qua vì nó thể hiện rất rõ bản chất con người Lê Xuân Đức. Thảo nào khi
tôi vào Thanh Hoá, giáo viên trường Lam Sơn gọi hắn là Xuân tóc đỏ.
Lê Tuấn Anh khi còn là sinh viên, thường chạy đến tôi luôn, tỏ ý hâm mộ
và sẵn sàng phục vụ tôi khi tôi cần đến. Nhưng đến khi được giữ lại trường làm
cán bộ giảng dạy thì hắn đã viết bài phê phán tôi với giọng điệu rất hỗn.
Thì ra bố con Lê Xuân Đức, Lê Tuấn Anh đã đánh hơi được con đường
tiến thân kiểu Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo.
Theo Chu Văn Sơn, bạn từ thời học sinh phổ thông của anh, thì từ khi Lê
Tuấn Anh còn nhỏ, bố là Lê Xuân Đức đã bồi dưỡng cho cậu con trai thứ tâm lý
“vĩ cuồng.” Do một tai nạn ngẫu nhiên ảnh hưởng tới não bộ, tâm lý vĩ cuồng
càng phát triển, trở thành bệnh hoạn thật sự. Tuấn Anh học giỏi, có tham vọng
lớn, nhưng quá nôn nóng được nổi danh, lại sẵn có cái gien Xuân tóc đỏ của bố,
nên đã cùng bố đi theo con đường cơ hội chủ nghĩa bất chấp đạo lý làm người.
Tuấn Anh đã viết liền hai bài rất dài đăng trên Quân đội nhân dân tháng 4
năm 1995 phê phán tôi đã hạ bệ thơ văn Hồ Chí Minh.( bài Đọc thơ Bác, thời
nay và Bàn về cách đánh giá thơ văn Hồ Chí Minh trong Sách giáo khoa 12 – ký
tên Nguyễn Ngọc Châu )
So với cách viết của Trần Mạnh Hảo, Lê Tuấn Anh xuyên tạc, qui chụp có
vẻ tinh vi hơn, nghĩa là xảo quyệt hơn, khoe kiến thức một cách kín đáo hơn.
Nhưng mục đích cũng thế thôi: đánh vào cánh đổi mới. Không phải ngẫu nhiên
mà dưới đầu đề Đọc thơ Bác, thời nay, hắn nói tôi, trước công cuộc đổi mới, viết
về thơ Bác rất tốt, nhưng từ khi đổi mới đã chạy theo phong trào, hạ bệ Hồ Chí
Minh.
Do một cơn vĩ cuồng nổi lên khi chưa đạt được “chí lớn”, Tuấn Anh đã
nhảy lầu tự tử trong thời gian làm nghiên cứu sinh ở Nga.
Nếu Tuấn Anh còn sống, có lẽ Trần Mạnh Hảo phải gọi bằng cụ.
Tôi thật buồn vì có một học trò như thế. Nhưng nghĩ lại thấy cũng còn
may, may hơn Đức Chúa Giê Su rất nhiều. Chúa Giê Su có mười ba học trò thì
có một kẻ phản bội. Tôi có hàng nghìn học trò, một kẻ phản bội thì có nghĩa lý
gì đâu – vì thế có người cho tôi là có cung học trò trong lá số tử vi. GiêSu bị
phản bội đến nỗi phải chết. Tôi bị Lê Tuấn Anh phản bội, chẳng những không
chết mà uy tín cũng chẳng sứt mẻ gì.
Lê Tuấn Anh chết rồi, bố Lê Xuân Đức vẫn cố vớt vát danh vọng cho đứa
con bất hạnh. Y đề nghị tặng giải thưởng lý luận phê bình của Hội nhà văn cho
một tập bài viết của Lê Tuấn Anh. ( vì thấy sách của Trần Mạnh Hảo đã được
nhận giải thưởng ) Và, không biết dùng cách nào y đã lôi kéo được khá nhiều
“tri thức” tới hội thảo về sự nghiệp của Lê Tuấn Anh ở Thư viện quốc gia Hà
Nội và viết bài ca ngợi. Đáng chú ý là bài của ông giáo sư Mai Quốc Liên đăng
trên Văn nghệ Trẻ, đánh giá LêTuấn Anh là một “nhà bác học trẻ” và nêu vấn đề
chúng ta phải làm gì để xứng đáng với người thanh niên tài năng xuất chúng
này.
Anh Nguyễn Xuân Đức, chuyên viên ở Ban văn hoá tư tưởng Trung ương
nói với tôi: “Những lời lẽ Mai Quốc Liên ca ngợi Lê Tuấn Anh chỉ thấy ở bài
Điếu văn của ông Lê Duẩn ca ngợi Bác Hồ.”
Nhưng nghĩ đi, nghĩ lại, thấy Lê Tuấn Anh thật đáng thương. Giá cậu ta
có một ông bố tử tế thì đâu đến nỗi. Có lần cậu ta đã theo ông bác là Hoàng Tiến
Tựu đến tôi và một lần khác, nhờ người chuyển thư xin lỗi tôi. Nghĩa là cũng có
những giây phút ăn năn hối hận. Nhưng chắc rồi lại bị ông bố cuốn vào con đường danh lợi nên lương tâm lại tắt ngấm. Anh Nguyễn Hải Hà tổ trưởng tổ
văn học nước ngoài của khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội mà Lê Tuấn Anh là
tổ viên, đã khuyên nên cho cậu nghỉ ngơi để điều trị bệnh. Nhưng Lê Xuân Đức
không nghe, vẫn tiếp tục khuyến khích con lao vào giành giật danh và lợi để đến
nỗi học hành quá căng thẳng khiến bệnh tình tái phát (trước cuộc nhảy lầu ở
Nga, Tuấn Anh đã có một lần lao đầu vào xe lửa xuýt chết ).
* *
*
Có lẽ vì tôi luôn luôn bị qui chụp chính trị như thế, nên có những
chuyện đồn đại thất thiệt cả ở nước ngoài.
Đầu tháng 3 năm 1993, một ngày mưa gió ướt át. Tôi lúc ấy còn ở
Đồng Xa. Bỗng có một cô nhân viên phòng văn thư Hội Nhà văn lặn lội tới
đem giấy mời và thư riêng của anh Chính Hữu, phó tổng thư ký Hội nhà văn.
Giấy mời đến dự cuộc nói chuyện của đoàn nhà văn Thuỵ Điển, sau đó
nghe đọc thơ của các nhà thơ Việt Nam và Thuỵ Điển. Địa điểm 65 Nguyễn
Du, 9 giờ sáng thứ Năm 4 – 3 – 1993.
Còn thư riêng của anh Chính Hữu thì cho biết “Đoàn nhà văn này (nhà
văn Thuỵ Điển ) sang có mang theo một danh sách những nhà văn nói là bị
bắt, và họ muốn tìm hiểu thực hư - Đáng tiếc là trong danh sách ấy có tên
anh!!”
Hôm ấy đến gặp mấy ông Thuỵ Điển ở trụ sở Hội Nhà văn, tôi được
Ban chấp hành giới thiệu với đủ mọi danh hiệu cao quý: đảng viên, giáo sư,
nhà giáo ưu tú..vv…
Tôi hỏi tin tôi bị bắt ở đâu ra. Họ nói đọc trên một tờ báo ở Hồng
Kông.
Một điều lạ là tất cả những người có trong danh sách bị bắt đều không
có ai bị bắt cả: Trần Huy Quang, Phùng Quán, Nguyễn Duy, Nguyễn Minh
Châu ( đã chết ), Nguyễn Đăng Mạnh.
Phần ba - Tư liệu riêng về một số nhà văn Việt nam hiện đại
Nghiên cứu, phê bình văn học, tôi rất thích tiếp xúc với giới sáng tác.
Người tài, người đẹp bao giờ cũng có sức hấp dẫn đối với tôi.
Người tài, người đẹp, người tốt là những của quý hiếm trên đời, phải
biết nể trọng. Ai không biết nể trọng ba đối tượng ấy tôi cho là kẻ thô bỉ, thiếu
văn hoá.
Tôi tin ở người sáng tác – tất nhiên phải là những tài năng thật sự – hơn
là giới lý luận phê bình. Có lẽ vì khi tôi bắt đầu gia nhập vào giới nghiên cứu
phê bình văn học (1960) thì nhiều ông tiêu biểu, hay nói đúng hơn, được coi là
chính thống trong giới này, dường như đều không có tín nhiệm gì đối với những
người sáng tác: Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Hà Xuân
Trường, Thành Duy, Thế Toàn, Đông Hoài, Hoàng Xuân Nhị... Lê Đình Ky,
Nguyễn Văn Hạnh có khá hơn, thì đều bị đánh – nghĩa là phi chính thống. Ngay
Hoài Thanh cũng không được ưa. Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Nguyễn Đình Thi đều ghét Hoài Thanh. Đến như Xích Điểu (Trần Minh
Tước) mà cũng nói giọng giễu cợt: “Hoài Thanh thấy Tố Hữu làm bài thơ nào
cũng: Hay lắm! Hay lắm!”- Ông vừa nói vừa vung tay.
Nguyên nhân sự chia rẽ giữa phê bình và sáng tác có lẽ bắt nguồn từ ý
kiến của Trường Chinh, cho rằng Đảng lãnh đạo văn nghệ thông qua phê bình.
Vậy là biến phê bình thành cán bộ tuyên huấn rồi còn gì! Và phê bình đóng vai
lãnh đạo, tự đặt mình lên trên sáng tác, cao giọng dạy dỗ sáng tác.
Ngoài ra, hồi ấy, tôi thấy lí luận có nhiều điều chẳng ăn nhập gì với
thực tế của văn học. Nghĩa là hết sức giáo điều. Vì thế tôi chủ trương phải tiếp
xúc trực tiếp với giới sáng tác. Từ kinh nghiệm thực tế của họ mà khái quát lên.
Tất nhiên cũng phải đọc lý luận, nhưng phải từ thực tế mà tiếp nhận lý luận.
Lúc đầu tiếp xúc với nhà văn, tôi chưa có ý thức tích luỹ tư liệu, nên
không ghi chép lại cẩn thận. Ngày nay, chỗ nhớ, chỗ quên, rất tiếc. Về sau thấy
có ích cho việc viết lách của mình, nhất là viết chân dung, tôi bèn ghi lại kín đặc
gần 40 cuốn sổ tay. Những nhà văn tôi không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp thì
tôi tìm gặp những người từng có quan hệ với nhà văn ấy để khai thác. Như
trường hợp Hồ Chí Minh hay các nhà văn đã mất như Vũ Trọng Phụng, Nam
Cao...
Những tư liệu này tôi đã sử dụng một phần để viết những bài chân
dung. Khi viết, vì lý do tế nhị, nhiều trường hợp tôi phải dấu tên người này,
người khác. Ngoài ra có những tư liệu quá tục tĩu, không sạch sẽ, tôi không dám
dùng, hay nếu dùng thì cũng phải gột rửa đi.
Bây giờ tôi cứ bày tất cả ra. Tư liệu thì chỉ cần xác thực. Ai lại đi phân
biệt tư liệu thô và tư liệu tinh, tư liệu bẩn và tư liệu sạch!
Chắc có người thắc mắc, những tư liệu ấy thì có ý nghĩa gì? Tôi cho rằng có ý nghĩa hay không là tuỳ ở người biết sử dụng.
Vâng, tôi cứ bầy ra đây những ghi chép ở dạng thô mộc nhất, không gọt
rũa, tắm rửa gì hết, chỉ sắp xếp lại đôi chút cho mạch lạc mà thôi.
Tôi cứ trình bầy lần lượt từng nhân vật một. Tôi sẽ không nói lại những
điều người khác đã viết ra, như Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng,
Xuân Diệu... trong Cát bụi chân ai?, như Vũ Bằng viết về Nguyễn Tuân, Nam
Cao... trong Bốn mươi năm nói láo, như Trần Dân Tiên viết về Cụ Hồ trong
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, hay Vũ Thư Hiên viết
về Cụ Hồ trong Đêm giữa ban ngày...
Tôi chỉ viết những điều tôi trực tiếp nghe được, biết được- nghĩa là
muốn đây là những tư liệu riêng của tôi.
Đối với mỗi người, tôi viết nhiều hay ít, không phải do thái độ khinh
trọng khác nhau, mà đơn giản chỉ là tôi biết đến đâu thì viết đến đấy. Có người
tôi biết nhiều, có người tôi biết ít. Cũng có trường hợp, tôi biết không ít, nhưng
những điều tôi biết, tôi đã viết cả ra rồi trong một bài chân dung nào đấy, nên
không còn gì để viết thêm nữa. Đấy là lý do họ không có mặt trong hồi ký này,
như trường hợp Nguyễn Minh Châu, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Nguyễn
Lương Ngọc.
Chương VII: Hồ Chí Minh
Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần. Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa
tháng tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về Thị xã Bắc Ninh. Tôi
tiếp tục học cấp II ở trường Hàn Thuyên.
Một hôm được tin Hồ Chủ Tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được
nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ
Tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.
Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi Chủ tịch
Hồ Chí Minh tới.
Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa
phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu
liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông
tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.
Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người
gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý
gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô “Hồ chủ tịch muôn
năm!”
Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác,
rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp,
cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế.
Hồi đó, ở Bắc Ninh, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động khá mạnh. Đã
có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở
Thị Cầu. Chắc vì thế nên Ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.
Lần thứ hai tôi được thấy Hồ Chủ Tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó,
hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư phạm Vinh.
Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho Ông gặp đồng bào ở một cái
sân vận động của thị xã.
Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre – có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên
đó với một số cán bộ Tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi
người:
- Đảng lao động Việt Nam Muôn năm!
- Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!
Ông Hồ vung tay rất cao.
Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!
Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội
rụt tay xuống.
Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.
Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.
Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn,
không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang
nói dở một câu tục ngữ: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy...” thì vội ngừng lại và lảng
sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả
lại “cậy thần” là thần nào, thần Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên
không nói tiếp câu ấy nữa.
Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn
học Việt Nam hiện đại. Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn
Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về
Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Vũ
Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về Ông Hồ, trước hết
là chung quanh sự kiện Ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật kí
trong tù.
Ông Hồ về PắcBó đầu năm 1941 ngày 28 – 01, tháng 8 – 1942 ông trở
lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và
mua vũ khí về cho Việt Minh.
Ông Lê Quảng Ba cùng đi với Ông Hồ. Đến một địa điểm nào đó thuộc
Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau,
cố đi một cách khó khăn. Để động viên người đồng hành với mình, Ông Hồ vừa
đi vừa kể Chính phụ ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba muơi năm, Hồ
Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh phụ ngâm.
Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại
tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, Ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông
có một thanh niên Trung Quốc tên là Dương Đào – tất nhiên cũng là một cơ sở
cách mạng. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn
Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27 – 8 – 1942).
Không phải Ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể
sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu
phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở PắcBó, có người đã thấy ông phơi
đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ
khí cho Việt Minh.
Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ
đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung
Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù
cũng đã nói rõ trong thơ của mình:
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian
(Đường đời hiểm trở)
Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.
(Đi Nam Ninh)
Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy gio ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ
Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt... nghe tin cụ Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người
sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt
tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng
Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.
Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển
Hồ Chí Minh sáng chế độ nhà tù khác. Trong Nhật kí trong tù, bài Bốn tháng
rồi có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cũng
cực khổ của Ông Hồ – “Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn hơn
mười năm trời”
Chuyển sang chế độ nhà tù mới, Ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá
hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều
sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này
ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều đáng
chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú thì bài Bốn tháng rồi là bài
thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì
sao vậy? Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện
làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị cho
cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm “Tam dân
chủ nghĩa” của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch tặng (Cuốn
“Trung Quốc đích mệnh vận”)...
Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. ở cuối tập Nhật kí còn có
tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc
báo lan, và những thu hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan
Mới biết, viết bài Mở đầu (Khai quyển) Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh
đã nói thật lòng mình:
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Hồ Chí Minh được bọn Tầu Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên,
chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.
Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù ông Hồ
gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu)) cùng với
Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi
(tháng 12 – 1943). Trong liên hoan, họ có thử tài nhau bằng thách đối.
Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối khá hóc hiểm:
“Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh”
Ông Hồ xin đối:
“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách”
Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi: “Đối hay lắm!”. Còn
Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói: “Hồ Tiên Sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục!”
Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt:
nhảy điệu Nga – la – tư. Một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.
Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông Hồ
có nói, khi mới ra tù “chân mềm như bún”, đi không được, phải tập leo núi rất
khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy điệu Nga –
la – tư?
Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là ông Hồ, không
phải Hán gian, nhà chức trách Trung Quốc cho ông được hưởng chế độ quản
thúc. Nghĩa là chỉ không được ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra
ngoài nhà tù để leo núi, tập đi, tập luyện mắt (Cho nên mới có chuyện, ở Liễu
Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương Phát Khuê). Khoảng giữa
tháng 9 – 1943, sau một thời gian tập luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi
vững mà còn trèo được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Ông cao hứng làm một
bài thơ chữ Hán:
Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Nam vọng trùng dương ức cố nhân
(Vừa đi đường vừa kể chuyện)
Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao
Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp, trong tập hồi kí Những chặng đường lịch sử cho biết: “Bữa ấy, tôi về cơ quan
hội báo tình hình thì thấy anh Đông, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh
một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:
- Anh xem có đúng là chữ của Bác không?
Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, trên mép trắng có mấy hàng
chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ Bác, Bác viết: “Chúc chư
huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. ở bên này bình yên”
Phía dưới lại có một bài thơ”.
Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9 – 1943) trước cuộc liên
hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12 – 1943)
Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong buổi liên hoan tiễn cụ Hồ về nước
hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi
theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.
Về tập Nhật kí trong tù, có người nói, ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra
khỏi tù. Thực ra không phải.
Ngày 16 – 9 -1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn
được ông giữ cẩn thận.
Ngày 14 – 9 – 1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt,
trưởng ban tổ chức triển lãm cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu: “Tôi có quyển
sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem
có triển lãm được thì dùng”. Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bầy ở phòng “Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương”
Nhật kí trong tù hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết hoạ sĩ Diệp Minh
Châu từng sống với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở Việt Bắc thời kháng chiến chống
Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp hoạ sĩ ở nhà riêng.
Hai vợ chồng cùng là hoạ sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có
thể nói là tanh bành. Đất sét, thạch cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền
nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân...
bằng đất sét.
Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ sọ chuyện
kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.
ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.
Diệp Minh Châu ở với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở chiến khu Việt Bắc
trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội hoạ, điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn
với Hồ Chủ Tịch.
Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp Minh
Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là
chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo: “Chú cứ ăn trước đi”.Tất nhiên
Châu không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với hoạ sỹ: “Về sau
chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước, khổ lắm!”
Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh vừa
qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục nổi các đồng
chí của mình: Người ta đang sùng bái Staline, Mao Trạch Đông, không chịu
nghe Hồ Chí Minh, chắc thế.(Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản
chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ (khi hai người
cùng công tác ở Liên Xô): Năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông
ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí (tavarich).
ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh
Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật kí trong
tù: “Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba
cách: một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành,
ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ”. Thì ra đối
với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy
thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật kí trong tù như một tập thơ, ông đều từ
chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không
phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi,
thế thôi. (Trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông đã nói như thế).
Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng,
Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam
Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc.
Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị
Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.
Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh
viên văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất
trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,
oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi
đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều
chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa
đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ.
Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu
của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác
chỉ chỗ cho mà đi”
Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi
nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí
Minh.
Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoievsky trong Anh em
nhà Karamadôp: “Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con
người nói riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều
khi tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (...) thế những tôi lại không thể
sống chung với bất kì ai trong một căn phòng”. Đó là loại người mà
Dostoievsky gọi là chỉ có “ tình yêu mơ mộng” chứ không có tình yêu thực sự.
Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể
thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.
Anh Trần Việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương tự về ông
Hồ. Trước căn nhà sàn của chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương
anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho
anh ta ăn. Anh lính không dám ăn vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ
nói: Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ.
Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử với mọi
người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn trọng con người: Hồi kháng chiến chống
Pháp, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời
gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt (Chắc là Dương Bích Liên thích
vẽ Hồ Chí Minh trong sinh hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ
chăng?). Tố Hữu quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi
ông Hồ biết chuyện này thì Dương Bích Liên đã đi rồi. Hồ Chí Minh không
bằng lòng với cách đối xử như thế. Ông cho người đuổi theo mời hoạ sĩ trở lại
để có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.
Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa
là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình
thường.Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có
khi Hồ Chí Minh cũng phải “diễn” những điều trái với bản chất của mình. Vì
thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt
cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông nói: “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!”
Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại
cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng
chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người
chở thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.
Hoạ sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông
thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi (Người ta nuôi một
con bò để lấy sữa cho ông).
Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh
thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn
viên cho đỡ nhớ – hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.
Hà Huy Giáp cho biết: Một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông Hồ,
bảo ông là surnature - ông Hồ nói: “Chúng mình là contrenature”.
Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ Chủ Tịch. Ông kể chuyện hồi
năm 1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và
ở với Cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ: “Sao Bác không lấy vợ mà chịu được”. Ông Hồ
nói: “Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là
40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi. Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày,
mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh
ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng.
Nên mặc quần áo vải. Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu.
Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Để khỏi “nhàn cư vi bất
thiện”.
Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho
chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của cụ Hồ.
Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm gì về Hồ Chí Minh. ấn tượng
để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ
cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc
lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi: “Các đồng chí có bao
nhiêu nữ?”
Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế: Để râu
dài. áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy...
Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của
người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.
Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng, ông Hồ có ý
thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt
minh hoạ đường lối chính trị. Những bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc
loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ
thuật diễn đạt tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau
những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có
cách gì để làm việc cho cách mạng.
Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã phê phán tôi về sự phân
biệt này: Thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ thuật và thơ Bác là thơ cách
mạng sao lại bảo là để giải trí.
Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.
Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị, khiêm tốn
của cụ Hồ: khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều
người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sửa chữa cho thật dễ hiểu, dễ nhớ
đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt
nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý tập
thể như thế!
Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi thường được nhiều nơi mời đi
nói chuyện về thơ Hồ Chủ Tịch. Thường có chị Trần Thị Tuyết cùng đi để
ngâm thơ minh hoạ. Chị Tuyết cho biết, khi Hồ Chủ Tịch còn sống, vào dịp
cuối năm, chị thường được gọi đến để ngâm thơ chúc Tết của Chủ tịch và phát
luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông trong Bộ Chính trị. Khi ngâm thơ
chúc Tết, chị để ý thấy ông Hồ có vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông
thường bảo chị chuyển ngay sang ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm đoạn
Kiều nào. Chị nói, thường Bác bảo ngâm đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.
*
Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không
biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.
- Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố Hồ Chí
Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà Thị Xuân người dân tộc
Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ
đòi chính thức hoá, người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị
em.
Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên
trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh
được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy Sử ở
Đại học Sư phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng
gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể
trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá: điều
này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị
Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị
cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng
đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn
giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một
cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích,
không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống
sông Bằng Giang, Cao Bằng.
Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái
đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi
quần, slip... rất vô ý. Có một cô người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói
đầu, ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy –
lấy vì mục đích chính trị – chắc ông nói cho vui.
Tô Hoài cũng cho biết, Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng
Tầu, có lần cùng đi với Hồ Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi
sáng, Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: “Không có vợ, khổ
thế!”
- Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra
nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?
Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình báo
cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang
Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người
bán nước mắm, từ Nghệ An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả
Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội
Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái
là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.
Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái,
sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.
Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.
Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho
Nguyễn Tất Thành đi Pháp.
- Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?
Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh
hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài
liệu: khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có
đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát
với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa
chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được).
Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi,
thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên
đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá
Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.
Xem chừng Hồ Chí Minh thích tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên
hơn. ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây,
Trung Quốc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu cách mạng
của Tôn Trung Sơn.
Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến:
Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị
sớm quá! ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt
Nam chính thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với nước mình.
Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần
Huy Liệu, Huy Cận đã lên đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông
muốn cho người đuổi theo để gọi trở lại, nhưng không kịp. Anh Phạm Tuyên
cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện
lỡ rồi, ông chỉ còn biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi (ông gặp hai bà con gái của Phạm Quỳnh). Hồi mới sang Pháp, Nguyễn Tất
Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh (cùng với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường).
Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.
Ngoài ra, từ hồi dự hội nghị Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ Chí Minh
đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương lượng hoà bình với chính
quyền Sài Gòn.
- Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm
lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt đại chiến thế giới thứ hai và cách mạng
tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950);
năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).
Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.
Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài Diễn ca lịch sử nước ta:
“Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu
cường trong phe Đồng Minh là Staline, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh
chấm dứt năm1946.
Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ,
lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến
tranh chống phát xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện
đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!
Trần Quốc Vượng kết luận: Cụ Hồ có tử vi.
Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở thư viện quốc gia có
cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư
nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư
viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho Cụ Hồ
đọc rồi. Sách đang ở chỗ Cụ Hồ.
Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc
chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng
đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền
Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:
- Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?
- Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là
các chú - Ông Hồ trả lời như vậy.
Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày
nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các
chú”.
- Một câu hỏi khác đặt ra: Cụ Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình
không? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh, nay lại nói ông có ý thức
thần thánh hoá? Tôi cho hai chuyện có chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có
khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải diễn kịch nữa – Về mặt này, ông Hồ cũng
khá “siêu” đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng
người già và sùng bái thần thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho
nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là già Hồ. Và cũng không
phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán
những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư
luận quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ Chí Minh hay chỉ là “sáng kiến” của
Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ? Nhưng ông Trần Dân Tiên viết Những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn
hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!.
- Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch,
sống cứ phải “diễn” như thế, kể cũng khổ. “Không có gì quý hơn độc lập tự
do”. “Diễn” tức là bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa! Liệu
đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này?
Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt
đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm
1946, Hồ Chí Minh ở hội nghị Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và
một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, Cụ Hồ diễn trò nhẩy son lá son với
các thuỷ thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không
theo Hồ Chí Minh nữa. Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang.
Nhưng Hoàng Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau này
có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.
- Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ Chí Minh. Ngày sinh cũng
do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc Tuyên
ngôn độc lập (2/9)
Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày lịch sử ấy.
Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết lấy lại họ Hồ là dòng máu thật của
mình (Hồ Sĩ Tạo) thì cũng có thể quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước,
ngày mà ông đọc Tuyên ngôn độc lập.
- Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh
mình – Tôi cãi lại Hiến.
- Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần dứt hết những
dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ sao! – Hiến khẳng định thế.
Một phán đoán không phải là không có lý!
Hà Nội, ngày 6.7.2006.
Chương VIII: Tố Hữu
Nhớ lại ba, bốn chục năm về trước, vào những năm 60, 70 của thế kỷ
vừa qua, biết bao thế hệ đã từng mê thơ Tố Hữu. Mê thật sự. Đọc những bài như
Bài ca mùa xuân 61 mà chảy nước mắt. Hồi ấy ông rất xứng đáng với danh hiệu
“Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”. Để phục vụ cách mạng và
kháng chiến, thơ ca hồi ấy bám rất sát từng nhiệm vụ chính trị, nên thường viết
chung một số đề tài: anh bộ đội, anh giải phóng quân, Bác Hồ, anh Trỗi, mẹ
Suốt, chị Trần Thị Lý, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Bắc tiến lên chủ
nghĩa xã hội... Ngẫu nhiên mà thành ra những cuộc thi thơ toàn quốc. Trong
những “cuộc thi” như thế, Tố Hữu hầu như đều chiếm giải nhất.
Vinh quang của Tố Hữu đâu chỉ ở tư cách nhà thơ. Về chính trị ông
cũng lên vòn vọt, có lúc tưởng như là người kế cận Lê Duẩn, thay Lê Duẩn đến
nơi. Cho nên ngày Tết, người ta xếp hàng nối đuôi nhau ra tận ngoài đường để
chúc Tết Tố Hữu. Loại như Nguyễn Văn Hạnh, Hà Xuân Trường thì phải xếp
hàng mãi tít ngoài đường, rất xa. Còn Hoàng Xuân Nhị thì chỉ rình rình chen
ngang... Lúc bấy giờ được viết về Tố Hữu cũng danh giá lắm! Tôi nhớ có lần
anh Lý Hải Châu, giám đốc nhà xuất bản Văn học có ngỏ ý giao cho tôi làm
Tuyển tập thơ Tố Hữu. Định thế thôi chứ đã giao thật đâu. Vậy mà tiếng đồn ra,
nhiều người đã mừng cho tôi. Anh Xuân Diệu gặp tôi, bắt tay chúc mừng: “Thế
là Mạnh bắt đầu được tiếp cận với nhà đỏ rồi đấy!”
Thế mà bây giờ! Không thể ngờ Tố Hữu xuống giá nhanh chóng và
thảm hại đến thế, ở cả hai tư cách: nhà chính trị và nhà thơ. Hầu như các thế hệ
làm thơ bây giờ không ai còn làm theo phong cách Tố Hữu nữa.
ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội (có lẽ khoa Văn các trường Đại
học khác cũng thế) có điều này, nếu Tố Hữu sống lại chắc buồn lắm: hàng năm
cán bộ giảng dạy phải hướng dẫn hàng trăm sinh viên cao học, hàng chục
nghiên cứu sinh làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Đề tài ngày càng bí, quanh đi quẩn
lại khai thác mãi những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam
Cao, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh
Châu... hầu như đã cạn kiệt. Rất bí. Cả thầy lẫn trò đều bí. Vậy mà không ai
chịu làm về Tố Hữu, tuy Tố Hữu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương
trình phổ thông và đại học như một tác gia lớn của nền văn học hiện đại Việt
Nam.
Kể cũng lạ! Tôi cho rằng hiện tượng này cần được giải thích, nhất là đối
với những thế hệ lớn lên sau 1975, đặc biệt là sau 1986, khi đất nước bước vào
thời kì đổi mới. Tất nhiên, giải thích theo quan điểm lịch sử.
Theo tôi tốt nhất là tôi thuật lại những lần được trò chuyện với Tố Hữu
trước 1986. Chính những lời phát biểu của ông về chính trị, về thơ ca sẽ giải
thích cụ thể sự thăng trầm của số phận ông. Ngoài ra cũng phải hiểu ông đã
quan niệm về thơ như thế nào và làm thơ như thế nào. Vì vẫn phải giảng thơ
ông trong nhà trường, vì dù sao ông cũng là một nhà thơ tiêu biểu nhất, vẻ vang
nhất, có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại và trong chương
trình môn văn ở các trường phổ thông và đại học.
Tôi được gặp riêng Tố Hữu hai lần, không kể những lần được nghe ông
nói chuyện ở các hội nghị.
Qua hai lần tiếp xúc với Tố Hữu, tôi thấy ông là người thông minh, nói
rất giỏi. Một nhà hùng biện. Ông rất tin ở những điều mình nói như là những
chân lý tuyệt đối. Nói rất sôi nổi, say sưa, không cho ai cắt ngang dòng biện
thuyết của mình.
Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất là năm 1967. Địa điểm: nhà riêng Tố Hữu,
76 Phan Đình Phùng.
Hồi ấy gặp riêng Tố Hữu rất khó. Anh Huỳnh Lý, lúc ấy là chủ nhiệm
khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, đã liên hệ trước như thế nào đó mới xin phép
được. Rất tiếc cuốn sổ tay tôi ghi chép về cuộc tiếp xúc này tôi đã để thất lạc
mất thành ra chỉ còn lưu lại được trong óc một vài ấn tượng.
Tố Hữu nói về chính trị là chính. Ông say sưa ca tụng dân tộc mình
trong chiến tranh chống Mỹ vừa thông minh vừa anh hùng. Ông nói về Nguyễn
Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé. Ông rất lạc quan và hoàn toàn thoả mãn về Đảng, về
cách mạng Việt Nam chỉ có tiến lên theo đường thẳng. Con đường chỉ có toàn
ánh sáng. Cách mạng Việt Nam không hề có bi kịch.
Tố Hữu tỏ ra rất phục Lê Duẩn. Ông cho Lê Duẩn đúng là một penseur.
ấn tượng khó quên nhất của tôi là ông nói liên miên, nói rất nhiều. Tôi
nhớ ông nói từ khoảng hai ba giờ chiều. Nói rất bốc. Lúc đầu còn ngồi ngay
ngắn, sau co chân xếp bằng tròn trên salon. Tôi ngồi sát cạnh, thỉnh thoảng ông
còn vỗ mạnh vào đùi tôi, hỏi một câu gì đó. Hỏi không phải để nghe trả lời, mà
là cách gây chú ý, để nghe ông nói tiếp. Ông nói cho đến khoảng năm giờ chiều.
Anh thư kí riêng đi ra, xem đồng hồ, ý nhắc ông nghỉ cho đỡ mệt. Ông không
để ý, đứng dậy bật đèn, nói tiếp.
Thực tình lúc ấy tôi mót đi tiểu quá. Ngồi ngay cạnh ông, đứng lên
không tiện. Vả lại biết đi to Toalét ở chỗ nào! Mà cũng nghĩ ông sắp nghỉ rồi, vì
trời đã muộn. Nhưng ông cứ nói, nói liên miên, nói say sưa hào hứng. Lúc đó,
thực bụng tôi nghĩ: Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương,
chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất.
Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghỉ, có lẽ do cách nhắc khéo của anh
Huỳnh Lý. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, không hiểu sao, ông lại còn
giữ tay, nói tiếp mấy câu nữa. Sợ quá!
Cuộc tiếp xúc thứ hai. Địa điểm: ở ngôi nhà bát giác cạnh trường Chu
Văn An bên Hồ Tây, năm 1980.
Lần này do anh Đoàn Trọng Huy, phó chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư
phạm Hà Nội liên hệ được. Lúc này tôi đã được chuyển ra công tác tại Hà Nội.
Cũng như lần trước, Tố Hữu vẫn nói nhiều, nói liên miên. Ông nói về
chính trị, về thơ, về việc giảng dạy văn trong nhà trường. Sau năm 1975, tình
hình đất nước đã ít nhiều đổi khác. Vì thế ông cũng nói đến chuyện mở cửa, đến
chống chủ nghĩa Mao, đến mở rộng đề tài thơ và phát triển phong cách thơ.
Nhưng tinh thần vẫn như cũ, vẫn Đảng ta là đúng nhất, sáng suốt nhất,
nhân dân ta, dân tộc ta là tuyệt vời, Mác Lênin là chân lý tuyệt đối, và văn học
gắn với chính trị, phục vụ chính trị là chân lý muôn thuở.
Dưới đây là lời độc thoại triền miên của Tố Hữu, tôi ghi lại được:
" Vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, tưởng không còn
chuyện gì nữa, hoá ra không đơn giản. Vẫn còn có nhiều người chưa nhận ra cái
lẽ lớn ấy.
Văn học phải góp phần tạo ra con người mới, con người xã hội chủ
nghĩa, để bảo vệ và xây dựng đất nước. Với dân tộc ta, động viên hy sinh xương
máu dường như dễ hơn là động viên đổ mồ hôi, đổ trí óc để tăng năng suất lao
động, cải thiện đời sống cho mình.
Tiêu chuẩn đánh giá một nền văn học lớn là góp sức tạo ra con người
mới. Đó là thước đo, nói là cao nhất cũng được, nói là duy nhất cũng được.
Cũng có thể gọi đó là quan điểm thẩm mỹ của ta.
Đúng là các vấn đề văn học nên đưa ra tranh luận, kể cả với quan điểm
đối địch. Nên làm quen với những cách suy nghĩ khác nhau. Nên học cả những
vũ khí của địch. Muốn hay không muốn, trái đất cũng có những cuộc giao lưu
như thế. Không nên bịt cửa. Trong thời đại này, không có dân tộc nào sống như
thế. Chủ nghĩa Mao nẩy sinh trong sự bịt cửa, tự bịt cửa trong ngu dốt và tàn
bạo.
Phải mở cửa. Mở cửa để đón ánh sáng và gió mát chứ không phải để
đón ma quỷ. Vì đời có cả thiên thần và ma quỷ... Phải biết đóng cửa, mở cửa
một cách khoa học. Mở cửa cũng còn để trao đổi với ngoài. Có vay có trả, có
góp cho đời. Ta rất tự hào về văn học ta là văn học của một dân tộc tiên phong,
có vẻ đẹp của nó.
Quy luật từ xưa đến nay là quy luật riêng chung.
Xưa cái chung lấn át cái riêng.
Nay cái riêng lấn át cái chung.
Cần hoà hợp riêng chung. Cái chung mà không phát huy cái riêng, cái
riêng nó sẽ quay lại chống lại cái chung.
Làm chính trị là l’art des possibités. Làm sao sử dụng được đến ngón tay
út của con người. Tập thể là vô cùng. Con người cũng là vô cùng. Nói vượt
mình là không đúng. Nên nói phát huy khả năng của mình. Làm sao vượt mình
được! Chủ nghĩa Mác ý thức được khả năng vô tận của con người.
Con người là gì? Cuộc sống là gì?
Là vật chất, trí tuệ, tình cảm – là con – người – mới.
Khổng Tử phủ nhận “con” là dối trá. Thực ra Khổng Tử coi con người
là trâu chó.
Con người khác con vật là có trí tuệ và tình cảm. Có cái đầu pensant.
Mao không cần. Tư sản cần nhưng chỉ cần để phục vụ nó. Làm trái nó, nó chặt
đầu. Mọi chế độ bóc lột đều ngu dân ở những mức độ khác nhau, mức hạn chế
khác nhau, do lợi ích giai cấp. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản là parti de
l’intelligence.
Cái “con” là nécessité. Nhưng trí tuệ, tình cảm mới là đặc trưng của
người. Chủ nghĩa xã hội là làm chủ tập thể cộng với công nghiệp hoá. Lênin thì
nói: Chính quyền Xô viết và điện khí hoá...
Bác Hồ thì nói độc lập tự do. Tự do là chuyện muôn đời. Nécessité
comprise là chuyện muôn đời. Vĩ nhân là làm chủ quy luật và chiến đấu cho tự
do. Đúng thế. Nhưng thực sự là người tự do, khó lắm! Hạnh phúc lớn nhất là tự
do, là làm chủ.
Uống ngụm nước suối trong đỡ khát
Trông trời cao mà mát tâm can.
Nước suối mà sao ngon? Vì đó là tự do, là nécessité, quy định bởi cái
nécessité cao hơn tức là cứu nước. Tôi chỉ nói tới nói lui những điều đã cũ,
không có gì mới. Vì không cần nói gì hơn.
“Bay vào vũ trụ” là nécessité
Dép lốp là nécessité.
Tôi thừa nhận dép lốp, cơm khoai, vì đó là nécessité. Song tôi cũng có
cái đầu để mơ ước chứ! Cho nên tôi thấy bay vào vũ trụ cũng là nécessité.
Nói vị nghệ thuật là dối trá. Ai chả vì cuộc sống này khác. Chỉ có người
cộng sản là nói ouvertement. Phong kiến, tư sản không dám nói. Còn tiểu tư sản
là tù binh của mọi nguồn, bơi trong mọi dòng nước, tự lừa dối mình. Tiểu tư sản
không có đời sống độc lập. Ta nói ouvertement vì ta nói sự thật và chỉ có ta mới
nói được.
Thanh niên bây giờ có xu hướng “Tây loăng quăng hoá”, dễ mất tính
dân tộc. Ông cha ta bản lĩnh lắm, mãnh liệt lắm nên mới tránh được Tây hoá.
Nhưng dân tộc phải nhịp theo thời đại. Đó là sự thật khách quan.
Thời đại là: ba dòng thác cộng với cách mạng khoa học kỹ thuật.
Nhật Bản đã trở thành 2 ème puissance vì có ba yếu tố:
1. Tinh thần Đại Nhật Bản (Đảng Cộng sản lẽ ra phải tranh lấy ngọn cờ
dân tộc. De Gaulle và tư bản Nhật nắm dân tộc hơn đảng cộng sản).
2. Cách mạng khoa học kỹ thuật
3. Quản lý xã hội, quản lý kinh tế rất khôn ngoan (quản lý theo lối tư
bản cộng với truyền thống gia trưởng)
Conscience và Science. Thời đại này có hai cái đó thì thắng. Trẻ con ta
có Conscience politique rất sớm. Nói phải có lý nó mới phục, nó mới nghe.
Tài nguyên thì ta có dầu, có sắt. Cho nên lắm kẻ đã ve vãn “xôn xao
ngoài cửa thiếu gì yến oanh”
Dân tộc ta có truyền thống rất mạnh. Tinh thần thời đại cũng mạnh. Hai
cái đều mạnh. Nhiều dân tộc phải xấu hổ vì ông cha của mình: ăn cướp, quân
phiệt, hoặc đầu hàng khiếp nhược.
Dân tộc ta, cái dominant là nhân dân. Không cần tư sản. Do chống ngoại
xâm mà hình thành dân tộc. Chống xâm lược trên quy mô lớn nên dân tộc lập
tức gắn với nhân dân.
Dân ta profondement – athée – vô thần – pratique. Lừa cả thần, lừa cả
Phật (Trạng Quỳnh). Bất chấp Khổng, Phật, Thiên Chúa. Rất matérialiste. Cái
nôi dân tộc ở chính Việt Nam. Nhân dân ta là miếng đất lí tưởng cho chủ nghĩa
cộng sản.
Dân tộc – Nhân dân – pratique. Lại có tính nhân dân nữa. Thừa nhận giá
trị con người rộng rãi lắm “Thương người như thể thương thân”. Nhân ái lắm!
Không lấy mình làm chuẩn như Khổng Tử “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Tình
làng xóm, cha con, vợ chồng rất khác đạo Nho. Tầu nói trọng nghĩa khinh tài,
đào viên kết nghĩa mà dối nhau, giết nhau.
Thời đại ta có chủ nghĩa Mác nên tránh được tự phát, tuỳ tiện. Cái yếu
nhất của ta là khoa học kĩ thuật. Đảng đề ra cách mạng khoa học kĩ thuật là then
chốt, trúng quá!
Cuộc thắng Mỹ của Việt Nam lớn lắm. ảnh hưởng đến nhiều dân tộc
trên thế giới. Họ không sợ Mỹ nữa. Mỹ không dám gây sự, không dám có một
Việt Nam thứ hai.
Tố Hữu ngừng lại một lát rồi tiếp: “Đấy là tất cả những gì tôi đã nghĩ và
đã nói bằng thơ.
Từ Từ ấy tôi vẫn nói thế thôi: lẽ phải, chân lý, tình cảm. Chân lý chói
qua tim. Chân lý phải qua tim mới dẫn tới hành động. Tình cảm lớn phải có
chân lý lớn chỉ đạo. Mao không có tim và chân lý. Tôi nói Mỵ Châu “Trái tim
lầm chỗ để lên đầu” làm mất nỏ thần. Mao thù. Tầu bay Việt Nam không cho
qua Trung Quốc.
Thơ Tố Hữu là nói lẽ phải lớn của dân tộc và thời đại. Tôi viết bài “Một
nhành xuân”. Có lẽ người ta đã quên lẽ phải lớn chăng, nên phải nói lại. Người
ta nói tầm bậy về Đảng quá. Apolitique nặng. Không biết lịch sử dân tộc do
Đảng đem lại. Chủ nghĩa công thần, tính công trạng mình nhiều quá mà không
tính công Đảng . Hoàng Văn Hoan tách Đảng, thành phản quốc. Còn gắn với
Đảng là mùa xuân vĩnh viễn.
Nhà văn phải có message nhắn gửi cho đời. Vấn đề là có cái gì đáng
nhắn gửi thật không? Chuyện văn là chuyện đời, chuyện lẽ phải.
Nghệ thuật phải có hình thức adéquate 100%. Nhưng đó là chuyện dĩ
nhiên. Art là personnel, không phải individualiste. Rất riêng song không cá
nhân chủ nghĩa.Bên cạnh hoàng anh, hoạ mi, phải có sẻ sẻ, chim chích, thích
chứ, vui chứ! Nhưng cá tính là gì? Cá tính có ý nghĩa thực là góp một tiếng nói
cho đời. Hoạ mi hót mà đời insensible thì phục vụ ai, có ích gì, vô nghĩa.
Có người chủ trương viết cho mai sau, không cần đời chấp nhận. Vô lý.
Mai sau ai sinh ra? Trên trời rơi xuống à? Người mai sau là ai? Chẳng qua là
trốn dư luận, ai biết mai sau là gì!
Nghệ sĩ phải sống với thời đại của mình. Có convention, có giao ước
của nó chứ! Rút lại phải sao cho người đương thời chấp nhận.
Có nhà thơ chỉ nói tình yêu, tình bạn, hoa đẹp. Thích chứ! Có người nói
thời buổi chiến tranh không nên vẽ phong cảnh, vẽ hoa. Tầm bậy! Cảm thụ
được cái đẹp của thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, lớn lắm chứ! Nhưng phải bàn
thế nào là đẹp. Rút cuộc là trở về hunanisme.
Rất mừng là thế hệ trẻ đang lên. Lê Thị Kim có bài Cỏ. Tôi không viết được. Yêu thiên nhiên và yêu tình yêu. Khánh Chi rất nên ủng hộ. Tuổi mình
không còn là tuổi tình yêu, nói gì được nữa.
Rất may là thời đại ta cùng tồn tại bốn thế hệ: thế hệ già, thế hệ thời
chống Pháp, thời chống Mỹ, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội. Già có vẻ đẹp của
già (đừng có lẩm cẩm). Trẻ biết đâu mà nói. Mỗi thế hệ có vẻ đẹp riêng, có ưu
thế riêng. Hãy nói to lên những điều đẹp nhất của mình.
Tôi rất chú ý từ ngữ, âm điệu, nhạc điệu. Không dùng từ ẩu bao giờ.
Thơ phải tiết kiệm, không nói dài. Tôi không có khả năng sáng tạo từ mới. Từ
vựng của tôi nghèo lắm! Từ ít và không thông minh như của Chế Lan Viên.
Phạm Tiến Duật, Bằng Việt cũng lắm từ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ.
Chỗ yếu của tôi là thường dùng từ ngữ quen thuộc. Không nói được điều
gì bất ngờ, làm nên sự giật mình về hình thức.
Nhạc điệu ngôn ngữ Việt Nam hay lắm. Âm thanh diễn đạt chính xác,
cụ thể, nhiều giọng điệu. Mỗi bài thơ phải tìm một giọng thích hợp: Emily con,
Kính gửi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác... Bác thích loại thơ rigoureux. Bác rất
Classique. Vì thế Theo chân Bác phải dùng thể thất ngôn mới thích hợp.
Nhịp sống thay đổi, cũng phải tạo nhạc điệu mới. Phải phá thể, phá
cách. Lục bát cũng thế:
“Thác, bao nhiêu thác cũng qua”
Các cụ xưa không làm thế.
Tôi rất nghiêm trong việc dùng chấm và phẩy. Học sinh bây giờ chấm
phẩy bừa quá. Phải học tính chính xác, khoa học, khẩn trương, hoạt bát. Ông bà
ta không làm được điều đó vì nhịp điệu nông nghiệp quen rồi.
Tôi cố gắng phục vụ mọi người. Xã hội ta có ba loại:
- Loại văn hoá thấp: Trình độ cấp I. Người lao động phần lớn ở mức độ
này.
- Loại trình độ cấp II, cấp III, tuổi 30, 40. Loại này cũng có hàng triệu
người.
- Loại đại học. Trí thức.
Bài Emily,con... phục vụ độc giả từ trung học trở lên. Viết cho loại này,
tiện, vì cùng loại với tác giả. Có thể làm một cách tự nhiên, không mất công.
Viết cho loại một cực lắm. Đối tượng là dân gian. Bài Ba muơi năm đời
ta có Đảng viết cho hàng chục triệu người. Gọi là vè rất đúng, là khen, vì dụng
ý của tôi là làm vè.
Bài Mẹ Suốt viết cho chính mẹ Suốt. Nhưng không giữ mức vè. Đó là
bài thành công với nhiều tầng lớp.
Bài Theo chân Bác phải vừa hợp phong cách Bác, vừa phục vụ toàn dân,
cho cả trí thức. Dùng thất ngôn có thể giải quyết được.
Bài Nước non ngàn dặm chủ yếu nói cho miền Nam. Cần gợi cảm nên
dùng lục bát là tiện. Nhưng có savant hơn một chút. Cấu tứ không khó lắm!
Khó là forme nào, giọng nào. Năm ba câu đầu mà bắt được giọng rồi thì dễ lọt.
Câu đầu lợi hại lắm. Bài Một nhành xuân tôi đã làm năm năm trước.
”Năm 20 của thế kỉ XX”. Sau nghĩ làm lý lịch làm gì, anh là gì mà khai lí lịch!
Tôi phải nghĩ hai câu mở đầu khác:
Vâng xin kể cùng Xuân đồng chí
Chuyện riêng chung một cuộc đời bình dị.
Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên.
Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn vẩn, thế hay hơn.
Còn từ câu đầu đến câu cuối không biết trước, không tự giác. Trước khi
viết nghĩ nhiều. Khi viết quên đi và thả cho xúc cảm, cứ như tìm hoa trong đêm.
Thơ kị nhất đọc câu trước người ta đoán được câu sau. Chính mình cũng không
biết, không ngờ. Phải cho thơ tự nó sinh sôi, phát triển. Có ai đó nói rằng, nhà
thơ hoàn toàn biết rõ tiến trình sáng tác một bài thơ, hoàn toàn biết trước câu
thơ cuối cùng của tác phẩm. Tôi thì có khi làm xong bài thơ, cũng ngơ ngơ ngác
ngác về tác phẩm của mình. sáng tác là cảm xúc không luôn luôn tỉnh táo. Văn
xuôi có tỉnh hơn chăng? ở đây có những yếu tố ngẫu nhiên, tình cờ. Có khi cũng
không biết là hay hay dở nữa kia. Anh Xuân Diệu hỏi tôi, sao anh lại tạo ra
được hai câu: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi, Mà mưa xối xả trắng trời Thừa
Thiên”? Tôi cũng không biết sao mình lại tài thế!
Thơ có quy luật riêng của nó.
Phạm Tiến Duật là anh lính thì hay. Đến lúc luận là chết. Vòng trắng.
Sao đời lại tự tử! Hai lần tự tử! Giết anh và giết người chết rồi. Không hiểu đời
đã luận đời!
Trần Đăng Khoa đang dở dang, hết trẻ con, nhưng chưa thành người
lớn. Nói giọng ông già là trật.
Phải luôn đề cao thế giới quan, nhân sinh quan. Nhưng đối với lớp trẻ,
nó thấy khắc khổ quá. Phải nói đạo lý thế nào đấy không xa lạ với nó. Nên đề
cập đến tất cả những gì nó quan tâm. Đừng nói đại nghĩa trước mà phải đi từ
tiểu nghĩa trước (tình yêu, tình bạn). Từ bỏ tiểu nghĩa, nó không nghe đâu!
Không chấp nhận tình yêu và thơ tình là không đúng, là nihilisme. Thơ tình là
loại thơ khó nhất: nói được cái gì mới? Tôi không làm được.
Nói thơ Tố Hữu không nói hết mọi vấn đề là đúng. Nhưng cho rằng thơ
Tố Hữu chỉ nói cái to không nói cái nhỏ thì oan. Nhưng chuyện cụ thể chỉ là cái
cớ để nói cái to. Cái tật quen của tôi nó vậy. Tố Hữu có nói cả hoa và rác đấy
chứ. Nhưng phải có trách nhiệm, phải làm cách mạng, phải quét rác (Tiếng chổi
tre)...
Bài Hồ Chí Minh. Khi viết bài này, tôi chưa được thấy Bác, chỉ biết qua
về Bác, chưa đọc gì của Bác. “Vung gươm lắp súng” là nghĩ thế, viết thế.
Nhưng nói “Người lính già” là bạo, thế mà đúng. Lúc bấy giờ nói thế là bạo,
trái với xu hướng quan niệm về lãnh tụ, về vĩ nhân, lúc đó. Đúng, Bác là người
lính.
Bà má Hậu Giang. Có chuyện thật nghe nói ở Ban Mê Thuột: một bà
má nấu nồi cơm to, bị Tây chặt đầu. Còn phịa ra cả. Lúc đó Bắc Sơn thất bại,
Nam kỳ thất bại. Tư tưởng défaitisme, cần góp phần khôi phục lại niềm tin.
Ly rượu thọ. Có chuyện một viên tướng có bà mẹ yêu nước. Còn chuyện
chúc thọ là bịa.
Mẹ Suốt, có chuyện đẻ con bị xẩy, có chuyện vải màn nguỵ trang thật
và cũng có hỏi mẹ mấy câu. Nhưng đặt thêm ra lời hỏi và câu trả lời. “Cá tôm
cũng sướng” là bịa.
Nhân tiện thấy ông nói về những bài thơ cụ thể, tôi tranh thủ hỏi về bài
Ân hận tôi đọc trên báo thời Mặt trận dân chủ Đông Dương, đề tặng một “nàng
trinh nữ” nào đấy. Ông nói bài này làm trong nhà tù. Hồi ấy yêu một cô. Cô ấy
đi lấy chồng. Đơn giản thế thôi.
Nói mãi cũng mệt. Tố Hữu nghỉ, uống nước .
Qua ý kiến của Tố Hữu, thấy ông quả là một nhà thơ có kinh nghiệm.
Và không phải là không có tài.
Nhưng vì sao thơ ông không có giá trị lâu dài? Có lẽ vì ông chọn cho
mình con đường làm thơ chính trị. Ông đã đáp ứng xuất sắc tâm lý chính trị của
dân tộc một thời. Nhưng thời ấy đã qua rồi.
Thơ tuyên truyền chính trị nên phải đơn nghĩa. Và vì phải hướng chủ
yếu về đối tượng công nông binh, nên phải sử dụng những thể điệu truyền thống
kể cả lối ca vè và phải dùng những hình ảnh, những ngôn từ quen thuộc, tránh
sáng tạo hình ảnh và từ ngữ mới lạ.
Tố Hữu lại tiếp tục nói. Ông chuyển sang nói về giáo dục, về việc dạy
văn. Ông cho rằng muốn dạy tốt phải dựa trên nghiên cứu khoa học. Giáo viên
không được tiếp xúc với các công trình khoa học thì như người lính ra trận
không có vũ khí. Giáo viên văn học là giáo viên khổ nhất mà đáng lẽ sướng
nhất. Học sinh nộp bài như nộp thuế.
Ta còn thiếu những công trình khoa học có sức thuyết phục. Tôi chưa tin
có ai đã dạy Kiều, hiểu Kiều một cách đầy đủ. Và liệu đã có ai hiểu hết một bài
Bình ngô đại cáo. Bài văn lạ lùng trên nhiều mặt. Lượng thông tin ghê gớm.
Từng từ có giá trị xã hội, đại diện cho một thực thể xã hội. Trí tuệ, tư tưởng ghê
gớm lắm: “Lấy nhân nghĩa”, “lấy chí nhân”. “Chí nhân” thời ấy là gì? “Cường
bạo” nội dung thời ấy là gì? “Trúc chẻ ngói tan”phải là một chiến dịch ghê
gớm lắm. Bao nhiêu ý nghĩa nhận thức!
Thày giáo văn học là đắt nhất. Nghề này không chỉ đòi hỏi hiểu biết.
Anh phải sống đẹp. Thông tin văn học khác. Phải gây hiểu biết và xúc động thật
sự. Không cảm thụ được và truyền đạt được cảm xúc thì nghề dạy văn là vô
nghĩa.
“Đau đớn thay phận đàn bà”, không có gì sáng tạo cả mà hay, vì là
tiếng kêu giữa trời cho ba trăm năm sau. Thiên tài là sự nhuần thấm máu thịt
đến mức như như là cảm quan ngẫu nhiên, tạo ra cái đẹp mà không biết. “Long
lanh đáy nước in trời”. “Long lanh” sau mới thấy “đáy nước” và thấy “trời”.
Được nghe, hiểu một câu thơ như thế, chết cũng sướng.
Nếu loài người hiểu hết vẻ đẹp của mình thì là thiên thần. Là thoát ra
khỏi tấn bi kịch lớn. Bi kịch của loài người là không ý thức được vẻ đẹp của
mình, do mình tạo ra, và tất cả thấy cần phải sống đẹp như thế. Làm sao một
dân tộc rất đẹp như Campuchia lại bị tiêu diệt có vẻ dễ dàng như thế? Tôi vẫn
suy nghĩ mãi về điều đó.
“Phải đặc biệt coi trọng giáo dục, coi trọng văn học. Chủ nghĩa xã hội
đâu phải chỉ cần cơ sở khoa học kỹ thuật. Con người còn cần tâm hồn nữa chứ.
Nếu không chỉ là con thôi, một thứ con cao cấp thôi”.
ý kiến của Tố Hữu về giáo dục, về dạy văn nói chung là đúng, tuy không
có gì mới mẻ đặc sắc. Sức hấp dẫn vẫn chỉ là ở nhiệt tình sôi nổi và niềm tin
mãnh liệt, đã trở thành phong cách riêng, khẩu khí riêng của ông.
Lúc đó anh Đoàn Trọng Huy vừa mua được cuốn Tuyển tập thơ Tố Hữu
do Hà Minh Đức soạn. Anh xin chữ kí của Tố Hữu. Tôi đọc bài Mẹ Tơm, thấy
câu thơ “ Sống trên cát, chết vùi trong cát” in là “ Sống trên cát, chết hoà trong
cát”, bèn nhân tiện hỏi Tố Hữu: hoà hay vùi? Tố Hữu nói “vùi chứ hoà thì còn
văn chương gì nữa”. Ông tỏ ra tán thành lời bình của Hoài Thanh về chữ vùi
trong bài thơ này.
*
Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất
hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác
bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”. Tôi đã chứng kiến Nguyễn
Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con
ếch.
Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà
văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương
chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện
tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc,
người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục
này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến
vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần
đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo
này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có
vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai
anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ
niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.
Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn
là chúa hay phóng đại.
Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu
nói nhỏ với anh: “Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?” Khải sợ quá, vội chối:
“Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.
Gần đây anh Hoàng Dũng cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, học trò thân thiết của Nguyễn Tài Cẩn, cho biết, Tố
Hữu có lần gọi Huy Cận, bảo phải biên soạn cuốn từ điển về thơ Tố Hữu:
“Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”. Huy Cận nhờ nhà ngôn
ngữ học Nguyễn Tài Cẩn giúp cho việc này. Cẩn từ chối không được, bèn dùng mẹo, nhận nhưng không làm, tuy thỉnh thoảng lại giả vờ đến Tố Hữu “xin” ý
kiến về câu này, chữ khác của thơ ông. Bây giờ Tố Hữu chết rồi, chẳng có trang
từ điển nào cả. Anh đồ nghệ láu thật!
Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự
tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có
tang. Ông nói với Từ Sơn: “ Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”.
Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến
khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ!
Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản
Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế
những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?” Tất nhiên Tố Hữu rất
ghét Gooc bachốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của
ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp,
cũng chóp chóp”.
Những năm cuối đời, ở Tố Hữu, có chuyện này cũng lạ: thường phủ
nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần
Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng.
Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến
thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều
Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố hữu
từng viét bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài Chiến
thắng Điện Biên thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”
Lại có chuyện Nhật Hoa Khanh công bố một bài phỏng vấn Tố Hữu rất
dài. Đọc bài phỏng vấn này, thấy Tố Hữu nói ngược hẳn những điều ông nghĩ,
ông viết và ông làm trước đây đối với các nhà văn thuộc nhóm Nhân văn giai
phẩm. Ngược hẳn lại như quay 180 độ, khiến rất khó tin là có thật. Trần Đăng
Khoa cho rằng, Tố Hữu quả cũng hay phủ nhận những điều mình đã nói, đã
làm, nhưng không đến nỗi quá quắt như trong bài phỏng vấn của Nhật Hoa
Khanh. Tô Hoài thì nói, những sự kiện, những chi tiết trong bài phỏng vấn đều
có thật cả, chỉ có điều Tố Hữu nói ngược lại. Nhật Hoa Khanh thì nói, anh có
ghi âm, còn giữ băng ghi âm.
Hiện tượng này tôi vẫn thấy khó tin và cũng khó giải thích. Hay là giải
thích bằng tính cách của người Huế chăng: “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm...”
Tố Hữu ngay khi đã mất hết chức vụ, vẫn rất hách. Trong một cuộc gặp
mặt của các nhà văn lão thành (Hữu Thỉnh hằng năm cứ vào đầu xuân lại mời
các nhà văn ở Hà Nội từ 70 tuổi trở lên đến gặp mặt để chúc Tết và mừng tuổi),
người đã đến đông, Tố Hữu đến sau, ông nhìn khẩu hiệu trên tường: “Hoan
nghênh các nhà văn lão thành cách mạng”, nói thủng thẳng: “Lão, nhưng liệu
có thành không chứ!”
Tính cách như thế nên nói chung văn nghệ sĩ không ưa. Khi ông có chức
có quyền, người ta sợ, người ta phải đến – như xếp hàng chúc Tết ông chẳng
hạn. Nay hết chức quyền rồi, người ta lảng hết. Tôi nhớ đám tang Lưu Quang
Vũ, Xuân Quỳnh ở 51 Trần Hưng Đạo, người đến viếng đông lắm. Viếng xong,
mọi người sang phòng bên uống nước và trò chuyện. Tôi thấy Tố Hữu ngồi một
mình. Chả có ai đến nói chuyện. Ông ngồi một lúc rồi lẳng lặng bỏ về.
Hết mọi quyền lực rồi, Tố Hữu vẫn có tật nói nhiều. Hôm báo Văn nghệ
tổ chức hội thảo về cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, ông có
đến dự. Một mình ông nói hàng tiếng đồng hồ.
Lúc Tố Hữu đã mệt nặng, Nguyễn Khải có đến thăm. Khải nói, ông đã
mệt lắm, nói không ra tiếng, vậy mà miệng vẫn mấp máy, lắp bắp. Đúng là mắc
bệnh nói.
Hình như Gala cười có diễn một tiết mục văn nghệ về một anh chàng
mắc bệnh nói nhiều thì phải.
Ca dao có câu:
Rượu lạt uống lắm cũng say,
Người khôn nói lắm, dẫu hay cùng nhàm.
Láng Hạ, ngày 22 – 5 – 2007.
<< Home
