23/11/08
Hồi ký NGUYỄN ĐĂNG MẠNH …
Tư liệu riêng về một số nhà
văn Việt nam hiện đại (tiếp)
Chương IX: Xuân Diệu
Chương X: Hoàng Cầm
Chương XI: Hoài Thanh
Comments:
<< Home
Hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tôi đã được thấy Xuân Diệu. Lúc ấy
tôi đang học ở trường Trung học kháng chiến đóng ở Đào Giả - Phú Thọ. Tôi đi
khám bệnh ở một bệnh viện ở Đại Đồng. Hình như anh cũng đi chữa răng thì
phải. Có người biết Xuân Diệu, chỉ cho tôi. Anh đi xe đạp, mái tóc lượn sóng,
rất thi sĩ.
Từ ngày về Hà Nội học, rồi công tác ở Đại học, tôi có dịp đến Xuân
Diệu mấy lần cùng với Nguyễn Duy Bình và Hoàng Ngọc Hiến. Vào cuối
những năm 60, sang những năm 70 của thế kỉ trước, tôi luôn viết cho tạp chí
Tác phẩm mới do Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài thay phiên nhau phụ
trách, vì thế luôn có dịp tiếp xúc với Xuân Diệu.
Xem chừng anh rất tín nhiệm tôi. Có lần tôi ngồi uống cà phê với anh ở
24 Điện Biên, bỗng anh nói: “Đây là hai tài nhân nói chuyện với nhau” (Anh
không nói nhân tài mà lại nói tài nhân)
Khi tập thơ Những năm 60 của Huy Cận ra đời, Xuân Diệu đặt tôi viết
bài phê bình đăng Tác phẩm mới. Anh nói, Huy Cận đang đi Pháp, Mạnh phải
viết thẳng tay, nêu rõ nhược điểm cho cậu ta đỡ chủ quan. Tập thơ nhiều bài
yếu lắm. Khi viết bài ấy, anh có trao đổi góp ý với tôi.
Biết anh mến tôi, tôi đến anh luôn.
Xuân Diệu là người rất chu đáo, thiết thực và tiết kiệm. Chu đáo, thiết thực, tiết kiệm đến tỉ mỉ, chi tiết. Thấy tôi viết bản thảo kín cả hai mặt giấy, anh
cho tôi một cuốn giấy báo, bảo rọc ra, viết một mặt thôi (Hồi này đời sống khó khăn đến nỗi giấy trắng để viết văn, viết báo cũng thiếu thốn. Tôi thường phải
dọc giấy để dùng làm bản thảo những tờ giấy bỏ thừa không viết hết ở cuối
những bài tập làm văn của học sinh, vợ tôi thường thu về nhà để chấm). Những lần tôi đến anh vào buổi chiều, mải nói chuyện đến gần tối, anh thường giục tôi
về, vì đường thì xa, đi lại nguy hiểm. Anh nói: “Có thể ở nhà vợ lo bị cướp xe đạp ấy chứ!”. Có lần trời nắng, đi qua nhà anh, tôi tạt vào mượn cái mũ. Anh
cho mượn cái mũ lá đã cũ (hình như của Hà Vũ, con Huy Cận), vậy mà vẫn dặn
phải giữ cẩn thận, khi nào ra Hà Nội trả lại anh. Có lần đang ngồi với anh, thấy
có người nhà đem sách báo cũ ra bán cho hàng đồng nát. Anh gọi với theo:
“Này, những cái bìa sách các tông đẹp, nhớ lấy lại mà dùng”. Thấy anh có một
u già giúp việc (U Khang), tôi tưởng mọi việc chợ búa, bếp núc, anh chẳng phải
quan tâm. Vậy mà không phải. Anh tỏ ra rất thạo giá cả thực phẩm ngoài chợ,
giá trứng, giá thịt. Có lần tôi đã được nghe anh tính toán rất tỉ mỉ: “ Ba quả
trứng gà 33 đồng, 2 quả trứng vịt lộn giờ 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng,
bổ hơn 3 quả trứng gà chứ, 3 lạng thịt bò nhiều hơn 3 lạng thịt lợn, vì thịt bò
nhẹ hơn. Nhưng 3 lạng thịt bò có bổ hơn 2 quả trứng vịt lộn không thì chưa rõ.
Nhưng cũng phải đổi món chứ...Còn thịt chó thì thịt lẫn xương 4 đồng rưỡi một
lạng, thịt nầm 6 đồng một lạng...” (Tính theo giá tiền đầu những năm 1980).
Thấy tôi nhiều khi có vẻ lơ đãng, cẩu thả, anh thường nói giễu: “Cậu đúng l
nhà văn lớn”, hoặc “cậu nghệ sỹ quá, nghệ sĩ hơn cả mình”.
Một lần tôi đến Xuân Diệu với con trai tôi là Nguyễn Đăng Thanh. Nó
sắp đi nước ngoài học. Tưởng tôi đưa con đến chào anh trước khi đi Liên Xô,
anh rất cảm động. Anh sôi nổi dặn dò cháu đến nửa tiếng đồng hồ.
Xuân Diệu thỉnh thoảng có một chuyến đi xa, như đi Liên Xô, Pháp hay
ấn Độ gì đó. Bao giờ anh cũng chú ý mua quà về cho những người thân. Nhưng
không tuỳ tiện mà lập danh sách hẳn hoi, và tuỳ từng người mà tặng các món
quà khác nhau. Tôi cũng được nằm trong danh sách ấy. Khi thì một cái áo sơ
mi, khi thì một bao thuốc lá ngoại, sang nhất là một cái đồng hồ đeo tay Liên
Xô hiệu Pơndốt.
Xuân Diệu làm việc rất cần cù. Một tấm gương lao động quyết liệt: đọc
sách, dịch sách, viết văn, làm thơ. Mùa hè, tôi thấy anh xoay trần ra viết. Nghỉ
ngơi cũng là học tập. Anh mở nhạc cổ điển ra nghe. Anh nói, cứ nghe nhạc mãi,
dù không hiểu nó cũng thấm vào người. Vậy mà có ai đến chơi, anh vội vàng
xếp cả lại, tiếp đón rất nhiệt tình. Kể cả người anh không ưa. Có một lần đang
nói chuyện với anh, thấy một người ghé vào. Anh tiếp rất niềm nở. Khi người
ấy về, anh nói với tôi: “Sao tôi ghét thằng cha này thế!”. Ghét mà vẫn tiếp chu
đáo? Đoán biết tôi thắc mắc thế, anh giải thích: “không tiếp nó lần sau nó không
đến nữa”. Tôi nhớ lại, có lần anh nói: “Người ta yêu vờ yêu vịt còn hơn là lạnh
như tiền. Người ta vỗ tay để lấy lòng mình thôi còn hơn là không vỗ tay”. Lại
nhớ câu thơ của anh:
Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ
Một giây cũng cam, một phút cũng đành.
Thì ra Xuân Diệu rất sợ cô độc. Rất lo không có ai thương mình, không
có ai nhớ mình, tìm đến với mình.
Xuân Diệu rất sợ chết. Có lần tôi đến anh. Anh chỉ bức ảnh bà má của
anh mắc vào giá sách, nói: “Bà má mình đấy. Bà ấy mất rồi. Không có bằng
chứng gì chứng tỏ bà đã từng sống ở trên đời”
Lần khác tôi đến anh khi Như Phong vừa chết. Anh nói, Như Phong
chủ quan, cho là mình khoẻ lắm. Không có doute méthodique về sức khoẻ của
mình. Anh lắc đầu, lè lưỡi: “cái chết ghê gớm thật, nó biến con người ta từ plus
infini thành moins infini!”.
Lúc đó tôi không biết nói gì. Nhớ đến cái chết của Nguyên Hồng, tôi
nói: “Nguyên Hồng cũng chết một cách đột ngột” (giống Như Phong)
Xuân Diệu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Không, Nguyên Hồng chết rồi,
nhưng cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như Phong, chết là không còn
dấu vết gì nữa. Mấy bài phê bình, ai đọc!”
Xuân Diệu ngay từ nhỏ đã rất có ý thức giữ gìn mọi tài liệu, bút tích của
mình. Anh còn giữ nguyên năm cuốn vở học sinh hồi học ở Quy Nhơn, ghi chép
linh tinh đủ thứ: nhật ký, những dòng suy nghĩ tản mạn, dịch thơ, tập sáng tác...
Trải qua bao biến thiên của cuộc đời, rồi những lần sơ tán trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, vậy mà vẫn giữ nguyên, không sờn không rách.
Một con người có ý thức rất cao về bản thân mình.
Đọc mấy quyển vở ấy, tôi thấy có một bài thơ anh đặt tên là ”Những
người chết trẻ”. Chắc là một người bạn học của anh chết, anh xúc động làm bài
thơ này. Bài thơ khá dài, gồm nhiều đoạn, đoạn nào cũng chỉ xoay quanh cùng
một ý. Chẳng hạn, đoạn một nói về các bạn gái rất thương bạn, khóc. Nhưng rồi
yêu người này, người khác và quên. Đoạn hai, nói về các bạn trai, đoạn ba nói
về anh chị em ruột, ý vẫn thế thôi: lúc đầu thương, khóc, sau cũng quên. Đoạn
cuối cùng nói về cha mẹ. Cha mẹ thì không bao giờ quên con, nhưng cha mẹ sẽ
già và chết. Thế là hết, chẳng còn ai thương nhớ mình nữa:
Nhớ các anh hoài chỉ mẹ cha,
Song tro tàn lạnh không còn lửa,
Rồi đèn mờ tắt. Thế là thôi,
Không một người thương ở cõi đời.
Cùng một ý ấy – “Những người chết trẻ” – tôi còn thấy một bài thơ
khác ở dạng một bản nháp:
Vẻ đẹp và non và mạnh mẽ
... yêu như điên
Biết bao hình bóng đầy vẻ thơ
Biết bao khuôn mặt còn ngây thơ
Biết bao mái tóc còn như tơ
Biết bao cặp mắt đầy ước mơ
Sau cái màn quên đã mịt mờ!
.............................................
Biết bao chàng thanh niên đã chết
Đã chết! Tiếng sao mà gớm ghê!
Đã chết! Đã đi không còn về.
Mang theo lực, tài, xuân, hương, huê
Đã chết, tiếng sao mà thảm thê!
...................................................
Biết bao chàng thanh niên đã qua
Như gió xuân đi không để vết
.................................................
Thế đấy, biết bao chàng thanh niên
Đã chết trước khi chưa được sống...
Té ra, từ tuổi thiếu niên, Xuân Diệu đã nghĩ đến cái chết, đã lo đến khi
phải từ giã cõi đời này. Và điều đặc biệt là anh đã nghĩ cách chống lại cái chết,
nghĩa là trở thành bất tử – bất tử trong lòng người.
Chống lại cái chết bằng cách nào? Bằng cách làm thơ, anh gọi là “Thơ
trái tim”.
Trong quyển vở học sinh, quyển thứ ba (đề tập III, 1934), tôi thấy anh,
ngay từ tuổi học trò, đã có hẳn một lí thuyết về sự bất tử của thi ca. Anh viết
một đoạn văn dài, đặt dưới cái đầu đề: “Một bài thơ với một tên người”. Lập
luận của anh như sau:
“Thơ là đồ chơi, là đồ ru ngủ, là đồ không thiết thực, nghĩa là - sao
không nói hẳn?- đồ bỏ. Các nhà tận tâm về sinh kế của xã hội, các nhà thiết
thực, các nhà nghiêm khắc nói thế. Phải hay không tôi chẳng cần biết. Với
Fontenelle, tôi muốn cho rằng ai cũng phải cả (tout le monde a raison). Tôi chỉ
để ý mà thấy rằng: Ba ngàn năm qua chôn nắm xương tàn của Homère. Nói về
danh vọng và bất hủ, đã ba ngàn năm Homère vẫn được tôn sùng... Cái gì rồi
cũng qua đi. Đế quốc Lamã, đế quốc Charlemagne. Nhưng cái chết không diệt
được cái gì không phải là vật chất. Mà cái đầu tiên không phải là vật chất
chẳng phải là thơ sao? Thơ - cám dỗ của mơ màng...”
“Với những khúc anh hùng ca (épopée) Jliade, Odyssée, Homère sống
đến nay... Song thiên tài thời bất hủ là lẽ cố nhiên. Phải chăng thơ có cái ma
lực siêu việt thời gian, mà đến những người chỉ có tài (talent) cũng có thể sống
ở trong thơ, hơn nữa, trong một bài thơ?”
“Một bài thơ cứu một tên người, vớt một tên người ở trong giòng thời
gian nó lôi cuốn sự vật vào miền quên lãng?... Phẩm hơn lượng, le sonnet sans
défaut vaut, seul, un long poème... Nhưng vài câu thơ trong ấy rung động
những trái tim lại đáng giá bằng mấy bài sonnet không nhầm lỗi... Ta để ý xem,
những bài thơ cứu một tên người, khá nhiều là thơ tình cảm, thơ trái tim. Tư
tưởng có thể thay đổi, bây giờ còn ai muốn nghe những lời biện thuyết của
Luther, những bài thơ của Rousseau, bây giờ ai ưa?... Nhưng trái tim người...
khi nào cũng có những trẻ con, những bà mẹ, những cô gái, những mẹ già,
nghĩa là những con người, họ yêu thương, họ vui vầy, họ đau xót... Cho nên
tiếng kêu than của Trác Văn Quân vẫn còn tìm thấy tiếng vang trong lòng
những cô Bạch Lệ ảnh”.
“ở đây tôi không nói những danh sỹ như Ronsard, họ có dư thơ để mà
sống trường cửu. Tôi chỉ nói những nhà thi sĩ còn ở trong trí nhớ nhờ một bài
thơ. Những nhà thơ ấy cũng có làm nhiều bài, song chỉ được có một bài xuất
sắc. Trên dòng thời gian vô cùng tận, họ chỉ có một chiếc lá thả trôi đi. Tôi
không biết thơ Tàu cho nhiều. Song tôi vẫn nghe tiếng nàng Ban, ả Tạ. Tôi vẫn
còn nhờ ý tứ bài thơ vịnh quạt của Triệu Yến Phi. Có lẽ trong văn Tàu, người ta
cũng còn nhớ đến nàng, nhờ bài thơ kia”.
Còn ai không biết đến bài “Hồi văn” của Tô Huệ? ở đây mới đúng cái
trường hợp một bài thơ với một tên người...
Như vậy là đối với Xuân Diệu, điều quan trọng nhất không phải là
chuyện văn chương thơ phú mà là chuyện làm sao được sống mãi với đời, sống
mãi với nhân loại. Văn chương thơ phú chỉ là phương tiện để giúp anh sống mãi
trong lòng người, một thứ vũ khí để chống lại cái chết. Và tôi hình dung cả cuộc
đời lao động nghệ thuật quyết liệt của Xuân Diệu là một quá trình quyết đấu với
cái chết.
Trong mấy quyển vở học sinh ấy, tôi còn thấy điều đặc biệt này ở con
người Xuân Diệu: luôn đòi hỏi tình cảm cao độ, tình yêu mãnh liệt, yêu phải hết
mình. Trong mấy quyển vở nói trên, thỉnh thoảng lại thấy có một đoạn nhật kí.
Có một đoạn nhật kí như thế này: anh ghi tâm trạng rất đau khổ của
mình, đau khổ đến mức như là thất tình vậy. Lúc đầu tôi cứ tưởng thế, chắc là
một cô bạn gái nào đấy – vì anh viết tắt tên cái người mà anh cho là không còn
yêu anh nữa. Đọc tiếp mới biết không phải. Đó là một anh bạn trai. Và lí do rất
trẻ con: “Hôm ấy mình đến mượn B cái quần đùi. B. nói, chốc nữa mình đi đá
bóng, không cho mượn được”. Có thế mà đau khổ! (Khi trả lại mấy quyển vở,
tôi nói với Xuân Diệu như thế – Lúc đầu tưởng là bạn gái, hoá ra là bạn trai -
Xuân Diệu ngồi im một lát rồi bảo tôi: “Này, đừng nói với ai nhé, người ta hiểu
lầm!).
Mấy trang sau, tôi lại thấy một đoạn nhật ký nữa. Cũng vẫn là nỗi đau
khổ nói trên – Và vẫn là cái anh B. nào kia. Lần này, lý do khác: có một gánh
hát cải lương Nam kỳ ra biểu diễn ở Quy Nhơn. Học sinh mua vé đi xem. B.
không có tiền, vay một bạn nào đấy tiền mua vé. Xuân Diệu biết được. Thế là
lại đau khổ như là thất tình: bạn bè với nhau, không có tiền, không nói với mình
một tiếng, mà lại đi vay người khác.
Trong mấy quyển vở nói trên, Xuân Diệu tập viết đủ loại văn thơ nhưng
tôi để ý thấy, dù viết thể văn nào thì chủ yếu cũng quay quanh tình bạn. Và dù
là thơ hay văn xuôi, dù là dịch thơ Pháp, thơ Tầu thì cũng thể hiện sự khao khát
tình bạn đến cuồng si mà không được đền đáp xứng đáng. Một cái tôi cảm thấy
cô đơn, vắng người tri kỷ. Ví dụ, đây là một đoạn văn như thế:
“Tôi là một đứa si, gặp bạn thì yêu hết lòng, xa nhau một khắc thời lấy
làm nhớ, thế mà giứt mối tình một cách mau chóng như thế, làm sao mà chịu
nổi phẫn uất, lòng hận sầu? Đêm hôm ấy nằm mà thở dài một mình, sáng dậy
viết cái thư thật dài, gửi cho bạn:
Ôi! Nhân sự.
Trọng của nỡ khinh người!
Vẫn tưởng lòng son in một tấm
Đâu ngờ dạ thế trắng như vôi!
“Bao nhiêu tình đem tặng bạn tôi, bạn tôi đã không nhận mà quăng
xuống đất bùn trả lại cho tôi. Tôi chỉ xin nhặt lại, rửa cho tinh khiết như cũ, rồi
đem chôn kỹ trong một góc quả tim tôi vậy. Bây giờ tôi chưa quên được tình cũ,
song ngày qua tháng tới, có một ngày cũng sẽ quên. Than ôi! Vũ trụ mang
mang, nước non rộng lớn, từ đây đến lúc chết, suốt một đời há lẽ không kiếm
được khách thân bằng ư?”
Luôn luôn đòi hỏi tình cảm cao độ, nên Xuân Diệu thường dễ có mặc
cảm người ta lạnh nhạt với mình. Có một lần, lâu tôi không đến thăm anh. Khi
gặp, anh nói dỗi: “Cậu bây giờ nổi tiếng rồi nên chán mình chứ gì?”.
Tôi nhận thấy Xuân Diệu có một cái gì như là có chất đàn bà vậy – hay
hờn dỗi. Và khác hẳn với Nguyễn Tuân, anh hay bộc lộ thẳng tình cảm với
những người mà anh quý mến.
Thực tình tôi không hiểu sao Xuân Diệu lại có thể thân với Huy Cận. Họ
quả cũng có những chỗ hợp nhau. Nhưng Huy Cận đâu phải hạng người tử tế,
ngay cả trong tình bạn với Xuân Diệu.
Hai ông bạn, có chỗ này quả là giống nhau: cùng ăn rất khoẻ và chỉ
thích thịt cá, trứng vịt lộn, nghĩa là những thứ nhiều prôtit.
Hồi khoa văn Đại học sư phạm Việt Bắc đưa sinh viên về Hà Nội (đóng
ở Cổ Nhuế) để mời các nhà văn đến nói chuyện, tôi có được nhờ tiếp khách hộ.
Tôi thấy Xuân Diệu rất thích uống bia và húp trứng sống. Anh còn nói, tối nào,
cần viết một cái gì thì buổi chiều thế nào cũng phải mua ba lạng thịt chó để bồi
dưỡng. Có thế mới có sức viết (Xuân Diệu chết vì bị nhồi máu cơ tim, tức là
máu nhiễm mỡ, cần kiêng ăn nhiều thịt, trứng. Khi anh mất, Vũ Tú Nam nói,
Xuân Diệu đã bồi dưỡng nhầm là vì thế). Huy Cận cũng vậy. Phải nói là tham
ăn.
Nhưng điều rất vui là, tuy cùng ăn khoẻ mà Huy Cận thì được khen là
bình dân, còn Xuân Diệu thì bị chê là tham ăn. Nguyễn Khải thấy như thế, khi
tháp tùng hai cây bút đàn anh này vào tham quan Nam Ngạn, Hàm Rồng, mừng
thành tích bắn máy bay Mỹ (năm 1965). Họ chiêu đãi các vị. Quan ăn tham
(Huy Cận) thì gọi là bình dân, còn dân (Xuân Diệu) thì gọi là tham ăn. Đúng là
một dân tộc chỉ trọng quan lại.
Hai ông bạn còn có chỗ này cũng giống nhau: có ý thức giữ đầy đủ
những bản thảo các tập thơ làm trước cách mạng tháng Tám. Giữ nguyên cả
những bản nháp từng bài một. Một bài thơ có thể có tới ba bốn bản nháp, từ bản
này sang bản khác, sửa chữa thế nào cho đến bản cuối cùng khi bài thơ được
hoàn thiện. Chẳng hạn như bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu (lúc đầu đặt tên là
Đàn trong trăng sáng). Trước khi trở thành một thi phẩm tuyệt tác mà ta đều
biết, bài thơ đã trải qua nhiều bản nháp, trong đó có những câu còn rất thô sơ
vụng về như:
Nhỏ giọt vào trăng, đêm thuỷ tinh
Linh lung bóng sáng bỗng run mình
Vì nghe tới đoạn giai nhân chết
Xanh ngắt không mây nguyệt một mình.
Riêng câu kết, có tơi bốn lần nháp khác nhau:
... Đàn ơi, người đẹp đến tê mê
... Thôi mà! âm nhạc giết tôi đi!
... Dịu dàng âm nhạc giết tôi đi!
... Đàn ơi! Âm nhạc giết ta đi!
Cuối cùng mới tới được câu kết tuyệt vời này:
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê
Tài liệu này rất quý. Từ những bản nháp này, có thể nghiên cứu viết
được những công trình khoa học rất hay về ngôn ngữ thơ ca, về lao động nghệ
thuật... Xuân Diệu sẵn sàng cho tôi mượn. Rất tiếc hồi ầy chưa có photocopy dễ
dàng như sau này. Chép tay thì biết đến bao giờ, nhất là lại chép cả những chỗ
dập dập xoá xoá, viết đi, viết lại, rất ngại.
Bây giờ Xuân Diệu mất rồi. Tất cả ở trong tay Huy Cận.
Có lần tôi định dùng mẹo để lấy ra từ tay Huy Cận. Tôi hướng dẫn một
cô sinh viên làm luận văn cao học, tên là H T H, về Lửa thiêng. Cô này khá
xinh đẹp, lại khôn ngoan. Tôi giới thiệu cô đến Huy Cận để hỏi han, trao đổi,
dần dà thân mật, sẽ mượn cho tôi tập bản thảo kia, lúc đầu là bản thảo Lửa
thiêng của Huy Cận, sau đến bản thảo Thơ thơ, Gửi thương cho gió của Xuân
Diệu. Bây giờ sẵn photo rồi, chỉ cần mượn ra nửa tiếng đồng hồ là có thể chụp
được hết.
Tôi đã thất bại. Huy Cận tìm cách lợi dụng cô này mà không chịu mất
gì. Thái độ gạ gẫm lộ liễu, rất tởm, đại khái đặt tập bản thảo bên cạnh, cầm tay
cô và nói: “Phải thế nào mới cho mượn chứ!”. Sau này tôi mới biết, đừng hòng
lấy không một cái gì ở ông ta. Anh Hà Minh Đức đã bị một vố rất đau: trả ông
ta mấy triệu để lấy bút tích và bức ảnh của ông thời trẻ. Anh chỉ nhận được một
bản photo! ảnh cũng photo!
Tôi không hiểu sao Xuân Diệu lại có thể tin cậy Huy Cận đến thế. Ông
bạn này đã gây khó khăn cho người ta nghiên cứu Xuân Diệu, lại định dùng tài
liệu của Xuân Diệu để kiếm chác. Cái phòng ở của Xuân Diệu, dù cho vốn
thuộc quyền sở hữu của Huy Cận, lẽ ra cũng nên giữ nguyên để làm bảo tàng
ông bạn. Huy Cận đã xoá hết dấu vết, dọn dẹp đi hết. Rồi hai bố con tranh nhau.
Vậy là người có tội lớn nhất đối với Xuân Diệu lại chính là ông bạn thân thiết
số một của anh. Xuân Diệu muốn sống mãi trong lòng người. Đó là điều anh tha
thiết nhất lúc sinh thời. Vậy mà chính ông bạn “quý” kia đã phản lại anh ở
chính cái điều anh vô cùng tha thiết ấy.
Tuy nhiên tìm hiểu quan hệ giữa Huy Cận và Xuân Diệu, thấy tình bạn
thân thiết giữa hai người là có thật. Năm 1940, sau khi đỗ tú tài, Xuân Diệu học
luật một năm rồi thi vào ngạch tham tá nhà đoan và được điều vào làm việc ở
Mỹ Tho cho đến 1943. Thời gian này Huy Cận vẫn đi học. Khi Huy Cận đỗ kĩ
sư canh nông, có việc làm, Xuân Diệu liền xin thôi việc trở lại Hà Nội ở với
Huy Cận, sống nhờ vào lương Huy Cận. Nguyễn Công Hoan nghe nói chuyện
này, hỏi: “Thế không sợ Huy Cận nó đá đi à? Lúc ấy thì sống bằng gì mà bỏ
việc?” Xuân Diệu nói: “Lúc bấy giờ tôi không hề nghĩ đến tình huống đó”.
Đúng là lãng mạn! Tôi biết, thời Tây, tham tá (commis) thuộc loại viên
chức cao cấp, lương khá lắm. Bỏ đi dễ dàng như vậy quả là rất lãng mạn và tỏ
ra tin tưởng tuyệt đối ở tình bạn. Tuy nhiên tình huống “Huy Cận đá”, tôi nghĩ
khó xảy ra. Vì Huy Cận nhà nghèo, tuy có học bổng nhưng còn phải nuôi hai
em đang học ở Thanh Hoá. Xuân Diệu thường giúp đỡ bạn rất cụ thể. Thời gian
làm tham tá đoan ở Mỹ Tho, anh cứ đều đều gửi ra cho Huy Cận mỗi tháng 10
đồng. Khi Huy Cận tham gia cách mạng, Xuân Diệu còn vào tận quê Hà Tĩnh,
lo thu xếp gia đình cho Huy Cận để bạn an tâm công tác. Mặt khác, trong hoạt
động sáng tác, Huy Cận cũng cần một chỗ dựa là Xuân Diệu. Xuân Diệu sớm
có chân trong Tự lực văn đoàn, như vậy là có thanh thế lắm (Huy Cận tha thiết
xin vào Tự lực văn đoàn nhưng không được chấp nhận).
Tôi đã được chứng kiến Huy Cận sẵn sàng quy phục và tỏ ra phụ thuộc
vào Xuân Diệu như thế nào: Hôm ấy tôi đến Xuân Diệu, thấy Huy Cận ở trên
gác xuống, ăn mặc chỉnh tề, cứ loanh quanh ở căn phòng của Xuân Diệu. Thấy
tôi, Huy Cận khoe vừa dịch bài thơ tình của Arvers (Sonnet d’Arvers): “Mon
âme a son secret, ma vie a son mystère”. Bài này đã có một bản dịch rất được
truyền tụng của Khái Hưng “Lòng ta chôn một khối tình, Tình trong giây lát mà
thành thiên thâu...”. Huy Cận đã đọc cho tôi nghe bản dịch của anh và lấy làm
đắc ý: “Tôi dịch sát nghĩa hơn bản dịch của Khái Hưng chứ!”
Xuân Diệu mắng luôn: “Dịch sát nghĩa mà là hay à?”
Xuân Diệu rót nước ra cốc mời tôi uống. Huy Cận hỏi: “Nước mơ hả?”.
Lại bị Xuân Diệu mắng: “Mơ mơ cái gì, làm gì có mơ!”
Thấy Huy Cận cứ nói chuyện với tôi, Xuân Diệu lại mắng nữa: “Anh
Mạnh anh ấy đến chơi với tôi chứ, sao cứ nói mãi thế!”.
Tôi rất lấy làm lạ: Sao Xuân Diệu cứ mắng Huy Cận như mắng con nít
mà toàn chuyện chẳng đáng gì cả!
Thì ra sáng hôm ấy, Huy Cận hẹn với Quang Huy ở Nhà xuất bản Văn
học tới làm việc về một tuyển tập thơ của mình, cho nên ăn mặc chỉnh tề và cứ
loanh quanh ở tầng một, phòng Xuân Diệu.
Một lát, Quang Huy đến. Huy Cận ra làm việc với Quang Huy ở phòng
ngoài. Xuân Diệu giải thích với tôi: “Dạo này làm được mấy bài thơ, cứ hoắng
lên. Mình phải mắng cho cụt hứng đi, đỡ chủ quan. Cứ tưởng bở!”
Làm việc với Quang Huy một lát, Huy Cận chạy vào báo cáo với Xuân
Diệu, đại khái nói, Huy đề nghị bỏ mấy bài nào đấy và Cận thấy cũng phải.
Xuân Diệu nổi nóng: “Không bỏ! Sợ mất ghế thứ trưởng à?”
Huy Cận nhăn nhó: “Khổ quá, sợ gì đâu. Thấy Huy nó nói cũng có lý”.
Thì ra tuyển thơ của mình như thế nào, Huy Cận cũng phải báo cáo với
Xuân Diệu.
Xuân Diệu đúng là chỗ dựa của Huy Cận trong đời và trong sáng tác.
Nhưng khi ông bạn chết rồi thì còn cần gì nữa. Máu tham và thói ích kỉ, bần tiện
liền trỗi dậy và giết chết luôn tình bạn.
Xuân Diệu không chỉ cần cù đọc sách, làm thơ, anh còn rất chăm chỉ đi
nói chuyện. Đâu mời cũng đi. Đối tượng nào cũng nói. Các bà cấp dưỡng, các
nông trường viên mời cũng đi ngay. Lại còn gợi ý cho người ta mời nữa. Anh
thường nói với tôi khi lâu lâu tôi không mời anh nói chuyện với sinh viên:
“Phải khẩn trương khai thác mình đi chứ!”. Đối với mỗi đối tượng, anh đều rút
kinh nghiệm nói sao cho hấp dẫn. Anh tính toán rất tỉ mỉ, từ sự sắp xếp nơi nói
chuyện ra sao, cự li người ngồi nghe thế nào, mùa hè khác, mùa đông khác,
thỉnh thoảng lại phải xen vào một câu chuyện vui cho không khí đỡ tẻ. Đặc biệt
anh hay kết hợp phổ biến “sinh đẻ có kế hoạch” (không hiểu sao Xuân Diệu
luôn luôn lo lắng đến chuyện này). Anh nói một hồi mà không thấy vỗ tay, rất
dễ mất hứng. Nhiều khi không kiên nhẫn được nữa, anh hỏi thẳng người nghe:
“Sao, có thích không? Thích thì phải vỗ tay lên chứ!”
Xuân Diệu rất sợ thái độ lạnh nhạt, dửng dưng. Anh cho có nhiều thằng
đàn ông rất ngu, vợ nấu cho món ăn ngon, cứ chén hùng hục mà không biết
khen lấy một câu. Tôi nhớ câu thơ của anh:
Em có tài nấu nướng
Anh có tài ngợi khen.
Xuân Diệu thích nói chuyện với giáo viên nhất.
Đầu năm 1985, Hữu Thỉnh, sau đại hội nhà văn lần thứ III, là uỷ viên
chấp hành phụ trách nhà văn trẻ. Anh mời chúng tôi đi Tuyên Quang bồi dưỡng
một lớp nhà văn trẻ ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Đoàn có Xuân Diệu, Chính
Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Vương Trí Nhàn và tôi.
Giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang, nhân dịp này, mời
Xuân Diệu đến nói chuyện. Hôm sau họ lại mời tôi. Xuân Diệu bảo tôi: “Giáo
viên họ mời thì nên đi. Nói chuyện với giáo viên lợi lắm. Nói với người khác,
một người nghe là chỉ một người. Nói chuyện với giáo viên, một người nghe
bằng hàng trăm người. Vì các thày cô giáo lại nói lại với học sinh của mình”.
Đi nói chuyện là một yêu cầu tự thân của Xuân Diệu. Anh có nhu cầu
được tiếp xúc và trò chuyện với nhiều người, thật nhiều người. Cho nên ở mấy
ngày với anh ở Tuyên Quang, tôi thấy anh đi nói chuyện liên miên. Nói sáng,
nói chiều, nói tối, khản cả cổ. Được có thêm một người biết đến mình, anh
sướng lắm. Cho nên anh thường nhắc đi nhắc lại câu chuyện về một anh hàng
nước mía nào đấy ở Tuy Hoà (Phú Yên) biết anh là nhà thơ Xuân Diệu và đãi
anh một cốc nước mía bốn đồng: “Thi sĩ cỡ như tôi có thể được tổng thống mời
tiệc ấy chứ. Nhưng được một anh hàng nước mía biết đến, khó lắm!” Xuân Diệu
nói một cách đầy tự hào.
Xuân Diệu luôn luôn có ý thức bảo vệ Thơ mới và văn học lãng mạn. Ai
đụng đến Thơ mới là không xong với anh. Anh ghét Vũ Đức Phúc, Phạn Cự Đệ,
Lê Đình Kỵ là vì thế. Anh không ưa cả Hoài Thanh vì tác giả Thi nhân Việt
Nam vốn rất mê Thơ mới là thế mà nay lại quay ra phê phán Thơ mới quá gay
gắt (Tố Hữu cũng phải nói: “Hoài Thanh tát mình quá đau”). Anh cũng luôn
luôn đấu tranh cho sự tồn tại chính đáng của cái tôi cá nhân và thơ tình. Vấn đề
này, ngày nay chẳng ai còn thắc mắc. Phải là kẻ gàn dở hoặc ngu tối lắm mới
phủ định cái tôi cá nhân và thơ tình. Nhưng sinh thời Xuân Diệu, nghĩa là
khoảng đầu những năm 1980 trở về trước, đấu tranh cho sự khẳng định cái tôi
cá nhân và thơ tình là cả một thái độ dũng cảm. Tôi nhớ thời chống Mỹ, có lần
anh nói với tôi: “Mỗi lần in một tập thơ, mình phải đưa ra trước hàng loạt bài
chống Mỹ như một cái đầu tầu xe lửa, sau đó, xen vào những “toa” thơ chiến
đấu, lén lút mắc vào một cái “toa” thơ tình cho nó kéo ào đi”. Nhưng thơ tình
của anh lúc bấy giờ nhiều khi không hẳn là thơ tình, không dám là thơ tình thật
sự. Đó nhiều khi chỉ là thơ của cái nghĩa vợ chồng (Anh chờ em về ăn cơm, Đứa
con của tình yêu, Em làm bếp... Tôi gọi thế là thơ về “giai đoạn văn xuôi” của
tình yêu) hoặc phải gò theo khẩu hiệu “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”
thường thấy giăng lên ở những phòng cưới thời chiến tranh...
Ngoài ra, về tình yêu, trái tim anh cũng không còn cái cuồng nhiệt, cái
mãnh liệt như thời trước. Mà không say đắm cuồng nhiệt thì làm sao tạo được
thơ tình thật sự!
Vào những năm 60, 70, 80 của thế kỉ trước, Xuân Diệu bỗng làm rất
nhiều thơ tình. Số lượng gấp bội so với thơ tình trước cách mạng. Vào năm
1961, ở anh dường như có một sự thức tỉnh trở lại về tình yêu. Anh nói: “Năm
1961, do một mối tình đến với mình mà mình cảm thấy tình yêu thật sự sống lại
mạnh mẽ. Hoá ra “Đáy chĩnh vét rồi, hãy còn hạt gạo” – giống như như câu
thơ của Baudelaire “Un brin de paille brille encore dans l’étable”. Anh định làm
một cuốn từ điển về đủ các trạng thái của tình yêu: nhớ, ghen, hờn – dỗi, rồi lúc
thức, lúc ngủ, khi ăn, khi uống...
Nhưng dư luận không đánh giá cao thơ tình của anh sau cách mạng. Tôi
cũng thấy như vậy. Nguyễn Kiên nói đúng, thơ tình Xuân Diệu sau cách mạng
dùng kỹ thuật nhiều hơn là có tình yêu thật với một đối tượng có thật. Cách làm
thường là thế này: dựa vào một chi tiết có thể có rồi phóng đại lên, ngoa ngôn
lên cho thành say đắm. Chẳng hạn, em gửi cho anh một bức thư, nói nhớ anh.
Thế là như đang đi giữa sa mạc bỗng thấy nhân loại quanh mình. Hoặc là, em
có vẻ lạnh nhạt, anh buồn quá. Nhưng một bữa cơm, em gắp cho anh một miếng
thịt bằng ngón tay, thế là:
Anh ăn như miếng ngọc
Dạ vui sướng nghẹn ngào
Nghĩ tình em vô tận
Khi bỏ vào bát anh...
Đúng thế, bản thân kỹ thuật không bao giờ tạo ra thơ. Trước cách mạng,
anh có dùng kỹ thuật gì đâu mà đúng là thơ tình:
Anh nhớ bóng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh,
Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!
Dù sao thì cũng có một thời, Xuân Diệu cũng đã từng là nhà thơ tình số
một ở nước mình. Và đến bây giờ, liệu đã có ai vượt được?
Có một hồi, người ta cứ đồn Xuân Diệu ái nam ái nữ. Không rõ hư thực
thế nào. Rồi anh cưới Bạch Diệp. ái năm ái nữ sao lại lấy vợ? Nhưng được mấy
tháng, Bạch Diệp bỏ luôn. Vậy là sao?
Thực ra Xuân Diệu chỉ mắc chứng đồng tính luyến ái và bất lực trong
quan hệ tình dục, chứ không ái nam ái nữ.
Hồi kháng chiến chống Pháp, tôi công tác với anh Lã Hữu Quỳnh ở Sở
Giáo dục Liên khu Việt Bắc (Anh Quỳnh là một nhạc sĩ, sau 1954, về Hà Nội
làm Hiệu phó trường nhạc trung cấp). Anh quê ở Bắc Giang. Trong thời gian
kháng chiến, các văn nghệ sĩ đi công tác qua, thường ghé vào nhà anh ngủ nhờ.
Một lần, Xuân Diệu và Trần Văn Cẩn vào ngủ nhờ. Nửa đêm, anh thấy Cẩn
đùng đùng dậy chửi mắng Xuân Diệu thậm tệ.
Anh Xuân Tửu một lần cùng Xuân Diệu ở trong một đoàn văn nghệ sĩ đi
thăm đảo Cô Tô. Chiều hôm trước họ nghỉ lại ở Móng Cái để hôm sau đáp tàu
ra đảo. Xuân Tửu muốn tắm truồng nên một mình lang thang ra biển tìm chỗ
vắng người. Nhưng rất phiền là cứ thấy Xuân Diệu lẽo đẽo đi đằng sau. Đi một
chập, Xuân Diệu biết ý Xuân Tửu, nói: “muốn tắm truồng phải không? Thì
cùng tắm”. Xuân Tửu mừng quá không phải vì được tắm, mà vì nhân dịp này,
biết đích xác Xuân Diệu có ái nam ái nữ hay không. Anh giương mục kỉnh để
nhìn cho rõ – Té ra rất đẹp! – Xuân Tửu nói với tôi như vậy.
Sau khi Bạch Diệp bỏ Xuân Diệu, anh Huỳnh Lý có một lần cùng ăn với
Xuân Diệu ở khách sạn Phú Gia. Huỳnh Lý gạ chuyện: “Mình có học với cậu từ
nhỏ (cấp II Quy Nhơn), mình biết chứ. Người ta cứ nói cậu ái nam ái nữ, nhưng
có phải đâu (trẻ con thằng nào ái nam ái nữ, nó vật ra khám ngay, dấu sao
được)
Xuân Diệu im lặng một lúc rồi nói: “Cái con Bạch Diệp trắng trợn! Để
rồi mình uống thuốc, sẽ khá lên dần. Nó bỏ luôn”.
Người làm mối Bạch Diệp cho Xuân Diệu là Nguyễn Đình Thi và Hằng
Phương. Hôm cùng đi vào Đà Nẵng, Nguyễn Đình Thi nói với tôi: “Tôi cứ bị cô
Bạch Diệp chửi mãi”
Thực ra, chuyện Xuân Diệu có vấn đề về sinh lý, Bạch Diệp cũng có
ngờ ngợ trước khi nhận lấy Xuân Diệu- Chị cẩn thận đi hỏi Tô Hoài là bí thư
Đảng đoàn văn nghệ – Tô Hoài nói, không biết và mách đi hỏi Huy Cận. Huy
Cận nói không có chuyện gì. Nhưng Bạch Diệp vẫn cảnh giác: Cưới rất to
nhưng không đăng kí kết hôn. Thành ra khi biết chuyện, bỏ luôn, không phải ra
toà lôi thôi.
Khi Xuân Diệu mất, Bạch Diệp viếng một vòng hoa trắng.
Hôm giỗ đầu Xuân Diệu (tháng 12 – 1986), người ta tổ chức một cuộc
hội thảo khoa học lớn ở câu lạc bộ lao động. Tôi được mời đọc báo cáo. Tôi đọc
bài: “Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn: Xuân Diệu”. ở bài này, lần đầu
tiên tôi đưa ra mấy ý được hoan nghênh: tư tưởng nghệ thuật (idée poétique)
của Xuân Diệu là niềm khát khao giao cảm hết mình với cuộc đời trần tục, trần
thế này; Xuân Diệu là người đầu tiên đưa vào thơ ca Việt Nam, tình yêu thật sự
là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối từ nhục thể đến tâm hồn (khác với
thơ tình của Huy Cận, chỉ là tình yêu platonique); một cách tân quan trọng của
Xuân Diệu về thi pháp: coi con người giữa tuổi trẻ và tình yêu là chuẩn mực của
cái đẹp.
Chị Xuân Như, em Xuân Diệu, có mặt hôm ấy, đến gặp tôi, nói: “Anh
viết rất đúng về anh tôi”
Rất tiếc, giá mà Xuân Diệu đọc được!
*
Nhớ lại, lần đầu tiên tôi đến Xuân Diệu ở 24 Điện Biên là vào năm
1966. Cuối năm 1985 thì Xuân Diệu qua đời. Hai mươi năm quan hệ mật thiết
với anh, tôi được tiếp chuyện anh không biết bao nhiêu lần. Đối với tôi, anh
không dấu điều gì. Từ chuyện đời, chuyện văn, chuyện yêu ghét người này,
người khác, chuyện ăn uống sao cho có sức khoẻ và sống lâu để viết, rồi chuyện
kinh nghiệm viết với đủ ngón nghề cụ thể. Cả chuyện khôn khéo luồn lách nữa
để có thể đối phó với đời... Anh đã cấp cho tôi biết bao tri thức và kinh nghiệm,
và đã khuyến khích tôi rất nhiều. Anh muốn tôi hiểu thật rõ, thật kĩ về anh để
viết thật tốt về anh. Và về phần mình, tôi cũng muốn như vậy.
Những lần trò chuyện với anh, nói chung, tôi đều có ghi lại. Giờ tôi
muốn chép ra đây một ít, cố truyền đạt lại chính xác từ ý tứ tới giọng điệu của
anh, mong muốn nhớ lại được con người cụ thể của anh, cá tính, tính cách cụ
thể của anh. Nhân tiện, qua cái cuộc trò chuyện, cũng thấy được tâm lí xã hội cụ
thể của giới cầm bút một thời và không khí lịch sử cụ thể của nền văn học ta
mấy chục năm về trước.
Tối 8 – 6 – 1966, tại 24 Điện Biên.
Tôi đề cập đến Thơ mới.
Xuân Diệu nói, không muốn nói chuyện Thơ mới. Mệt – Ngại lắm.
Hãy dồn tinh lực cho hiện tại, làm thơ chống Mỹ. Nhưng rồi anh lại nói
sôi nổi về Thơ mới.
Anh rất tự hào vì người ta vẫn chép thơ của anh. Đi bơm xe đạp, có một
anh bơm cho rất kỹ, rồi gạ chép Thơ thơ. Năm 1954, gặp anh Lê Duẩn ở bến
phà Ròn, Quảng Bình. Lê Duẩn nói: “Thơ trước cách mạng của anh, tôi mê, thơ
sau cách mạng của anh tôi chưa mê”.
Xuân Diệu cho vấn đề quyết định là vấn đề trái tim . Chúng tôi chỉ cần
trái tim. Trái tim là “chép thơ”. Có hai hệ thống tiếp nhận thơ mới: giảng
officiel trong nhà trường và việc chép thơ của thanh niên. Một điều rất bực là ở
trường phổ thông người ta cứ cho lãng mạn là xấu (Huy Cận có mặt lúc ấy, nói
xen vào “quần chúng công nông rộng rãi hơn các nhà nghiên cứu”). Tố Hữu đã
từng ngâm Vạn lý tình và Tương tư chiều... Thời gian sẽ ủng hộ những phần
tích cực của Thơ mới. ở Liên Xô, người ta công nhận cả ba nhà thơ: Blốc,
Êxênhin và Maiakôpxki. Nhưng quan điểm của ông anh thứ hai (Trung Quốc)
thì ghê quá! Tả còn hơn hữu, sợ quá! Nhưng mà thôi, chả cần bàn bạc làm gì,
chỉ cần người ta chép thơ tôi. Còn thầy giáo, đánh giá hay dở, tốt xấu, học sinh
nó không nghe đâu!
Xuân Diệu rất ghét người ta cho thơ tình của anh là truỵ lạc. Anh nói:
“Mình thuốc lá cũng không biết hút, có thể nói là nhà quê”. Anh cũng rất ghét
người ta cho anh là chịu ảnh hưởng symbolisme và André Gide. Anh nói: “Đây
là sự bắt gặp chứ không phải chịu ảnh hưởng. Khi tôi làm thơ, tôi chưa đọc
Gide, mãi đến khi ra Hà Nội, học lycée mới đọc”.
Xuân Diệu cho khẳng định ý nghĩa tích cực của sự ra đời của cái tôi cá
nhân là đúng. Còn mâu thuẫn giữa cái tôi và cộng đồng là mãi mãi. Cần hiểu ý
thức cá nhân khác với chủ nghĩa cá nhân.
Khi Xuân Diệu xuất hiện, Thế Lữ trở thành démodé, rồi người ta không
đọc anh nữa. Cái mốt lên tiên của Thế Lữ là évasion nặng: Phải hiểu Xuân Diệu
không phải tìm tòi về nghệ thuật mà là cố tìm cách nói cho chân thật, có khi lời
thơ sống sượng, Tây quá. Lúc đầu người ta không thừa nhận là thơ, là có âm
điệu, vì quen với cái du dương Thế Lữ rồi. Xuân Diệu muốn giao hoà với mọi
người mà không được. Cô độc. Buồn. Nhưng không thoả hiệp. Muốn quẫy ra
khỏi cái sầu, cưỡng lại cái sầu mà không được. Nhưng lòng yêu đời vẫn mạnh
hơn cái buồn.
Anh đồng ý với tôi: “Đúng là thơ Xuân Diệu có cái mâu thuẫn: mùa
xuân và tình yêu mâu thuẫn với chiều thu và đêm lạnh. Nhưng tuy không đi với
quần chúng, mình vẫn ghét bọn giầu sang và xã hội kim tiền. Mình đi tìm lối
thoát mà bế tắc. Nhưng nếu không cô đơn thì thoả hiệp, thoả mãn với xã hội
sao!”
Bỗng Xuân Diệu xoay ra nói đến cái chết của Nguyễn Bính. “ Nguyễn
Bính chết hồi Tết. Bất ngờ quá! Có lẽ do thiếu bồi dưỡng”. Anh tỏ ra rất lo lắng.
Tối 10 – 8 – 1966, tại 24 Điện Biên.
Xuân Diệu nói về tiểu sử của mình. Anh cũng nói nhiều về cái tôi cá
nhân cá thể (individu) và về Thơ mới.
“Đời ông tôi ở trong tứ hộ nổi tiếng hay chữ ở Hà Tĩnh. Bố tôi là một
ông tú kép, có vợ, vào Bình Định lấy bà hai làm nước mắm ở Gò Bồi. Ông cụ
học chữ Tây, đỗ primaire. Chỉ dạy học, không thích ra làm việc nhà nước và
không thích phải luồn cúi. Có học nghề thuốc bắc.
Mình học ở cha tính cần cù, lòng thương người, không thèm khát vươn
lên xã hội quyền quý.
1934 đỗ diplôme. 1935 ra Hà Nội học tú tài. Đỗ tú tài, học một năm
luật. Năm 1941 thi tham tá đoan. 1943 thôi làm đoan. 1944 tham gia Việt Minh.
Tuy có chân trong Tự lực văn đoàn, nhưng không tham gia tổ chức kinh tế với
cánh Ngày nay. Rất yêu quốc văn – Yêu quốc văn là có bao hàm lòng yêu nước
– vì tiếng Việt đương thời bị coi là tiếng vợ lẽ. ở trường học hồi ấy có ba môn bị
khinh bỉ: chữ Hán, tiếng Việt và Vẽ.
Rất thích làm thơ. Nhưng không évasion như Thế Lữ (tiên), Hàn Mạc Tử
(điên), Chế Lan Viên (ma), Huy Cận (siêu hình), Vũ Hoàng Chương (thuốc
phiện), Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Thứ (kín mít, cho chữ vào hũ, lắc rồi xếp
ra).
Nói Xuân Diệu là nói individu. Phạm trù individu tư sản thoát khỏi ý
thức hệ phong kiến là một tiến bộ, là dân chủ hơn so với tư tưởng trượng phu,
quân tử. Tất nhiên đói nghèo thì không đòi hỏi ý thức cá nhân được. Khi cá
nhân tách ra, tự riêng, tự phân biệt với đại gia đình phong kiến thì có vui nhưng
cũng có buồn. Tự biết mình, tự phân biệt mình với người thì cảm thấy cô đơn.
Ngày nay cũng thế thôi. Nhưng Xuân Diệu dừng lại ở đấy, không thoát ly và
vẫn lạc quan yêu đời, tuy cô độc. Vì vẫn bám lấy cuộc đời, không thoát ly nên
gặp cách mạng, theo cách mạng và làm thơ ngay.
Cái tôi Thơ mới như con bướm thoát xác. Lần đầu nó khám phá thiên
nhiên bằng con mắt tươi mới, không nhìn bằng ước lệ nữa – Thế Lữ vẫn chưa
thoát ước lệ.
Cơ sở xã hội của Thơ mới là tiểu tư sản, không phải tư sản.
Ông Trường Chinh nói với hoạ sĩ Lê Lam: “Đi qua sông Hồng, tôi nhớ
bài Tràng Giang của Huy Cận. Ông nói với Huy Cận, khi làm bài Là thi sĩ, tuy
có nói đến bài Cảm xúc của Xuân Diệu, nhưng không phải để đả Xuân Diệu mà
để vận động giác ngộ một người lúc đó là cai khố đỏ. Anh này mê thơ lãng mạn.
Có ba yếu tố tạo nên thơ Tố Hữu: Tố Hữu, cách mạng và Thơ mới. Tố Hữu chịu
ảnh hưởng thơ Xuân Diệu rất rõ “Ôi cô đơn thấm lạnh tâm tình!”, “Xuân bước
nhẹ trên cành non lá mới”...v.v...
Xuân Diệu khi tìm thấy cái tôi của mình thì đâm sợ, muốn thoát mình.
Bài Viễn khách, Lời kỹ nữ là thế. Kỹ nữ là Xuân Diệu. Xuân Diệu tự đặt mình
vào thân phận người bị dập vùi. Người con gái khổ mà không gào to như anh
đàn ông, tuy ít bị tình phụ hơn mà gào rất to, như Musset.
Tình yêu là cái tuyệt đích nên không bao giờ thoả mãn. “Nous mettons
l’infini dans l’ amour. Ce n’est pas la faute des femmes” Anatole France nói
thế. Vì thế nous souffrons. Đó là Xa cách, là Hi mã lạp sơn...
Thế Lữ nói được cái buồn “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Huy
Thông thì romantique rất rõ: quay về quá khứ, về cái orient. Có hình ảnh cái
lầu La mã, cái rèm La mã. Mấy câu đầu của Tiếng địch sông Ô, Con voi già...
mở rất rộng, hay... Thơ Xuân Diệu cũ mà mới. Bài Viễn khách: “Đang lúc
hoàng hôn xuống, là giờ viễn khách đi”, có hơi hướng câu thơ cổ “Đương quân
hoài quy nhật, Thị thiếp đoạn trường thì”. Bài Nhị hồ, Vội vàng, Đây mùa thu
tới cũng thế, vừa cổ vừa kim. Tả mùa thu mà không hoàn toàn tàn lụi. Mùa thu
tropical, nhiệt đới. Baudelaire ca ngợi Phi Châu nhiệt đới. Mình ở vùng nhiệt
đới sao không ca ngợi cây cỏ tropical của mình. Còn cái cô đúc của thơ Xuân
Diệu thì bắt gặp Đường thi và Baudelaire, bắt gặp Symbolisme.
Cái quẫy của cá nhân thực ra có từ Hồ Xuân Hương, Lâm Đại Ngọc,
bắt đầu biết yêu theo kiểu cá nhân (mình – ta) nên buồn. Lâm Đại Ngọc chôn
hoa tức là chôn mình. L’Isolement của Lamartine, René của Chateaubriand là
thế...
Hàn Mạc Tử gắn với đời hơn Chế Lan Viên. Chế Lan Viên không được
độc giả chú ý lắm vì không nói gì liên quan đến họ.
Tình yêu phải là một phạm trù riêng. Không cứ phải nói tình yêu gắn
với sản xuất, chiến đấu. Cứ nói riêng nó thôi cũng được, miễn là lành mạnh.
Phải nâng tình yêu lên thành khái niệm. Hiện ta vẫn là giai cấp tự tại, tự nó,
chưa có ý thức về tình yêu. Ta lấy vợ mà chưa yêu. Chung thuỷ là vĩ đại thật,
song chưa có khái niệm về yêu thật sự. Yêu thật sự là mình với ta”.
Xuân Diệu xoay ra nói kinh nghiệm làm thơ.
“Làm thơ không chỉ có ý là được. Phải có xương thịt vật chất. Như cứ
lấy giọng rê rê rê rồi bắt gặp một nét nhạc thật sự. Có khi vì tìm được một câu
thơ, một điệu thơ nào đó mà làm thành cả một bài thơ. Khi nẩy ra một điệu nào
đó thì nhất định phải làm theo cái điệu ấy. Y như yêu mà chỉ có khái niệm trừu
tượng thì không phải là yêu thật. Phải trông thấy một người con gái, có cái mũi,
cái tai như thế nào đó rồi mới hình thành tình yêu...”
Ngày 4 – 7 – 1967. 24 Điện Biên
Xuân Diệu nói say sưa về cái anh gọi là “chiến thuật” nói chuyện với
quần chúng sao cho hấp dẫn. Từ bố trí nơi nói chuyện, ánh sáng thế nào, cửa
đóng cửa mở, đến xếp ghế ngồi, cự ly mùa hè, mừa rét... Và đối với người nghe
thì phải làm cho họ không chán. Anh nói: Phải “chim” quần chúng. Họ mê rồi
thì tha hồ kéo họ đi, đi Tây Bắc, Tây Nguyên, đâu cũng được.
Khi trời tối, phải nói ngầm, thì ví với vợ chồng ban đêm nói chuyện với
nhau, vợ nói anh chồng thỉnh thoảng phải ờ ờ lên để chứng tỏ chưa ngủ, vẫn
nghe. Khi nói một chập , quần chúng tỏ vẻ chán, thì lại hỏi: “Phành phạch trong
lòng đã chán chưa?”. Khi nói muộn quá thì ví cái tình của người ngoài 40 tuổi
như nắng quái chiều hôm còn mạnh hơn ban trưa, “vì yêu một cách truy lĩnh...”
Nhưng mở đầu thế thôi, chủ yếu vẫn nói về kinh nghiệm làm thơ. Anh
nói có yếu tố vô hình trong đời sống và trong thơ: “Nhìn một người yêu cụ thể
có mặt mũi, tóc tai, song khi yêu thì cảm thấy được một cái gì đấy khái quát và
vô hình, thí dụ một tâm hồn trong trẻo, tươi mát. Nhà thơ có khi tả một buổi
sáng mùa xuân, đi hái một bông hoa. Nhưng cái hữu hình đó lại cốt để diễn đạt
cái vô hình: chẳng hạn cái cảm giác thoải mái tươi mát của tâm hồn...
Cái vô hình còn là cái nhân tố không thú nhận inavoué. Trên đời, có
anh cứ nói loanh quanh mãi, thực ra có khi chỉ cốt đến để xin một bữa cơm. Cái
inavoué có khi rất tầm thường, có khi rất cao cả. Giảng thơ phải biết cái
inavoué, cái vô hình đó và căn cứ vào cái cái hữu hình mà phân tích ra.
Làm thơ cốt cho hay, phải có tài có sắc mới tồn tại được. Cần gì những
thành kiến lung tung. Cốt quần chúng đọc thơ, cốt hai trẻ yêu nhau, còn cô, dì,
chú, bác nói ra nói vào thì cần gì!
Nghiên cứu Xuân Diệu, phải nghiên cứu yếu tố thời gian. Xuân Diệu
luôn luôn băn khoăn về thời gian. Yêu cuộc sống, tất băn khăn về thời gian.
Con người sinh ra từ thời gian. Mà thời gian có không gian của nó. Tính toán,
cân nhắc điều gì, Xuân Diệu đều nghĩ đến cái chết. Sợ chết thì phải làm thơ cho
nhanh. Mẹ tôi mất, mẹ Huy Cận mất. Các bà ấy từng có lúc sống thật trên đời
không nhỉ? Nếu không tập hợp, giữ gìn di vật còn lại thì có thể là chưa bao giờ
từng sống.
Trong đời người ta có những phút giao cảm – gọi là giao cảm mới thật
đầy đủ, đầy đủ hơn là nói yêu. Có khi giao hợp, hôn nhau mà không giao cảm.
Có những lúc giao cảm thế mà sau thôi không yêu nữa. Là vợ chồng rồi có khi
mất cái phút ấy, thậm chí không lấy nhau, có khi trông thấy nhau cứ lạnh như
tiền. Lạ lắm ! Tình yêu muốn vô biên song cuộc đời, lòng người nó hữu hạn. Và
chết là hết cả. Như là cái tangente giữa plus infini và moins infini. Đó là nói
tình yêu bách niên giai lão. Có nhiều khi thay đổi người yêu. Vậy thì phải hồi
tưởng lại cái phút giao cảm ấy. Vợ chồng sở dĩ gắn bó với nhau là do họ nhớ
lại những phút giao cảm của tâm hồn ngày xưa. Kỷ niệm do đó rất quan trọng
trong đời sống tinh thần. Hiện nay, nhiều khi người ta sống chỉ để ăn uống thôi,
họ không có đời sống tinh thần. Tôi làm thơ để đem đến cho họ cái khoái lạc
tinh thần.
Thơ tình của tôi luôn là sự hồi tưởng lại cái phút giao cảm ấy, trong
thời điểm ấy, ngày ấy, buổi chiều ấy, con đường ấy, cái chỗ cong cong ấy ta đã
ngồi bên nhau (không gian có tính thời gian). Bây giờ đi qua một mình, muốn
dựng bia kỉ niệm ở chỗ ấy của cái tình đôi ta.
Pháp có ba bài thơ nói về kỉ niệm cũng nói đến cái không gian rất cụ
thể:
Tristesse d’ Olympio (V. Hugo)
Le premier regret (Lamartine)
Premier souvernir (Musset)
Có lúc mình muốn để dành tiền, nhưng nghĩ lúc chết thì có ý nghĩa gì.
Có lúc muốn ăn thêm một miếng thịt, nhưng ăn thêm rồi cũng chết. Để miếng
thịt ấy cho đứa em ở xa, gọi về cho nó ăn.
Tôi định lúc sắp chết sẽ viết tất cả những mémoires xấu của mình,
những cái tầm thường của mình. Hiện nay người ta ít viết về cái đó.
Làm thơ, mỗi bài thơ nó có cái vị riêng của nó như thịt bò thì phải làm
món ấy, cái đó phải cho vào nước chấm thịt vịt chứ cho vào nước chấm thịt gà
thì hỏng. Cho nên có tứ thơ nghĩ ra mà phải để dành đó đến lúc làm bài thơ
đúng món mới đưa vào được”.
Ngày 1- 12- 1981, 24 Điện Biên
Tôi đến thăm Xuân Diệu, anh mừng lắm: “Tưởng Mạnh giận mình
không đến nữa. Hôm ấy mình nóng, nói sẵng. Tưởng Mạnh giận”.
Thì ra anh hối hận vì bữa ấy tôi đến mời anh tới dự một cuộc hội thảo về
giảng thơ Hồ Chủ Tịch (anh Hoàng Dung tổ chức, nhờ tôi đến mời Xuân Diệu),
anh đã trả lời một cách thẳng thắn và gay gắt: “Còn có gì mà nói nữa về thơ Cụ
Hồ? Mình không đi đâu! Bây giờ mà còn bình với giảng về thơ Cụ Hồ là nhảm
nhí! nhảm nhí!”
Giờ thì anh rất niềm nở tiếp tôi.
Lần này anh nói nhiều về sự hình thành hồn thơ anh.
“Ông bố tôi sớm giác ngộ tân học. Ông tự học tiếng Pháp. Mua từ điển
học, ông còn tự học làm thuốc nữa. Sau ông xin được một chân dạy chứ Hán ở
Collège Quy Nhơn, lương 18 đồng. Một loại chargé de cours thôi. Mình học bố
đến hết cấp I, đỗ Certificat còn thiếu một tuổi, phải học lại. Sau lên học collège.
Đỗ diplôme năm 1934. Đúng lúc khủng hoảng kinh tế. Định đi thi làm thừa
phái nhưng không có điều kiện. May sao được gọi ra Bắc kỳ học trường Bưởi.
Biết Hà Nội. Biết Bắc Kỳ. Thấy được mùa thu và cái lạnh Hà Nội. Rất
thích, rất mê thiên nhiên Bắc kỳ. Mình dường như được bừng tỉnh trước vẻ đẹp
của đất trời, sững sờ trước những cành đào nở hoa ở chùa Sinh Từ... Theo tôi
romantisme chỉ có thể phát sinh, phát triển ở Bắc kỳ với tác động của thiên
nhiên bốn mùa phong phú. Hoa, hoa rất đẹp. Trại hoa Thuỵ Khuê, gần Bưởi.
Mùa thu Hà Nội tuyệt đẹp, lạnh hơn bây giờ. Trời trong, cao, nắng vàng...
Thiên nhiên Bắc kỳ, hoa Bắc kỳ đã đẻ ra văn Khái Hưng, Nhất Linh và thơ Thế
Lữ.
Thiên nhiên đi vào thơ tôi, có cảnh mùa thu, mùa đông, mùa xuân của
Bắc kỳ. Còn mùa hạ thì có trăng và biển Quy Nhơn. Gió nồm Quy Nhơn có một
cái gì rất sắc dục, rất charnel.
Mình học hết 2 ème secondaire thì Huế mở ban tú tài. Bèn vào học
2ème secondaire ở Huế. Thế là lại biết Huế. Mình ra Hà Nội đúng vào cái tuổi
l’âge de puberté, thấy có một cái gì rất sắc dục trong thiên nhiên và ở con
người. Huế cũng rất đẹp, cũng rất tình. Đặc biệt có cái lassif sắc dục rất Huế,
nhưng kín hơn. Giọng hò Huế mê ly...
Năm 1940 mình thi tham tá đoan và vào làm việc ở Mỹ Tho. 1943 Huy
Cận đỗ kỹ sư canh nông, mình xin thôi việc ra Hà Nội, học luật, ở với Huy Cận
ở 61 Hàng Bông. Phong trào Việt Minh phát triển. Huy Cận gặp Nguyễn Thành
Lê. Lê đưa Huy Cận vào Đảng Dân Chủ (Dương Đức Hiền lãnh đạo). Đảo
chính Nhật. Huy Cận gặp Dương Đức Hiền ở Hà Đông, được đưa lên chiến khu
hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Khoảng 17- 8 gì đó mình vào Hà Tĩnh lo
thu xếp hai bên gia đình (của mình và Huy Cận) để Huy Cận yên tâm đi chiến
khu – nếu cách mạng không thành công thì có thể phải đi xa (sang Tầu chẳng
hạn). Ngày 20 – 8, mình trở ra Hà Nội giữa cảnh cờ đỏ sao vàng bay trên các
mái nhà...
Mình lúc đầu ở đảng Dân chủ và tham gia quốc hội. Huy Cận làm bộ
trưởng. Lúc ấy mình không ưa Nguyễn Tuân và Nguyễn Tuân cũng không thích
mình. Anh ấy vẫn khăn xếp, áo gấm, rất chướng. In Nguyễn, đề “Kính tặng
Tôi”. Mình viết bài trên Tiên phong (kí tên Triều Mai) chế giễu: Nguyễn Tuân
tự đặt mình lên bàn thờ rồi sì sụp lễ bái mình. Kể cũng hơi hẹp hòi. Mình còn
viết bài phê phán Nguyễn Hải Thần là đứa con đi xa về chửi mẹ nó, không nhận
mẹ nó. Rồi làm thơ đả bọn Quốc dân đảng. Khi bọn Quốc dân đảng tổ chức
biểu tình “tổng đình công” chống tổng tuyển cử, mình dắt cái xe đạp
Hirondelle đi ở phía sau. Mình bảo đồng bào đừng đi theo bọn phản động.
Chúng nó thấy thế định bắt mình, mình vội bỏ xe đạp lẩn đi. Sau có người đem
xe đạp trả cho. Mình còn bảo đồng bào tập trung ở Bắc Bộ phủ để hoan nghênh
chính phủ lâm thời. Mình lúc ấy chỉ là Việt Minh, ở Văn hoá cứu quốc, chẳng
phải đảng viên. Cứ tự động, tự phát thế thôi”.
Rồi mình làm bài Ngọn quốc kì, ca ngợi cờ đỏ sao vàng. Nguyễn Huy
Tưởng ở văn hoá cứu quốc (đóng ở trụ sở Hội khai trí tiến đức, nay là Cục
Hàng không) commăng làm để đối lại với bọn phản động tung ra đủ thứ cờ táp
nham: sao trắng, ba gạch...
Có người cho mình là cơ hội chủ nghĩa. Báo Thiết thực của Quốc dân
Đảng (cánh Ngày nay) vẽ hình chế giễu: Cụ Hồ đứng như con cò câu cá ở suối.
Xa xa, Huy Cận tắm. Còn mình là con chim đầu xù ngồi trên cây hót. Mình lấy
làm tự hào về bức tranh này.
“Năm 1946, mình ở trong một đoàn văn nghệ đi vào Buôn Ma Thiêng,
Củng Sơn, đi sau đoàn Nguyễn Tuân. Trở ra Thanh Hoá, lúc Hồ Chủ Tịch đang
ở đó. Bác định lập một chiến khu ở Thanh Hoá. Bác ở một cái nhà Xéc (câu lạc
bộ) gì đó. Hôm sau bọn Pháp bắn súng vào cái nhà ấy. Hôm trước Bác nói
chuyện với đồng bào. Người ta chen nhau xem Hồ Chủ Tịch, có người bị gẫy
tay mà vẫn phấn khởi.
“Huy Cận thì theo chính phủ đi Hà Đông. Mặt trận Trúc Sơn vỡ, lại đi
Sơn Tây rồi lên Việt Bắc, ở Bắc Cạn thì phải. Mình cũng đi Bắc Cạn. Nó nhẩy
dù Bắc Cạn. Mình về Đại Từ. Rồi đi Phú Thọ, qua Bắc Giang, từng ở chỗ
Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố. Nhưng sau lên ATK làm đài phát thanh, trong khi
Tố Hữu, Nam Cao làm báo Cứu quốc”.
Nói đến đấy, Xuân Diệu dừng lại uống nước. Anh nghỉ hơi một lúc. Tôi
nhân đấy gợi ý anh chuyển hướng sang nói về thơ của anh.
Nói chuyện thơ, anh càng tỏ ra sôi nổi hơn:
“ Huy Cận là xúc giác
Xuân Diệu là mũi: khứu giác: “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” –
Mình học Baudelaire.
Chế Lan Viên không có da, không có mũi.
Bài “Mông lung” rất Xuân Diệu. Có cái không thể xác định rõ ràng là
linh hồn hay xác thịt. Đằng sau linh hồn là cái nền xác thịt, sắc dục. Hít thở xác
thịt của vũ trụ, cảm thấy mùi da thịt của..., không biết của ai, song rõ ràng là
cảm thấy cái mùi vật chất da thịt của những Dương Quý Phi, của những người
đẹp tự thuở nào. Hương da thịt tẩm trong vũ trụ. Và nhớ, không biết nhớ ai,
nhưng nhớ da diết. Thơ Xuân Diệu cảm và diễn tả được cái không rõ mà rất rõ,
cái nửa linh hồn, nửa xác thịt, dâm mà trong sạch, trong sáng. Nó là cái rạo
rực, cái uể oải của Huế, cái hồng hào của Hà Nội, cái charnel trong gió nồm,
trong gió biển Quy Nhơn...
Thơ Xuân Diệu tả rất giỏi cái nước đôi:
Mưa trưa và chiều tà
Suy và thịnh
Lặng lẽ và động.
Có một cái gì đấy mà Thế Lữ không cảm nhận được. Chỉ Xuân Diệu,
Huy Cận mới có cái antenne ấy để bắt được những sợi giây vô hình của thiên
nhiên. Thơ Xuân Diệu là vũ trụ sắc dục, charnel. Là cái mê ly, là tạo
atmosphère chỉ bằng vài câu, vài chữ.
Thơ Xuân Diệu mở đầu đột phá ngay, ào ra ngay. Nhiều vần sắc. Mãnh
liệt. Đột xuất. ào ào.
Bài Xuân không mùa. Sentir được phong cảnh. Ngồi ở hồ Tĩnh Tâm,
Huế. Có âm vang của Huế, đẹp, kín, không sắc dục lộ liễu như thơ làm ở Hà
Nội.
Mình có một bài inédit nói về vũ trụ là xác thịt: thịt là hoa hồng, máu là
hoa nhài, xương – liễu, mày – lau, mắt – hồ.
Thế đấy, thơ Xuân Diệu là thế. Frisson da thịt, sensation, antenne cảm
nhận vũ trụ da thịt, hít thở da thịt thiên nhiên. Thơ có mũi.
Anh ngừng nói, và bỗng chuyển sang phàn nàn về đời sống. Hôm ấy là
mồng một tháng chạp năm 1981. Ôi những năm 80 của thế kỉ trước! Đời sống
quá khổ cực. Mà Xuân Diệu thì quan niệm cuộc đời rất cụ thể: Đối với anh,
cuộc đời là bán một cuốn sách cũ cho đồng nát, phải giữ lại cái bìa cứng và mấy
trang giấy trắng; là ăn món gì phải tính toán vừa bổ vừa rẻ, là thịt chó, thịt lẫn
xương 4 đồng rưỡi một lạng, thịt nầm 6 đồng một lạng; là ngồi nói chuyện thơ
mà vẫn phải chú ý theo dõi con gà mái đẻ. Nó có tật ăn trứng. Thành ra nó đẻ,
nhà thơ phải nhanh tay vồ lấy...
Vì thế anh rất bực bội: “Xã hội bây giờ cứ bắt người ta làm thiên thần,
nên giờ người ta làm con vật. Bắt làm ange mãi, giờ người ta làm bête. Cách
mạng chỉ tạo ra vinh quang thôi ư? Phải ăn nữa chứ! Vinh quang trong đói
khát mãi sao!”.
Ba giờ chiều, ngày 12 – 12 – 1981, 24 Điện Biên
Trời rét. Khô ráo. Cổng ngoài nhà anh (và Huy Cận) dạo này có thêm
liếp che bên trong song sắt cho kín đáo hơn. Chỉ khoét một lỗ vuông. Cửa sổ
phía trước thấy đóng. Tưởng Xuân Diệu không có nhà, tôi bỏ đi, nhưng tính
toán thế nào lại quay lại và cứ đẩy cửa vào. Cửa sổ phía đông mở, nhìn vào thấy
cửa buồng không khép, biết có người ở nhà.
Tôi vào phòng, thấy Xuân Diệu đang nằm ngủ, đắp chiếc chăn len hoa.
Tôi cảm thấy phiền, muốn quay ra. Hà Vũ gọi. Xuân Diệu trả lời, giọng hơi gắt:
“Cái gì thế? Ai thế?”. Sau thấy tôi, anh vội mời vào.
Tôi nói: “Chết, anh đang ngủ, tôi không biết”
Anh nói: “Không sao, chả mấy khi Mạnh đến”
Có lẽ anh nghĩ, từ ngày anh đi Paris về, bây giờ tôi mới đến, phải có
chút gì của Paris để đãi tôi. Anh cho ăn phomát, uống rượu vang đỏ, hút thuốc
lá Mỹ, lại cà phê nữa.
Anh phàn nàn: “Cuộc sống giờ khổ cực quá. Xã hội bây giờ như nhà
không có chủ” – Anh lè lưỡi, nhắm mắt, lại lè lưỡi – Sợ quá!”
Anh khoe tập giấy ghi lời cảm ơn của những nơi anh vừa làm việc ở
Pháp, và đưa tôi xem bản chương trình làm việc ở Paris 7, Sorbonne, Nice và
một tờ báo Đoàn kết của Việt kiều.
Anh nói có một người đàn bà Pháp ở Alger tên là Francoise Roger tập
thơ Xuân Diệu như là tập Kiều. Đàn bà Pháp mà rất giỏi tiếng Việt. Bà ta lấy
một người Brasil. Bà ta cóp nhặt bốn câu thơ Xuân Diệu ở bốn bài thơ khác
nhau, rồi ghép lại thành một bài tứ tuyệt. Và vận dụng thơ Xuân Diệu vào cuộc
sống. Thí dụ: chạy vội theo tầu điện: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!”. Bà
ta theo hồi giáo, hôm nay ăn thịt, ngày mai ăn chay: “Anh ơi anh, em rất sợ
ngày mai”... Francoise Roger coi thơ tình Xuân Diệu hay hơn cả thơ tình
Musset.
Anh chê tập tiểu luận của Lê Đình Kỵ viết về Tố Hữu: “Huy Cận đọc
cho biết chứ tôi chưa đọc. Khen Tố Hữu thì cứ khen, việc gì phải chê Thơ mới.
Làm gì mà phải hạ nhân cách. Hàn Tín luồn khố để làm đại tướng, để làm
vương sau này. Lê Đình Kỵ buồn khố để nó cho vào Sài Gòn gần vợ à? Hay nó
không in sách cho? Anh Lý hải Châu rất tốt . Anh ấy bảo Trương Chính, trong
bài giới thiệu Tuyển tập Hoài Thanh, đã tán thành Hoài Thanh phê phán Thơ
mới. Anh ấy cắt bỏ đi. Tôi bảo anh Châu, sao anh không cứ để nguyên như thế.
Anh làm thế là anh cứu Trương Chính đấy chứ! Thơ mới không cần thế đâu. Tôi
chả dại đi bênh Thơ mới làm gì, nhưng mà tôi cứ đi bình những bài Thơ mới
hay!
Rồi anh nói tiếp vẻ bực bội: “Ta cứ có cái lối bế quan toả cảng, không
cho ai đi ra nước ngoài. Như đứa trẻ cứ bịt mãi, che mãi, da thịt nó vẫn cứ lòi
ra. Tôi còn đánh du kích Khổng Tử nhiều. Không biết nếu chỉ có nước mình mà
không có các nước khác thì ra sao? Nguy thật! Không qua tư bản chủ nghĩa,
thiệt nhiều quá! Không cho nói yêu, nói hoa lá thì đợi đến thế giới đại đồng mới
nói à? Thế trước cách mạng tháng Tám, ai nói yêu, nói hoa lá đều là sai cả à?
Là cản trở cách mạng à?”
Tôi cứ cặm cụi chép mấy bản nháp thơ của anh thời Thơ mới, anh nói:
“Mạnh hãy tạm xếp cái này lại để viết bài văn xuôi cho Tuyển tập Xuân Diệu
đã. Mà phải vay tiền Tuyển tập Nguyễn Tuân đi mà bồi dưỡng để viết - lấy
ngắn nuôi dài”.
Rồi anh xoay ra nói về lớp thơ trẻ: “Bọn làm thơ trẻ bây giờ ngu dốt
quá! Nó như cái ôtô lên giây cót. Hết giây cót là không chạy được nữa. Như
những cô gái tuổi dậy thì, ra vẻ lắm, oai lắm – anh khuỳnh tay, vênh mặt, làm
bộ kiêu ngạo - đến lúc có chồng, có con là thôi hết”.
Trưa ngày thứ sáu 25- 12 – 1981, 24 Điện Biên
Tôi đến Xuân Diệu để báo hoãn cuộc gặp mặt với anh vào sáng thứ bẩy
26 – 12. Cổng ngoài đóng. Nghe tiếng, anh chạy ra. Không có việc gì phải vào,
sợ mở khoá lôi thôi, tôi nói với anh một câu rồi từ biệt. Anh thò tay qua lỗ
vuông khoét vào cái phên nứa che ngoài chấn song cửa, bắt tay tôi. Anh nói: Ca
dao Khu Năm có câu:
Thương em, anh đút cái ấy qua rào,
Đút qua đút lại gai nó cào rách da
Nói xong anh cười ha hả.
Chủ nhật, ngày 31 - 1 – 1982, 24 Điện Biên.
Tôi đến khoảng 4 giờ chiều. Xuân Diệu đang làm việc ngoài sân sát cửa
sổ, trông ra cổng, dưới bóng hoàng lan. Bàn ghế làm việc bằng trúc.
Như mọi lần, anh tiếp tôi vồn vã. Tôi nói: “Anh đang làm việc, bận”.
Anh gạt đi: “Làm việc thì bao giờ mình chả làm việc”.
Tôi vào nhà. Huy Cận đang nói chuyện điện thoại ở phòng ngoài, một
lúc vào nói chuyện vụ đắm tàu chết người ở Quảng Ninh. Vớt xác khó khăn.
Người ta vớt đồ đạc, quần áo, hành lý chứ không vớt người: “Mình quá tin ở tư
tưởng thì thành thế đấy. Mình là Mácxít, coi ý thức do tồn tại quyết định, vậy
mà lại duy tâm. Duy tâm nên bây giờ chịu hậu quả, quy luật nó quật lại. Nhưng
thôi không nói chuyện buồn làm gì. Ta nói chuyện khác”.
Huy Cận đọc cho tôi nghe hai bài thơ anh mới làm.
Xuân Diệu giục tôi viết bài về văn xuôi của anh. Anh nói: “Mệt quá!
Viết khó lắm!, mệt lắm! Nhưng phải cố gắng thôi. Thời gian! Mình 67 tuổi rồi!
Trong ta có vàng, nhưng không viết thì vàng cũng không có thể khai thác
được”.
Anh lại nói kinh nghiệm rất cụ thể: “Viết mỗi trang phải chừa lề rộng.
Viết một mặt giấy thôi. Chừa lại một nửa để sau bổ sung. Không phải cứ viết
tuần tự từ đầu đến cuối. Cứ viết từng đoạn rồi lắp ráp, như chuyện cây tre trăm
đốt. Có khi cứ viết bừa đi rồi chế biến sau. Đánh thọc sâu vào hầm Đờ Cát. Một
mũi thọc sâu, bắt lấy Đờ Cát đã, rồi quay ra giải quyết bọn còn lại không khó
gì lắm”.
Anh mời tôi uống hai ba thứ rượu vang của Pháp, Hung, Bungari. và hút
thuốc lá ngoại.
Anh phàn nàn có nhiều việc không đáng phải làm mà cứ phải làm, mất
bao nhiêu thì giờ – những việc linh tinh về sinh hoạt.
Anh lại nhắc tôi phải ăn uống cho tốt. Và động viên: “Chúng mình còn
được người ta giao việc cho mà làm, thế là còn hơn nhiều người không có việc
gì mà làm”.
Anh chê cuốn sách của tôi viết về thơ Hồ Chủ Tịch, bữa trước tặng anh:
“Bám vào Sóng Hồng nhiều quá và sao cứ phải gò thơ Bác vào hiện thực xã hội
chủ nghĩa làm gì! Thế chỉ hiện thực xã hội chủ nghĩa mới có giá trị sao? Đã
đến lúc ai cũng phải lột trần truồng cả ra mà xem xét bình đẳng như nhau”.
Không hiểu sao câu chuyện lại xoay sang Chế Lan Viên lúc nào không
biết. Anh nói: “ Nhà văn có tri thức, có văn hoá cao là Nguyễn Đình Thi và
Huy Cận. Chế Lan Viên chỉ tài chế biến ngay những sách vở đọc được, dùng trí
thông minh mà vận dụng ngay. Chỉ có ngọn, chưa có gốc, có nền. Cứ phân tích,
xé chẻ ra, thiếu tổng hợp. Chỉ có cái gì là tổng hợp mới còn lại lâu dài.
Lối viết của Chế Lan Viên là phải dựa, phải tựa vào một cái gì đối lập,
phải phê phán, đả kích nó thì mới đưa ra cái chính diện. Không có cái gì để mà
đả thì không viết nổi.”
Anh tán thành ý kiến của tôi là cần biết thật tỉ mỉ về tiểu sử của anh. Và
anh bắt đầu thuật kể. Anh nói, bà má của anh đã có một đời chồng trước khi lấy
ông thân sinh anh. Bà là người không chịu khó làm ăn. Khi anh lên hai tuổi thì
bà cả vào. Bà cả (anh gọi là mẹ già) chịu khó làm ăn tần tảo. Má anh không ở
được, phải đưa anh về với bà ngoại ở Gò Bồi. Năm anh sáu, bẩy tuổi gì đó, bố
anh đưa anh về Quy Nhơn ở với ông và bà cả “cho khỏi hư hỏng”. Anh phải xa
má từ đó. Má anh sau tập kết ra Bắc ở với anh. Bà mất năm 1966. Bà cả sinh
con trai. Nó kém tuổi anh nhưng anh vẫn phải gọi nó là anh. Thằng “anh” nhỏ
này hơi một tý là mách mẹ nó. Nó còn đánh anh nữa. Hồi sang Pháp, phát biểu
ở Paris 7, anh nói: “Nhờ bị thằng em (thằng “anh” nhỏ) đánh mà tôi biết thông
cảm với những người bị áp bức”. Anh còn phải xách giỏ đi chợ, rất sợ gặp bọn
bạn học, nhất là con gái, con những ông Ký, ông Phán. Nhiều khi phải nép vào
hàng rào, chui vào bụi cây, nhưng không tránh thoát.
Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu được đưa vào Quốc hội. Tháng 5 –
1946, được cử vào phái đoàn Phạm Văn Đồng - đi Paris (hội nghị
Fontainebleau) kháng chiến toàn quốc, anh lên Việt Bắc, vào Ban chấp hành
Hội văn nghệ. Anh tự thấy có một cuộc thức tỉnh về quần chúng. Anh nói: “Bài
Bầm ơi! của Tố Hữu ảnh hưởng lớn tới hướng đi về thơ của mình. Bài Bầm ơi!
là một sự phát hiện về nhân dân, được viết một cách nhuần nhị. Một sự chuyển
hướng về tình cảm và về ngôn ngữ thơ. Rồi mình đi nói chuyện. Cũng là một
cách quần chúng hoá, vì phải nói sao cho quần chúng hiểu. Rồi tham gia phát
động quần chúng giảm tô ở làng Còng, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá và làm thơ về bần
cố nông”.
Sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu sáng tác nhiều. Riêng thơ tình
của anh, tính cho đến lúc này là 450 bài, cộng với các loại thơ khác, phải ngót
1000 bài. Anh nói: “Nếu cần chọn một bài tâm đắc nhất, mình chọn bài Biển.
Hình ảnh biển từ nhỏ đã đi vào mình. Biển đau thương, bể khổ trong thơ ca
truyền thống và thơ Xuân Diệu. Vậy mà nay biển vui, đầy sức sống. Cách mạng
và cuộc đời đã đem lại cho mình một tâm hồn tươi mới”.
Xuân Diệu nói tiếp về những nhân tố tạo nên hồn thơ anh: “Có lý do
năng khiếu bẩm sinh. Có lý do ở sức yêu mến cuộc đời. Sống hết mình, toàn
thân, toàn trí, toàn tâm, toàn giác quan. Mình cảm thụ đời rất cụ thể, bằng cả
xương thịt, da, mũi, mắt, tai và hồn. Mình nói chuyện, điệu bộ, nét mặt nhăn
nhó buồn cười lắm, chụp ảnh mới biết. Nghĩa là rất cụ thể. Cả con người nói.
Toàn thân tham gia vào câu văn, không phải chỉ có ý mà cả luồng cảm xúc tràn
vào bài văn. Cho nên sáng tác là sống cao độ nhất cá nhân mình. Vì thế mình
ham sáng tác nhất, dành nhiều thì giờ cho sáng tác.
Còn có lý do cần cù học tập nữa. Mình như là bà già, cái gì cũng nhặt
nhạnh, tích luỹ. Đứa cháu đi đâu về kêu đói, bà đã có ngay cái cho cháu ăn rồi.
Do viết thư nhiều, tự phân tích mình, dần dần mình viết được văn xuôi.
Do nói chuyện nhiều, phải lập luận, phải thuyết phục, phải làm cho
người ta đồng cảm, mình viết được phê bình văn học.
Xuân Diệu tự cho là mình dại – dại mà lại thành khôn. Anh nói: “Do
yêu cuộc sống nên tôi dại. Dại mà khôn. Nghĩa là được sống có ích cho đời, cho
mình, được sống đầy đủ từng giây, từng phút của mình. Tôi ít đi tán chuyện, tán
chuyện rồi nói xấu người này, người khác. Mình cũng chẳng cao đạo gì. Để thì
giờ đọc và viết”.
Anh phàn nàn: “Cuộc sống của ta chật hẹp, gò bó quá! Con người ta
bao giờ cũng sống một cách toàn diện, họ vẫn phải ăn, ngủ, giao hợp. Mình thu
hẹp thơ tình yêu lại thì người ta sẽ chỉ có giao hợp, giao hợp, giao hợp mà
không có tinh thần nữa. Không có tình yêu giữa hai con người thì chỉ còn là
quan hệ giữa hai con vật”.
Thấy trời đã xâm xẩm, tuy muốn tiếp tục nói nữa, nhưng thông cảm với
tôi đi đường xa, anh giục tôi về kẻo muộn.
Ngày 14 – 2 – 1982, 24 Điện Biên
Trong lần gặp này, Xuân Diệu nói nhiều chuyện rất tỉ mỉ về thời thơ ấu,
thời học sinh của anh.
Anh nói: “Về tuổi thơ ấu, tôi chỉ mới nói một chút. Cần lắm. Phong phú
lắm. Tôi chưa viết hồi kí. Rất cần tự mình phân tích những kỉ niệm tuổi thơ, rất
có ích cho những thế hệ sau. Người ta sống hời hợt lắm, không sống sâu bản
thân mình, sống không có ý thức gì. Ta chỉ lo giáo dục tư tưởng. Tư tưởng là lí
trí thôi. Phải giáo dục tâm hồn, giáo dục tinh thần nhân văn, nhân bản, humain.
Tại sao chỉ nói bình thường mà vĩ đại mới quý, bình thường mà sâu cũng quý
chứ! Tôi mà chỉ được giáo dục về tư tưởng thì tôi sẽ là anh hùng, không phải là
Xuân Diệu, nhà thơ nữa.
Thời thơ ấu của tôi có biết bao nhiêu chuyện nó luyện cho cái vốn nhân
đạo, vốn yêu đời, yêu người, yêu hoa lá, biển, thiên nhiên...
Thuở bé tôi hiền lắm, chả bao giờ dám vùng lên. Cứ bị cái thằng anh
kém hai tuổi nó bắt nạt mà chịu. Tôi có thằng em ruột rất khổ, tôi đã viết trong
Phấn thông vàng. Nó lêu lổng, vagabond, bỏ nhà đi lang thang. Có một hồi đi
phu ở Tây Nguyên. Giờ nó làm báo ở Sài Gòn. Nó viết hồi ký. Giá Mạnh đọc
được thì tốt lắm, hiểu thêm thời thơ ấu của tôi. Nó sống lang thang, rách rưới
như ăn mày, nay gọi là “bụi đời”. Nó đặt tên tập hồi ký là “Gió cuốn bụi đời”,
ngờ đâu lại thành đúng nghĩa bụi đời ta vẫn dùng ngày nay.
Lúc nhỏ tôi ở với má ở Gò Bồi là chỗ làm nước mắm, trại làm nước
mắm của bà ngoại tôi. Sau ở với bố ở Văn Quang, cách Gò Bồi độ 10 cây số.
Thỉnh thoảng tôi có về bà ngoại. Tôi nhớ dì Bốn. Dì ấy thương tôi lắm. Trông
thấy dì ấy chắp nối những vụn nhiễu làm cái gối mà tôi thấy phong phú màu sắc
quá, rất thích.
Về sau khoảng 1939, tôi và Huy Cận có đến nhà anh Nguyễn Xuân
Khoát bói bài Tây. Anh Khoát bói cho tôi, nói số tôi luôn có “protection des
femmes” (được phụ nữ bảo hộ, bảo trợ) . Giờ tôi muốn tán phụ nữ, nịnh phụ
nữ, tôi cứ nói số tôi có “protection des femmes” .
Vì thế tôi được dì Bốn thương. Lúc dì ấy đi làm giúp cho mợ Mười tôi,
xuống đò qua sông, tôi cứ khóc gọi theo: “Dì đừng bỏ cháu đi lấy chồng!”
Thực ra có phải dì ấy đi lấy chồng đâu.
Tôi có một bà mợ, mợ Năm gì đấy cũng rất khổ. Một buổi nhà có khách,
mợ Năm ra ngoài uống nước hay ăn gì đó, thế mà bị cậu Năm mắng đuổi vào.
Mợ ấy buồn vì bị mọi người hắt hủi. Một mợ khác đẻ non rồi chết. Người ta nói
tại mợ ấy trông thấy một cái hoa chuối có trái nhưng cây lại chết nên không
thành được buồng chuối. Mợ ấy đẻ non và chết là vì thế.
Những người phụ nữ ấy gây ra ở tôi ấn tượng rất tội về nỗi khổ của
người đàn bà. Người đàn bà Việt Nam thời trước khổ lắm. Cái gương mặt của
họ nhìn thấy khó, thấy tối thế nào. Sau ngày giải phóng, tôi có về Plâycu, dì
Bốn tôi ở đó. Tôi có làm bài thơ về dì Bốn in trong Hồn tôi đôi cánh. Tôi định
làm một bài về mợ Năm, nhưng chưa làm xong.
Học xong cấp I, tôi lên Quy Nhơn học, ở nhà chú tôi. Chú tôi làm thư kí
đoan, thuê nhà ông Chín Cược. Ông Chín Cược giầu lắm. Nhà có vườn rộng.
Có cái giếng rất sâu. Có trồng thựơc dược, hoa to, cánh xoà - “Vàng tươi,
thược dược cánh hơi xoà”. Có hoa nhài bờ giếng. Đêm trăng hoa nhài rất đẹp
và thơm. Tôi như sống với những bông nhài. Tôi cũng thích hoa huệ. Huệ trong
Bình Định gọi là lan. Tôi làm thơ về hoa lan, nhành lan như vút cao, bông hoa
như chóng mặt vì ngợp. Sau vì muốn cả nước mọi miền đều thông cảm được, tôi
đổi thành hoa huệ “Nhánh vút làm cho bông huệ ngợp”. Huệ trong kia không
trồng ruộng hàng sào, bán hàng chục dò như ở Bắc.
Tôi thuở bé giỏi trèo cây lắm. Trong vườn ông Chín Cược có cây ổi,
mọc sau cái miếu, bên bờ tường đầy rêu trơn. Thế mà tôi theo một thằng bạn
tập trèo và trèo được. Trèo lên cao thấy cả một thế giới mới lạ. Có một cành ở
xa, có quả, tôi bò ra hái. Cả một thế giới mở ra với đứa trẻ. Tôi còn trèo me, lấy
được trùm me chín cho thím tôi muối và kho cá trầu, thú vị lắm.
Tôi rất mê cải lương. Hồi vào làm việc ở Mỹ Tho, tôi ở chính quê hương
của cải lương, quê của Phùng Há, Năm Phỉ. Năm 1932, cải lương ra Bắc. Một
gánh cải lương thỉnh thoảng ra diễn ở Gò Bồi, tại một cái chợ nhỏ. Mê lắm! Có
một thằng bạn, nhà hiếm, gọi là thằng Chó (tên thật của nó là Đức) rất có
duyên, hát cải lương rất hay. ở Gò Bồi, mỗi nhà có ghe bầu riêng, bán cá, bán
nước mắm. Hàng đắt là do người bán có duyên, khéo nói. Mẹ thằng Chó là
người rất có duyên.
Tôi cũng học hát cải lương. Có một cái gì ở trong linh hồn của điệu hát
nó rất trữ tình, rất lãng mạn. Hành vân, vọng cổ, tứ đại oán... mê lắm (Anh
dừng lại hát cho tôi nghe mấy câu tứ đại oán). Cải lương là tiếng nói của
individu, khi mới ra đời nó có cái mélancolie, một cái buồn khác cái buồn cũ.
Nó là lãng mạn chủ nghĩa, đi trước Thơ mới, Tự lực văn đoàn. Có cái đau xé.
Cái đau đúc lại, cô lại rồi xé ra. Cải lương có ảnh hưởng đến thơ tôi. Có cái xé
lòng. Đúc lại, không thèm buồn. Đúc lại trước khi nổ ra, vỡ ra.
Hồi đi học, tôi là một cây hát trong lớp. Thích hát. Ai bảo là hát ngay:
cải lương, ca Huế, sa mạc, cả hát Tây “J’ai deux amours”. Nhạc vào thơ tôi
ghê lắm. Nhạc mà vẫn giữ ý, giữ lời nói, không âm nhạc chủ nghĩa.
Tôi có một ông chú người Nghệ Tĩnh – trong Nam cũng gọi là người
Bắc – hát sa mạc, kể sa mạc, tôi mê lắm. Cứ phải lấy hai hạt thóc nhổ cho ông
năm cái râu hay năm sợi tóc sâu mới được ông hát cho nghe mấy câu sa mạc.
Nói đến đây Xuân Diệu chuyển giọng nói với tôi như là kết luận cho câu
chuyện của mình hôm ấy: “Mạnh phải tích luỹ cho mình cái vốn nhân bản. Cái
đó quyết định nội dung viết của mình. Còn kiến thức thì cứ tích luỹ, thu nhận
dần dần. Cái chính là phải có vốn nhân bản, cái humanisme, thì sẽ làm ăn được
nhiều. Đó là cái vốn để viết lâu dài.
Tôi không thích giải thích nhà văn, nhà thơ bằng môi trường. Môi
trường không quan trọng gì lắm. Cái quan trọng là khiếu bẩm sinh, cái chất
người của nhà thơ, có cần gì môi trường. Tại sao bao nhiêu người cùng môi
trường mà không phải ai cũng thành nhà thơ?”
Anh tiễn tôi ra cửa. Vừa đi vừa than phiền: “Bán óc giờ rẻ quá! Mà
không ai có tiền mua. Mà mình cũng chả có gì bán ngoài cái đó. Nhưng thôi,
mỗi người sinh ra thế nào, bản chất thế nào thì cứ thế mà sống thôi. Còn
chuyện đời, chuyện chính trị chẳng biết thế nào, mặc!”.
Ngày 24 – 5 – 1982, 24 Điện Biên
Tôi đến Xuân Diệu đúng lúc anh tiễn khách ra cổng. Anh nói với tôi:
“Nào vào mà nghe người ta khen! Nguyễn Cao Luyện khen lắm (bài Thương
tiếc nhà văn Nguyên Hồng, đăng trên báo Nhân dân).
Anh vội đưa tôi vào nhà. Anh bóc bánh bích quy. Pha cà phê. Mời thuốc
lá đầu lọc: “Người ta đến tuổi nào đấy cũng phải có lúc ung dung mà hưởng lạc
một chút chứ, ăn miếng ngon, ngắm bông hoa đẹp. Đời Nguyên Hồng chỉ là một
rêve (C’est un mauvais rêve, một ác mộng!).
Nguyên Hồng là tài và tâm. Trí thì yếu. Tác phẩm hay hơn cả là gì nhỉ?
Những ngày thơ ấu? Nguyên Hồng chết đột ngột quá - Xuân Diệu lắc đầu, lè
lưỡi.
Anh chỉ tập bản thảo viết dở trên bàn: “Mình viết văn như người bị đòi
nợ. Đến hẹn mà không có xu nào trả. Bụng rỗng không! ấy thế mà rồi cũng viết
được đấy. Tập trung suy nghĩ mãi vào một điểm rồi nó bật ra. Lúc đầu tản mạn
linh tinh, tưởng không sao viết được. Sau tập trung vào một điểm thì viết được.”
Bỗng anh chuyển sang nhận xét mấy nhà thơ đương thời như Tế Hanh,
Lưu Trọng Lư, Giang Nam: “Tế Hanh cái gì cũng có cả, nhưng chả đọng lại
cái gì. Như giao hợp đánh xoạch một cái, chưa kịp thấy gì, đã mặc quần áo rồi
(anh cười to). Lưu Trọng Lư tản mạn quá, rồi chạy theo tiền để nuôi vợ con.
Đời có những nhân tố rất tầm thường mà hoá ra chi phối. Do thế mà viết ẩu. Lư
yếu vì vợ đẹp, yêu cầu sinh lý cao. Lư còn sống được như thế là giỏi rồi đấy. Lư
quanh quẩn rút lại chỉ có một mô hình: hát giặm, năm tiếng có vần giữa xen
vào. Thế thôi! Khi làm thơ thất ngôn thì có thay đổi tí chút. Tế Hanh, thơ như là
cuộc đời sẵn có cái gì thì lấy luôn làm câu thơ. Thơ không có xác, có chất,
không có gia công sáng tạo gì cho sâu sắc. Paul Valéry, câu thơ có xương cốt,
đứng vững lắm. Anna de Noailles là giande poétesse, vậy mà câu thơ cũng dàn
trải, không vững chãi. Lamartine cũng thế. Nhà thơ lớn thế mà câu thơ chưa
thật kiên cố. Thơ Verlaine vững lắm. Câu chữ không sao thay thế được, không
bỏ được chữ nào. Nhà văn phải đẻ ra chữ. Câu, chữ là của mình. Mình đẻ ra
câu chữ mới là nhà văn thật sự”.
Thơ Thanh Hải còn kém hơn thơ Giang Nam. Nhưng Giang Nam ngay ở
bài hay nhất là bài Quê hương cũng không có xác. Tình yêu không có xác. Như
câu chuyện kể ra thế thôi.
Hàn Mạc Tử đúng là đẻ ra chữ. Chữ của Hàn Mạc Tử vững chắc lắm,
cứ vọt ra. Thơ Tế Hanh như thứ trạm nổi nông, loại phù điêu. Cái gì cũng có
nhưng không sâu sắc, không nổi góc cạnh, hời hợt, nông choèn, tự nhiên nhĩ
nhiên, trời đất, đời sống cho thế nào thì nói thế, không gia công đào xới, nhào
nặn.”
Anh lại trở lại chuyện đời sống và phàn nàn: “Mình cứ viết hết bài nọ
đến bài kia, luôn luôn phải ở tình trạng phải cố sức. Như hòn bi phải có sức tác
động vào mới viết được. Thành ra lại phải quay ra lo chuyện ăn. Rất mệt!
Nhưng mà rất mừng là có một số người hiểu mình: Huy Cận, Nguyễn
Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đăng Mạnh. Phải tăng cường tìm hiểu
nhau, tăng cường tri âm tri kỷ.”
Anh mời tôi uống nước, hút thuốc lá. Anh nói: “Không phải ai mình
cũng mời thế đâu!”. Anh hạ giọng: “Này chuyện tình với bạn trai ngày xưa của
mình, Mạnh có nhận xét đấy, đừng viết ra làm gì, người ta hiểu sai đi không lợi.
Mạnh thân với Hoàng Ngọc Hiến, lúc nào nói với Hiến phải giữ mồm giữ
miệng. Người ta phản ánh đến anh Tố Hữu rồi đấy. Anh Lành anh ấy biết rồi
đấy. Khéo rồi họ lại thắt lại thì chết. Bây giờ đang có chiều hướng mở ra, khá.
Trường hợp Tuyển tập Nguyễn Tuân là thế. Ta cứ lặng lẽ mà ăn, mà ngoạm
từng miếng, nhưng đừng có nhai rau ráu ồn lên làm gì. Không phải sợ, không
phải hèn đâu, nhưng mà không cần phải thế”.
Xuân Diệu lại mời tôi hút thuốc lá: “Cứ hút đi! Biết rồi đến lúc nào
mình không còn nữa để đưa thuốc lá cho mà hút”.
Anh lại giục làm việc khẩn trương lên. Cái chết nó thúc đẩy mình.
Tôi ra về. Trời mưa. Thấy tôi không có mũ, anh cho mượn cái mũ lá cũ:
“Mũ cũ nhưng đừng vất đi đấy”.
Anh lại lấy cái cặp nhựa, cặp mép cái túi xách của tôi cho khỏi ướt sách
vở bên trong: “Mình như người vợ chăm sóc chồng. Thế mới biết người đàn bà
là cần”.
Ngày 8 – 4 – 1983, 24 Điện Biên.
Xuân Diệu mở cổng. Tôi nói, lâu quá không gặp anh. Xuân Diệu nói:
“Mạnh mà cũng biết sốt ruột kia à? Tưởng bây giờ đang lên, không thích mình
nữa?”. Anh cười: “ấy người ta có cái ghen chẳng có fondement gì cả như thế
đấy!”.
Tôi đến Xuân Diệu sau khi gặp Lưu Công Nhân ở Sài Gòn.
Tôi hỏi: “Anh có biết Lưu Công Nhân?”.
Xuân Diệu: “Có biết, nhưng không thân thiết lắm. Thế hắn sống bằng
gì? Có mấy con?”. Tôi nói, không biết, chỉ thấy giầu lắm. Xuân Diệu: “Cậu
đúng là nhà văn lớn, không để ý cái gì cụ thể cả”.
Tôi lại nói về chuyện vừa gặp Chế Lan Viên ở Sài Gòn. Xuân Diệu nói:
“Chế Lan Viên giờ buồn lắm. Sắc sảo, thông minh, song trong quan hệ với
nhau còn phải có tình người, chứ đâu chỉ chuyện tìm tòi chân lý. Chế Lan Viên
hay lấy lý át người ta, dồn người ta vào thế bí. Người ta ít gần. Sợ. Văn tiểu
luận của Chế Lan Viên có từng đoạn sắc sảo, hay. Nhưng nhìn toàn bộ thì
không vững, xộc xệch lắm.
Anh lại quay ra nói về Thơ mới. Anh cho rằng: “ Nói Thơ mới thoát thai
từ hát nói là ngu. Thơ mới đến độ kết tinh ổn định nào đấy thì gặp hát nói. Vả
lại câu tám tiếng, câu mở rộng của hát nói vẫn khác câu tám tiếng của Thơ
mới.
Còn song thất lục bát thì là thể ngâm, réo rắt, không hợp với Thơ mới.
Thơ mới có nhu cầu kéo dài câu thơ, vì nó phong phú, tràn đầy, nó cần
nói nhiều.”
Bỗng anh quay ra phê phán Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức: “Hết thời Phan
Cự Đệ, Hà Minh Đức rồi. Họ làm xong nhiệm vụ lịch sử rồi. Đệ viết về Thơ
mới, ca ngợi Thơ mới xong, bảo nó là con đĩ. Chơi gái mãi rồi bảo nó là con đĩ.
Đệ cứ dẫn ra những câu tương tự của Thơ Pháp và Thơ mới để tỏ ra là đọc
nhiều. Kỳ thực có sự gặp gỡ tự nhiên chứ không phải bao giờ cũng là mô phỏng
- Đối chiếu thơ Bác với thơ xưa nhiều khi cũng thế.”
Huy Cận đi làm về. Anh nói với tôi: “Ta phải gặp nhau nữa chứ. Tôi
mới nói sơ sơ thôi, còn nhiều điều chưa nói (trước đây ít lâu, tôi có một cuộc trò
chuyện với Huy Cận). Anh Đệ, anh Đức là nhà phê bình officiels. Tôi đã đọc
anh viết về Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, thấy có cái gọi là suy nghĩ. Còn nhiều
người viết chẳng có giá trị gì”.
Xuân Diệu tiếp tục nói về thơ mình. Càng nói càng sôi nổi: “Xuân Diệu
là individu. Cái day dứt nhất ở Xuân Diệu là cái “moi” và “non – moi”. Và
căng cho hết mình. Làm thơ để thực hiện cái le moi của mình là Xuân Diệu.
Tình yêu thực hiện được sâu sắc nhất cái cá nhân. Tình yêu gắn với
cuộc sống vật chất, trần gian, bản năng, lại rất cá nhân trong conscience.
Xuân Diệu không làm thơ “anh anh em em”, mà thực sự làm thơ trong
phạm trù tình yêu. Xuân Diệu thách với cả thế giới về thơ tình yêu. Xưa sôi nổi
thanh niên, nay sâu lắng, suy nghĩ hơn.
Vấn đề thời gian trong thơ Xuân Diệu lớn lắm: day dứt nhớ lại cái phút
ấy, phút thần tiên ấy, cái chỗ ấy, cái lúc ấy trong cả cuộc đời – cái phút thật là
yêu, của phạm trù tình yêu. Về sau chỉ là nghĩa, có nhiều cái ân tình khác,
nhưng thật sự là yêu chỉ có cái phút ấy. Thơ tình là vĩnh cửu hoá cái phút ấy.”
Anh chuyển sang giọng tâm tình thân mật: “Thơ tình Xuân Diệu có một
sự trỗi dậy, sống dậy vào khoảng sau Riêng chung, tức khoảng 1961 gì đó:
“Bỗng anh xoè bàn tay ra khoe: “Đấy, mont de Vénus của mình cao thế này
(anh chỉ chỗ bàn tay gồ lên gần ngón cái). Mont de lune của mình cũng rõ, giầu
mơ mộng, rất lãng mạn (anh chỉ phía gần ngón út), còn mont de soleil là danh
vọng cũng rất nổi (anh chỉ khoảng giữa bàn tay phía giáp các ngón).
Thực ra anh người mập, bàn tay múp míp, chỗ nào chả đầy, chả mọng
lên.
Anh lại khoe nhận được một lá thư nhờ làm hộ một bài thơ tình để tặng
người yêu. Anh cười: “Làm thơ tình thuê! Giá mấy hào một bài đây! Đấy, nhu
cầu thực tế của đời sống về thơ tình là thế đấy”
Tôi nói: “Anh Tố Hữu nói làm thơ tình rất khó”.
Xuân Diệu: “Khó ở chỗ phải chân thật, phải yêu thật”.
Chiều ngày 12 – 4 - 1985, 24 Điện Biên
Thấy tôi, Xuân Diệu mừng lắm: “Vài ba tháng gặp nhau một lần là quý
rồi. Cứ đi dép cho đỡ lạnh chân”. Anh mời tôi uống cà phê, hút thuốc lá như
thường lệ. Anh nói Như Phong chết làm anh hoảng quá. Như Phong chủ quan,
tự cho là khoẻ lắm. Cái chết! Thế là từ plus infini thành moins infini.
Tôi nói Nguyên Hồng chết sớm hơn và cũng đột ngột. Xuân Diệu nói:
“Nhưng mà Nguyên Hồng chết rồi, cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như
Phong mất là không thấy dấu vết gì nữa”.
Anh xoay ra nói về giá cả đắt đỏ mà nhuận bút thấp quá: “Nhuận bút
tập sách viết 10 năm chỉ bằng một chỉ vàng. Nhận nhuận bút mà buồn. Đi một
chuyến lại hơn là nhuận bút. Quãng Ngãi chỉ có 180 đồng một cân thịt bò. Đời
sống hơn ngoài Bắc. Trong Nam đời sống cao hơn, khí hậu dễ chịu hơn. Nhưng
mà không được quên cái gốc. Trong Nam họ suốt ngày lo kiếm tiền thôi. Sống ở
Sài Gòn không chịu nổi. Không ai biết anh là ai. Con người lọt thỏm mất hút đi
trong cái biển người mênh mông”.
Anh lại xoay ra tính toán cụ thể giá thực phẩm: 3 quả trứng gà 33 đồng,
2 quả trứng vịt lộn 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng...
Bỗng anh ngắm nhìn tôi, nhận xét: “Mạnh để tóc thế này hay hơn. Mặt
mạnh nhỏ, để tóc thế này nó ôm lấy mặt, đỡ gầy.” Tôi nói, nhiều người cũng
khen như thế. Xuân Diệu cười: “Hoá ra mình nhận xét thế mà đúng với ý kiến
mọi người, “chúng khẩu đồng từ”.
Tôi nói, hình như Nguyễn Tuân vào Quảng Nam viết một bài được trả
nhuận bút cao lắm. Xuân Diệu nói: “Đúng là Quảng Nam Đà Nẵng nó trả
Nguyễn Tuân 10.000 đồng một bài. Bài có hai trang. Không hay lắm. Nguyễn
Tuân viết khó. Bây giờ viết khó hay lắm!”
Tôi hỏi anh có nghĩ gì về khái niệm phong cách.
Xuân Diệu nói: “Style là bút pháp và cũng là phong cách. “Khen rằng
bút pháp đã tinh. Nghe bút pháp có vẻ nặng hơn”.
Tôi nói, phong cách có lẽ rộng nghĩa hơn, toàn diện hơn, sâu hơn. Anh
đi tra từ điển: “Style: manière. Manière d’ exprimer sa pensée. ừ, phong cách
đúng hơn”.
Anh chê Nguyễn Xuân Nam, cho là không thật, không tốt. Tôi nghĩ
bụng chắc lại là cái chuyện Xuân Nam viết về Huy Cận. Xuân Nam bị ngờ là
bới móc Huy Cận. Xuân Diệu đã nói với tôi một lần rồi. (Xuân Nam viết một
bài về Huy Cận, anh ca ngợi sự chuyển biến tiến bộ về tư tưởng của Huy Cận,
đại ý: ngày xưa Huy Cận làm thơ thường đề tặng các nhà văn trong Tự lực văn
đoàn và cả con cái họ, nay anh làm thơ tặng nhân dân lao động, như tặng một cô
thợ mỏ, một anh thợ hàn chẳng hạn... Nhưng Xuân Diệu lại hiểu là Xuân Nam
có ý nói móc, xỏ xiên người bạn của anh ngày xưa từng nịnh hót cánh Tự lực
văn đoàn (Thực ra hồi ấy, Huy Cận từng tha thiết xin vào Tự lực văn đoàn mà
không được chấp nhận)).
Anh chê Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức viết không có nội dung: “Nội dung
là tình cảm. Không có tình cảm, không có nội dung. Tôi cứ ném thia lia, bắn tin
về Phan Cự Đệ. Tôi nói với Hà Xuân Trường: Đệ làm tổng biên tập Nhà xuất
bản Văn học thì chúng tôi sẽ đánh du kích 5 năm cho phải đổ. Nói với Việt cộng
phải nói bằng cách nói của Việt cộng họ mới sợ”.
Anh đọc tôi nghe bài thơ: “Nếu anh cứ thương nhớ em thì sao”. Bài thơ
ba khổ. Khổ đầu hay.
Tôi khen bài thơ hay.
Xuân Diệu nói: “Những câu thơ như thế phải đọc cho Mạnh nghe. Mình
đọc được cho Mạnh nghe cũng thấy thích. Bài “ Hoa anh ơi!” là một lời thơ đi
suốt. Cả bài thơ là một lời đi suốt”.
Anh nhắc tôi về kẻo muộn. Đi về, ra ngoại thành, sương xuống, chắc là
thấy cô đơn, buồn. Tôi nói, có lần ở nông trường 1 – 5 Nghệ An, thấy con bò đi
một mình buổi chiều, buồn quá! Anh nói: “Con bò nó cũng thấy buồn – và thế
là nó trở thành thi sĩ, trở thành người”.
Anh tiễn tôi ra cửa, nhắc thỉnh thoảng gặp nhau. ít ra một quý một lần,
hai tháng một lần càng tốt.
Tôi nói, có lúc ngửi một mùi hương, thấy nhớ một cái gì ghê quá. Anh
nói, thế là Marcel Proust. Hương và vị nữa.
Anh hỏi tôi về kết quả cuộc chấm thi truyện ngắn tôi có tham gia. Tôi
nói không có bài thật trội. Sàn sàn cả. Anh nói chủ nghĩa xã hội chỉ tạo ra cái
moyenne trung bình, bonne moyenne, không có bon talent.
Anh nói, trong cuộc thi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ thắc mắc sao không có giải
A. Tôi viết một bài lôi ra có bài loại B cũng không đáng. Lạm phát thơ. 150 nhà
thơ! Sao nhiều thế! Phải dọn bớt lại.
Anh động viên tôi: “Dù sao chúng mình còn có chỗ họ mời. Có người
không được thế. Mạnh và mình giữ được vị trí do thực lực. Cần gì giám đốc,
phó giám đốc. Rồi đổ ngay ấy mà! Cứ viết cho tốt. Nghệ Tĩnh Tết vừa qua Tỉnh
uỷ đi thăm Minh Huệ tuy Minh Huệ chưa bằng Trần Hữu Thung. Song biết
thăm ai? Thế là họ có chuyển”.
*
Từ 1966 đến 1985, năm Xuân Diệu qua đời, tính ra tôi có tới vài chục
lần được trò chuyện với Xuân Diệu. Càng tiếp xúc càng thân, và anh càng cởi
mở hơn.
Chỉ riêng năm 1985, tôi gặp anh tới 5, 6 lần.
Nhưng tôi nhớ nhất ba lần sau đây:
1. Đầu năm 1985 cũng đi với anh lên Tuyên Quang bồi dưỡng những
cây bút trẻ ở vùng núi phía Bắc. Tôi nhớ đi qua đền Hùng đúng vào dịp hội. Xe
dừng lại, các anh trong đoàn (Chính Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Hữu
Thỉnh, Vương Trí Nhàn và tôi) đều có đảo lên đồi xem một lát. Riêng Xuân
Diệu không lên. Anh ngồi lại trong xe. Chắc mệt, ngại leo dốc. ở Tuyên Quang,
chúng tôi nghỉ ở nhà khách của Tỉnh uỷ. Đêm, tôi để ý thấy Xuân Diệu thở rất
nặng nhọc, lắm lúc như hộc lên. Tim có vấn đề.
2. Lần thứ hai là ngày 5 – 10 – 1985. Tôi đến mời anh nói chuyện với
lớp sinh viên đặc biệt (gọi là lớp 5C) do tôi làm chủ nhiệm. Anh giữ tôi lại, tặng
tôi cái đồng hồ.
3. Lần thứ ba là ngày 10 – 10 1985. Tôi đưa 14 sinh viên đến phòng anh
ở 24 Điện Biên để nghe anh giảng thơ.
Đây là cuộc gặp cuối cùng với anh. Hai tháng sau, anh qua đời (ngày
18- 12 – 1985)
Cả ba cuộc gặp này, tôi đều đã đưa vào mấy bài chân dung viết về anh
nên không thuật lại nữa.
Quan Hoa 5 – 12 – 2006.
Chương X: Hoàng Cầm
Những tư liệu riêng của tôi về Hoàng Cầm, tôi đã đưa cả vào bài chân
dung: “Hoàng Cầm người và thơ”.
Giờ tôi chỉ chép lại hai câu chuyện Hoàng Cầm kể tôi nghe mà tôi chưa
có dịp viết ra:
1. Chuyện tiết mục quan họ bị đả đảo.
Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ. Hoàng Cầm lúc đó phụ trách
đoàn văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị. Ông được giao tổ chức một
cuộc liên hoan văn nghệ mừng chiến thắng trong rừng Việt Bắc. Trong chương
trình biểu diễn hôm ấy, Hoàng Cầm bố trí xen vào một tiết mục hát giao duyên
quan họ.
Đang diễn thì ở một góc hội trường, bỗng có một đám bộ đội đứng dạy
hô đả đảo. Chỉ huy đám bộ đội này là một sĩ quan nổi tiếng anh hùng lúc bấy
giờ tên là Thái Dũng. Tây rất nể nhân vật này, gọi anh là Capitaine manchot
(đại uý cụt tay). Thái Dũng hô lớn: “Trong quân đội không được hát hỏng trai
gái nhảm nhí. Đi xuống!”.
Đám văn công sợ quá, vội hạ màn. May có Nguyễn Chí Thanh can
thiệp. Ông nói đại ý: “Chúng ta chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhưng
cũng vì những điệu hát này đây!”. Ông ra lệnh tiếp tục biểu diễn.
Nhưng các diễn viên mất hết tinh thần, không còn bụng dạ đâu mà diễn
được nữa.
Chuyện này giải thích, trong chiến tranh, vì sao tình yêu trai gái bị coi
là lãng mạn tiêu cực, một đề tài mà văn học hồi ấy phải kiêng kị.
2. Tố Hữu ra lệnh bắt Trần Dần.
Hồi Hoàng Cầm cho in tập Giai phẩm mùa xuân, có đăng bài của Trần
Dần, Tử Phác. Tố Hữu triệu tập mấy người đến họp: Hoàng Cầm, Văn Phác
(phụ trách tổ chức Bộ Văn hoá), Chế Lan Viên... Tố Hữu cầm cuốn Giai phẩm
mùa xuân, hỏi mọi người: “Các anh thấy tập sách này thế nào?”
Không ai dám trả lời, vì không đoán được ý Tố Hữu. Chế Lan Viên
nhanh trí, đoán trúng ý thủ trưởng. Anh nói: “Cuốn sách đại phản động!”.
Tố Hữu hỏi Văn Phác: “Hiện nay chúng nó đang ở đâu?”. Văn Phác:
“Thưa, các anh ấy đang đi thực tế ở Yên Viên”.
Tố Hữu lệnh – Hoàng Cầm nhớ đúng sáu tiếng: “Gọi nó về, bắt lấy
nó!”
Thế là Văn Phác làm giấy tờ để bắt Trần Dần, Tử Phác.
Và đây là lời kể của Trần Dần, Hoàng Cầm thuật lại: Chiều hôm ấy có
một cái xe ôtô nhà binh đến Yên Viên. Họ gọi Trần Dần, Tử Phác ra và lập tức
bịt mắt. Trần Dần kịp thấy trên xe có lính mang súng, lưỡi lê tuốt trần.
Hoàng Cầm nói, Trần Dần là tay thần kinh rất vững. Anh ta bình tĩnh
lắng nghe để đoán xem xe đi đâu. Qua một cái cầu dài. Thế là vào Hà Nội.
Nhưng xe lại chạy tiếp khá lâu. Thế là đi quá Hà Nội. Đến một chỗ nào đấy, xe
đỗ lại. Người ta dắt Trần Dần, Tử Phác đi xuống một địa điểm ở sâu dưới đất –
vì cứ thấy xuống nhiều bậc, xuống mãi. Đến một độ sâu nào đấy, họ dừng lại và
đẩy Trần Dần vào một căn hầm, đóng cửa lại. Trần Dần nghĩ bụng, chắc bị thủ
tiêu. Thủ tiêu ở đây thì ai biết được? Coi như mất tích. Anh nghĩ phải tìm cách
lên được mặt đất.
Sáng ra, thấy đây là một cái hầm đào sâu dưới đất. ánh sáng lọt xuống
từ nóc hầm qua một ô cửa có chấn song, ở trên thoáng thấy có bóng một anh
lính gác.
Trần Dần thấy trong hầm có một cái phản gỗ và một bình nước. Anh
kéo cái phản ra chỗ ánh sáng từ trên nóc hầm rọi xuống, cởi áo ngoài, để phơi
áo sơ mi trắng bên trong ra, lấy một cái mince lame trong túi, nằm ngửa trên
phản , dùng lưỡi dao cạo cứa vào cổ cho máu phun ra ngực áo, rồi giẫy đạp ầm
ĩ, cốt cho anh lính gác nghe thấy. Anh lính gác nhìn xuống thấy thế hoảng quá:
Nó tự tử, phải đưa cấp cứu ngay ! Một lát sau, cửa hầm mở, người ta đưa Trần
Dần đi cấp cứu ở một bệnh viện gần đó. Té ra là bệnh viện Hà Đông. ở đây,
Trần Dần may vớ được một người quen bèn viết mẩu giấy nhờ đưa đến Tổng
cục chính trị nơi anh công tác. Nguyễn Chí Thanh lập tức đến bệnh viện và lệnh
tha ngay cả Trần Dần và Tử Phác.
Hoàng Cầm rất phục Trần Dần. Thằng cha thần kinh rất vững. Hoàng
Cầm cũng từng bị bắt giam. (ông nghe Hoàng Hưng, định đưa tập thơ Về Kinh
Bắc sang Pháp in). Ông nói: “Tôi nhát lắm, mọi tội xin nhận hết (Hết hạn tù,
người ta cho ra, còn xin ở lại viết kiểm thảo. Tô Hoài cho tôi biết thế). Sợ nhất
là trong tù cứ thấy có tiếng phát ra đều đều không biết từ đâu: “Khai thật đi!
Khai thật đi! Khai thật rồi về với vợ con!”.
Chuyện nghe khá sợ. Một hình thức khủng bố về tâm lý. Chẳng biết
Hoàng Cầm có thêm thắt gì vào sự thật không. Nhưng quả là đáng sợ. Hoàng
Cầm cũng hay tưởng tượng thêu dệt thêm ra nữa.
*
Ai nấy đều thấy, thế giới nghệ thuật của thơ Hoàng Cầm là Kinh Bắc
thời xưa. Đó là quê hương của ông và cũng là quê hương nghệ thuật của ông,
nơi hồn thơ ông thường lẩn quất đi về. Rời Kinh Bắc là Hoàng Cầm hết thơ. Mà
phải là Kinh Bắc ngày xưa, Kinh Bắc của núi sông, đồng ruộng miền Bắc từ
thời ỷ Lan nhiếp chính, từ thời nhà Lý mất ngôi, từ thời bà chúa Chè về với
Trịnh Sâm, sau đó lưu lạc đi đâu về đâu không rõ, khi Trịnh Sâm qua đời, kiêu
binh nổi dậy... Một quá khứ đau buồn. Một nỗi buồn vương giả. Cho nên Kinh
Bắc trong thơ Hoàng Cầm là một Kinh Bắc vàng son, diêm dúa, lấp lánh châu
ngọc, là xiêm y xanh đỏ, là vũ đạo uốn éo, là tiếng hát cách điệu ý ới ý a... (
Không phải ngẫu nhiên mà Kim Lân, Tô Hoài, Lê Đạt cho thơ Hoàng Cầm là
vàng mã, trang kim). Nhưng mà buồn, là sự tàn tạ, là cõi xa xăm của lịch sử đau
thương của những triều đại suy vong...
Một đặc điểm nữa cũng dễ thấy ở thơ Hoàng Cầm: nặng âm tính, nói rõ
hơn là rất ướt át, rất “đĩ”. Ông thường cố tình lắp đi lắp lại những hình ảnh gợi
dục: “môi trầu đờ đẫn”, “ngực yếm phập phồng”, “bầu vú lửa”, “vén xiêm”,
“tốc xiêm”... Kim Lân khó chịu, cho là thưỡn thẹo, ưỡn ẹo, già mà tình tứ, dơ
dáng...
Nhưng thơ Hoàng Cầm chỉ thật sự là thơ khi ông có cảm xúc chân thật,
lời thơ tuôn trào theo bản năng tự nhiên, hồn nhiên. Hễ ông cố gò theo lý trí thì
thơ chỉ có xác (xác Kinh Bắc và cả xác tình dục) chứ không có hồn. Nguyễn
Đình Thi, Huy Cận cho thơ Hoàng Cầm là trò chơi chữ, là chủ nghĩa hình thức.
Đọc thơ Hoàng Cầm giống như tiêu tiền. Những đồng tiên lấp lánh ánh
vàng ánh bạc. Nhưng lẫn vào tiền thật, có vô số tiền giả. Đúng thế, thơ Hoàng
Cầm có vàng bạc thật, (tôi gọi là siêu thơ) và có không ít vàng bạc giả.
Láng Hạ, 7- 1 – 2008.
Chương XI: Hoài Thanh
Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được
nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu.
Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc,
Tuyên Quang). ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai
lần đều vào năm 1949.
Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến
dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên,
Phan Trần...
Sau này, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy đại học, lúc đầu ở Đại học
Sư phạm Vinh, sau ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi luôn đến ông để hỏi về tình
hình văn học thời trước cách mạng tháng Tám và về kinh nghiệm phê bình văn
học (Khi ở Nguyễn Thượng Hiền, khi ở Trần Quốc Toản).
Hầu hết những ghi chép của tôi về ông, tôi đã sử dụng trong bài chân
dung đặt tên là “ Hoài Thanh, con người sinh ra để đọc thơ, bình thơ”.
ở đây tôi chỉ xin ghi một số điều về ông mà tôi chưa có dịp viết ra hoặc
viết ra chưa đầy đủ.
Có lẽ một trong những điều khổ tâm nhất của Hoài Thanh là hầu hết các
cây bút cùng thời với ông và cùng theo cách mạng như ông, đều gọi ông là
“thằng nịnh” (Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên...)
Cho nên Xuân Sách có thơ:
Vị nghệ thuật nửa đời người
Nửa đời còn lại vị người cấp trên.
Tôi nghe nói, hồi kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc Hoài
Thanh luôn luôn sát cánh với Tố Hữu, luôn gần gũi trò chuyện thân mật với Tố
Hữu, trong khi anh em khác thường lảng đi chỗ khác, sợ mang tiếng cầu thân
với cán bộ lãnh đạo. Tâm lý anh trí thức thường như thế. Và họ phản ứng với
thái độ của Hoài Thanh.
Tôi thì cho rằng, Hoài Thanh là con người sống bằng tình cảm. Hồi
cách mạng tháng Tám, ông ở Huế. Lúc ấy Tố Hữu còn rất trẻ mà đã làm chủ
tịch uỷ ban khởi nghĩa của Huế. Một thanh niên vào tù ra tội, lại là một thi sĩ
thật sự và cũng mê Kiều như ông, hợp với ông, nên ông phục lắm. Tố Hữu cũng
rất quý và tin cậy Hoài Thanh. Khi được gọi ra Bắc để lãnh đạo văn nghệ, người
đầu tiên Tố Hữu cần gặp là Nguyễn Tuân. Tố Hữu đã nhờ Hoài Thanh đến
Nguyễn Tuân, thương lượng và hẹn thời gian, địa điểm gặp (Nguyễn Tuân hẹn
gặp ở nhà hàng Thuỷ Tạ bờ hồ Hoàn Kiếm). Tố Hữu còn là chỗ dựa về chính trị
của Hoài Thanh nữa.
Từ Sơn, con Hoài Thanh, có lần nói với tôi: có một bữa, ông Hoài
Thanh nằm trên giường, có vẻ mệt. Bỗng ông nói với con: “Cha mà không có
anh Lành thì Bùi Công Trừng nó giết cha rồi!” Té ra là thế! Cái chuyện vị nghệ
thuật, vị nhân sinh có chết ai đâu mà những ông cộng sản làm to chuyện thế, và
thù dai thế! Người ta đã đi theo cách mạng, theo kháng chiến bao năm rồi mà
vẫn không tha (cho mãi đến kỳ tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), họ
cũng không tặng cho Hoài Thanh, trong khi sẵn sàng tặng cho Hà Xuân Trường,
Hồ Tôn Trinh, tuy sự nghiệp của hai vị này có đáng gì đâu so với Hoài Thanh).
Tôi cứ nghĩ mãi, không hiểu sao, đối với trí thức, các ông cộng sản lại hẹp hòi
và ngu xuẩn đến thế. Chính các ông ấy, đã làm hại cách mạng nhiều lắm.
Anh Từ Sơn còn cho biết, hồi Hoài Thanh phụ trách tuần báo Văn nghệ.
Có một số báo, trang đầu in ảnh Trường Chinh. ảnh bị cái tít in quá đậm ở mặt
sau làm mờ đi. Trường Chinh gọi Hoài Thanh đến nói: “Anh in ảnh tôi như thế
này à?” Hoài Thanh sợ quá, cứ đi lang thang ngoài đường, vô cùng hoang
mang. Cái án vị nghệ thuật trở thành cái án chính trị, vẫn như lưỡi gươm lơ lửng
treo trên đầu.
Đúng vậy, Hoài Thanh là con người chủ yếu sống bằng tình cảm. Cái
tạng ông nó thế (Người ta từng cho ông thuộc loại phê bình tình cảm - để phân
biệt với phê bình lý trí, phê bình khoa học chủ nghĩa scientisme). Cho nên, ông
có quan hệ đặc biệt với Tố Hữu, viết rất say sưa về thơ Tố Hữu, tập thơ nào
củaTố Hữu ra đời cũng lập tức có một bài phê bình rất tâm huyết của ông. Đó,
cũng là do cái nợ tình, nợ nghĩa mà ra.
Nhưng cái: “án chính trị vị nghệ thuật” chắc cũng làm cho ông phải lên
gân lên cốt khi phủ nhận triệt để Thi nhân Việt Nam:
Thi nhân còn một chút duyên
Chẳng cầm cho vững lại lèn cho đau.
(Xuân Sách)
Chẳng lẽ một con người giầu tình như ông mà lại dễ dàng dứt tình với
đứa con tinh thần mà ông đã gửi cả tâm hồn vào đấy. Từ Sơn nói, cuối đời, có
lần Hoài Thanh nói với anh: “Nhờ có cuốn Thi Nhân Việt Nam mà người ta mới
coi cha là một nhà văn”.
Vậy mà ông lại phủ nhận Thi nhân Việt Nam (Nhìn lại phong trào Thơ
mới và cuốn Thi nhân Việt Nam) đến mức Trần Huy Liệu cho là quá đáng, và
Tố Hữu thì nói: “Hoài Thanh đã tát mình đau quá”.
Cho nên tôi vẫn cứ ngờ ngợ thế nào về cái thái độ quá cứng, quá tả của
Hoài Thanh. Tiếp xúc với ông, thấy ông luôn luôn nói lập trường cách mạng,
lập trường giai cấp. Phải có tình cảm đúng, tình cảm đúng là tình cảm của giai
cấp công nhân. Ông tỏ ra rất phục các lãnh tụ cộng sản, coi phát ngôn của các vị
ấy là chân lý mình phải lấy làm chuẩn, kể cả những phát biểu về văn chương.
Và ông không viết về các nhà Thơ mới nữa, mà chỉ chăm chăm viết về thơ Hồ
Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, hay các cây bút đang chiến đấu ở miền Nam
như Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Anh Đức... Cứ như là mỗi bài viết phải là một
cuộc chiến đấu về tư tưởng theo gương những người cộng sản. Không biết ông
có thật sự tin ở những điều mình nói, mình viết hay không – tôi cứ ngờ ngờ thế
nào ấy.
Nhưng ý kiến của Hoài Thanh bên cạnh “phần cứng” cũng có những
“phần mềm”. ấy là khi ông phát biểu về những đối tượng khác. Nhiều nhận xét
của ông khá thẳng thắn, không dè dặt, né tránh.
Có lần ông nói với tôi về Viện văn học và tờ Tạp chí văn học do ông
phụ trách (Lúc này Hoài Thanh làm Viện phó Viện Văn học, thư ký toà soạn
Tạp chí văn học): “Viện văn học của chúng tôi làm sao có uy tín được như Tự
lực văn đoàn ngày trước. Nó đưa ai lên là được lên. Nó hạ ai xuống là phải
xuống”
Bây giờ ta đang chống Mỹ (1967), tạp chí của chúng tôi vẫn ra được
đều đều là coi như thắng Mỹ rồi. Mỗi số ra được đúng kì hạn là một trận
thắng... Chứ thực ra nhiều bài có chất lượng gì đâu. Tôi khổ với các ông HMĐ,
HSV quá, chữ nghĩa, câu văn, tôi cứ phải sửa rất nhiều mới đăng được.
Ông nói về Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên sắc sảo, nhiều sáng tạo khá
hấp dẫn. Nhưng tôi cứ lởn vởn ý nghĩ về chỗ trung thực của anh. Cuốn Thi
nhân Việt Nam của tôi có nhiều sai lầm. Nhưng điều tôi ân hận hơn cả là đã
qúa khen Chế Lan Viên. Thực thì chắc có thực, nhưng có thực đến mức ấy
không? Có thật “Hồn ai trú ẩn ở đầu ta”, có thật có “tâm hồn Chàm” thế
không? Có muốn trốn lên “một tinh cầu giá lạnh” thật không? Xuân Diệu thì
chân chất, thật thà.
Về Nguyễn Đình Thi, ông nói vắn tắt: “Chưa bao giờ tôi đánh giá cao
nhân cách của Nguyễn Đình Thi”.
Hoài Thanh cũng đánh giá rất thấp con người Huy Cận: “Có người
nhân cách tốt nhưng thơ lại không hay, như Thanh Tịnh. Có người nhân cách
kém mà thơ lại hay, như Huy Cận”. Đây là ông nói Huy Cận trước cách mạng,
Huy Cận “Lửa thiêng”. Thơ Huy Cận sau cách mạng, ông cho là tầm thường
(vulgaire) – Trong tập Di bút, ông có ghi lại cuộc trao đổi của ông với Trường
Chinh ở chiến khu Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp về Huy Cận. Họ thống
nhất với nhau: thơ Huy Cận vulgaire (Khi in tập Di bút thành sách, anh Từ Sơn
ngại đụng chạm nên cắt bỏ đi, cả ý kiến của Hoài Thanh về văn của HMĐ nữa).
Còn với tôi, ông nói: “Huy Cận xưa hay hơn bây giờ. Bây giờ cũng có bài hay
nhưng ít, càng làm càng dở. Xưa trong cái u uất nặng nề, anh chàng 16, 17 tuổi
đó có nhìn thấy một góc, một khoảng trời rất trong, rất thơ.
Nay có thể là tâm hồn không u ám nữa, tiến bộ, nhưng không có được
khoảng trời rất trong như thế nữa.
Nguyễn Tuân không ưa Hoài Thanh, nói về ông nhiều câu rất ác.
Nhưng nhận xét về Nguyễn Tuân, thái độ của Hoài Thanh vẫn rất công bằng:
“Nguyễn Tuân địch có thể lợi dụng, như trước cách mạng, nó tặng anh ấy giải
thưởng Alexanơre de Rhodes – Sau cách mạng thì bọn Nhân văn lôi kéo. Nhưng
Nguyễn Tuân không bao giờ hạ mình làm những điều phi nghĩa. Nguyễn Tuân
không phải Nhân văn, không bê tha truỵ lạc trong sinh hoạt như cánh Nhân
văn. Nguyễn Tuân thích phát hiện những cái lặt vặt, thứ yếu vì cho rằng những
cái quan trọng ai cũng biết cả rồi. Nguyễn Tuân rất bướng. Cần góp ý kiến gì
với anh ấy, chúng tôi phải nhờ anh Tố Hữu. Tố Hữu nói mới nghe, mà cũng
nghe vừa phải thôi. Anh ấy cho giáo điều thì sinh ra xét lại. Vào Đảng như một
thứ nhân sĩ, không gắn bó với một trách nhiệm cụ thể nào, coi mình như một thế
giới uỷ, chính uỷ của thế giới, có trách nhiệm với toàn nhân loại. Cho nên chậm
tiến. Đi trong kháng chiến như đi chơi, tuy đi chơi trong kháng chiến khác đi
chơi trước cách mạng.
Bài Tờ hoa của Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên có công phát hiện, đã bỏ
đi. Thế mà sau lại đăng báo được. Tờ hoa là có ý chửi cải cách ruộng đất.
Cái gì quen đi rồi cũng thành nghề. Nguyễn Tuân có nghề chửi. Chửi
rất ác. Không thể phê bình thân ái nội bộ được. Nguyễn Tuân cứ phải chửi ác.
Nay vớ được thằng phi công Mỹ, tốt quá! Ta chửi Mỹ lâu rồi, song trước kia nó
ở tận đâu đâu ấy, nay nó trực tiếp đánh ta, ta nhìn rõ mặt nó rồi. Cái nghề chửi
của Nguyễn Tuân được dùng đến, rất tốt. Nguyễn Tuân ghét conformisme. Tôi
cho tác dụng của Nguyễn Tuân còn lâu dài đối với cách mạng giải phóng dân
tộc.
Hoài Thanh nói về Nguyên Hồng: “Lắm lúc không biết anh ấy thật hay
giả. Trên diễn đàn, đang nói, dừng lại: “Cho tôi khóc một lúc đã”. Nguyên
Hồng cũng không gắn với một trách nhiệm cụ thể nào, nên chậm tiến bộ”.
Hoài Thanh luôn luôn cho rằng phải sống gắn bó với quần chúng, có
trách nhiệm cụ thể với cách mạng mới tiến bộ được.
*
Nhìn chung cuộc đời Hoài Thanh, thấy ông có mấy cái thực sự trở
thành niềm say mê:
Một là say Thơ mới (1932 – 1945). Điều này, sau cách mạng ông đã
quyết dứt bỏ. Nhưng chắc ở chỗ sâu kín của tâm hồn, vẫn không dứt bỏ được.
Hai là say Kiều. Trước cách mạng thì không nói làm gì. Ông đã ca tụng
câu nói mà ông cho là “can đảm” của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta
còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Và ông đã trân trọng ghi lên trang đầu cuốn Thi
nhân Việt Nam câu thơ của Nguyễn Du: “Của tin gọi một chút này làm ghi”.
Sau cách mạng, ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp, ông đã viết ngay một cuốn sách về Kiều: Quyền sống của con
người trong Truyện Kiều. Ông ca ngợi Nguyễn Du trong dịp kỉ niệm 200 năm
sinh của nhà thơ, rồi ông dạy Truyện Kiều ở Đại học Sư phạm Hà Nội...
Trong những cuộc tiếp xúc với ông, tôi thấy khi nói về quá trình phấn
đấu về tư tưởng để có được lập trường của Đảng, có được tình cảm mà ông gọi
là tình cảm đúng đắn của giai cấp công nhân, cứ thấy ông quẩn quanh, vướng
vít không sao dứt khỏi được duyên nợ với Truyện Kiều. Ông thương cô Kiều
chịu nhiều oan khổ thì không có chuyện gì. Nhưng ông cảm thông với giấc
mộng Từ Hải của Nguyễn Du thì có vấn đề. Ông biết Cụ Hồ nói: “Thằng Từ
Hải sao nó tồi thế. Nó không chết đứng thì về triều nó cũng chết ngồi”. Lê
Duẩn phê phán cuốn “Quyền sống...” của ông. Tuy ông rất phục Hồ Chí Minh
và Lê Duẩn, nhưng ông vẫn chưa thông. Đến cuộc chỉnh huấn năm 1952, Tố
Hữu còn phải giúp đỡ ông nhiều: “Làm sao lại lấy Từ Hải làm lý tưởng được:
một nhân vật bất mãn và bất lực”. Nhưng ông vẫn chưa thông hẳn.
Duyệt lại quá trình phê bình, nghiên cứu của Truyện Kiều của mình,
ông nói: “Trước cách mạng tháng Tám mình viết “Một phương diện của thiên
tài Nguyễn Du” (1944), nhiệt liệt ca ngợi Từ Hải. Lúc nhỏ tôi cũng có mộng
anh hùng (Hoài Thanh từng tham gia đảng Tân Việt và từng bị bắt giam một
thời gian ở Hà Nội, sau đó bị trục xuất về Nghệ An), rồi cuộc đời ác liệt quá, lại
không gắn được với một tổ chức nào cho chắc nên không dám làm anh hùng.
Nhưng vẫn có mơ ước làm anh hùng. Nguyễn Du chắc cũng vậy. Đến thời
kháng chiến, năm 1948, tôi viết Quyền sống của con người trong Truyện Kiều,
tự thấy chưa thay đổi gì lắm. Đi cách mạng, ừ thì đi. Rồi đâu cũng vào đấy thôi,
chỉ khác là có đánh Tây. Vì thế trong cuốn sách tôi chỉ thêm có một câu: “
Nhân dân ta đang thực hiện giấc mộng anh hùng của Nguyễn Du và còn vượt
xa nữa. Nói chung vẫn ca ngợi Từ Hải.
Sau chỉnh huấn 1952, cũng chưa hoàn toàn thay đổi. Trước thì viết Từ
Hải chết vì ngay thẳng mà chết. Sau viết, Từ Hải chết vì thật dạ tin người. Đến
mãi 1965, kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du tuy có phê phán Từ Hải thiếu cảnh
giác, nhưng trong phê phán vẫn có thương hại nhiều...
Đấy, qua lời tự bạch của Hoài Thanh, thấy ông không sao dứt được khỏi
tâm trí mình nỗi ám ảnh của Từ Hải, giấc mơ của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều. Dù đấu tranh tư tưởng, dù kiểm thảo lên, kiểm thảo xuống, vẫn không dứt
ra được. Ông mê Kiều có lẽ còn hơn cả Chu Mạnh Trinh ngày trước: “Ta cũng
nói tình, thương người đồng điệu”.
Một niềm say mê nữa cũng đeo đuổi Hoài Thanh đến trọn đời là đọc
thơ, bình thơ, giảng thơ. Con người tình cảm của Hoài Thanh tất nhiên thể hiện
rất rõ ở lĩnh vực này.
Ngay giải thích những hiện tượng văn học sử ông cũng dùng kinh
nghiệm đời sống, dùng trực cảm. Ông không thích nói lý luận, có lẽ ông không
tin ở lý luận.
Ông nói, nhà thơ lãng mạn đến với cách mạng, sáng tác được ngay vì
quen ca ngợi. Còn nhà văn hiện thực phê phán lại lúng túng, không viết được, vì
chửi đã thành nghề rồi. Chỉ quen chửi. Đến với cách mạng, chửi ai?
Ông cho rằng, vấn đề dân tộc bao giờ cũng gây xúc động mạnh. Cách
mạng vô sản nói chuyện giai cấp nên khó hấp dẫn. Mặt trận Việt Minh ra đời
nêu dân tộc lên hàng đầu, làm nức lòng người.
Về tầng lớp tiểu tư sản, ông cho rằng, tiểu tư sản yêu nước song yếu
đuối. Rất sợ cây súng của Tây nên không tin tưởng. “La raison du plus fort est
toujours la meilleure” là cái triết lý nó đè lên tâm hồn như một định mệnh.
Ông nói về phê bình văn học: “Ta cho đến nay chưa có ai gọi là nhà
phê bình. Từ 1930, cái gì cũng đổi mới cả, song chưa thể nói đã có phê bình
chuyên nghiệp (nhà văn chuyên nghiệp thì có). Thường chỉ là nghiệp dư, làm
một nghề nào đó rồi mới làm thêm phê bình.
Muốn đẩy mạnh phê bình, phải giải quyết:
- Gây hào hứng cho phê bình. Người ta hiện nay không thích viết phê
bình, không hào hứng làm nhà phê bình.
- Tạo điều kiện để có nhà phê bình chuyên nghiệp.
- Luyện cách viết cho hay. Hiện nhiều người chưa có cách viết, không
biết cách viết. Phải viết thế nào cho người ta đọc một câu cứ phải đọc tiếp.
Nhược điểm của phê bình là không dứt khoát, tác phẩm nào cũng ưu
một chút, khuyết một chút. Như nhau. Người đọc không biết anh cho tác phẩm
là hay hay dở. Phê phán Vào đời và Đống rác cũ là trung ương phê chứ có phải
nhà phê bình nêu ra đâu.
Hiện nay có hiện tượng trái ngược là nhà văn và nhà phê bình đọc tác
phẩm rất ít, ít hơn quần chúng. Anh phê bình chỉ đọc để viết thôi. Khi cần viết
mới đọc.
Phê bình phải có hai điều kiện:
- Nhậy cảm. Xúc cảm nhạy bén.
- Có văn hoá. Dù là inpressionnisme cũng phải có văn hoá. Phải đọc
nhiều, đọc hết, có ấn tượng sâu và nhớ lâu.
Ngày xưa tôi đọc nhiều lắm, nhớ lâu, dễ khóc. Nay khó khóc quá -
“Tuổi già hạt lệ như sương”. Cũng ít nhớ. Tôi thuộc loại người cũ rồi. Lê Đình
Kỵ thế mà cũng thuộc loại cũ rồi.
Đi vào văn học mà 40 tuổi mới vào là dại. Vào làm gì! Viết văn là phải
bắt đầu từ trẻ, có nhiệt tình, nhậy cảm. Người ta viết văn bằng những ấn tượng
những năm lên năm, lên bẩy, chứ không phải 30, 35 đâu.
Và cái đó không thay đổi được. Cái tạo nên tài năng, phong cách, sở
trường là hoàn cảnh sống từ tuổi lên năm, lên bẩy: cánh đồng ấy, bờ tre ấy, cái
ao ấy... Sau này lớn lên, thay đổi quan điểm, lập trường, chứ không thay đổi
phạm vi đề tài, cách viết, cách cảm xúc, cách nghĩ. Không nên bắt người ta thay
đổi. Bắt vô ích. Mỗi ca sĩ chỉ hát hay vài bài, Tân Nhân chỉ hát hay vài bài, các
bài khác cũng hát được nhưng không hay.”
Về vấn đề tính dân tộc của văn học, tôi rất tán thành ý kiến Hoài Thanh:
“Tính dân tộc chỉ cảm thấy thôi, rất khó định nghĩa hay phân tích cho rành
mạch”. Viết văn thì phải thể hiện tính dân tộc. Nhưng tính dân tộc là gì? Hoài
Thanh bình thơ Giang Nam viết về tình vợ chồng mà ông cho là có tính dân tộc:
Dây bầu sai trái bên đầu ngõ
Vẫn đợi anh về hái nấu canh
Đó là tính dân tộc đấy, rất Việt Nam! Người vợ nghèo Việt Nam chỉ mơ
ước thế thôi.
Nhớ chồng, thương chồng, em khóc. Nhưng lại đổ tại con:
“Nó khóc làm em cũng khóc theo”
Thực ra con không khóc, em cũng khóc.
Tình cảm của người Việt Nam thường tỏ bầy, kín đáo, lặng lẽ, không ồn
ào. Đó là cái tần ngần của Kim Trọng khi trở lại vườn Thuý:
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này những lối này năm xưa...
Người Tây thì khác: Le lac của Lamartine: Ôi, hồ! ầm ĩ cả lên.
Về việc phân biệt thơ hay thơ dở, tức là việc thẩm văn, Hoài Thanh
cũng quan niệm hết sức đơn giản, theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa. Ông nói:
“Phân biệt thơ hay thơ dở chỉ có đọc nhiều. Ăn phở mãi thì phân biệt được phở
ngon. Chứ phân chất, định nghĩa phở ngon là gì, vô ích. Nhưng phải đọc kỹ,
phải tinh. Nếu không, có khi mắc lừa. Phở có lẽ ít mắc lừa hơn.
Về điểm này, tôi thấy Hoài Thanh chỉ đúng một phần thôi. Vì thực tế có
người đọc rất nhiều mà thẩm văn vẫn kém. Quan trọng là phải sống sâu sắc với
những gì mình đọc, cũng như những gì mình thấy, mình nghe...Người sống hời
hợt thì đọc thiên kinh vạn quyển, đi khắp thế giới, sống đến trăm tuổi, cũng
chẳng có được năng lực thẩm văn tử tế. Theo tôi, Hoài Thanh sở dĩ thẩm văn
tốt, chủ yếu vì ông sống sâu sắc cuộc sống của mình, sống sâu sắc với mọi cảnh
vật quanh mình. Cứ đọc những đoạn bình thơ của ông mà xem.
Thí dụ, ông bình thơ Tố Hữu, bài Việt Nam, máu và hoa
“Ngày 29 – 1 – 1973, báo Nhân dân đăng bài Việt Nam máu và hoa của
Tố Hữu. Hôm ấy, hiệp định Pari vừa kí được hai hôm. Nhà thơ cảm thấy một
niềm vui lớn quá, tưởng chừng như không phải là chuyện thật mà là chuyện
trong mơ:
Khao khát trăm năm mãi đợi chờ,
Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ
Cả cái êm ả của bầu trời, cái bình yên của mặt đất cũng có cái gì như
là không thật:
Một trời êm ả xanh không tưởng,
Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ.
Có người băn khoăn: chuyện ta chiến thắng là chuyện tất nhiên, chuyện
ta dự kiến từ lâu, chính ta tự mình làm nên chiến thắng, tại sao gọi là chuyện
trong mơ? Nhưng tuần tự và đột biến, tất nhiên mà ta vẫn cứ ngạc nhiên, cuộc
sống xưa nay là thế và chính vì thế mà say người. Một cây hoa ta trồng ta biết
nó sẽ nở hoa, nhưng đến ngày nở hoa, ta lại không khỏi có chút ngạc nhiên.
Một đôi vợ chồng trẻ, một hôm nào đó cũng không ngờ mình đã làm cha, làm
mẹ. Một bông hồng nở, một đứa bé ra đời còn thế nữa là chuyện chiến thắng
hôm nay...”
Đấy, ông có dẫn sách vở gì đâu. Toàn nói chuyện kinh nghiệm sống
thông thường mà đem đến cho ông những rung cảm trước những vần thơ.
Ông nói đúng: Đọc thơ, nếu không có vốn sống thì cứ dửng dưng,
không có xúc cảm gì. ấy là thơ đã gieo vào những tâm hồn chưa có gì để đón
đợi nó.
Cảm nhận được thơ hay thơ dở rồi, lại còn phải biết diễn đạt sao cho
hấp dẫn nữa. ở đây, Hoài Thanh có hai tư cách thống nhất làm một: nhà phê
bình và thày giáo dạy văn.
Ông nói: “Cách viết, cách nói không nên cố định, mà tuỳ bài, tuỳ nội
dung mà quyết định hình thức. Có thể đi từ đại ý đến chi tiết hay ngược lại.
Điều quan trọng là làm sao luôn luôn đặt ra những vấn đề để giải quyết – cuộc
sống là như thế.
Và phải nói sao buộc người nghe phải chờ đợi.
Thí dụ, năm 1941, Tố Hữu ở trong tù viết bài Quyết hy sinh, đã vẽ được
hình ảnh người chiến sĩ cộng sản rất đẹp:
Các anh chị bước lên đài gươm máy
Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!
Song lúc đó anh mới 20 tuổi, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, nên
hình ảnh chưa sâu. Đến bài Ba mươi năm đời ta có Đảng ( 1960), hình ảnh
người chiến sĩ được vẽ sâu hơn: “Miếng cơm dành để người sau ấm lòng”.
Đúng hơn, sâu hơn. Đằng sau câu thơ lại có thấp thoáng hình ảnh anh Hoàng
Văn Thụ.
Thí dụ khác: Tháng Tám 1945, Tố Hữu làm bài Hồ Chí Minh. Hình ảnh
Bác rất đúng, rất đẹp:
Bao thất bại dẫu xát lòng cay đắng
Hồn vẫn tươi vui, thơm ngát tình đời.
Nhưng lúc đó, Tố Hữu chưa được gần Bác, nên có câu không đúng
“Tiếng người thét, mau lên gươm lắp súng”. Tiếng thét này không phải của
Bác. Sau này trong bài Sáng tháng năm, anh sửa lại đúng hơn:
Giọng của Người, không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước.
Về cách nói, có cách nói nhợt nhạt, có câu nói cứ trơn tuồn tuột. Có
cách nói làm cho người ta phải chú ý. Chữ dùng thì phải bình dị, gần gũi. Phải
học ngôn ngữ quần chúng, học ca dao, để nói cho đỡ khô khan.
Và phải tuỳ thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại có ưu thế và hạn chế
của nó, đáp ứng một khía cạnh nào đó của đời sống. Chẳng hạn, đánh giá Sống
như anh phải theo đặc trưng của thể ký. Đọc ký, người ta tin có thực. Cái hay
của ký, tác dụng của ký, một phần là ở chỗ người đọc tin là có thực. Nếu là tiểu
thuyết thì người ta đòi hỏi nhân vật phải được đào sâu vào tâm lý với những
diễn biến thầm kín và phức tạp. Nhưng là ký thì không ai đòi hỏi thế. Lê Anh
Xuân làm Trường ca Nguyễn Văn Trỗi. Anh tả chị Quyên đến thăm anh Trỗi ở
khám tử hình “Chấn song sắt cũng trổ cành đơm hoa”. Thơ tả thế được. Ký
không tả thế được.
*
Hoài Thanh vốn là một học sinh trường Bưởi. Ông cùng Tôn Quang
Phiệt tham gia đảng Tân Việt, bị nó bắt giam rồi trục xuất khỏi Hà Nội, tống
vào Vinh. Có một thằng Tây, chủ nhà máy gạch Vinh thấy ông nói được tiếng
Pháp, gọi cho làm thư ký.
Một buổi kia đi làm, xe đạp thủng săm, đến chậm 15 phút, nó tát tai và
đuổi. Ông tìm được một gia đình xin làm gia sư. Bùi Huy Tín ở nhà in Đắc Lập,
Huế, tình cờ gặp, đưa vào trong ấy làm thợ chữa morasse (1931). Đến năm
1933, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt thành lập trường Collège tư thục Thuận
Hoá. Ông được mời dạy. Ông dạy Việt văn và tiếng Pháp, vừa đi làm, vừa đọc
sách, viết văn từ ngày ấy.
Hồi làm thợ chữa morasse, Hoài Thanh đã viết phê bình. Rồi nổ ra cuộc
tranh luận với Hải Triều về quan điểm nghệ thuật. Hoài Thanh hàng ngày đi làm
phải cuốc bộ, guốc gỗ, vậy mà bị quy là nhà văn phú hào. Còn Hải Triều đi xe
nhà gọng đồng, nhà có 8 đầy tớ, thì là nhà văn vô sản. Hoài Thanh ngẫm nghĩ
thấy cũng buồn cười.
Nhà in Đắc Lập, nơi làm việc của Hoài Thanh rất gần hiệu sách Hương
Giang của Hải Triều. Họ rất dễ gặp nhau. Nhưng Hải Triều tránh không muốn
gặp Hoài Thanh, vì sợ gặp, nhỡ hoà giải với nhau thì mất đối tượng đấu tranh.
Đọc thơ, bình thơ quả là niềm say mê, một niềm vui, thậm chí là lẽ sống
của Hoài Thanh. Dường như lúc nào ông cũng băn khoăn day dứt về chuyện
văn chương.
Trước cách mạng, cãi nhau với Hải Triều cũng là chuyện say mê văn
chương. Sau cách mạng, phấn đấu về tư tưởng, nhưng vẫn luôn luôn trăn trở về
quan niệm văn chương thế nào là đúng, là sai.
Năm 1954, anh Thành Thế Thái Bình được cử vào tiếp quản Thủ đô.
Trước khi nhận nhiệm vụ này, anh có tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 với
Hoài Thanh ít ngày ở Đại Từ – Thái Nguyên. Anh nhận xét, Hoài Thanh ba
cùng rất nghiêm túc, thái độ với anh đội trưởng rất kính cẩn, một thưa anh, hai
báo cáo anh, tuy anh này rất trẻ, chỉ đáng tuổi con ông thôi. Thành Thế Thái
Bình lúc đó chỉ độ 20 tuổi, cũng được ông thưa gửi như thế. Ông không hề tỏ ra
là một nhà văn, không bao giờ nói chuyện văn chương. Nhưng những buổi tối
sáng trăng, thấy ông thường ngồi trầm ngâm, ở cái chõng ngoài sân, hút thuốc
lào, vừa chống cái điếu cày, vừa nhìn trăng, thỉnh thoảng thở dài. “ Yêu trăng
có phải là vị nghệ thuật không nhỉ, cũng có thể là vị nhân sinh chứ! Có nhất
thiết cứ phải trực tiếp viết về người nghèo khổ mới là vị nhân sinh? Như thơ Hồ
Xanh: “Nước mắt của anh em vô sản, là nguồn thơ chảy ra vô tận”? Tôi đoán
ông tự hỏi mình như thế khi ngắm trăng và thở dài. Tôi nghĩ thế vì liên hệ đến
đoạn Di bút của ông sau này viết về ý kiến Lê Duẩn nói với họa sĩ Huỳnh Văn
Gấm hồi hoạt động ở trong Nam: “Không nhất thiết bức tranh nào cũng trình
bày những hình ảnh công nông. Một bông hồng rung rinh dưới ánh mặt trời
trong sương sớm sao lại không được xem là nghệ thuật vị nhân sinh?”.
Trong những ngày cuối đời, ông ghi những ý nghĩ của mình vào một tập
giấy gọi là Di bút. Đọc tập Di bút này thấy những băn khoăn day dứt cuối đời
của ông chủ yếu cũng vẫn là chuyện văn chương, đặc biệt là chuyện hiểu thơ và
bình thơ.
*
Nhưng trong những ngày cuối cùng trước khi mất, theo anh Từ Sơn,
Hoài Thanh hình như có ngộ ra một cái gì đó có vẻ ngược chiều với những suy
nghĩ trước kia của ông.
Trong Di bút (bản đánh máy Từ Sơn cho tôi) tuy ông chủ yếu nói về
văn chương, nhưng cũng có nêu lên một vài thắc mắc về chế độ xã hội miền
Bắc. Chẳng hạn, ông nhận xét thái độ lao động của cán bộ ta không nghiêm túc
bằng những viên chức của các cơ quan dưới chính quyền nguỵ (gọi là viên chức
“lưu dung”). Thí dụ, những cô y tá, hộ lý của bệnh viện ta không phục vụ bệnh
nhân tốt như y tá, hộ lý của các bệnh viện ở Sài Gòn trước 1975 ở lại làm việc
với ta, hay những cô mậu dịch của ta thì rất hách dịch, cửa quyền. Còn luật lệ
giao thông của ta thì không nghiêm như luật lệ giao thông của Sài Gòn thời
nguỵ...Ông thuật lại câu chuyện của em ông là Nguyễn Đức Ninh là đảng uỷ
viên xã Nghĩa Mỹ huyện Nghĩa Đàn. Trong cải cách ruộng đất, khi anh bí thư
đảng uỷ bị bắt, bị quy là phản động mà Ninh không hề biết, anh rất phục đảng:
đảng tài giỏi quá!. Nhưng đến khi chính anh cũng bị bắt thì anh mới thấy, hoá ra
đảng cũng sai (Từ Sơn cho biết Nguyễn Đức Ninh bị kết án tử hình, sau hạ
xuống tù chung thân).
Ông thắc mắc cả về Lê Duẩn khi Duẩn nói Nguyễn Du không có chút
tình cảm gì với quần chúng. Ông thắc mắc cả về Hồ Chí Minh: trong 5 điều Bác
Hồ dạy “không có một điều nào nói về tình thương mẹ, thương cha. Tình
thương ấy mà không có hoặc có mà lệch lạc thì đâu có thể nói được là đã nên
người”. Hoặc là “vào khoảng năm 1952, tôi được nghe Bác nói trong một lớp
chỉnh huấn: “Bác có thể sai, Trung ương có thể sai... Nhưng đồng chí Mao
Trạch Đông, đồng chí Xitalin thì không thể sai”(...). ý kiến ấy khó có thể nói là
không sai.
Tuy thắc mắc đấy, nhưng qua cách diễn đạt, thấy ông vẫn phải rào đón
rất kỹ. Di bút chỉ viết cho con đọc thôi mà phải rào đón như thế có nghĩa là ông
chỉ phân vân thế thôi, chứ vẫn rất tin ở đảng, ở Lê Duẩn và cụ Hồ.
Về bài thơ của Xuân Sách viết về ông, Đặng Vương Hưng có viết trên
một số Văn nghệ công an rằng Xuân Sách có đến thăm Hoài Thanh khi ông
Hoài sắp mất. Xuân Sách cho biết, cuối cùng Hoài Thanh đã thú nhận Xuân
Sách viết về ông như thế là đúng. Thực ra, theo Từ Sơn, Đặng Vương Hưng đã
bịa ra chuyện ấy. Vì khi ốm nặng, Hoài Thanh ra Hà Nội, còn Xuân Sách vẫn ở
Vũng Tầu, không hề đến thăm. Theo Từ Sơn, chuyện thật chỉ là thế này: Hoài
Thanh nói với Từ Sơn: “Xuân Sách nó dùng Kiều để nói mình vì biết mình mê
Kiều. Nhưng câu thứ hai ác quá. Nên sửa như thế này cho đúng: “Nửa đời lại
phải vị người cấp trên” – thêm cho một chữ “phải”. Vậy là có thể hiểu,Hoài
Thanh quả có công nhận Xuân Sách nói đúng một phần về mình.
Khi Hoài Thanh mệt nặng, Từ Sơn có nói với Tố Hữu đến thăm.
Tố Hữu đến, Hoài Thanh quay mặt vào tường không tiếp. Tố Hữu về
rồi, ông mới quay ra. Ông nói với Từ Sơn: “Từ bài Chuyện thơ (Làm bí thư hoài
có bí ... thơ), coi như sự nghiệp của Tố Hữu đã kết thúc.
Tôi cho ông nói thế là đúng. Qua bài Chuyện thơ, Tố Hữu ngang nhiên
tuyên bố: “Ta là nhà thơ bí thư Đảng, nhà thơ lãnh tụ đây!”. Cụ Hồ làm thơ có
bao giờ tuyên bố thế đâu! Thậm chí còn coi những “bạn tù” nghiện ngập, bẩn
thỉu, ghẻ lở là tri âm tri kỷ nữa “Gẩy đàn trong ngục thấy tri âm” (Ghẻ)
Láng Hạ, 25 – 5 – 2007
Đăng nhận xét
tôi đang học ở trường Trung học kháng chiến đóng ở Đào Giả - Phú Thọ. Tôi đi
khám bệnh ở một bệnh viện ở Đại Đồng. Hình như anh cũng đi chữa răng thì
phải. Có người biết Xuân Diệu, chỉ cho tôi. Anh đi xe đạp, mái tóc lượn sóng,
rất thi sĩ.
Từ ngày về Hà Nội học, rồi công tác ở Đại học, tôi có dịp đến Xuân
Diệu mấy lần cùng với Nguyễn Duy Bình và Hoàng Ngọc Hiến. Vào cuối
những năm 60, sang những năm 70 của thế kỉ trước, tôi luôn viết cho tạp chí
Tác phẩm mới do Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài thay phiên nhau phụ
trách, vì thế luôn có dịp tiếp xúc với Xuân Diệu.
Xem chừng anh rất tín nhiệm tôi. Có lần tôi ngồi uống cà phê với anh ở
24 Điện Biên, bỗng anh nói: “Đây là hai tài nhân nói chuyện với nhau” (Anh
không nói nhân tài mà lại nói tài nhân)
Khi tập thơ Những năm 60 của Huy Cận ra đời, Xuân Diệu đặt tôi viết
bài phê bình đăng Tác phẩm mới. Anh nói, Huy Cận đang đi Pháp, Mạnh phải
viết thẳng tay, nêu rõ nhược điểm cho cậu ta đỡ chủ quan. Tập thơ nhiều bài
yếu lắm. Khi viết bài ấy, anh có trao đổi góp ý với tôi.
Biết anh mến tôi, tôi đến anh luôn.
Xuân Diệu là người rất chu đáo, thiết thực và tiết kiệm. Chu đáo, thiết thực, tiết kiệm đến tỉ mỉ, chi tiết. Thấy tôi viết bản thảo kín cả hai mặt giấy, anh
cho tôi một cuốn giấy báo, bảo rọc ra, viết một mặt thôi (Hồi này đời sống khó khăn đến nỗi giấy trắng để viết văn, viết báo cũng thiếu thốn. Tôi thường phải
dọc giấy để dùng làm bản thảo những tờ giấy bỏ thừa không viết hết ở cuối
những bài tập làm văn của học sinh, vợ tôi thường thu về nhà để chấm). Những lần tôi đến anh vào buổi chiều, mải nói chuyện đến gần tối, anh thường giục tôi
về, vì đường thì xa, đi lại nguy hiểm. Anh nói: “Có thể ở nhà vợ lo bị cướp xe đạp ấy chứ!”. Có lần trời nắng, đi qua nhà anh, tôi tạt vào mượn cái mũ. Anh
cho mượn cái mũ lá đã cũ (hình như của Hà Vũ, con Huy Cận), vậy mà vẫn dặn
phải giữ cẩn thận, khi nào ra Hà Nội trả lại anh. Có lần đang ngồi với anh, thấy
có người nhà đem sách báo cũ ra bán cho hàng đồng nát. Anh gọi với theo:
“Này, những cái bìa sách các tông đẹp, nhớ lấy lại mà dùng”. Thấy anh có một
u già giúp việc (U Khang), tôi tưởng mọi việc chợ búa, bếp núc, anh chẳng phải
quan tâm. Vậy mà không phải. Anh tỏ ra rất thạo giá cả thực phẩm ngoài chợ,
giá trứng, giá thịt. Có lần tôi đã được nghe anh tính toán rất tỉ mỉ: “ Ba quả
trứng gà 33 đồng, 2 quả trứng vịt lộn giờ 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng,
bổ hơn 3 quả trứng gà chứ, 3 lạng thịt bò nhiều hơn 3 lạng thịt lợn, vì thịt bò
nhẹ hơn. Nhưng 3 lạng thịt bò có bổ hơn 2 quả trứng vịt lộn không thì chưa rõ.
Nhưng cũng phải đổi món chứ...Còn thịt chó thì thịt lẫn xương 4 đồng rưỡi một
lạng, thịt nầm 6 đồng một lạng...” (Tính theo giá tiền đầu những năm 1980).
Thấy tôi nhiều khi có vẻ lơ đãng, cẩu thả, anh thường nói giễu: “Cậu đúng l
nhà văn lớn”, hoặc “cậu nghệ sỹ quá, nghệ sĩ hơn cả mình”.
Một lần tôi đến Xuân Diệu với con trai tôi là Nguyễn Đăng Thanh. Nó
sắp đi nước ngoài học. Tưởng tôi đưa con đến chào anh trước khi đi Liên Xô,
anh rất cảm động. Anh sôi nổi dặn dò cháu đến nửa tiếng đồng hồ.
Xuân Diệu thỉnh thoảng có một chuyến đi xa, như đi Liên Xô, Pháp hay
ấn Độ gì đó. Bao giờ anh cũng chú ý mua quà về cho những người thân. Nhưng
không tuỳ tiện mà lập danh sách hẳn hoi, và tuỳ từng người mà tặng các món
quà khác nhau. Tôi cũng được nằm trong danh sách ấy. Khi thì một cái áo sơ
mi, khi thì một bao thuốc lá ngoại, sang nhất là một cái đồng hồ đeo tay Liên
Xô hiệu Pơndốt.
Xuân Diệu làm việc rất cần cù. Một tấm gương lao động quyết liệt: đọc
sách, dịch sách, viết văn, làm thơ. Mùa hè, tôi thấy anh xoay trần ra viết. Nghỉ
ngơi cũng là học tập. Anh mở nhạc cổ điển ra nghe. Anh nói, cứ nghe nhạc mãi,
dù không hiểu nó cũng thấm vào người. Vậy mà có ai đến chơi, anh vội vàng
xếp cả lại, tiếp đón rất nhiệt tình. Kể cả người anh không ưa. Có một lần đang
nói chuyện với anh, thấy một người ghé vào. Anh tiếp rất niềm nở. Khi người
ấy về, anh nói với tôi: “Sao tôi ghét thằng cha này thế!”. Ghét mà vẫn tiếp chu
đáo? Đoán biết tôi thắc mắc thế, anh giải thích: “không tiếp nó lần sau nó không
đến nữa”. Tôi nhớ lại, có lần anh nói: “Người ta yêu vờ yêu vịt còn hơn là lạnh
như tiền. Người ta vỗ tay để lấy lòng mình thôi còn hơn là không vỗ tay”. Lại
nhớ câu thơ của anh:
Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ
Một giây cũng cam, một phút cũng đành.
Thì ra Xuân Diệu rất sợ cô độc. Rất lo không có ai thương mình, không
có ai nhớ mình, tìm đến với mình.
Xuân Diệu rất sợ chết. Có lần tôi đến anh. Anh chỉ bức ảnh bà má của
anh mắc vào giá sách, nói: “Bà má mình đấy. Bà ấy mất rồi. Không có bằng
chứng gì chứng tỏ bà đã từng sống ở trên đời”
Lần khác tôi đến anh khi Như Phong vừa chết. Anh nói, Như Phong
chủ quan, cho là mình khoẻ lắm. Không có doute méthodique về sức khoẻ của
mình. Anh lắc đầu, lè lưỡi: “cái chết ghê gớm thật, nó biến con người ta từ plus
infini thành moins infini!”.
Lúc đó tôi không biết nói gì. Nhớ đến cái chết của Nguyên Hồng, tôi
nói: “Nguyên Hồng cũng chết một cách đột ngột” (giống Như Phong)
Xuân Diệu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Không, Nguyên Hồng chết rồi,
nhưng cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như Phong, chết là không còn
dấu vết gì nữa. Mấy bài phê bình, ai đọc!”
Xuân Diệu ngay từ nhỏ đã rất có ý thức giữ gìn mọi tài liệu, bút tích của
mình. Anh còn giữ nguyên năm cuốn vở học sinh hồi học ở Quy Nhơn, ghi chép
linh tinh đủ thứ: nhật ký, những dòng suy nghĩ tản mạn, dịch thơ, tập sáng tác...
Trải qua bao biến thiên của cuộc đời, rồi những lần sơ tán trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, vậy mà vẫn giữ nguyên, không sờn không rách.
Một con người có ý thức rất cao về bản thân mình.
Đọc mấy quyển vở ấy, tôi thấy có một bài thơ anh đặt tên là ”Những
người chết trẻ”. Chắc là một người bạn học của anh chết, anh xúc động làm bài
thơ này. Bài thơ khá dài, gồm nhiều đoạn, đoạn nào cũng chỉ xoay quanh cùng
một ý. Chẳng hạn, đoạn một nói về các bạn gái rất thương bạn, khóc. Nhưng rồi
yêu người này, người khác và quên. Đoạn hai, nói về các bạn trai, đoạn ba nói
về anh chị em ruột, ý vẫn thế thôi: lúc đầu thương, khóc, sau cũng quên. Đoạn
cuối cùng nói về cha mẹ. Cha mẹ thì không bao giờ quên con, nhưng cha mẹ sẽ
già và chết. Thế là hết, chẳng còn ai thương nhớ mình nữa:
Nhớ các anh hoài chỉ mẹ cha,
Song tro tàn lạnh không còn lửa,
Rồi đèn mờ tắt. Thế là thôi,
Không một người thương ở cõi đời.
Cùng một ý ấy – “Những người chết trẻ” – tôi còn thấy một bài thơ
khác ở dạng một bản nháp:
Vẻ đẹp và non và mạnh mẽ
... yêu như điên
Biết bao hình bóng đầy vẻ thơ
Biết bao khuôn mặt còn ngây thơ
Biết bao mái tóc còn như tơ
Biết bao cặp mắt đầy ước mơ
Sau cái màn quên đã mịt mờ!
.............................................
Biết bao chàng thanh niên đã chết
Đã chết! Tiếng sao mà gớm ghê!
Đã chết! Đã đi không còn về.
Mang theo lực, tài, xuân, hương, huê
Đã chết, tiếng sao mà thảm thê!
...................................................
Biết bao chàng thanh niên đã qua
Như gió xuân đi không để vết
.................................................
Thế đấy, biết bao chàng thanh niên
Đã chết trước khi chưa được sống...
Té ra, từ tuổi thiếu niên, Xuân Diệu đã nghĩ đến cái chết, đã lo đến khi
phải từ giã cõi đời này. Và điều đặc biệt là anh đã nghĩ cách chống lại cái chết,
nghĩa là trở thành bất tử – bất tử trong lòng người.
Chống lại cái chết bằng cách nào? Bằng cách làm thơ, anh gọi là “Thơ
trái tim”.
Trong quyển vở học sinh, quyển thứ ba (đề tập III, 1934), tôi thấy anh,
ngay từ tuổi học trò, đã có hẳn một lí thuyết về sự bất tử của thi ca. Anh viết
một đoạn văn dài, đặt dưới cái đầu đề: “Một bài thơ với một tên người”. Lập
luận của anh như sau:
“Thơ là đồ chơi, là đồ ru ngủ, là đồ không thiết thực, nghĩa là - sao
không nói hẳn?- đồ bỏ. Các nhà tận tâm về sinh kế của xã hội, các nhà thiết
thực, các nhà nghiêm khắc nói thế. Phải hay không tôi chẳng cần biết. Với
Fontenelle, tôi muốn cho rằng ai cũng phải cả (tout le monde a raison). Tôi chỉ
để ý mà thấy rằng: Ba ngàn năm qua chôn nắm xương tàn của Homère. Nói về
danh vọng và bất hủ, đã ba ngàn năm Homère vẫn được tôn sùng... Cái gì rồi
cũng qua đi. Đế quốc Lamã, đế quốc Charlemagne. Nhưng cái chết không diệt
được cái gì không phải là vật chất. Mà cái đầu tiên không phải là vật chất
chẳng phải là thơ sao? Thơ - cám dỗ của mơ màng...”
“Với những khúc anh hùng ca (épopée) Jliade, Odyssée, Homère sống
đến nay... Song thiên tài thời bất hủ là lẽ cố nhiên. Phải chăng thơ có cái ma
lực siêu việt thời gian, mà đến những người chỉ có tài (talent) cũng có thể sống
ở trong thơ, hơn nữa, trong một bài thơ?”
“Một bài thơ cứu một tên người, vớt một tên người ở trong giòng thời
gian nó lôi cuốn sự vật vào miền quên lãng?... Phẩm hơn lượng, le sonnet sans
défaut vaut, seul, un long poème... Nhưng vài câu thơ trong ấy rung động
những trái tim lại đáng giá bằng mấy bài sonnet không nhầm lỗi... Ta để ý xem,
những bài thơ cứu một tên người, khá nhiều là thơ tình cảm, thơ trái tim. Tư
tưởng có thể thay đổi, bây giờ còn ai muốn nghe những lời biện thuyết của
Luther, những bài thơ của Rousseau, bây giờ ai ưa?... Nhưng trái tim người...
khi nào cũng có những trẻ con, những bà mẹ, những cô gái, những mẹ già,
nghĩa là những con người, họ yêu thương, họ vui vầy, họ đau xót... Cho nên
tiếng kêu than của Trác Văn Quân vẫn còn tìm thấy tiếng vang trong lòng
những cô Bạch Lệ ảnh”.
“ở đây tôi không nói những danh sỹ như Ronsard, họ có dư thơ để mà
sống trường cửu. Tôi chỉ nói những nhà thi sĩ còn ở trong trí nhớ nhờ một bài
thơ. Những nhà thơ ấy cũng có làm nhiều bài, song chỉ được có một bài xuất
sắc. Trên dòng thời gian vô cùng tận, họ chỉ có một chiếc lá thả trôi đi. Tôi
không biết thơ Tàu cho nhiều. Song tôi vẫn nghe tiếng nàng Ban, ả Tạ. Tôi vẫn
còn nhờ ý tứ bài thơ vịnh quạt của Triệu Yến Phi. Có lẽ trong văn Tàu, người ta
cũng còn nhớ đến nàng, nhờ bài thơ kia”.
Còn ai không biết đến bài “Hồi văn” của Tô Huệ? ở đây mới đúng cái
trường hợp một bài thơ với một tên người...
Như vậy là đối với Xuân Diệu, điều quan trọng nhất không phải là
chuyện văn chương thơ phú mà là chuyện làm sao được sống mãi với đời, sống
mãi với nhân loại. Văn chương thơ phú chỉ là phương tiện để giúp anh sống mãi
trong lòng người, một thứ vũ khí để chống lại cái chết. Và tôi hình dung cả cuộc
đời lao động nghệ thuật quyết liệt của Xuân Diệu là một quá trình quyết đấu với
cái chết.
Trong mấy quyển vở học sinh ấy, tôi còn thấy điều đặc biệt này ở con
người Xuân Diệu: luôn đòi hỏi tình cảm cao độ, tình yêu mãnh liệt, yêu phải hết
mình. Trong mấy quyển vở nói trên, thỉnh thoảng lại thấy có một đoạn nhật kí.
Có một đoạn nhật kí như thế này: anh ghi tâm trạng rất đau khổ của
mình, đau khổ đến mức như là thất tình vậy. Lúc đầu tôi cứ tưởng thế, chắc là
một cô bạn gái nào đấy – vì anh viết tắt tên cái người mà anh cho là không còn
yêu anh nữa. Đọc tiếp mới biết không phải. Đó là một anh bạn trai. Và lí do rất
trẻ con: “Hôm ấy mình đến mượn B cái quần đùi. B. nói, chốc nữa mình đi đá
bóng, không cho mượn được”. Có thế mà đau khổ! (Khi trả lại mấy quyển vở,
tôi nói với Xuân Diệu như thế – Lúc đầu tưởng là bạn gái, hoá ra là bạn trai -
Xuân Diệu ngồi im một lát rồi bảo tôi: “Này, đừng nói với ai nhé, người ta hiểu
lầm!).
Mấy trang sau, tôi lại thấy một đoạn nhật ký nữa. Cũng vẫn là nỗi đau
khổ nói trên – Và vẫn là cái anh B. nào kia. Lần này, lý do khác: có một gánh
hát cải lương Nam kỳ ra biểu diễn ở Quy Nhơn. Học sinh mua vé đi xem. B.
không có tiền, vay một bạn nào đấy tiền mua vé. Xuân Diệu biết được. Thế là
lại đau khổ như là thất tình: bạn bè với nhau, không có tiền, không nói với mình
một tiếng, mà lại đi vay người khác.
Trong mấy quyển vở nói trên, Xuân Diệu tập viết đủ loại văn thơ nhưng
tôi để ý thấy, dù viết thể văn nào thì chủ yếu cũng quay quanh tình bạn. Và dù
là thơ hay văn xuôi, dù là dịch thơ Pháp, thơ Tầu thì cũng thể hiện sự khao khát
tình bạn đến cuồng si mà không được đền đáp xứng đáng. Một cái tôi cảm thấy
cô đơn, vắng người tri kỷ. Ví dụ, đây là một đoạn văn như thế:
“Tôi là một đứa si, gặp bạn thì yêu hết lòng, xa nhau một khắc thời lấy
làm nhớ, thế mà giứt mối tình một cách mau chóng như thế, làm sao mà chịu
nổi phẫn uất, lòng hận sầu? Đêm hôm ấy nằm mà thở dài một mình, sáng dậy
viết cái thư thật dài, gửi cho bạn:
Ôi! Nhân sự.
Trọng của nỡ khinh người!
Vẫn tưởng lòng son in một tấm
Đâu ngờ dạ thế trắng như vôi!
“Bao nhiêu tình đem tặng bạn tôi, bạn tôi đã không nhận mà quăng
xuống đất bùn trả lại cho tôi. Tôi chỉ xin nhặt lại, rửa cho tinh khiết như cũ, rồi
đem chôn kỹ trong một góc quả tim tôi vậy. Bây giờ tôi chưa quên được tình cũ,
song ngày qua tháng tới, có một ngày cũng sẽ quên. Than ôi! Vũ trụ mang
mang, nước non rộng lớn, từ đây đến lúc chết, suốt một đời há lẽ không kiếm
được khách thân bằng ư?”
Luôn luôn đòi hỏi tình cảm cao độ, nên Xuân Diệu thường dễ có mặc
cảm người ta lạnh nhạt với mình. Có một lần, lâu tôi không đến thăm anh. Khi
gặp, anh nói dỗi: “Cậu bây giờ nổi tiếng rồi nên chán mình chứ gì?”.
Tôi nhận thấy Xuân Diệu có một cái gì như là có chất đàn bà vậy – hay
hờn dỗi. Và khác hẳn với Nguyễn Tuân, anh hay bộc lộ thẳng tình cảm với
những người mà anh quý mến.
Thực tình tôi không hiểu sao Xuân Diệu lại có thể thân với Huy Cận. Họ
quả cũng có những chỗ hợp nhau. Nhưng Huy Cận đâu phải hạng người tử tế,
ngay cả trong tình bạn với Xuân Diệu.
Hai ông bạn, có chỗ này quả là giống nhau: cùng ăn rất khoẻ và chỉ
thích thịt cá, trứng vịt lộn, nghĩa là những thứ nhiều prôtit.
Hồi khoa văn Đại học sư phạm Việt Bắc đưa sinh viên về Hà Nội (đóng
ở Cổ Nhuế) để mời các nhà văn đến nói chuyện, tôi có được nhờ tiếp khách hộ.
Tôi thấy Xuân Diệu rất thích uống bia và húp trứng sống. Anh còn nói, tối nào,
cần viết một cái gì thì buổi chiều thế nào cũng phải mua ba lạng thịt chó để bồi
dưỡng. Có thế mới có sức viết (Xuân Diệu chết vì bị nhồi máu cơ tim, tức là
máu nhiễm mỡ, cần kiêng ăn nhiều thịt, trứng. Khi anh mất, Vũ Tú Nam nói,
Xuân Diệu đã bồi dưỡng nhầm là vì thế). Huy Cận cũng vậy. Phải nói là tham
ăn.
Nhưng điều rất vui là, tuy cùng ăn khoẻ mà Huy Cận thì được khen là
bình dân, còn Xuân Diệu thì bị chê là tham ăn. Nguyễn Khải thấy như thế, khi
tháp tùng hai cây bút đàn anh này vào tham quan Nam Ngạn, Hàm Rồng, mừng
thành tích bắn máy bay Mỹ (năm 1965). Họ chiêu đãi các vị. Quan ăn tham
(Huy Cận) thì gọi là bình dân, còn dân (Xuân Diệu) thì gọi là tham ăn. Đúng là
một dân tộc chỉ trọng quan lại.
Hai ông bạn còn có chỗ này cũng giống nhau: có ý thức giữ đầy đủ
những bản thảo các tập thơ làm trước cách mạng tháng Tám. Giữ nguyên cả
những bản nháp từng bài một. Một bài thơ có thể có tới ba bốn bản nháp, từ bản
này sang bản khác, sửa chữa thế nào cho đến bản cuối cùng khi bài thơ được
hoàn thiện. Chẳng hạn như bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu (lúc đầu đặt tên là
Đàn trong trăng sáng). Trước khi trở thành một thi phẩm tuyệt tác mà ta đều
biết, bài thơ đã trải qua nhiều bản nháp, trong đó có những câu còn rất thô sơ
vụng về như:
Nhỏ giọt vào trăng, đêm thuỷ tinh
Linh lung bóng sáng bỗng run mình
Vì nghe tới đoạn giai nhân chết
Xanh ngắt không mây nguyệt một mình.
Riêng câu kết, có tơi bốn lần nháp khác nhau:
... Đàn ơi, người đẹp đến tê mê
... Thôi mà! âm nhạc giết tôi đi!
... Dịu dàng âm nhạc giết tôi đi!
... Đàn ơi! Âm nhạc giết ta đi!
Cuối cùng mới tới được câu kết tuyệt vời này:
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê
Tài liệu này rất quý. Từ những bản nháp này, có thể nghiên cứu viết
được những công trình khoa học rất hay về ngôn ngữ thơ ca, về lao động nghệ
thuật... Xuân Diệu sẵn sàng cho tôi mượn. Rất tiếc hồi ầy chưa có photocopy dễ
dàng như sau này. Chép tay thì biết đến bao giờ, nhất là lại chép cả những chỗ
dập dập xoá xoá, viết đi, viết lại, rất ngại.
Bây giờ Xuân Diệu mất rồi. Tất cả ở trong tay Huy Cận.
Có lần tôi định dùng mẹo để lấy ra từ tay Huy Cận. Tôi hướng dẫn một
cô sinh viên làm luận văn cao học, tên là H T H, về Lửa thiêng. Cô này khá
xinh đẹp, lại khôn ngoan. Tôi giới thiệu cô đến Huy Cận để hỏi han, trao đổi,
dần dà thân mật, sẽ mượn cho tôi tập bản thảo kia, lúc đầu là bản thảo Lửa
thiêng của Huy Cận, sau đến bản thảo Thơ thơ, Gửi thương cho gió của Xuân
Diệu. Bây giờ sẵn photo rồi, chỉ cần mượn ra nửa tiếng đồng hồ là có thể chụp
được hết.
Tôi đã thất bại. Huy Cận tìm cách lợi dụng cô này mà không chịu mất
gì. Thái độ gạ gẫm lộ liễu, rất tởm, đại khái đặt tập bản thảo bên cạnh, cầm tay
cô và nói: “Phải thế nào mới cho mượn chứ!”. Sau này tôi mới biết, đừng hòng
lấy không một cái gì ở ông ta. Anh Hà Minh Đức đã bị một vố rất đau: trả ông
ta mấy triệu để lấy bút tích và bức ảnh của ông thời trẻ. Anh chỉ nhận được một
bản photo! ảnh cũng photo!
Tôi không hiểu sao Xuân Diệu lại có thể tin cậy Huy Cận đến thế. Ông
bạn này đã gây khó khăn cho người ta nghiên cứu Xuân Diệu, lại định dùng tài
liệu của Xuân Diệu để kiếm chác. Cái phòng ở của Xuân Diệu, dù cho vốn
thuộc quyền sở hữu của Huy Cận, lẽ ra cũng nên giữ nguyên để làm bảo tàng
ông bạn. Huy Cận đã xoá hết dấu vết, dọn dẹp đi hết. Rồi hai bố con tranh nhau.
Vậy là người có tội lớn nhất đối với Xuân Diệu lại chính là ông bạn thân thiết
số một của anh. Xuân Diệu muốn sống mãi trong lòng người. Đó là điều anh tha
thiết nhất lúc sinh thời. Vậy mà chính ông bạn “quý” kia đã phản lại anh ở
chính cái điều anh vô cùng tha thiết ấy.
Tuy nhiên tìm hiểu quan hệ giữa Huy Cận và Xuân Diệu, thấy tình bạn
thân thiết giữa hai người là có thật. Năm 1940, sau khi đỗ tú tài, Xuân Diệu học
luật một năm rồi thi vào ngạch tham tá nhà đoan và được điều vào làm việc ở
Mỹ Tho cho đến 1943. Thời gian này Huy Cận vẫn đi học. Khi Huy Cận đỗ kĩ
sư canh nông, có việc làm, Xuân Diệu liền xin thôi việc trở lại Hà Nội ở với
Huy Cận, sống nhờ vào lương Huy Cận. Nguyễn Công Hoan nghe nói chuyện
này, hỏi: “Thế không sợ Huy Cận nó đá đi à? Lúc ấy thì sống bằng gì mà bỏ
việc?” Xuân Diệu nói: “Lúc bấy giờ tôi không hề nghĩ đến tình huống đó”.
Đúng là lãng mạn! Tôi biết, thời Tây, tham tá (commis) thuộc loại viên
chức cao cấp, lương khá lắm. Bỏ đi dễ dàng như vậy quả là rất lãng mạn và tỏ
ra tin tưởng tuyệt đối ở tình bạn. Tuy nhiên tình huống “Huy Cận đá”, tôi nghĩ
khó xảy ra. Vì Huy Cận nhà nghèo, tuy có học bổng nhưng còn phải nuôi hai
em đang học ở Thanh Hoá. Xuân Diệu thường giúp đỡ bạn rất cụ thể. Thời gian
làm tham tá đoan ở Mỹ Tho, anh cứ đều đều gửi ra cho Huy Cận mỗi tháng 10
đồng. Khi Huy Cận tham gia cách mạng, Xuân Diệu còn vào tận quê Hà Tĩnh,
lo thu xếp gia đình cho Huy Cận để bạn an tâm công tác. Mặt khác, trong hoạt
động sáng tác, Huy Cận cũng cần một chỗ dựa là Xuân Diệu. Xuân Diệu sớm
có chân trong Tự lực văn đoàn, như vậy là có thanh thế lắm (Huy Cận tha thiết
xin vào Tự lực văn đoàn nhưng không được chấp nhận).
Tôi đã được chứng kiến Huy Cận sẵn sàng quy phục và tỏ ra phụ thuộc
vào Xuân Diệu như thế nào: Hôm ấy tôi đến Xuân Diệu, thấy Huy Cận ở trên
gác xuống, ăn mặc chỉnh tề, cứ loanh quanh ở căn phòng của Xuân Diệu. Thấy
tôi, Huy Cận khoe vừa dịch bài thơ tình của Arvers (Sonnet d’Arvers): “Mon
âme a son secret, ma vie a son mystère”. Bài này đã có một bản dịch rất được
truyền tụng của Khái Hưng “Lòng ta chôn một khối tình, Tình trong giây lát mà
thành thiên thâu...”. Huy Cận đã đọc cho tôi nghe bản dịch của anh và lấy làm
đắc ý: “Tôi dịch sát nghĩa hơn bản dịch của Khái Hưng chứ!”
Xuân Diệu mắng luôn: “Dịch sát nghĩa mà là hay à?”
Xuân Diệu rót nước ra cốc mời tôi uống. Huy Cận hỏi: “Nước mơ hả?”.
Lại bị Xuân Diệu mắng: “Mơ mơ cái gì, làm gì có mơ!”
Thấy Huy Cận cứ nói chuyện với tôi, Xuân Diệu lại mắng nữa: “Anh
Mạnh anh ấy đến chơi với tôi chứ, sao cứ nói mãi thế!”.
Tôi rất lấy làm lạ: Sao Xuân Diệu cứ mắng Huy Cận như mắng con nít
mà toàn chuyện chẳng đáng gì cả!
Thì ra sáng hôm ấy, Huy Cận hẹn với Quang Huy ở Nhà xuất bản Văn
học tới làm việc về một tuyển tập thơ của mình, cho nên ăn mặc chỉnh tề và cứ
loanh quanh ở tầng một, phòng Xuân Diệu.
Một lát, Quang Huy đến. Huy Cận ra làm việc với Quang Huy ở phòng
ngoài. Xuân Diệu giải thích với tôi: “Dạo này làm được mấy bài thơ, cứ hoắng
lên. Mình phải mắng cho cụt hứng đi, đỡ chủ quan. Cứ tưởng bở!”
Làm việc với Quang Huy một lát, Huy Cận chạy vào báo cáo với Xuân
Diệu, đại khái nói, Huy đề nghị bỏ mấy bài nào đấy và Cận thấy cũng phải.
Xuân Diệu nổi nóng: “Không bỏ! Sợ mất ghế thứ trưởng à?”
Huy Cận nhăn nhó: “Khổ quá, sợ gì đâu. Thấy Huy nó nói cũng có lý”.
Thì ra tuyển thơ của mình như thế nào, Huy Cận cũng phải báo cáo với
Xuân Diệu.
Xuân Diệu đúng là chỗ dựa của Huy Cận trong đời và trong sáng tác.
Nhưng khi ông bạn chết rồi thì còn cần gì nữa. Máu tham và thói ích kỉ, bần tiện
liền trỗi dậy và giết chết luôn tình bạn.
Xuân Diệu không chỉ cần cù đọc sách, làm thơ, anh còn rất chăm chỉ đi
nói chuyện. Đâu mời cũng đi. Đối tượng nào cũng nói. Các bà cấp dưỡng, các
nông trường viên mời cũng đi ngay. Lại còn gợi ý cho người ta mời nữa. Anh
thường nói với tôi khi lâu lâu tôi không mời anh nói chuyện với sinh viên:
“Phải khẩn trương khai thác mình đi chứ!”. Đối với mỗi đối tượng, anh đều rút
kinh nghiệm nói sao cho hấp dẫn. Anh tính toán rất tỉ mỉ, từ sự sắp xếp nơi nói
chuyện ra sao, cự li người ngồi nghe thế nào, mùa hè khác, mùa đông khác,
thỉnh thoảng lại phải xen vào một câu chuyện vui cho không khí đỡ tẻ. Đặc biệt
anh hay kết hợp phổ biến “sinh đẻ có kế hoạch” (không hiểu sao Xuân Diệu
luôn luôn lo lắng đến chuyện này). Anh nói một hồi mà không thấy vỗ tay, rất
dễ mất hứng. Nhiều khi không kiên nhẫn được nữa, anh hỏi thẳng người nghe:
“Sao, có thích không? Thích thì phải vỗ tay lên chứ!”
Xuân Diệu rất sợ thái độ lạnh nhạt, dửng dưng. Anh cho có nhiều thằng
đàn ông rất ngu, vợ nấu cho món ăn ngon, cứ chén hùng hục mà không biết
khen lấy một câu. Tôi nhớ câu thơ của anh:
Em có tài nấu nướng
Anh có tài ngợi khen.
Xuân Diệu thích nói chuyện với giáo viên nhất.
Đầu năm 1985, Hữu Thỉnh, sau đại hội nhà văn lần thứ III, là uỷ viên
chấp hành phụ trách nhà văn trẻ. Anh mời chúng tôi đi Tuyên Quang bồi dưỡng
một lớp nhà văn trẻ ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Đoàn có Xuân Diệu, Chính
Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Vương Trí Nhàn và tôi.
Giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang, nhân dịp này, mời
Xuân Diệu đến nói chuyện. Hôm sau họ lại mời tôi. Xuân Diệu bảo tôi: “Giáo
viên họ mời thì nên đi. Nói chuyện với giáo viên lợi lắm. Nói với người khác,
một người nghe là chỉ một người. Nói chuyện với giáo viên, một người nghe
bằng hàng trăm người. Vì các thày cô giáo lại nói lại với học sinh của mình”.
Đi nói chuyện là một yêu cầu tự thân của Xuân Diệu. Anh có nhu cầu
được tiếp xúc và trò chuyện với nhiều người, thật nhiều người. Cho nên ở mấy
ngày với anh ở Tuyên Quang, tôi thấy anh đi nói chuyện liên miên. Nói sáng,
nói chiều, nói tối, khản cả cổ. Được có thêm một người biết đến mình, anh
sướng lắm. Cho nên anh thường nhắc đi nhắc lại câu chuyện về một anh hàng
nước mía nào đấy ở Tuy Hoà (Phú Yên) biết anh là nhà thơ Xuân Diệu và đãi
anh một cốc nước mía bốn đồng: “Thi sĩ cỡ như tôi có thể được tổng thống mời
tiệc ấy chứ. Nhưng được một anh hàng nước mía biết đến, khó lắm!” Xuân Diệu
nói một cách đầy tự hào.
Xuân Diệu luôn luôn có ý thức bảo vệ Thơ mới và văn học lãng mạn. Ai
đụng đến Thơ mới là không xong với anh. Anh ghét Vũ Đức Phúc, Phạn Cự Đệ,
Lê Đình Kỵ là vì thế. Anh không ưa cả Hoài Thanh vì tác giả Thi nhân Việt
Nam vốn rất mê Thơ mới là thế mà nay lại quay ra phê phán Thơ mới quá gay
gắt (Tố Hữu cũng phải nói: “Hoài Thanh tát mình quá đau”). Anh cũng luôn
luôn đấu tranh cho sự tồn tại chính đáng của cái tôi cá nhân và thơ tình. Vấn đề
này, ngày nay chẳng ai còn thắc mắc. Phải là kẻ gàn dở hoặc ngu tối lắm mới
phủ định cái tôi cá nhân và thơ tình. Nhưng sinh thời Xuân Diệu, nghĩa là
khoảng đầu những năm 1980 trở về trước, đấu tranh cho sự khẳng định cái tôi
cá nhân và thơ tình là cả một thái độ dũng cảm. Tôi nhớ thời chống Mỹ, có lần
anh nói với tôi: “Mỗi lần in một tập thơ, mình phải đưa ra trước hàng loạt bài
chống Mỹ như một cái đầu tầu xe lửa, sau đó, xen vào những “toa” thơ chiến
đấu, lén lút mắc vào một cái “toa” thơ tình cho nó kéo ào đi”. Nhưng thơ tình
của anh lúc bấy giờ nhiều khi không hẳn là thơ tình, không dám là thơ tình thật
sự. Đó nhiều khi chỉ là thơ của cái nghĩa vợ chồng (Anh chờ em về ăn cơm, Đứa
con của tình yêu, Em làm bếp... Tôi gọi thế là thơ về “giai đoạn văn xuôi” của
tình yêu) hoặc phải gò theo khẩu hiệu “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”
thường thấy giăng lên ở những phòng cưới thời chiến tranh...
Ngoài ra, về tình yêu, trái tim anh cũng không còn cái cuồng nhiệt, cái
mãnh liệt như thời trước. Mà không say đắm cuồng nhiệt thì làm sao tạo được
thơ tình thật sự!
Vào những năm 60, 70, 80 của thế kỉ trước, Xuân Diệu bỗng làm rất
nhiều thơ tình. Số lượng gấp bội so với thơ tình trước cách mạng. Vào năm
1961, ở anh dường như có một sự thức tỉnh trở lại về tình yêu. Anh nói: “Năm
1961, do một mối tình đến với mình mà mình cảm thấy tình yêu thật sự sống lại
mạnh mẽ. Hoá ra “Đáy chĩnh vét rồi, hãy còn hạt gạo” – giống như như câu
thơ của Baudelaire “Un brin de paille brille encore dans l’étable”. Anh định làm
một cuốn từ điển về đủ các trạng thái của tình yêu: nhớ, ghen, hờn – dỗi, rồi lúc
thức, lúc ngủ, khi ăn, khi uống...
Nhưng dư luận không đánh giá cao thơ tình của anh sau cách mạng. Tôi
cũng thấy như vậy. Nguyễn Kiên nói đúng, thơ tình Xuân Diệu sau cách mạng
dùng kỹ thuật nhiều hơn là có tình yêu thật với một đối tượng có thật. Cách làm
thường là thế này: dựa vào một chi tiết có thể có rồi phóng đại lên, ngoa ngôn
lên cho thành say đắm. Chẳng hạn, em gửi cho anh một bức thư, nói nhớ anh.
Thế là như đang đi giữa sa mạc bỗng thấy nhân loại quanh mình. Hoặc là, em
có vẻ lạnh nhạt, anh buồn quá. Nhưng một bữa cơm, em gắp cho anh một miếng
thịt bằng ngón tay, thế là:
Anh ăn như miếng ngọc
Dạ vui sướng nghẹn ngào
Nghĩ tình em vô tận
Khi bỏ vào bát anh...
Đúng thế, bản thân kỹ thuật không bao giờ tạo ra thơ. Trước cách mạng,
anh có dùng kỹ thuật gì đâu mà đúng là thơ tình:
Anh nhớ bóng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh,
Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!
Dù sao thì cũng có một thời, Xuân Diệu cũng đã từng là nhà thơ tình số
một ở nước mình. Và đến bây giờ, liệu đã có ai vượt được?
Có một hồi, người ta cứ đồn Xuân Diệu ái nam ái nữ. Không rõ hư thực
thế nào. Rồi anh cưới Bạch Diệp. ái năm ái nữ sao lại lấy vợ? Nhưng được mấy
tháng, Bạch Diệp bỏ luôn. Vậy là sao?
Thực ra Xuân Diệu chỉ mắc chứng đồng tính luyến ái và bất lực trong
quan hệ tình dục, chứ không ái nam ái nữ.
Hồi kháng chiến chống Pháp, tôi công tác với anh Lã Hữu Quỳnh ở Sở
Giáo dục Liên khu Việt Bắc (Anh Quỳnh là một nhạc sĩ, sau 1954, về Hà Nội
làm Hiệu phó trường nhạc trung cấp). Anh quê ở Bắc Giang. Trong thời gian
kháng chiến, các văn nghệ sĩ đi công tác qua, thường ghé vào nhà anh ngủ nhờ.
Một lần, Xuân Diệu và Trần Văn Cẩn vào ngủ nhờ. Nửa đêm, anh thấy Cẩn
đùng đùng dậy chửi mắng Xuân Diệu thậm tệ.
Anh Xuân Tửu một lần cùng Xuân Diệu ở trong một đoàn văn nghệ sĩ đi
thăm đảo Cô Tô. Chiều hôm trước họ nghỉ lại ở Móng Cái để hôm sau đáp tàu
ra đảo. Xuân Tửu muốn tắm truồng nên một mình lang thang ra biển tìm chỗ
vắng người. Nhưng rất phiền là cứ thấy Xuân Diệu lẽo đẽo đi đằng sau. Đi một
chập, Xuân Diệu biết ý Xuân Tửu, nói: “muốn tắm truồng phải không? Thì
cùng tắm”. Xuân Tửu mừng quá không phải vì được tắm, mà vì nhân dịp này,
biết đích xác Xuân Diệu có ái nam ái nữ hay không. Anh giương mục kỉnh để
nhìn cho rõ – Té ra rất đẹp! – Xuân Tửu nói với tôi như vậy.
Sau khi Bạch Diệp bỏ Xuân Diệu, anh Huỳnh Lý có một lần cùng ăn với
Xuân Diệu ở khách sạn Phú Gia. Huỳnh Lý gạ chuyện: “Mình có học với cậu từ
nhỏ (cấp II Quy Nhơn), mình biết chứ. Người ta cứ nói cậu ái nam ái nữ, nhưng
có phải đâu (trẻ con thằng nào ái nam ái nữ, nó vật ra khám ngay, dấu sao
được)
Xuân Diệu im lặng một lúc rồi nói: “Cái con Bạch Diệp trắng trợn! Để
rồi mình uống thuốc, sẽ khá lên dần. Nó bỏ luôn”.
Người làm mối Bạch Diệp cho Xuân Diệu là Nguyễn Đình Thi và Hằng
Phương. Hôm cùng đi vào Đà Nẵng, Nguyễn Đình Thi nói với tôi: “Tôi cứ bị cô
Bạch Diệp chửi mãi”
Thực ra, chuyện Xuân Diệu có vấn đề về sinh lý, Bạch Diệp cũng có
ngờ ngợ trước khi nhận lấy Xuân Diệu- Chị cẩn thận đi hỏi Tô Hoài là bí thư
Đảng đoàn văn nghệ – Tô Hoài nói, không biết và mách đi hỏi Huy Cận. Huy
Cận nói không có chuyện gì. Nhưng Bạch Diệp vẫn cảnh giác: Cưới rất to
nhưng không đăng kí kết hôn. Thành ra khi biết chuyện, bỏ luôn, không phải ra
toà lôi thôi.
Khi Xuân Diệu mất, Bạch Diệp viếng một vòng hoa trắng.
Hôm giỗ đầu Xuân Diệu (tháng 12 – 1986), người ta tổ chức một cuộc
hội thảo khoa học lớn ở câu lạc bộ lao động. Tôi được mời đọc báo cáo. Tôi đọc
bài: “Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn: Xuân Diệu”. ở bài này, lần đầu
tiên tôi đưa ra mấy ý được hoan nghênh: tư tưởng nghệ thuật (idée poétique)
của Xuân Diệu là niềm khát khao giao cảm hết mình với cuộc đời trần tục, trần
thế này; Xuân Diệu là người đầu tiên đưa vào thơ ca Việt Nam, tình yêu thật sự
là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối từ nhục thể đến tâm hồn (khác với
thơ tình của Huy Cận, chỉ là tình yêu platonique); một cách tân quan trọng của
Xuân Diệu về thi pháp: coi con người giữa tuổi trẻ và tình yêu là chuẩn mực của
cái đẹp.
Chị Xuân Như, em Xuân Diệu, có mặt hôm ấy, đến gặp tôi, nói: “Anh
viết rất đúng về anh tôi”
Rất tiếc, giá mà Xuân Diệu đọc được!
*
Nhớ lại, lần đầu tiên tôi đến Xuân Diệu ở 24 Điện Biên là vào năm
1966. Cuối năm 1985 thì Xuân Diệu qua đời. Hai mươi năm quan hệ mật thiết
với anh, tôi được tiếp chuyện anh không biết bao nhiêu lần. Đối với tôi, anh
không dấu điều gì. Từ chuyện đời, chuyện văn, chuyện yêu ghét người này,
người khác, chuyện ăn uống sao cho có sức khoẻ và sống lâu để viết, rồi chuyện
kinh nghiệm viết với đủ ngón nghề cụ thể. Cả chuyện khôn khéo luồn lách nữa
để có thể đối phó với đời... Anh đã cấp cho tôi biết bao tri thức và kinh nghiệm,
và đã khuyến khích tôi rất nhiều. Anh muốn tôi hiểu thật rõ, thật kĩ về anh để
viết thật tốt về anh. Và về phần mình, tôi cũng muốn như vậy.
Những lần trò chuyện với anh, nói chung, tôi đều có ghi lại. Giờ tôi
muốn chép ra đây một ít, cố truyền đạt lại chính xác từ ý tứ tới giọng điệu của
anh, mong muốn nhớ lại được con người cụ thể của anh, cá tính, tính cách cụ
thể của anh. Nhân tiện, qua cái cuộc trò chuyện, cũng thấy được tâm lí xã hội cụ
thể của giới cầm bút một thời và không khí lịch sử cụ thể của nền văn học ta
mấy chục năm về trước.
Tối 8 – 6 – 1966, tại 24 Điện Biên.
Tôi đề cập đến Thơ mới.
Xuân Diệu nói, không muốn nói chuyện Thơ mới. Mệt – Ngại lắm.
Hãy dồn tinh lực cho hiện tại, làm thơ chống Mỹ. Nhưng rồi anh lại nói
sôi nổi về Thơ mới.
Anh rất tự hào vì người ta vẫn chép thơ của anh. Đi bơm xe đạp, có một
anh bơm cho rất kỹ, rồi gạ chép Thơ thơ. Năm 1954, gặp anh Lê Duẩn ở bến
phà Ròn, Quảng Bình. Lê Duẩn nói: “Thơ trước cách mạng của anh, tôi mê, thơ
sau cách mạng của anh tôi chưa mê”.
Xuân Diệu cho vấn đề quyết định là vấn đề trái tim . Chúng tôi chỉ cần
trái tim. Trái tim là “chép thơ”. Có hai hệ thống tiếp nhận thơ mới: giảng
officiel trong nhà trường và việc chép thơ của thanh niên. Một điều rất bực là ở
trường phổ thông người ta cứ cho lãng mạn là xấu (Huy Cận có mặt lúc ấy, nói
xen vào “quần chúng công nông rộng rãi hơn các nhà nghiên cứu”). Tố Hữu đã
từng ngâm Vạn lý tình và Tương tư chiều... Thời gian sẽ ủng hộ những phần
tích cực của Thơ mới. ở Liên Xô, người ta công nhận cả ba nhà thơ: Blốc,
Êxênhin và Maiakôpxki. Nhưng quan điểm của ông anh thứ hai (Trung Quốc)
thì ghê quá! Tả còn hơn hữu, sợ quá! Nhưng mà thôi, chả cần bàn bạc làm gì,
chỉ cần người ta chép thơ tôi. Còn thầy giáo, đánh giá hay dở, tốt xấu, học sinh
nó không nghe đâu!
Xuân Diệu rất ghét người ta cho thơ tình của anh là truỵ lạc. Anh nói:
“Mình thuốc lá cũng không biết hút, có thể nói là nhà quê”. Anh cũng rất ghét
người ta cho anh là chịu ảnh hưởng symbolisme và André Gide. Anh nói: “Đây
là sự bắt gặp chứ không phải chịu ảnh hưởng. Khi tôi làm thơ, tôi chưa đọc
Gide, mãi đến khi ra Hà Nội, học lycée mới đọc”.
Xuân Diệu cho khẳng định ý nghĩa tích cực của sự ra đời của cái tôi cá
nhân là đúng. Còn mâu thuẫn giữa cái tôi và cộng đồng là mãi mãi. Cần hiểu ý
thức cá nhân khác với chủ nghĩa cá nhân.
Khi Xuân Diệu xuất hiện, Thế Lữ trở thành démodé, rồi người ta không
đọc anh nữa. Cái mốt lên tiên của Thế Lữ là évasion nặng: Phải hiểu Xuân Diệu
không phải tìm tòi về nghệ thuật mà là cố tìm cách nói cho chân thật, có khi lời
thơ sống sượng, Tây quá. Lúc đầu người ta không thừa nhận là thơ, là có âm
điệu, vì quen với cái du dương Thế Lữ rồi. Xuân Diệu muốn giao hoà với mọi
người mà không được. Cô độc. Buồn. Nhưng không thoả hiệp. Muốn quẫy ra
khỏi cái sầu, cưỡng lại cái sầu mà không được. Nhưng lòng yêu đời vẫn mạnh
hơn cái buồn.
Anh đồng ý với tôi: “Đúng là thơ Xuân Diệu có cái mâu thuẫn: mùa
xuân và tình yêu mâu thuẫn với chiều thu và đêm lạnh. Nhưng tuy không đi với
quần chúng, mình vẫn ghét bọn giầu sang và xã hội kim tiền. Mình đi tìm lối
thoát mà bế tắc. Nhưng nếu không cô đơn thì thoả hiệp, thoả mãn với xã hội
sao!”
Bỗng Xuân Diệu xoay ra nói đến cái chết của Nguyễn Bính. “ Nguyễn
Bính chết hồi Tết. Bất ngờ quá! Có lẽ do thiếu bồi dưỡng”. Anh tỏ ra rất lo lắng.
Tối 10 – 8 – 1966, tại 24 Điện Biên.
Xuân Diệu nói về tiểu sử của mình. Anh cũng nói nhiều về cái tôi cá
nhân cá thể (individu) và về Thơ mới.
“Đời ông tôi ở trong tứ hộ nổi tiếng hay chữ ở Hà Tĩnh. Bố tôi là một
ông tú kép, có vợ, vào Bình Định lấy bà hai làm nước mắm ở Gò Bồi. Ông cụ
học chữ Tây, đỗ primaire. Chỉ dạy học, không thích ra làm việc nhà nước và
không thích phải luồn cúi. Có học nghề thuốc bắc.
Mình học ở cha tính cần cù, lòng thương người, không thèm khát vươn
lên xã hội quyền quý.
1934 đỗ diplôme. 1935 ra Hà Nội học tú tài. Đỗ tú tài, học một năm
luật. Năm 1941 thi tham tá đoan. 1943 thôi làm đoan. 1944 tham gia Việt Minh.
Tuy có chân trong Tự lực văn đoàn, nhưng không tham gia tổ chức kinh tế với
cánh Ngày nay. Rất yêu quốc văn – Yêu quốc văn là có bao hàm lòng yêu nước
– vì tiếng Việt đương thời bị coi là tiếng vợ lẽ. ở trường học hồi ấy có ba môn bị
khinh bỉ: chữ Hán, tiếng Việt và Vẽ.
Rất thích làm thơ. Nhưng không évasion như Thế Lữ (tiên), Hàn Mạc Tử
(điên), Chế Lan Viên (ma), Huy Cận (siêu hình), Vũ Hoàng Chương (thuốc
phiện), Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Thứ (kín mít, cho chữ vào hũ, lắc rồi xếp
ra).
Nói Xuân Diệu là nói individu. Phạm trù individu tư sản thoát khỏi ý
thức hệ phong kiến là một tiến bộ, là dân chủ hơn so với tư tưởng trượng phu,
quân tử. Tất nhiên đói nghèo thì không đòi hỏi ý thức cá nhân được. Khi cá
nhân tách ra, tự riêng, tự phân biệt với đại gia đình phong kiến thì có vui nhưng
cũng có buồn. Tự biết mình, tự phân biệt mình với người thì cảm thấy cô đơn.
Ngày nay cũng thế thôi. Nhưng Xuân Diệu dừng lại ở đấy, không thoát ly và
vẫn lạc quan yêu đời, tuy cô độc. Vì vẫn bám lấy cuộc đời, không thoát ly nên
gặp cách mạng, theo cách mạng và làm thơ ngay.
Cái tôi Thơ mới như con bướm thoát xác. Lần đầu nó khám phá thiên
nhiên bằng con mắt tươi mới, không nhìn bằng ước lệ nữa – Thế Lữ vẫn chưa
thoát ước lệ.
Cơ sở xã hội của Thơ mới là tiểu tư sản, không phải tư sản.
Ông Trường Chinh nói với hoạ sĩ Lê Lam: “Đi qua sông Hồng, tôi nhớ
bài Tràng Giang của Huy Cận. Ông nói với Huy Cận, khi làm bài Là thi sĩ, tuy
có nói đến bài Cảm xúc của Xuân Diệu, nhưng không phải để đả Xuân Diệu mà
để vận động giác ngộ một người lúc đó là cai khố đỏ. Anh này mê thơ lãng mạn.
Có ba yếu tố tạo nên thơ Tố Hữu: Tố Hữu, cách mạng và Thơ mới. Tố Hữu chịu
ảnh hưởng thơ Xuân Diệu rất rõ “Ôi cô đơn thấm lạnh tâm tình!”, “Xuân bước
nhẹ trên cành non lá mới”...v.v...
Xuân Diệu khi tìm thấy cái tôi của mình thì đâm sợ, muốn thoát mình.
Bài Viễn khách, Lời kỹ nữ là thế. Kỹ nữ là Xuân Diệu. Xuân Diệu tự đặt mình
vào thân phận người bị dập vùi. Người con gái khổ mà không gào to như anh
đàn ông, tuy ít bị tình phụ hơn mà gào rất to, như Musset.
Tình yêu là cái tuyệt đích nên không bao giờ thoả mãn. “Nous mettons
l’infini dans l’ amour. Ce n’est pas la faute des femmes” Anatole France nói
thế. Vì thế nous souffrons. Đó là Xa cách, là Hi mã lạp sơn...
Thế Lữ nói được cái buồn “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Huy
Thông thì romantique rất rõ: quay về quá khứ, về cái orient. Có hình ảnh cái
lầu La mã, cái rèm La mã. Mấy câu đầu của Tiếng địch sông Ô, Con voi già...
mở rất rộng, hay... Thơ Xuân Diệu cũ mà mới. Bài Viễn khách: “Đang lúc
hoàng hôn xuống, là giờ viễn khách đi”, có hơi hướng câu thơ cổ “Đương quân
hoài quy nhật, Thị thiếp đoạn trường thì”. Bài Nhị hồ, Vội vàng, Đây mùa thu
tới cũng thế, vừa cổ vừa kim. Tả mùa thu mà không hoàn toàn tàn lụi. Mùa thu
tropical, nhiệt đới. Baudelaire ca ngợi Phi Châu nhiệt đới. Mình ở vùng nhiệt
đới sao không ca ngợi cây cỏ tropical của mình. Còn cái cô đúc của thơ Xuân
Diệu thì bắt gặp Đường thi và Baudelaire, bắt gặp Symbolisme.
Cái quẫy của cá nhân thực ra có từ Hồ Xuân Hương, Lâm Đại Ngọc,
bắt đầu biết yêu theo kiểu cá nhân (mình – ta) nên buồn. Lâm Đại Ngọc chôn
hoa tức là chôn mình. L’Isolement của Lamartine, René của Chateaubriand là
thế...
Hàn Mạc Tử gắn với đời hơn Chế Lan Viên. Chế Lan Viên không được
độc giả chú ý lắm vì không nói gì liên quan đến họ.
Tình yêu phải là một phạm trù riêng. Không cứ phải nói tình yêu gắn
với sản xuất, chiến đấu. Cứ nói riêng nó thôi cũng được, miễn là lành mạnh.
Phải nâng tình yêu lên thành khái niệm. Hiện ta vẫn là giai cấp tự tại, tự nó,
chưa có ý thức về tình yêu. Ta lấy vợ mà chưa yêu. Chung thuỷ là vĩ đại thật,
song chưa có khái niệm về yêu thật sự. Yêu thật sự là mình với ta”.
Xuân Diệu xoay ra nói kinh nghiệm làm thơ.
“Làm thơ không chỉ có ý là được. Phải có xương thịt vật chất. Như cứ
lấy giọng rê rê rê rồi bắt gặp một nét nhạc thật sự. Có khi vì tìm được một câu
thơ, một điệu thơ nào đó mà làm thành cả một bài thơ. Khi nẩy ra một điệu nào
đó thì nhất định phải làm theo cái điệu ấy. Y như yêu mà chỉ có khái niệm trừu
tượng thì không phải là yêu thật. Phải trông thấy một người con gái, có cái mũi,
cái tai như thế nào đó rồi mới hình thành tình yêu...”
Ngày 4 – 7 – 1967. 24 Điện Biên
Xuân Diệu nói say sưa về cái anh gọi là “chiến thuật” nói chuyện với
quần chúng sao cho hấp dẫn. Từ bố trí nơi nói chuyện, ánh sáng thế nào, cửa
đóng cửa mở, đến xếp ghế ngồi, cự ly mùa hè, mừa rét... Và đối với người nghe
thì phải làm cho họ không chán. Anh nói: Phải “chim” quần chúng. Họ mê rồi
thì tha hồ kéo họ đi, đi Tây Bắc, Tây Nguyên, đâu cũng được.
Khi trời tối, phải nói ngầm, thì ví với vợ chồng ban đêm nói chuyện với
nhau, vợ nói anh chồng thỉnh thoảng phải ờ ờ lên để chứng tỏ chưa ngủ, vẫn
nghe. Khi nói một chập , quần chúng tỏ vẻ chán, thì lại hỏi: “Phành phạch trong
lòng đã chán chưa?”. Khi nói muộn quá thì ví cái tình của người ngoài 40 tuổi
như nắng quái chiều hôm còn mạnh hơn ban trưa, “vì yêu một cách truy lĩnh...”
Nhưng mở đầu thế thôi, chủ yếu vẫn nói về kinh nghiệm làm thơ. Anh
nói có yếu tố vô hình trong đời sống và trong thơ: “Nhìn một người yêu cụ thể
có mặt mũi, tóc tai, song khi yêu thì cảm thấy được một cái gì đấy khái quát và
vô hình, thí dụ một tâm hồn trong trẻo, tươi mát. Nhà thơ có khi tả một buổi
sáng mùa xuân, đi hái một bông hoa. Nhưng cái hữu hình đó lại cốt để diễn đạt
cái vô hình: chẳng hạn cái cảm giác thoải mái tươi mát của tâm hồn...
Cái vô hình còn là cái nhân tố không thú nhận inavoué. Trên đời, có
anh cứ nói loanh quanh mãi, thực ra có khi chỉ cốt đến để xin một bữa cơm. Cái
inavoué có khi rất tầm thường, có khi rất cao cả. Giảng thơ phải biết cái
inavoué, cái vô hình đó và căn cứ vào cái cái hữu hình mà phân tích ra.
Làm thơ cốt cho hay, phải có tài có sắc mới tồn tại được. Cần gì những
thành kiến lung tung. Cốt quần chúng đọc thơ, cốt hai trẻ yêu nhau, còn cô, dì,
chú, bác nói ra nói vào thì cần gì!
Nghiên cứu Xuân Diệu, phải nghiên cứu yếu tố thời gian. Xuân Diệu
luôn luôn băn khoăn về thời gian. Yêu cuộc sống, tất băn khăn về thời gian.
Con người sinh ra từ thời gian. Mà thời gian có không gian của nó. Tính toán,
cân nhắc điều gì, Xuân Diệu đều nghĩ đến cái chết. Sợ chết thì phải làm thơ cho
nhanh. Mẹ tôi mất, mẹ Huy Cận mất. Các bà ấy từng có lúc sống thật trên đời
không nhỉ? Nếu không tập hợp, giữ gìn di vật còn lại thì có thể là chưa bao giờ
từng sống.
Trong đời người ta có những phút giao cảm – gọi là giao cảm mới thật
đầy đủ, đầy đủ hơn là nói yêu. Có khi giao hợp, hôn nhau mà không giao cảm.
Có những lúc giao cảm thế mà sau thôi không yêu nữa. Là vợ chồng rồi có khi
mất cái phút ấy, thậm chí không lấy nhau, có khi trông thấy nhau cứ lạnh như
tiền. Lạ lắm ! Tình yêu muốn vô biên song cuộc đời, lòng người nó hữu hạn. Và
chết là hết cả. Như là cái tangente giữa plus infini và moins infini. Đó là nói
tình yêu bách niên giai lão. Có nhiều khi thay đổi người yêu. Vậy thì phải hồi
tưởng lại cái phút giao cảm ấy. Vợ chồng sở dĩ gắn bó với nhau là do họ nhớ
lại những phút giao cảm của tâm hồn ngày xưa. Kỷ niệm do đó rất quan trọng
trong đời sống tinh thần. Hiện nay, nhiều khi người ta sống chỉ để ăn uống thôi,
họ không có đời sống tinh thần. Tôi làm thơ để đem đến cho họ cái khoái lạc
tinh thần.
Thơ tình của tôi luôn là sự hồi tưởng lại cái phút giao cảm ấy, trong
thời điểm ấy, ngày ấy, buổi chiều ấy, con đường ấy, cái chỗ cong cong ấy ta đã
ngồi bên nhau (không gian có tính thời gian). Bây giờ đi qua một mình, muốn
dựng bia kỉ niệm ở chỗ ấy của cái tình đôi ta.
Pháp có ba bài thơ nói về kỉ niệm cũng nói đến cái không gian rất cụ
thể:
Tristesse d’ Olympio (V. Hugo)
Le premier regret (Lamartine)
Premier souvernir (Musset)
Có lúc mình muốn để dành tiền, nhưng nghĩ lúc chết thì có ý nghĩa gì.
Có lúc muốn ăn thêm một miếng thịt, nhưng ăn thêm rồi cũng chết. Để miếng
thịt ấy cho đứa em ở xa, gọi về cho nó ăn.
Tôi định lúc sắp chết sẽ viết tất cả những mémoires xấu của mình,
những cái tầm thường của mình. Hiện nay người ta ít viết về cái đó.
Làm thơ, mỗi bài thơ nó có cái vị riêng của nó như thịt bò thì phải làm
món ấy, cái đó phải cho vào nước chấm thịt vịt chứ cho vào nước chấm thịt gà
thì hỏng. Cho nên có tứ thơ nghĩ ra mà phải để dành đó đến lúc làm bài thơ
đúng món mới đưa vào được”.
Ngày 1- 12- 1981, 24 Điện Biên
Tôi đến thăm Xuân Diệu, anh mừng lắm: “Tưởng Mạnh giận mình
không đến nữa. Hôm ấy mình nóng, nói sẵng. Tưởng Mạnh giận”.
Thì ra anh hối hận vì bữa ấy tôi đến mời anh tới dự một cuộc hội thảo về
giảng thơ Hồ Chủ Tịch (anh Hoàng Dung tổ chức, nhờ tôi đến mời Xuân Diệu),
anh đã trả lời một cách thẳng thắn và gay gắt: “Còn có gì mà nói nữa về thơ Cụ
Hồ? Mình không đi đâu! Bây giờ mà còn bình với giảng về thơ Cụ Hồ là nhảm
nhí! nhảm nhí!”
Giờ thì anh rất niềm nở tiếp tôi.
Lần này anh nói nhiều về sự hình thành hồn thơ anh.
“Ông bố tôi sớm giác ngộ tân học. Ông tự học tiếng Pháp. Mua từ điển
học, ông còn tự học làm thuốc nữa. Sau ông xin được một chân dạy chứ Hán ở
Collège Quy Nhơn, lương 18 đồng. Một loại chargé de cours thôi. Mình học bố
đến hết cấp I, đỗ Certificat còn thiếu một tuổi, phải học lại. Sau lên học collège.
Đỗ diplôme năm 1934. Đúng lúc khủng hoảng kinh tế. Định đi thi làm thừa
phái nhưng không có điều kiện. May sao được gọi ra Bắc kỳ học trường Bưởi.
Biết Hà Nội. Biết Bắc Kỳ. Thấy được mùa thu và cái lạnh Hà Nội. Rất
thích, rất mê thiên nhiên Bắc kỳ. Mình dường như được bừng tỉnh trước vẻ đẹp
của đất trời, sững sờ trước những cành đào nở hoa ở chùa Sinh Từ... Theo tôi
romantisme chỉ có thể phát sinh, phát triển ở Bắc kỳ với tác động của thiên
nhiên bốn mùa phong phú. Hoa, hoa rất đẹp. Trại hoa Thuỵ Khuê, gần Bưởi.
Mùa thu Hà Nội tuyệt đẹp, lạnh hơn bây giờ. Trời trong, cao, nắng vàng...
Thiên nhiên Bắc kỳ, hoa Bắc kỳ đã đẻ ra văn Khái Hưng, Nhất Linh và thơ Thế
Lữ.
Thiên nhiên đi vào thơ tôi, có cảnh mùa thu, mùa đông, mùa xuân của
Bắc kỳ. Còn mùa hạ thì có trăng và biển Quy Nhơn. Gió nồm Quy Nhơn có một
cái gì rất sắc dục, rất charnel.
Mình học hết 2 ème secondaire thì Huế mở ban tú tài. Bèn vào học
2ème secondaire ở Huế. Thế là lại biết Huế. Mình ra Hà Nội đúng vào cái tuổi
l’âge de puberté, thấy có một cái gì rất sắc dục trong thiên nhiên và ở con
người. Huế cũng rất đẹp, cũng rất tình. Đặc biệt có cái lassif sắc dục rất Huế,
nhưng kín hơn. Giọng hò Huế mê ly...
Năm 1940 mình thi tham tá đoan và vào làm việc ở Mỹ Tho. 1943 Huy
Cận đỗ kỹ sư canh nông, mình xin thôi việc ra Hà Nội, học luật, ở với Huy Cận
ở 61 Hàng Bông. Phong trào Việt Minh phát triển. Huy Cận gặp Nguyễn Thành
Lê. Lê đưa Huy Cận vào Đảng Dân Chủ (Dương Đức Hiền lãnh đạo). Đảo
chính Nhật. Huy Cận gặp Dương Đức Hiền ở Hà Đông, được đưa lên chiến khu
hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Khoảng 17- 8 gì đó mình vào Hà Tĩnh lo
thu xếp hai bên gia đình (của mình và Huy Cận) để Huy Cận yên tâm đi chiến
khu – nếu cách mạng không thành công thì có thể phải đi xa (sang Tầu chẳng
hạn). Ngày 20 – 8, mình trở ra Hà Nội giữa cảnh cờ đỏ sao vàng bay trên các
mái nhà...
Mình lúc đầu ở đảng Dân chủ và tham gia quốc hội. Huy Cận làm bộ
trưởng. Lúc ấy mình không ưa Nguyễn Tuân và Nguyễn Tuân cũng không thích
mình. Anh ấy vẫn khăn xếp, áo gấm, rất chướng. In Nguyễn, đề “Kính tặng
Tôi”. Mình viết bài trên Tiên phong (kí tên Triều Mai) chế giễu: Nguyễn Tuân
tự đặt mình lên bàn thờ rồi sì sụp lễ bái mình. Kể cũng hơi hẹp hòi. Mình còn
viết bài phê phán Nguyễn Hải Thần là đứa con đi xa về chửi mẹ nó, không nhận
mẹ nó. Rồi làm thơ đả bọn Quốc dân đảng. Khi bọn Quốc dân đảng tổ chức
biểu tình “tổng đình công” chống tổng tuyển cử, mình dắt cái xe đạp
Hirondelle đi ở phía sau. Mình bảo đồng bào đừng đi theo bọn phản động.
Chúng nó thấy thế định bắt mình, mình vội bỏ xe đạp lẩn đi. Sau có người đem
xe đạp trả cho. Mình còn bảo đồng bào tập trung ở Bắc Bộ phủ để hoan nghênh
chính phủ lâm thời. Mình lúc ấy chỉ là Việt Minh, ở Văn hoá cứu quốc, chẳng
phải đảng viên. Cứ tự động, tự phát thế thôi”.
Rồi mình làm bài Ngọn quốc kì, ca ngợi cờ đỏ sao vàng. Nguyễn Huy
Tưởng ở văn hoá cứu quốc (đóng ở trụ sở Hội khai trí tiến đức, nay là Cục
Hàng không) commăng làm để đối lại với bọn phản động tung ra đủ thứ cờ táp
nham: sao trắng, ba gạch...
Có người cho mình là cơ hội chủ nghĩa. Báo Thiết thực của Quốc dân
Đảng (cánh Ngày nay) vẽ hình chế giễu: Cụ Hồ đứng như con cò câu cá ở suối.
Xa xa, Huy Cận tắm. Còn mình là con chim đầu xù ngồi trên cây hót. Mình lấy
làm tự hào về bức tranh này.
“Năm 1946, mình ở trong một đoàn văn nghệ đi vào Buôn Ma Thiêng,
Củng Sơn, đi sau đoàn Nguyễn Tuân. Trở ra Thanh Hoá, lúc Hồ Chủ Tịch đang
ở đó. Bác định lập một chiến khu ở Thanh Hoá. Bác ở một cái nhà Xéc (câu lạc
bộ) gì đó. Hôm sau bọn Pháp bắn súng vào cái nhà ấy. Hôm trước Bác nói
chuyện với đồng bào. Người ta chen nhau xem Hồ Chủ Tịch, có người bị gẫy
tay mà vẫn phấn khởi.
“Huy Cận thì theo chính phủ đi Hà Đông. Mặt trận Trúc Sơn vỡ, lại đi
Sơn Tây rồi lên Việt Bắc, ở Bắc Cạn thì phải. Mình cũng đi Bắc Cạn. Nó nhẩy
dù Bắc Cạn. Mình về Đại Từ. Rồi đi Phú Thọ, qua Bắc Giang, từng ở chỗ
Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố. Nhưng sau lên ATK làm đài phát thanh, trong khi
Tố Hữu, Nam Cao làm báo Cứu quốc”.
Nói đến đấy, Xuân Diệu dừng lại uống nước. Anh nghỉ hơi một lúc. Tôi
nhân đấy gợi ý anh chuyển hướng sang nói về thơ của anh.
Nói chuyện thơ, anh càng tỏ ra sôi nổi hơn:
“ Huy Cận là xúc giác
Xuân Diệu là mũi: khứu giác: “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” –
Mình học Baudelaire.
Chế Lan Viên không có da, không có mũi.
Bài “Mông lung” rất Xuân Diệu. Có cái không thể xác định rõ ràng là
linh hồn hay xác thịt. Đằng sau linh hồn là cái nền xác thịt, sắc dục. Hít thở xác
thịt của vũ trụ, cảm thấy mùi da thịt của..., không biết của ai, song rõ ràng là
cảm thấy cái mùi vật chất da thịt của những Dương Quý Phi, của những người
đẹp tự thuở nào. Hương da thịt tẩm trong vũ trụ. Và nhớ, không biết nhớ ai,
nhưng nhớ da diết. Thơ Xuân Diệu cảm và diễn tả được cái không rõ mà rất rõ,
cái nửa linh hồn, nửa xác thịt, dâm mà trong sạch, trong sáng. Nó là cái rạo
rực, cái uể oải của Huế, cái hồng hào của Hà Nội, cái charnel trong gió nồm,
trong gió biển Quy Nhơn...
Thơ Xuân Diệu tả rất giỏi cái nước đôi:
Mưa trưa và chiều tà
Suy và thịnh
Lặng lẽ và động.
Có một cái gì đấy mà Thế Lữ không cảm nhận được. Chỉ Xuân Diệu,
Huy Cận mới có cái antenne ấy để bắt được những sợi giây vô hình của thiên
nhiên. Thơ Xuân Diệu là vũ trụ sắc dục, charnel. Là cái mê ly, là tạo
atmosphère chỉ bằng vài câu, vài chữ.
Thơ Xuân Diệu mở đầu đột phá ngay, ào ra ngay. Nhiều vần sắc. Mãnh
liệt. Đột xuất. ào ào.
Bài Xuân không mùa. Sentir được phong cảnh. Ngồi ở hồ Tĩnh Tâm,
Huế. Có âm vang của Huế, đẹp, kín, không sắc dục lộ liễu như thơ làm ở Hà
Nội.
Mình có một bài inédit nói về vũ trụ là xác thịt: thịt là hoa hồng, máu là
hoa nhài, xương – liễu, mày – lau, mắt – hồ.
Thế đấy, thơ Xuân Diệu là thế. Frisson da thịt, sensation, antenne cảm
nhận vũ trụ da thịt, hít thở da thịt thiên nhiên. Thơ có mũi.
Anh ngừng nói, và bỗng chuyển sang phàn nàn về đời sống. Hôm ấy là
mồng một tháng chạp năm 1981. Ôi những năm 80 của thế kỉ trước! Đời sống
quá khổ cực. Mà Xuân Diệu thì quan niệm cuộc đời rất cụ thể: Đối với anh,
cuộc đời là bán một cuốn sách cũ cho đồng nát, phải giữ lại cái bìa cứng và mấy
trang giấy trắng; là ăn món gì phải tính toán vừa bổ vừa rẻ, là thịt chó, thịt lẫn
xương 4 đồng rưỡi một lạng, thịt nầm 6 đồng một lạng; là ngồi nói chuyện thơ
mà vẫn phải chú ý theo dõi con gà mái đẻ. Nó có tật ăn trứng. Thành ra nó đẻ,
nhà thơ phải nhanh tay vồ lấy...
Vì thế anh rất bực bội: “Xã hội bây giờ cứ bắt người ta làm thiên thần,
nên giờ người ta làm con vật. Bắt làm ange mãi, giờ người ta làm bête. Cách
mạng chỉ tạo ra vinh quang thôi ư? Phải ăn nữa chứ! Vinh quang trong đói
khát mãi sao!”.
Ba giờ chiều, ngày 12 – 12 – 1981, 24 Điện Biên
Trời rét. Khô ráo. Cổng ngoài nhà anh (và Huy Cận) dạo này có thêm
liếp che bên trong song sắt cho kín đáo hơn. Chỉ khoét một lỗ vuông. Cửa sổ
phía trước thấy đóng. Tưởng Xuân Diệu không có nhà, tôi bỏ đi, nhưng tính
toán thế nào lại quay lại và cứ đẩy cửa vào. Cửa sổ phía đông mở, nhìn vào thấy
cửa buồng không khép, biết có người ở nhà.
Tôi vào phòng, thấy Xuân Diệu đang nằm ngủ, đắp chiếc chăn len hoa.
Tôi cảm thấy phiền, muốn quay ra. Hà Vũ gọi. Xuân Diệu trả lời, giọng hơi gắt:
“Cái gì thế? Ai thế?”. Sau thấy tôi, anh vội mời vào.
Tôi nói: “Chết, anh đang ngủ, tôi không biết”
Anh nói: “Không sao, chả mấy khi Mạnh đến”
Có lẽ anh nghĩ, từ ngày anh đi Paris về, bây giờ tôi mới đến, phải có
chút gì của Paris để đãi tôi. Anh cho ăn phomát, uống rượu vang đỏ, hút thuốc
lá Mỹ, lại cà phê nữa.
Anh phàn nàn: “Cuộc sống giờ khổ cực quá. Xã hội bây giờ như nhà
không có chủ” – Anh lè lưỡi, nhắm mắt, lại lè lưỡi – Sợ quá!”
Anh khoe tập giấy ghi lời cảm ơn của những nơi anh vừa làm việc ở
Pháp, và đưa tôi xem bản chương trình làm việc ở Paris 7, Sorbonne, Nice và
một tờ báo Đoàn kết của Việt kiều.
Anh nói có một người đàn bà Pháp ở Alger tên là Francoise Roger tập
thơ Xuân Diệu như là tập Kiều. Đàn bà Pháp mà rất giỏi tiếng Việt. Bà ta lấy
một người Brasil. Bà ta cóp nhặt bốn câu thơ Xuân Diệu ở bốn bài thơ khác
nhau, rồi ghép lại thành một bài tứ tuyệt. Và vận dụng thơ Xuân Diệu vào cuộc
sống. Thí dụ: chạy vội theo tầu điện: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!”. Bà
ta theo hồi giáo, hôm nay ăn thịt, ngày mai ăn chay: “Anh ơi anh, em rất sợ
ngày mai”... Francoise Roger coi thơ tình Xuân Diệu hay hơn cả thơ tình
Musset.
Anh chê tập tiểu luận của Lê Đình Kỵ viết về Tố Hữu: “Huy Cận đọc
cho biết chứ tôi chưa đọc. Khen Tố Hữu thì cứ khen, việc gì phải chê Thơ mới.
Làm gì mà phải hạ nhân cách. Hàn Tín luồn khố để làm đại tướng, để làm
vương sau này. Lê Đình Kỵ buồn khố để nó cho vào Sài Gòn gần vợ à? Hay nó
không in sách cho? Anh Lý hải Châu rất tốt . Anh ấy bảo Trương Chính, trong
bài giới thiệu Tuyển tập Hoài Thanh, đã tán thành Hoài Thanh phê phán Thơ
mới. Anh ấy cắt bỏ đi. Tôi bảo anh Châu, sao anh không cứ để nguyên như thế.
Anh làm thế là anh cứu Trương Chính đấy chứ! Thơ mới không cần thế đâu. Tôi
chả dại đi bênh Thơ mới làm gì, nhưng mà tôi cứ đi bình những bài Thơ mới
hay!
Rồi anh nói tiếp vẻ bực bội: “Ta cứ có cái lối bế quan toả cảng, không
cho ai đi ra nước ngoài. Như đứa trẻ cứ bịt mãi, che mãi, da thịt nó vẫn cứ lòi
ra. Tôi còn đánh du kích Khổng Tử nhiều. Không biết nếu chỉ có nước mình mà
không có các nước khác thì ra sao? Nguy thật! Không qua tư bản chủ nghĩa,
thiệt nhiều quá! Không cho nói yêu, nói hoa lá thì đợi đến thế giới đại đồng mới
nói à? Thế trước cách mạng tháng Tám, ai nói yêu, nói hoa lá đều là sai cả à?
Là cản trở cách mạng à?”
Tôi cứ cặm cụi chép mấy bản nháp thơ của anh thời Thơ mới, anh nói:
“Mạnh hãy tạm xếp cái này lại để viết bài văn xuôi cho Tuyển tập Xuân Diệu
đã. Mà phải vay tiền Tuyển tập Nguyễn Tuân đi mà bồi dưỡng để viết - lấy
ngắn nuôi dài”.
Rồi anh xoay ra nói về lớp thơ trẻ: “Bọn làm thơ trẻ bây giờ ngu dốt
quá! Nó như cái ôtô lên giây cót. Hết giây cót là không chạy được nữa. Như
những cô gái tuổi dậy thì, ra vẻ lắm, oai lắm – anh khuỳnh tay, vênh mặt, làm
bộ kiêu ngạo - đến lúc có chồng, có con là thôi hết”.
Trưa ngày thứ sáu 25- 12 – 1981, 24 Điện Biên
Tôi đến Xuân Diệu để báo hoãn cuộc gặp mặt với anh vào sáng thứ bẩy
26 – 12. Cổng ngoài đóng. Nghe tiếng, anh chạy ra. Không có việc gì phải vào,
sợ mở khoá lôi thôi, tôi nói với anh một câu rồi từ biệt. Anh thò tay qua lỗ
vuông khoét vào cái phên nứa che ngoài chấn song cửa, bắt tay tôi. Anh nói: Ca
dao Khu Năm có câu:
Thương em, anh đút cái ấy qua rào,
Đút qua đút lại gai nó cào rách da
Nói xong anh cười ha hả.
Chủ nhật, ngày 31 - 1 – 1982, 24 Điện Biên.
Tôi đến khoảng 4 giờ chiều. Xuân Diệu đang làm việc ngoài sân sát cửa
sổ, trông ra cổng, dưới bóng hoàng lan. Bàn ghế làm việc bằng trúc.
Như mọi lần, anh tiếp tôi vồn vã. Tôi nói: “Anh đang làm việc, bận”.
Anh gạt đi: “Làm việc thì bao giờ mình chả làm việc”.
Tôi vào nhà. Huy Cận đang nói chuyện điện thoại ở phòng ngoài, một
lúc vào nói chuyện vụ đắm tàu chết người ở Quảng Ninh. Vớt xác khó khăn.
Người ta vớt đồ đạc, quần áo, hành lý chứ không vớt người: “Mình quá tin ở tư
tưởng thì thành thế đấy. Mình là Mácxít, coi ý thức do tồn tại quyết định, vậy
mà lại duy tâm. Duy tâm nên bây giờ chịu hậu quả, quy luật nó quật lại. Nhưng
thôi không nói chuyện buồn làm gì. Ta nói chuyện khác”.
Huy Cận đọc cho tôi nghe hai bài thơ anh mới làm.
Xuân Diệu giục tôi viết bài về văn xuôi của anh. Anh nói: “Mệt quá!
Viết khó lắm!, mệt lắm! Nhưng phải cố gắng thôi. Thời gian! Mình 67 tuổi rồi!
Trong ta có vàng, nhưng không viết thì vàng cũng không có thể khai thác
được”.
Anh lại nói kinh nghiệm rất cụ thể: “Viết mỗi trang phải chừa lề rộng.
Viết một mặt giấy thôi. Chừa lại một nửa để sau bổ sung. Không phải cứ viết
tuần tự từ đầu đến cuối. Cứ viết từng đoạn rồi lắp ráp, như chuyện cây tre trăm
đốt. Có khi cứ viết bừa đi rồi chế biến sau. Đánh thọc sâu vào hầm Đờ Cát. Một
mũi thọc sâu, bắt lấy Đờ Cát đã, rồi quay ra giải quyết bọn còn lại không khó
gì lắm”.
Anh mời tôi uống hai ba thứ rượu vang của Pháp, Hung, Bungari. và hút
thuốc lá ngoại.
Anh phàn nàn có nhiều việc không đáng phải làm mà cứ phải làm, mất
bao nhiêu thì giờ – những việc linh tinh về sinh hoạt.
Anh lại nhắc tôi phải ăn uống cho tốt. Và động viên: “Chúng mình còn
được người ta giao việc cho mà làm, thế là còn hơn nhiều người không có việc
gì mà làm”.
Anh chê cuốn sách của tôi viết về thơ Hồ Chủ Tịch, bữa trước tặng anh:
“Bám vào Sóng Hồng nhiều quá và sao cứ phải gò thơ Bác vào hiện thực xã hội
chủ nghĩa làm gì! Thế chỉ hiện thực xã hội chủ nghĩa mới có giá trị sao? Đã
đến lúc ai cũng phải lột trần truồng cả ra mà xem xét bình đẳng như nhau”.
Không hiểu sao câu chuyện lại xoay sang Chế Lan Viên lúc nào không
biết. Anh nói: “ Nhà văn có tri thức, có văn hoá cao là Nguyễn Đình Thi và
Huy Cận. Chế Lan Viên chỉ tài chế biến ngay những sách vở đọc được, dùng trí
thông minh mà vận dụng ngay. Chỉ có ngọn, chưa có gốc, có nền. Cứ phân tích,
xé chẻ ra, thiếu tổng hợp. Chỉ có cái gì là tổng hợp mới còn lại lâu dài.
Lối viết của Chế Lan Viên là phải dựa, phải tựa vào một cái gì đối lập,
phải phê phán, đả kích nó thì mới đưa ra cái chính diện. Không có cái gì để mà
đả thì không viết nổi.”
Anh tán thành ý kiến của tôi là cần biết thật tỉ mỉ về tiểu sử của anh. Và
anh bắt đầu thuật kể. Anh nói, bà má của anh đã có một đời chồng trước khi lấy
ông thân sinh anh. Bà là người không chịu khó làm ăn. Khi anh lên hai tuổi thì
bà cả vào. Bà cả (anh gọi là mẹ già) chịu khó làm ăn tần tảo. Má anh không ở
được, phải đưa anh về với bà ngoại ở Gò Bồi. Năm anh sáu, bẩy tuổi gì đó, bố
anh đưa anh về Quy Nhơn ở với ông và bà cả “cho khỏi hư hỏng”. Anh phải xa
má từ đó. Má anh sau tập kết ra Bắc ở với anh. Bà mất năm 1966. Bà cả sinh
con trai. Nó kém tuổi anh nhưng anh vẫn phải gọi nó là anh. Thằng “anh” nhỏ
này hơi một tý là mách mẹ nó. Nó còn đánh anh nữa. Hồi sang Pháp, phát biểu
ở Paris 7, anh nói: “Nhờ bị thằng em (thằng “anh” nhỏ) đánh mà tôi biết thông
cảm với những người bị áp bức”. Anh còn phải xách giỏ đi chợ, rất sợ gặp bọn
bạn học, nhất là con gái, con những ông Ký, ông Phán. Nhiều khi phải nép vào
hàng rào, chui vào bụi cây, nhưng không tránh thoát.
Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu được đưa vào Quốc hội. Tháng 5 –
1946, được cử vào phái đoàn Phạm Văn Đồng - đi Paris (hội nghị
Fontainebleau) kháng chiến toàn quốc, anh lên Việt Bắc, vào Ban chấp hành
Hội văn nghệ. Anh tự thấy có một cuộc thức tỉnh về quần chúng. Anh nói: “Bài
Bầm ơi! của Tố Hữu ảnh hưởng lớn tới hướng đi về thơ của mình. Bài Bầm ơi!
là một sự phát hiện về nhân dân, được viết một cách nhuần nhị. Một sự chuyển
hướng về tình cảm và về ngôn ngữ thơ. Rồi mình đi nói chuyện. Cũng là một
cách quần chúng hoá, vì phải nói sao cho quần chúng hiểu. Rồi tham gia phát
động quần chúng giảm tô ở làng Còng, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá và làm thơ về bần
cố nông”.
Sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu sáng tác nhiều. Riêng thơ tình
của anh, tính cho đến lúc này là 450 bài, cộng với các loại thơ khác, phải ngót
1000 bài. Anh nói: “Nếu cần chọn một bài tâm đắc nhất, mình chọn bài Biển.
Hình ảnh biển từ nhỏ đã đi vào mình. Biển đau thương, bể khổ trong thơ ca
truyền thống và thơ Xuân Diệu. Vậy mà nay biển vui, đầy sức sống. Cách mạng
và cuộc đời đã đem lại cho mình một tâm hồn tươi mới”.
Xuân Diệu nói tiếp về những nhân tố tạo nên hồn thơ anh: “Có lý do
năng khiếu bẩm sinh. Có lý do ở sức yêu mến cuộc đời. Sống hết mình, toàn
thân, toàn trí, toàn tâm, toàn giác quan. Mình cảm thụ đời rất cụ thể, bằng cả
xương thịt, da, mũi, mắt, tai và hồn. Mình nói chuyện, điệu bộ, nét mặt nhăn
nhó buồn cười lắm, chụp ảnh mới biết. Nghĩa là rất cụ thể. Cả con người nói.
Toàn thân tham gia vào câu văn, không phải chỉ có ý mà cả luồng cảm xúc tràn
vào bài văn. Cho nên sáng tác là sống cao độ nhất cá nhân mình. Vì thế mình
ham sáng tác nhất, dành nhiều thì giờ cho sáng tác.
Còn có lý do cần cù học tập nữa. Mình như là bà già, cái gì cũng nhặt
nhạnh, tích luỹ. Đứa cháu đi đâu về kêu đói, bà đã có ngay cái cho cháu ăn rồi.
Do viết thư nhiều, tự phân tích mình, dần dần mình viết được văn xuôi.
Do nói chuyện nhiều, phải lập luận, phải thuyết phục, phải làm cho
người ta đồng cảm, mình viết được phê bình văn học.
Xuân Diệu tự cho là mình dại – dại mà lại thành khôn. Anh nói: “Do
yêu cuộc sống nên tôi dại. Dại mà khôn. Nghĩa là được sống có ích cho đời, cho
mình, được sống đầy đủ từng giây, từng phút của mình. Tôi ít đi tán chuyện, tán
chuyện rồi nói xấu người này, người khác. Mình cũng chẳng cao đạo gì. Để thì
giờ đọc và viết”.
Anh phàn nàn: “Cuộc sống của ta chật hẹp, gò bó quá! Con người ta
bao giờ cũng sống một cách toàn diện, họ vẫn phải ăn, ngủ, giao hợp. Mình thu
hẹp thơ tình yêu lại thì người ta sẽ chỉ có giao hợp, giao hợp, giao hợp mà
không có tinh thần nữa. Không có tình yêu giữa hai con người thì chỉ còn là
quan hệ giữa hai con vật”.
Thấy trời đã xâm xẩm, tuy muốn tiếp tục nói nữa, nhưng thông cảm với
tôi đi đường xa, anh giục tôi về kẻo muộn.
Ngày 14 – 2 – 1982, 24 Điện Biên
Trong lần gặp này, Xuân Diệu nói nhiều chuyện rất tỉ mỉ về thời thơ ấu,
thời học sinh của anh.
Anh nói: “Về tuổi thơ ấu, tôi chỉ mới nói một chút. Cần lắm. Phong phú
lắm. Tôi chưa viết hồi kí. Rất cần tự mình phân tích những kỉ niệm tuổi thơ, rất
có ích cho những thế hệ sau. Người ta sống hời hợt lắm, không sống sâu bản
thân mình, sống không có ý thức gì. Ta chỉ lo giáo dục tư tưởng. Tư tưởng là lí
trí thôi. Phải giáo dục tâm hồn, giáo dục tinh thần nhân văn, nhân bản, humain.
Tại sao chỉ nói bình thường mà vĩ đại mới quý, bình thường mà sâu cũng quý
chứ! Tôi mà chỉ được giáo dục về tư tưởng thì tôi sẽ là anh hùng, không phải là
Xuân Diệu, nhà thơ nữa.
Thời thơ ấu của tôi có biết bao nhiêu chuyện nó luyện cho cái vốn nhân
đạo, vốn yêu đời, yêu người, yêu hoa lá, biển, thiên nhiên...
Thuở bé tôi hiền lắm, chả bao giờ dám vùng lên. Cứ bị cái thằng anh
kém hai tuổi nó bắt nạt mà chịu. Tôi có thằng em ruột rất khổ, tôi đã viết trong
Phấn thông vàng. Nó lêu lổng, vagabond, bỏ nhà đi lang thang. Có một hồi đi
phu ở Tây Nguyên. Giờ nó làm báo ở Sài Gòn. Nó viết hồi ký. Giá Mạnh đọc
được thì tốt lắm, hiểu thêm thời thơ ấu của tôi. Nó sống lang thang, rách rưới
như ăn mày, nay gọi là “bụi đời”. Nó đặt tên tập hồi ký là “Gió cuốn bụi đời”,
ngờ đâu lại thành đúng nghĩa bụi đời ta vẫn dùng ngày nay.
Lúc nhỏ tôi ở với má ở Gò Bồi là chỗ làm nước mắm, trại làm nước
mắm của bà ngoại tôi. Sau ở với bố ở Văn Quang, cách Gò Bồi độ 10 cây số.
Thỉnh thoảng tôi có về bà ngoại. Tôi nhớ dì Bốn. Dì ấy thương tôi lắm. Trông
thấy dì ấy chắp nối những vụn nhiễu làm cái gối mà tôi thấy phong phú màu sắc
quá, rất thích.
Về sau khoảng 1939, tôi và Huy Cận có đến nhà anh Nguyễn Xuân
Khoát bói bài Tây. Anh Khoát bói cho tôi, nói số tôi luôn có “protection des
femmes” (được phụ nữ bảo hộ, bảo trợ) . Giờ tôi muốn tán phụ nữ, nịnh phụ
nữ, tôi cứ nói số tôi có “protection des femmes” .
Vì thế tôi được dì Bốn thương. Lúc dì ấy đi làm giúp cho mợ Mười tôi,
xuống đò qua sông, tôi cứ khóc gọi theo: “Dì đừng bỏ cháu đi lấy chồng!”
Thực ra có phải dì ấy đi lấy chồng đâu.
Tôi có một bà mợ, mợ Năm gì đấy cũng rất khổ. Một buổi nhà có khách,
mợ Năm ra ngoài uống nước hay ăn gì đó, thế mà bị cậu Năm mắng đuổi vào.
Mợ ấy buồn vì bị mọi người hắt hủi. Một mợ khác đẻ non rồi chết. Người ta nói
tại mợ ấy trông thấy một cái hoa chuối có trái nhưng cây lại chết nên không
thành được buồng chuối. Mợ ấy đẻ non và chết là vì thế.
Những người phụ nữ ấy gây ra ở tôi ấn tượng rất tội về nỗi khổ của
người đàn bà. Người đàn bà Việt Nam thời trước khổ lắm. Cái gương mặt của
họ nhìn thấy khó, thấy tối thế nào. Sau ngày giải phóng, tôi có về Plâycu, dì
Bốn tôi ở đó. Tôi có làm bài thơ về dì Bốn in trong Hồn tôi đôi cánh. Tôi định
làm một bài về mợ Năm, nhưng chưa làm xong.
Học xong cấp I, tôi lên Quy Nhơn học, ở nhà chú tôi. Chú tôi làm thư kí
đoan, thuê nhà ông Chín Cược. Ông Chín Cược giầu lắm. Nhà có vườn rộng.
Có cái giếng rất sâu. Có trồng thựơc dược, hoa to, cánh xoà - “Vàng tươi,
thược dược cánh hơi xoà”. Có hoa nhài bờ giếng. Đêm trăng hoa nhài rất đẹp
và thơm. Tôi như sống với những bông nhài. Tôi cũng thích hoa huệ. Huệ trong
Bình Định gọi là lan. Tôi làm thơ về hoa lan, nhành lan như vút cao, bông hoa
như chóng mặt vì ngợp. Sau vì muốn cả nước mọi miền đều thông cảm được, tôi
đổi thành hoa huệ “Nhánh vút làm cho bông huệ ngợp”. Huệ trong kia không
trồng ruộng hàng sào, bán hàng chục dò như ở Bắc.
Tôi thuở bé giỏi trèo cây lắm. Trong vườn ông Chín Cược có cây ổi,
mọc sau cái miếu, bên bờ tường đầy rêu trơn. Thế mà tôi theo một thằng bạn
tập trèo và trèo được. Trèo lên cao thấy cả một thế giới mới lạ. Có một cành ở
xa, có quả, tôi bò ra hái. Cả một thế giới mở ra với đứa trẻ. Tôi còn trèo me, lấy
được trùm me chín cho thím tôi muối và kho cá trầu, thú vị lắm.
Tôi rất mê cải lương. Hồi vào làm việc ở Mỹ Tho, tôi ở chính quê hương
của cải lương, quê của Phùng Há, Năm Phỉ. Năm 1932, cải lương ra Bắc. Một
gánh cải lương thỉnh thoảng ra diễn ở Gò Bồi, tại một cái chợ nhỏ. Mê lắm! Có
một thằng bạn, nhà hiếm, gọi là thằng Chó (tên thật của nó là Đức) rất có
duyên, hát cải lương rất hay. ở Gò Bồi, mỗi nhà có ghe bầu riêng, bán cá, bán
nước mắm. Hàng đắt là do người bán có duyên, khéo nói. Mẹ thằng Chó là
người rất có duyên.
Tôi cũng học hát cải lương. Có một cái gì ở trong linh hồn của điệu hát
nó rất trữ tình, rất lãng mạn. Hành vân, vọng cổ, tứ đại oán... mê lắm (Anh
dừng lại hát cho tôi nghe mấy câu tứ đại oán). Cải lương là tiếng nói của
individu, khi mới ra đời nó có cái mélancolie, một cái buồn khác cái buồn cũ.
Nó là lãng mạn chủ nghĩa, đi trước Thơ mới, Tự lực văn đoàn. Có cái đau xé.
Cái đau đúc lại, cô lại rồi xé ra. Cải lương có ảnh hưởng đến thơ tôi. Có cái xé
lòng. Đúc lại, không thèm buồn. Đúc lại trước khi nổ ra, vỡ ra.
Hồi đi học, tôi là một cây hát trong lớp. Thích hát. Ai bảo là hát ngay:
cải lương, ca Huế, sa mạc, cả hát Tây “J’ai deux amours”. Nhạc vào thơ tôi
ghê lắm. Nhạc mà vẫn giữ ý, giữ lời nói, không âm nhạc chủ nghĩa.
Tôi có một ông chú người Nghệ Tĩnh – trong Nam cũng gọi là người
Bắc – hát sa mạc, kể sa mạc, tôi mê lắm. Cứ phải lấy hai hạt thóc nhổ cho ông
năm cái râu hay năm sợi tóc sâu mới được ông hát cho nghe mấy câu sa mạc.
Nói đến đây Xuân Diệu chuyển giọng nói với tôi như là kết luận cho câu
chuyện của mình hôm ấy: “Mạnh phải tích luỹ cho mình cái vốn nhân bản. Cái
đó quyết định nội dung viết của mình. Còn kiến thức thì cứ tích luỹ, thu nhận
dần dần. Cái chính là phải có vốn nhân bản, cái humanisme, thì sẽ làm ăn được
nhiều. Đó là cái vốn để viết lâu dài.
Tôi không thích giải thích nhà văn, nhà thơ bằng môi trường. Môi
trường không quan trọng gì lắm. Cái quan trọng là khiếu bẩm sinh, cái chất
người của nhà thơ, có cần gì môi trường. Tại sao bao nhiêu người cùng môi
trường mà không phải ai cũng thành nhà thơ?”
Anh tiễn tôi ra cửa. Vừa đi vừa than phiền: “Bán óc giờ rẻ quá! Mà
không ai có tiền mua. Mà mình cũng chả có gì bán ngoài cái đó. Nhưng thôi,
mỗi người sinh ra thế nào, bản chất thế nào thì cứ thế mà sống thôi. Còn
chuyện đời, chuyện chính trị chẳng biết thế nào, mặc!”.
Ngày 24 – 5 – 1982, 24 Điện Biên
Tôi đến Xuân Diệu đúng lúc anh tiễn khách ra cổng. Anh nói với tôi:
“Nào vào mà nghe người ta khen! Nguyễn Cao Luyện khen lắm (bài Thương
tiếc nhà văn Nguyên Hồng, đăng trên báo Nhân dân).
Anh vội đưa tôi vào nhà. Anh bóc bánh bích quy. Pha cà phê. Mời thuốc
lá đầu lọc: “Người ta đến tuổi nào đấy cũng phải có lúc ung dung mà hưởng lạc
một chút chứ, ăn miếng ngon, ngắm bông hoa đẹp. Đời Nguyên Hồng chỉ là một
rêve (C’est un mauvais rêve, một ác mộng!).
Nguyên Hồng là tài và tâm. Trí thì yếu. Tác phẩm hay hơn cả là gì nhỉ?
Những ngày thơ ấu? Nguyên Hồng chết đột ngột quá - Xuân Diệu lắc đầu, lè
lưỡi.
Anh chỉ tập bản thảo viết dở trên bàn: “Mình viết văn như người bị đòi
nợ. Đến hẹn mà không có xu nào trả. Bụng rỗng không! ấy thế mà rồi cũng viết
được đấy. Tập trung suy nghĩ mãi vào một điểm rồi nó bật ra. Lúc đầu tản mạn
linh tinh, tưởng không sao viết được. Sau tập trung vào một điểm thì viết được.”
Bỗng anh chuyển sang nhận xét mấy nhà thơ đương thời như Tế Hanh,
Lưu Trọng Lư, Giang Nam: “Tế Hanh cái gì cũng có cả, nhưng chả đọng lại
cái gì. Như giao hợp đánh xoạch một cái, chưa kịp thấy gì, đã mặc quần áo rồi
(anh cười to). Lưu Trọng Lư tản mạn quá, rồi chạy theo tiền để nuôi vợ con.
Đời có những nhân tố rất tầm thường mà hoá ra chi phối. Do thế mà viết ẩu. Lư
yếu vì vợ đẹp, yêu cầu sinh lý cao. Lư còn sống được như thế là giỏi rồi đấy. Lư
quanh quẩn rút lại chỉ có một mô hình: hát giặm, năm tiếng có vần giữa xen
vào. Thế thôi! Khi làm thơ thất ngôn thì có thay đổi tí chút. Tế Hanh, thơ như là
cuộc đời sẵn có cái gì thì lấy luôn làm câu thơ. Thơ không có xác, có chất,
không có gia công sáng tạo gì cho sâu sắc. Paul Valéry, câu thơ có xương cốt,
đứng vững lắm. Anna de Noailles là giande poétesse, vậy mà câu thơ cũng dàn
trải, không vững chãi. Lamartine cũng thế. Nhà thơ lớn thế mà câu thơ chưa
thật kiên cố. Thơ Verlaine vững lắm. Câu chữ không sao thay thế được, không
bỏ được chữ nào. Nhà văn phải đẻ ra chữ. Câu, chữ là của mình. Mình đẻ ra
câu chữ mới là nhà văn thật sự”.
Thơ Thanh Hải còn kém hơn thơ Giang Nam. Nhưng Giang Nam ngay ở
bài hay nhất là bài Quê hương cũng không có xác. Tình yêu không có xác. Như
câu chuyện kể ra thế thôi.
Hàn Mạc Tử đúng là đẻ ra chữ. Chữ của Hàn Mạc Tử vững chắc lắm,
cứ vọt ra. Thơ Tế Hanh như thứ trạm nổi nông, loại phù điêu. Cái gì cũng có
nhưng không sâu sắc, không nổi góc cạnh, hời hợt, nông choèn, tự nhiên nhĩ
nhiên, trời đất, đời sống cho thế nào thì nói thế, không gia công đào xới, nhào
nặn.”
Anh lại trở lại chuyện đời sống và phàn nàn: “Mình cứ viết hết bài nọ
đến bài kia, luôn luôn phải ở tình trạng phải cố sức. Như hòn bi phải có sức tác
động vào mới viết được. Thành ra lại phải quay ra lo chuyện ăn. Rất mệt!
Nhưng mà rất mừng là có một số người hiểu mình: Huy Cận, Nguyễn
Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đăng Mạnh. Phải tăng cường tìm hiểu
nhau, tăng cường tri âm tri kỷ.”
Anh mời tôi uống nước, hút thuốc lá. Anh nói: “Không phải ai mình
cũng mời thế đâu!”. Anh hạ giọng: “Này chuyện tình với bạn trai ngày xưa của
mình, Mạnh có nhận xét đấy, đừng viết ra làm gì, người ta hiểu sai đi không lợi.
Mạnh thân với Hoàng Ngọc Hiến, lúc nào nói với Hiến phải giữ mồm giữ
miệng. Người ta phản ánh đến anh Tố Hữu rồi đấy. Anh Lành anh ấy biết rồi
đấy. Khéo rồi họ lại thắt lại thì chết. Bây giờ đang có chiều hướng mở ra, khá.
Trường hợp Tuyển tập Nguyễn Tuân là thế. Ta cứ lặng lẽ mà ăn, mà ngoạm
từng miếng, nhưng đừng có nhai rau ráu ồn lên làm gì. Không phải sợ, không
phải hèn đâu, nhưng mà không cần phải thế”.
Xuân Diệu lại mời tôi hút thuốc lá: “Cứ hút đi! Biết rồi đến lúc nào
mình không còn nữa để đưa thuốc lá cho mà hút”.
Anh lại giục làm việc khẩn trương lên. Cái chết nó thúc đẩy mình.
Tôi ra về. Trời mưa. Thấy tôi không có mũ, anh cho mượn cái mũ lá cũ:
“Mũ cũ nhưng đừng vất đi đấy”.
Anh lại lấy cái cặp nhựa, cặp mép cái túi xách của tôi cho khỏi ướt sách
vở bên trong: “Mình như người vợ chăm sóc chồng. Thế mới biết người đàn bà
là cần”.
Ngày 8 – 4 – 1983, 24 Điện Biên.
Xuân Diệu mở cổng. Tôi nói, lâu quá không gặp anh. Xuân Diệu nói:
“Mạnh mà cũng biết sốt ruột kia à? Tưởng bây giờ đang lên, không thích mình
nữa?”. Anh cười: “ấy người ta có cái ghen chẳng có fondement gì cả như thế
đấy!”.
Tôi đến Xuân Diệu sau khi gặp Lưu Công Nhân ở Sài Gòn.
Tôi hỏi: “Anh có biết Lưu Công Nhân?”.
Xuân Diệu: “Có biết, nhưng không thân thiết lắm. Thế hắn sống bằng
gì? Có mấy con?”. Tôi nói, không biết, chỉ thấy giầu lắm. Xuân Diệu: “Cậu
đúng là nhà văn lớn, không để ý cái gì cụ thể cả”.
Tôi lại nói về chuyện vừa gặp Chế Lan Viên ở Sài Gòn. Xuân Diệu nói:
“Chế Lan Viên giờ buồn lắm. Sắc sảo, thông minh, song trong quan hệ với
nhau còn phải có tình người, chứ đâu chỉ chuyện tìm tòi chân lý. Chế Lan Viên
hay lấy lý át người ta, dồn người ta vào thế bí. Người ta ít gần. Sợ. Văn tiểu
luận của Chế Lan Viên có từng đoạn sắc sảo, hay. Nhưng nhìn toàn bộ thì
không vững, xộc xệch lắm.
Anh lại quay ra nói về Thơ mới. Anh cho rằng: “ Nói Thơ mới thoát thai
từ hát nói là ngu. Thơ mới đến độ kết tinh ổn định nào đấy thì gặp hát nói. Vả
lại câu tám tiếng, câu mở rộng của hát nói vẫn khác câu tám tiếng của Thơ
mới.
Còn song thất lục bát thì là thể ngâm, réo rắt, không hợp với Thơ mới.
Thơ mới có nhu cầu kéo dài câu thơ, vì nó phong phú, tràn đầy, nó cần
nói nhiều.”
Bỗng anh quay ra phê phán Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức: “Hết thời Phan
Cự Đệ, Hà Minh Đức rồi. Họ làm xong nhiệm vụ lịch sử rồi. Đệ viết về Thơ
mới, ca ngợi Thơ mới xong, bảo nó là con đĩ. Chơi gái mãi rồi bảo nó là con đĩ.
Đệ cứ dẫn ra những câu tương tự của Thơ Pháp và Thơ mới để tỏ ra là đọc
nhiều. Kỳ thực có sự gặp gỡ tự nhiên chứ không phải bao giờ cũng là mô phỏng
- Đối chiếu thơ Bác với thơ xưa nhiều khi cũng thế.”
Huy Cận đi làm về. Anh nói với tôi: “Ta phải gặp nhau nữa chứ. Tôi
mới nói sơ sơ thôi, còn nhiều điều chưa nói (trước đây ít lâu, tôi có một cuộc trò
chuyện với Huy Cận). Anh Đệ, anh Đức là nhà phê bình officiels. Tôi đã đọc
anh viết về Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, thấy có cái gọi là suy nghĩ. Còn nhiều
người viết chẳng có giá trị gì”.
Xuân Diệu tiếp tục nói về thơ mình. Càng nói càng sôi nổi: “Xuân Diệu
là individu. Cái day dứt nhất ở Xuân Diệu là cái “moi” và “non – moi”. Và
căng cho hết mình. Làm thơ để thực hiện cái le moi của mình là Xuân Diệu.
Tình yêu thực hiện được sâu sắc nhất cái cá nhân. Tình yêu gắn với
cuộc sống vật chất, trần gian, bản năng, lại rất cá nhân trong conscience.
Xuân Diệu không làm thơ “anh anh em em”, mà thực sự làm thơ trong
phạm trù tình yêu. Xuân Diệu thách với cả thế giới về thơ tình yêu. Xưa sôi nổi
thanh niên, nay sâu lắng, suy nghĩ hơn.
Vấn đề thời gian trong thơ Xuân Diệu lớn lắm: day dứt nhớ lại cái phút
ấy, phút thần tiên ấy, cái chỗ ấy, cái lúc ấy trong cả cuộc đời – cái phút thật là
yêu, của phạm trù tình yêu. Về sau chỉ là nghĩa, có nhiều cái ân tình khác,
nhưng thật sự là yêu chỉ có cái phút ấy. Thơ tình là vĩnh cửu hoá cái phút ấy.”
Anh chuyển sang giọng tâm tình thân mật: “Thơ tình Xuân Diệu có một
sự trỗi dậy, sống dậy vào khoảng sau Riêng chung, tức khoảng 1961 gì đó:
“Bỗng anh xoè bàn tay ra khoe: “Đấy, mont de Vénus của mình cao thế này
(anh chỉ chỗ bàn tay gồ lên gần ngón cái). Mont de lune của mình cũng rõ, giầu
mơ mộng, rất lãng mạn (anh chỉ phía gần ngón út), còn mont de soleil là danh
vọng cũng rất nổi (anh chỉ khoảng giữa bàn tay phía giáp các ngón).
Thực ra anh người mập, bàn tay múp míp, chỗ nào chả đầy, chả mọng
lên.
Anh lại khoe nhận được một lá thư nhờ làm hộ một bài thơ tình để tặng
người yêu. Anh cười: “Làm thơ tình thuê! Giá mấy hào một bài đây! Đấy, nhu
cầu thực tế của đời sống về thơ tình là thế đấy”
Tôi nói: “Anh Tố Hữu nói làm thơ tình rất khó”.
Xuân Diệu: “Khó ở chỗ phải chân thật, phải yêu thật”.
Chiều ngày 12 – 4 - 1985, 24 Điện Biên
Thấy tôi, Xuân Diệu mừng lắm: “Vài ba tháng gặp nhau một lần là quý
rồi. Cứ đi dép cho đỡ lạnh chân”. Anh mời tôi uống cà phê, hút thuốc lá như
thường lệ. Anh nói Như Phong chết làm anh hoảng quá. Như Phong chủ quan,
tự cho là khoẻ lắm. Cái chết! Thế là từ plus infini thành moins infini.
Tôi nói Nguyên Hồng chết sớm hơn và cũng đột ngột. Xuân Diệu nói:
“Nhưng mà Nguyên Hồng chết rồi, cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như
Phong mất là không thấy dấu vết gì nữa”.
Anh xoay ra nói về giá cả đắt đỏ mà nhuận bút thấp quá: “Nhuận bút
tập sách viết 10 năm chỉ bằng một chỉ vàng. Nhận nhuận bút mà buồn. Đi một
chuyến lại hơn là nhuận bút. Quãng Ngãi chỉ có 180 đồng một cân thịt bò. Đời
sống hơn ngoài Bắc. Trong Nam đời sống cao hơn, khí hậu dễ chịu hơn. Nhưng
mà không được quên cái gốc. Trong Nam họ suốt ngày lo kiếm tiền thôi. Sống ở
Sài Gòn không chịu nổi. Không ai biết anh là ai. Con người lọt thỏm mất hút đi
trong cái biển người mênh mông”.
Anh lại xoay ra tính toán cụ thể giá thực phẩm: 3 quả trứng gà 33 đồng,
2 quả trứng vịt lộn 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng...
Bỗng anh ngắm nhìn tôi, nhận xét: “Mạnh để tóc thế này hay hơn. Mặt
mạnh nhỏ, để tóc thế này nó ôm lấy mặt, đỡ gầy.” Tôi nói, nhiều người cũng
khen như thế. Xuân Diệu cười: “Hoá ra mình nhận xét thế mà đúng với ý kiến
mọi người, “chúng khẩu đồng từ”.
Tôi nói, hình như Nguyễn Tuân vào Quảng Nam viết một bài được trả
nhuận bút cao lắm. Xuân Diệu nói: “Đúng là Quảng Nam Đà Nẵng nó trả
Nguyễn Tuân 10.000 đồng một bài. Bài có hai trang. Không hay lắm. Nguyễn
Tuân viết khó. Bây giờ viết khó hay lắm!”
Tôi hỏi anh có nghĩ gì về khái niệm phong cách.
Xuân Diệu nói: “Style là bút pháp và cũng là phong cách. “Khen rằng
bút pháp đã tinh. Nghe bút pháp có vẻ nặng hơn”.
Tôi nói, phong cách có lẽ rộng nghĩa hơn, toàn diện hơn, sâu hơn. Anh
đi tra từ điển: “Style: manière. Manière d’ exprimer sa pensée. ừ, phong cách
đúng hơn”.
Anh chê Nguyễn Xuân Nam, cho là không thật, không tốt. Tôi nghĩ
bụng chắc lại là cái chuyện Xuân Nam viết về Huy Cận. Xuân Nam bị ngờ là
bới móc Huy Cận. Xuân Diệu đã nói với tôi một lần rồi. (Xuân Nam viết một
bài về Huy Cận, anh ca ngợi sự chuyển biến tiến bộ về tư tưởng của Huy Cận,
đại ý: ngày xưa Huy Cận làm thơ thường đề tặng các nhà văn trong Tự lực văn
đoàn và cả con cái họ, nay anh làm thơ tặng nhân dân lao động, như tặng một cô
thợ mỏ, một anh thợ hàn chẳng hạn... Nhưng Xuân Diệu lại hiểu là Xuân Nam
có ý nói móc, xỏ xiên người bạn của anh ngày xưa từng nịnh hót cánh Tự lực
văn đoàn (Thực ra hồi ấy, Huy Cận từng tha thiết xin vào Tự lực văn đoàn mà
không được chấp nhận)).
Anh chê Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức viết không có nội dung: “Nội dung
là tình cảm. Không có tình cảm, không có nội dung. Tôi cứ ném thia lia, bắn tin
về Phan Cự Đệ. Tôi nói với Hà Xuân Trường: Đệ làm tổng biên tập Nhà xuất
bản Văn học thì chúng tôi sẽ đánh du kích 5 năm cho phải đổ. Nói với Việt cộng
phải nói bằng cách nói của Việt cộng họ mới sợ”.
Anh đọc tôi nghe bài thơ: “Nếu anh cứ thương nhớ em thì sao”. Bài thơ
ba khổ. Khổ đầu hay.
Tôi khen bài thơ hay.
Xuân Diệu nói: “Những câu thơ như thế phải đọc cho Mạnh nghe. Mình
đọc được cho Mạnh nghe cũng thấy thích. Bài “ Hoa anh ơi!” là một lời thơ đi
suốt. Cả bài thơ là một lời đi suốt”.
Anh nhắc tôi về kẻo muộn. Đi về, ra ngoại thành, sương xuống, chắc là
thấy cô đơn, buồn. Tôi nói, có lần ở nông trường 1 – 5 Nghệ An, thấy con bò đi
một mình buổi chiều, buồn quá! Anh nói: “Con bò nó cũng thấy buồn – và thế
là nó trở thành thi sĩ, trở thành người”.
Anh tiễn tôi ra cửa, nhắc thỉnh thoảng gặp nhau. ít ra một quý một lần,
hai tháng một lần càng tốt.
Tôi nói, có lúc ngửi một mùi hương, thấy nhớ một cái gì ghê quá. Anh
nói, thế là Marcel Proust. Hương và vị nữa.
Anh hỏi tôi về kết quả cuộc chấm thi truyện ngắn tôi có tham gia. Tôi
nói không có bài thật trội. Sàn sàn cả. Anh nói chủ nghĩa xã hội chỉ tạo ra cái
moyenne trung bình, bonne moyenne, không có bon talent.
Anh nói, trong cuộc thi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ thắc mắc sao không có giải
A. Tôi viết một bài lôi ra có bài loại B cũng không đáng. Lạm phát thơ. 150 nhà
thơ! Sao nhiều thế! Phải dọn bớt lại.
Anh động viên tôi: “Dù sao chúng mình còn có chỗ họ mời. Có người
không được thế. Mạnh và mình giữ được vị trí do thực lực. Cần gì giám đốc,
phó giám đốc. Rồi đổ ngay ấy mà! Cứ viết cho tốt. Nghệ Tĩnh Tết vừa qua Tỉnh
uỷ đi thăm Minh Huệ tuy Minh Huệ chưa bằng Trần Hữu Thung. Song biết
thăm ai? Thế là họ có chuyển”.
*
Từ 1966 đến 1985, năm Xuân Diệu qua đời, tính ra tôi có tới vài chục
lần được trò chuyện với Xuân Diệu. Càng tiếp xúc càng thân, và anh càng cởi
mở hơn.
Chỉ riêng năm 1985, tôi gặp anh tới 5, 6 lần.
Nhưng tôi nhớ nhất ba lần sau đây:
1. Đầu năm 1985 cũng đi với anh lên Tuyên Quang bồi dưỡng những
cây bút trẻ ở vùng núi phía Bắc. Tôi nhớ đi qua đền Hùng đúng vào dịp hội. Xe
dừng lại, các anh trong đoàn (Chính Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Hữu
Thỉnh, Vương Trí Nhàn và tôi) đều có đảo lên đồi xem một lát. Riêng Xuân
Diệu không lên. Anh ngồi lại trong xe. Chắc mệt, ngại leo dốc. ở Tuyên Quang,
chúng tôi nghỉ ở nhà khách của Tỉnh uỷ. Đêm, tôi để ý thấy Xuân Diệu thở rất
nặng nhọc, lắm lúc như hộc lên. Tim có vấn đề.
2. Lần thứ hai là ngày 5 – 10 – 1985. Tôi đến mời anh nói chuyện với
lớp sinh viên đặc biệt (gọi là lớp 5C) do tôi làm chủ nhiệm. Anh giữ tôi lại, tặng
tôi cái đồng hồ.
3. Lần thứ ba là ngày 10 – 10 1985. Tôi đưa 14 sinh viên đến phòng anh
ở 24 Điện Biên để nghe anh giảng thơ.
Đây là cuộc gặp cuối cùng với anh. Hai tháng sau, anh qua đời (ngày
18- 12 – 1985)
Cả ba cuộc gặp này, tôi đều đã đưa vào mấy bài chân dung viết về anh
nên không thuật lại nữa.
Quan Hoa 5 – 12 – 2006.
Chương X: Hoàng Cầm
Những tư liệu riêng của tôi về Hoàng Cầm, tôi đã đưa cả vào bài chân
dung: “Hoàng Cầm người và thơ”.
Giờ tôi chỉ chép lại hai câu chuyện Hoàng Cầm kể tôi nghe mà tôi chưa
có dịp viết ra:
1. Chuyện tiết mục quan họ bị đả đảo.
Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ. Hoàng Cầm lúc đó phụ trách
đoàn văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị. Ông được giao tổ chức một
cuộc liên hoan văn nghệ mừng chiến thắng trong rừng Việt Bắc. Trong chương
trình biểu diễn hôm ấy, Hoàng Cầm bố trí xen vào một tiết mục hát giao duyên
quan họ.
Đang diễn thì ở một góc hội trường, bỗng có một đám bộ đội đứng dạy
hô đả đảo. Chỉ huy đám bộ đội này là một sĩ quan nổi tiếng anh hùng lúc bấy
giờ tên là Thái Dũng. Tây rất nể nhân vật này, gọi anh là Capitaine manchot
(đại uý cụt tay). Thái Dũng hô lớn: “Trong quân đội không được hát hỏng trai
gái nhảm nhí. Đi xuống!”.
Đám văn công sợ quá, vội hạ màn. May có Nguyễn Chí Thanh can
thiệp. Ông nói đại ý: “Chúng ta chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhưng
cũng vì những điệu hát này đây!”. Ông ra lệnh tiếp tục biểu diễn.
Nhưng các diễn viên mất hết tinh thần, không còn bụng dạ đâu mà diễn
được nữa.
Chuyện này giải thích, trong chiến tranh, vì sao tình yêu trai gái bị coi
là lãng mạn tiêu cực, một đề tài mà văn học hồi ấy phải kiêng kị.
2. Tố Hữu ra lệnh bắt Trần Dần.
Hồi Hoàng Cầm cho in tập Giai phẩm mùa xuân, có đăng bài của Trần
Dần, Tử Phác. Tố Hữu triệu tập mấy người đến họp: Hoàng Cầm, Văn Phác
(phụ trách tổ chức Bộ Văn hoá), Chế Lan Viên... Tố Hữu cầm cuốn Giai phẩm
mùa xuân, hỏi mọi người: “Các anh thấy tập sách này thế nào?”
Không ai dám trả lời, vì không đoán được ý Tố Hữu. Chế Lan Viên
nhanh trí, đoán trúng ý thủ trưởng. Anh nói: “Cuốn sách đại phản động!”.
Tố Hữu hỏi Văn Phác: “Hiện nay chúng nó đang ở đâu?”. Văn Phác:
“Thưa, các anh ấy đang đi thực tế ở Yên Viên”.
Tố Hữu lệnh – Hoàng Cầm nhớ đúng sáu tiếng: “Gọi nó về, bắt lấy
nó!”
Thế là Văn Phác làm giấy tờ để bắt Trần Dần, Tử Phác.
Và đây là lời kể của Trần Dần, Hoàng Cầm thuật lại: Chiều hôm ấy có
một cái xe ôtô nhà binh đến Yên Viên. Họ gọi Trần Dần, Tử Phác ra và lập tức
bịt mắt. Trần Dần kịp thấy trên xe có lính mang súng, lưỡi lê tuốt trần.
Hoàng Cầm nói, Trần Dần là tay thần kinh rất vững. Anh ta bình tĩnh
lắng nghe để đoán xem xe đi đâu. Qua một cái cầu dài. Thế là vào Hà Nội.
Nhưng xe lại chạy tiếp khá lâu. Thế là đi quá Hà Nội. Đến một chỗ nào đấy, xe
đỗ lại. Người ta dắt Trần Dần, Tử Phác đi xuống một địa điểm ở sâu dưới đất –
vì cứ thấy xuống nhiều bậc, xuống mãi. Đến một độ sâu nào đấy, họ dừng lại và
đẩy Trần Dần vào một căn hầm, đóng cửa lại. Trần Dần nghĩ bụng, chắc bị thủ
tiêu. Thủ tiêu ở đây thì ai biết được? Coi như mất tích. Anh nghĩ phải tìm cách
lên được mặt đất.
Sáng ra, thấy đây là một cái hầm đào sâu dưới đất. ánh sáng lọt xuống
từ nóc hầm qua một ô cửa có chấn song, ở trên thoáng thấy có bóng một anh
lính gác.
Trần Dần thấy trong hầm có một cái phản gỗ và một bình nước. Anh
kéo cái phản ra chỗ ánh sáng từ trên nóc hầm rọi xuống, cởi áo ngoài, để phơi
áo sơ mi trắng bên trong ra, lấy một cái mince lame trong túi, nằm ngửa trên
phản , dùng lưỡi dao cạo cứa vào cổ cho máu phun ra ngực áo, rồi giẫy đạp ầm
ĩ, cốt cho anh lính gác nghe thấy. Anh lính gác nhìn xuống thấy thế hoảng quá:
Nó tự tử, phải đưa cấp cứu ngay ! Một lát sau, cửa hầm mở, người ta đưa Trần
Dần đi cấp cứu ở một bệnh viện gần đó. Té ra là bệnh viện Hà Đông. ở đây,
Trần Dần may vớ được một người quen bèn viết mẩu giấy nhờ đưa đến Tổng
cục chính trị nơi anh công tác. Nguyễn Chí Thanh lập tức đến bệnh viện và lệnh
tha ngay cả Trần Dần và Tử Phác.
Hoàng Cầm rất phục Trần Dần. Thằng cha thần kinh rất vững. Hoàng
Cầm cũng từng bị bắt giam. (ông nghe Hoàng Hưng, định đưa tập thơ Về Kinh
Bắc sang Pháp in). Ông nói: “Tôi nhát lắm, mọi tội xin nhận hết (Hết hạn tù,
người ta cho ra, còn xin ở lại viết kiểm thảo. Tô Hoài cho tôi biết thế). Sợ nhất
là trong tù cứ thấy có tiếng phát ra đều đều không biết từ đâu: “Khai thật đi!
Khai thật đi! Khai thật rồi về với vợ con!”.
Chuyện nghe khá sợ. Một hình thức khủng bố về tâm lý. Chẳng biết
Hoàng Cầm có thêm thắt gì vào sự thật không. Nhưng quả là đáng sợ. Hoàng
Cầm cũng hay tưởng tượng thêu dệt thêm ra nữa.
*
Ai nấy đều thấy, thế giới nghệ thuật của thơ Hoàng Cầm là Kinh Bắc
thời xưa. Đó là quê hương của ông và cũng là quê hương nghệ thuật của ông,
nơi hồn thơ ông thường lẩn quất đi về. Rời Kinh Bắc là Hoàng Cầm hết thơ. Mà
phải là Kinh Bắc ngày xưa, Kinh Bắc của núi sông, đồng ruộng miền Bắc từ
thời ỷ Lan nhiếp chính, từ thời nhà Lý mất ngôi, từ thời bà chúa Chè về với
Trịnh Sâm, sau đó lưu lạc đi đâu về đâu không rõ, khi Trịnh Sâm qua đời, kiêu
binh nổi dậy... Một quá khứ đau buồn. Một nỗi buồn vương giả. Cho nên Kinh
Bắc trong thơ Hoàng Cầm là một Kinh Bắc vàng son, diêm dúa, lấp lánh châu
ngọc, là xiêm y xanh đỏ, là vũ đạo uốn éo, là tiếng hát cách điệu ý ới ý a... (
Không phải ngẫu nhiên mà Kim Lân, Tô Hoài, Lê Đạt cho thơ Hoàng Cầm là
vàng mã, trang kim). Nhưng mà buồn, là sự tàn tạ, là cõi xa xăm của lịch sử đau
thương của những triều đại suy vong...
Một đặc điểm nữa cũng dễ thấy ở thơ Hoàng Cầm: nặng âm tính, nói rõ
hơn là rất ướt át, rất “đĩ”. Ông thường cố tình lắp đi lắp lại những hình ảnh gợi
dục: “môi trầu đờ đẫn”, “ngực yếm phập phồng”, “bầu vú lửa”, “vén xiêm”,
“tốc xiêm”... Kim Lân khó chịu, cho là thưỡn thẹo, ưỡn ẹo, già mà tình tứ, dơ
dáng...
Nhưng thơ Hoàng Cầm chỉ thật sự là thơ khi ông có cảm xúc chân thật,
lời thơ tuôn trào theo bản năng tự nhiên, hồn nhiên. Hễ ông cố gò theo lý trí thì
thơ chỉ có xác (xác Kinh Bắc và cả xác tình dục) chứ không có hồn. Nguyễn
Đình Thi, Huy Cận cho thơ Hoàng Cầm là trò chơi chữ, là chủ nghĩa hình thức.
Đọc thơ Hoàng Cầm giống như tiêu tiền. Những đồng tiên lấp lánh ánh
vàng ánh bạc. Nhưng lẫn vào tiền thật, có vô số tiền giả. Đúng thế, thơ Hoàng
Cầm có vàng bạc thật, (tôi gọi là siêu thơ) và có không ít vàng bạc giả.
Láng Hạ, 7- 1 – 2008.
Chương XI: Hoài Thanh
Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được
nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu.
Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc,
Tuyên Quang). ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai
lần đều vào năm 1949.
Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến
dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên,
Phan Trần...
Sau này, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy đại học, lúc đầu ở Đại học
Sư phạm Vinh, sau ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi luôn đến ông để hỏi về tình
hình văn học thời trước cách mạng tháng Tám và về kinh nghiệm phê bình văn
học (Khi ở Nguyễn Thượng Hiền, khi ở Trần Quốc Toản).
Hầu hết những ghi chép của tôi về ông, tôi đã sử dụng trong bài chân
dung đặt tên là “ Hoài Thanh, con người sinh ra để đọc thơ, bình thơ”.
ở đây tôi chỉ xin ghi một số điều về ông mà tôi chưa có dịp viết ra hoặc
viết ra chưa đầy đủ.
Có lẽ một trong những điều khổ tâm nhất của Hoài Thanh là hầu hết các
cây bút cùng thời với ông và cùng theo cách mạng như ông, đều gọi ông là
“thằng nịnh” (Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên...)
Cho nên Xuân Sách có thơ:
Vị nghệ thuật nửa đời người
Nửa đời còn lại vị người cấp trên.
Tôi nghe nói, hồi kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc Hoài
Thanh luôn luôn sát cánh với Tố Hữu, luôn gần gũi trò chuyện thân mật với Tố
Hữu, trong khi anh em khác thường lảng đi chỗ khác, sợ mang tiếng cầu thân
với cán bộ lãnh đạo. Tâm lý anh trí thức thường như thế. Và họ phản ứng với
thái độ của Hoài Thanh.
Tôi thì cho rằng, Hoài Thanh là con người sống bằng tình cảm. Hồi
cách mạng tháng Tám, ông ở Huế. Lúc ấy Tố Hữu còn rất trẻ mà đã làm chủ
tịch uỷ ban khởi nghĩa của Huế. Một thanh niên vào tù ra tội, lại là một thi sĩ
thật sự và cũng mê Kiều như ông, hợp với ông, nên ông phục lắm. Tố Hữu cũng
rất quý và tin cậy Hoài Thanh. Khi được gọi ra Bắc để lãnh đạo văn nghệ, người
đầu tiên Tố Hữu cần gặp là Nguyễn Tuân. Tố Hữu đã nhờ Hoài Thanh đến
Nguyễn Tuân, thương lượng và hẹn thời gian, địa điểm gặp (Nguyễn Tuân hẹn
gặp ở nhà hàng Thuỷ Tạ bờ hồ Hoàn Kiếm). Tố Hữu còn là chỗ dựa về chính trị
của Hoài Thanh nữa.
Từ Sơn, con Hoài Thanh, có lần nói với tôi: có một bữa, ông Hoài
Thanh nằm trên giường, có vẻ mệt. Bỗng ông nói với con: “Cha mà không có
anh Lành thì Bùi Công Trừng nó giết cha rồi!” Té ra là thế! Cái chuyện vị nghệ
thuật, vị nhân sinh có chết ai đâu mà những ông cộng sản làm to chuyện thế, và
thù dai thế! Người ta đã đi theo cách mạng, theo kháng chiến bao năm rồi mà
vẫn không tha (cho mãi đến kỳ tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), họ
cũng không tặng cho Hoài Thanh, trong khi sẵn sàng tặng cho Hà Xuân Trường,
Hồ Tôn Trinh, tuy sự nghiệp của hai vị này có đáng gì đâu so với Hoài Thanh).
Tôi cứ nghĩ mãi, không hiểu sao, đối với trí thức, các ông cộng sản lại hẹp hòi
và ngu xuẩn đến thế. Chính các ông ấy, đã làm hại cách mạng nhiều lắm.
Anh Từ Sơn còn cho biết, hồi Hoài Thanh phụ trách tuần báo Văn nghệ.
Có một số báo, trang đầu in ảnh Trường Chinh. ảnh bị cái tít in quá đậm ở mặt
sau làm mờ đi. Trường Chinh gọi Hoài Thanh đến nói: “Anh in ảnh tôi như thế
này à?” Hoài Thanh sợ quá, cứ đi lang thang ngoài đường, vô cùng hoang
mang. Cái án vị nghệ thuật trở thành cái án chính trị, vẫn như lưỡi gươm lơ lửng
treo trên đầu.
Đúng vậy, Hoài Thanh là con người chủ yếu sống bằng tình cảm. Cái
tạng ông nó thế (Người ta từng cho ông thuộc loại phê bình tình cảm - để phân
biệt với phê bình lý trí, phê bình khoa học chủ nghĩa scientisme). Cho nên, ông
có quan hệ đặc biệt với Tố Hữu, viết rất say sưa về thơ Tố Hữu, tập thơ nào
củaTố Hữu ra đời cũng lập tức có một bài phê bình rất tâm huyết của ông. Đó,
cũng là do cái nợ tình, nợ nghĩa mà ra.
Nhưng cái: “án chính trị vị nghệ thuật” chắc cũng làm cho ông phải lên
gân lên cốt khi phủ nhận triệt để Thi nhân Việt Nam:
Thi nhân còn một chút duyên
Chẳng cầm cho vững lại lèn cho đau.
(Xuân Sách)
Chẳng lẽ một con người giầu tình như ông mà lại dễ dàng dứt tình với
đứa con tinh thần mà ông đã gửi cả tâm hồn vào đấy. Từ Sơn nói, cuối đời, có
lần Hoài Thanh nói với anh: “Nhờ có cuốn Thi Nhân Việt Nam mà người ta mới
coi cha là một nhà văn”.
Vậy mà ông lại phủ nhận Thi nhân Việt Nam (Nhìn lại phong trào Thơ
mới và cuốn Thi nhân Việt Nam) đến mức Trần Huy Liệu cho là quá đáng, và
Tố Hữu thì nói: “Hoài Thanh đã tát mình đau quá”.
Cho nên tôi vẫn cứ ngờ ngợ thế nào về cái thái độ quá cứng, quá tả của
Hoài Thanh. Tiếp xúc với ông, thấy ông luôn luôn nói lập trường cách mạng,
lập trường giai cấp. Phải có tình cảm đúng, tình cảm đúng là tình cảm của giai
cấp công nhân. Ông tỏ ra rất phục các lãnh tụ cộng sản, coi phát ngôn của các vị
ấy là chân lý mình phải lấy làm chuẩn, kể cả những phát biểu về văn chương.
Và ông không viết về các nhà Thơ mới nữa, mà chỉ chăm chăm viết về thơ Hồ
Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, hay các cây bút đang chiến đấu ở miền Nam
như Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Anh Đức... Cứ như là mỗi bài viết phải là một
cuộc chiến đấu về tư tưởng theo gương những người cộng sản. Không biết ông
có thật sự tin ở những điều mình nói, mình viết hay không – tôi cứ ngờ ngờ thế
nào ấy.
Nhưng ý kiến của Hoài Thanh bên cạnh “phần cứng” cũng có những
“phần mềm”. ấy là khi ông phát biểu về những đối tượng khác. Nhiều nhận xét
của ông khá thẳng thắn, không dè dặt, né tránh.
Có lần ông nói với tôi về Viện văn học và tờ Tạp chí văn học do ông
phụ trách (Lúc này Hoài Thanh làm Viện phó Viện Văn học, thư ký toà soạn
Tạp chí văn học): “Viện văn học của chúng tôi làm sao có uy tín được như Tự
lực văn đoàn ngày trước. Nó đưa ai lên là được lên. Nó hạ ai xuống là phải
xuống”
Bây giờ ta đang chống Mỹ (1967), tạp chí của chúng tôi vẫn ra được
đều đều là coi như thắng Mỹ rồi. Mỗi số ra được đúng kì hạn là một trận
thắng... Chứ thực ra nhiều bài có chất lượng gì đâu. Tôi khổ với các ông HMĐ,
HSV quá, chữ nghĩa, câu văn, tôi cứ phải sửa rất nhiều mới đăng được.
Ông nói về Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên sắc sảo, nhiều sáng tạo khá
hấp dẫn. Nhưng tôi cứ lởn vởn ý nghĩ về chỗ trung thực của anh. Cuốn Thi
nhân Việt Nam của tôi có nhiều sai lầm. Nhưng điều tôi ân hận hơn cả là đã
qúa khen Chế Lan Viên. Thực thì chắc có thực, nhưng có thực đến mức ấy
không? Có thật “Hồn ai trú ẩn ở đầu ta”, có thật có “tâm hồn Chàm” thế
không? Có muốn trốn lên “một tinh cầu giá lạnh” thật không? Xuân Diệu thì
chân chất, thật thà.
Về Nguyễn Đình Thi, ông nói vắn tắt: “Chưa bao giờ tôi đánh giá cao
nhân cách của Nguyễn Đình Thi”.
Hoài Thanh cũng đánh giá rất thấp con người Huy Cận: “Có người
nhân cách tốt nhưng thơ lại không hay, như Thanh Tịnh. Có người nhân cách
kém mà thơ lại hay, như Huy Cận”. Đây là ông nói Huy Cận trước cách mạng,
Huy Cận “Lửa thiêng”. Thơ Huy Cận sau cách mạng, ông cho là tầm thường
(vulgaire) – Trong tập Di bút, ông có ghi lại cuộc trao đổi của ông với Trường
Chinh ở chiến khu Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp về Huy Cận. Họ thống
nhất với nhau: thơ Huy Cận vulgaire (Khi in tập Di bút thành sách, anh Từ Sơn
ngại đụng chạm nên cắt bỏ đi, cả ý kiến của Hoài Thanh về văn của HMĐ nữa).
Còn với tôi, ông nói: “Huy Cận xưa hay hơn bây giờ. Bây giờ cũng có bài hay
nhưng ít, càng làm càng dở. Xưa trong cái u uất nặng nề, anh chàng 16, 17 tuổi
đó có nhìn thấy một góc, một khoảng trời rất trong, rất thơ.
Nay có thể là tâm hồn không u ám nữa, tiến bộ, nhưng không có được
khoảng trời rất trong như thế nữa.
Nguyễn Tuân không ưa Hoài Thanh, nói về ông nhiều câu rất ác.
Nhưng nhận xét về Nguyễn Tuân, thái độ của Hoài Thanh vẫn rất công bằng:
“Nguyễn Tuân địch có thể lợi dụng, như trước cách mạng, nó tặng anh ấy giải
thưởng Alexanơre de Rhodes – Sau cách mạng thì bọn Nhân văn lôi kéo. Nhưng
Nguyễn Tuân không bao giờ hạ mình làm những điều phi nghĩa. Nguyễn Tuân
không phải Nhân văn, không bê tha truỵ lạc trong sinh hoạt như cánh Nhân
văn. Nguyễn Tuân thích phát hiện những cái lặt vặt, thứ yếu vì cho rằng những
cái quan trọng ai cũng biết cả rồi. Nguyễn Tuân rất bướng. Cần góp ý kiến gì
với anh ấy, chúng tôi phải nhờ anh Tố Hữu. Tố Hữu nói mới nghe, mà cũng
nghe vừa phải thôi. Anh ấy cho giáo điều thì sinh ra xét lại. Vào Đảng như một
thứ nhân sĩ, không gắn bó với một trách nhiệm cụ thể nào, coi mình như một thế
giới uỷ, chính uỷ của thế giới, có trách nhiệm với toàn nhân loại. Cho nên chậm
tiến. Đi trong kháng chiến như đi chơi, tuy đi chơi trong kháng chiến khác đi
chơi trước cách mạng.
Bài Tờ hoa của Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên có công phát hiện, đã bỏ
đi. Thế mà sau lại đăng báo được. Tờ hoa là có ý chửi cải cách ruộng đất.
Cái gì quen đi rồi cũng thành nghề. Nguyễn Tuân có nghề chửi. Chửi
rất ác. Không thể phê bình thân ái nội bộ được. Nguyễn Tuân cứ phải chửi ác.
Nay vớ được thằng phi công Mỹ, tốt quá! Ta chửi Mỹ lâu rồi, song trước kia nó
ở tận đâu đâu ấy, nay nó trực tiếp đánh ta, ta nhìn rõ mặt nó rồi. Cái nghề chửi
của Nguyễn Tuân được dùng đến, rất tốt. Nguyễn Tuân ghét conformisme. Tôi
cho tác dụng của Nguyễn Tuân còn lâu dài đối với cách mạng giải phóng dân
tộc.
Hoài Thanh nói về Nguyên Hồng: “Lắm lúc không biết anh ấy thật hay
giả. Trên diễn đàn, đang nói, dừng lại: “Cho tôi khóc một lúc đã”. Nguyên
Hồng cũng không gắn với một trách nhiệm cụ thể nào, nên chậm tiến bộ”.
Hoài Thanh luôn luôn cho rằng phải sống gắn bó với quần chúng, có
trách nhiệm cụ thể với cách mạng mới tiến bộ được.
*
Nhìn chung cuộc đời Hoài Thanh, thấy ông có mấy cái thực sự trở
thành niềm say mê:
Một là say Thơ mới (1932 – 1945). Điều này, sau cách mạng ông đã
quyết dứt bỏ. Nhưng chắc ở chỗ sâu kín của tâm hồn, vẫn không dứt bỏ được.
Hai là say Kiều. Trước cách mạng thì không nói làm gì. Ông đã ca tụng
câu nói mà ông cho là “can đảm” của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta
còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Và ông đã trân trọng ghi lên trang đầu cuốn Thi
nhân Việt Nam câu thơ của Nguyễn Du: “Của tin gọi một chút này làm ghi”.
Sau cách mạng, ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp, ông đã viết ngay một cuốn sách về Kiều: Quyền sống của con
người trong Truyện Kiều. Ông ca ngợi Nguyễn Du trong dịp kỉ niệm 200 năm
sinh của nhà thơ, rồi ông dạy Truyện Kiều ở Đại học Sư phạm Hà Nội...
Trong những cuộc tiếp xúc với ông, tôi thấy khi nói về quá trình phấn
đấu về tư tưởng để có được lập trường của Đảng, có được tình cảm mà ông gọi
là tình cảm đúng đắn của giai cấp công nhân, cứ thấy ông quẩn quanh, vướng
vít không sao dứt khỏi được duyên nợ với Truyện Kiều. Ông thương cô Kiều
chịu nhiều oan khổ thì không có chuyện gì. Nhưng ông cảm thông với giấc
mộng Từ Hải của Nguyễn Du thì có vấn đề. Ông biết Cụ Hồ nói: “Thằng Từ
Hải sao nó tồi thế. Nó không chết đứng thì về triều nó cũng chết ngồi”. Lê
Duẩn phê phán cuốn “Quyền sống...” của ông. Tuy ông rất phục Hồ Chí Minh
và Lê Duẩn, nhưng ông vẫn chưa thông. Đến cuộc chỉnh huấn năm 1952, Tố
Hữu còn phải giúp đỡ ông nhiều: “Làm sao lại lấy Từ Hải làm lý tưởng được:
một nhân vật bất mãn và bất lực”. Nhưng ông vẫn chưa thông hẳn.
Duyệt lại quá trình phê bình, nghiên cứu của Truyện Kiều của mình,
ông nói: “Trước cách mạng tháng Tám mình viết “Một phương diện của thiên
tài Nguyễn Du” (1944), nhiệt liệt ca ngợi Từ Hải. Lúc nhỏ tôi cũng có mộng
anh hùng (Hoài Thanh từng tham gia đảng Tân Việt và từng bị bắt giam một
thời gian ở Hà Nội, sau đó bị trục xuất về Nghệ An), rồi cuộc đời ác liệt quá, lại
không gắn được với một tổ chức nào cho chắc nên không dám làm anh hùng.
Nhưng vẫn có mơ ước làm anh hùng. Nguyễn Du chắc cũng vậy. Đến thời
kháng chiến, năm 1948, tôi viết Quyền sống của con người trong Truyện Kiều,
tự thấy chưa thay đổi gì lắm. Đi cách mạng, ừ thì đi. Rồi đâu cũng vào đấy thôi,
chỉ khác là có đánh Tây. Vì thế trong cuốn sách tôi chỉ thêm có một câu: “
Nhân dân ta đang thực hiện giấc mộng anh hùng của Nguyễn Du và còn vượt
xa nữa. Nói chung vẫn ca ngợi Từ Hải.
Sau chỉnh huấn 1952, cũng chưa hoàn toàn thay đổi. Trước thì viết Từ
Hải chết vì ngay thẳng mà chết. Sau viết, Từ Hải chết vì thật dạ tin người. Đến
mãi 1965, kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du tuy có phê phán Từ Hải thiếu cảnh
giác, nhưng trong phê phán vẫn có thương hại nhiều...
Đấy, qua lời tự bạch của Hoài Thanh, thấy ông không sao dứt được khỏi
tâm trí mình nỗi ám ảnh của Từ Hải, giấc mơ của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều. Dù đấu tranh tư tưởng, dù kiểm thảo lên, kiểm thảo xuống, vẫn không dứt
ra được. Ông mê Kiều có lẽ còn hơn cả Chu Mạnh Trinh ngày trước: “Ta cũng
nói tình, thương người đồng điệu”.
Một niềm say mê nữa cũng đeo đuổi Hoài Thanh đến trọn đời là đọc
thơ, bình thơ, giảng thơ. Con người tình cảm của Hoài Thanh tất nhiên thể hiện
rất rõ ở lĩnh vực này.
Ngay giải thích những hiện tượng văn học sử ông cũng dùng kinh
nghiệm đời sống, dùng trực cảm. Ông không thích nói lý luận, có lẽ ông không
tin ở lý luận.
Ông nói, nhà thơ lãng mạn đến với cách mạng, sáng tác được ngay vì
quen ca ngợi. Còn nhà văn hiện thực phê phán lại lúng túng, không viết được, vì
chửi đã thành nghề rồi. Chỉ quen chửi. Đến với cách mạng, chửi ai?
Ông cho rằng, vấn đề dân tộc bao giờ cũng gây xúc động mạnh. Cách
mạng vô sản nói chuyện giai cấp nên khó hấp dẫn. Mặt trận Việt Minh ra đời
nêu dân tộc lên hàng đầu, làm nức lòng người.
Về tầng lớp tiểu tư sản, ông cho rằng, tiểu tư sản yêu nước song yếu
đuối. Rất sợ cây súng của Tây nên không tin tưởng. “La raison du plus fort est
toujours la meilleure” là cái triết lý nó đè lên tâm hồn như một định mệnh.
Ông nói về phê bình văn học: “Ta cho đến nay chưa có ai gọi là nhà
phê bình. Từ 1930, cái gì cũng đổi mới cả, song chưa thể nói đã có phê bình
chuyên nghiệp (nhà văn chuyên nghiệp thì có). Thường chỉ là nghiệp dư, làm
một nghề nào đó rồi mới làm thêm phê bình.
Muốn đẩy mạnh phê bình, phải giải quyết:
- Gây hào hứng cho phê bình. Người ta hiện nay không thích viết phê
bình, không hào hứng làm nhà phê bình.
- Tạo điều kiện để có nhà phê bình chuyên nghiệp.
- Luyện cách viết cho hay. Hiện nhiều người chưa có cách viết, không
biết cách viết. Phải viết thế nào cho người ta đọc một câu cứ phải đọc tiếp.
Nhược điểm của phê bình là không dứt khoát, tác phẩm nào cũng ưu
một chút, khuyết một chút. Như nhau. Người đọc không biết anh cho tác phẩm
là hay hay dở. Phê phán Vào đời và Đống rác cũ là trung ương phê chứ có phải
nhà phê bình nêu ra đâu.
Hiện nay có hiện tượng trái ngược là nhà văn và nhà phê bình đọc tác
phẩm rất ít, ít hơn quần chúng. Anh phê bình chỉ đọc để viết thôi. Khi cần viết
mới đọc.
Phê bình phải có hai điều kiện:
- Nhậy cảm. Xúc cảm nhạy bén.
- Có văn hoá. Dù là inpressionnisme cũng phải có văn hoá. Phải đọc
nhiều, đọc hết, có ấn tượng sâu và nhớ lâu.
Ngày xưa tôi đọc nhiều lắm, nhớ lâu, dễ khóc. Nay khó khóc quá -
“Tuổi già hạt lệ như sương”. Cũng ít nhớ. Tôi thuộc loại người cũ rồi. Lê Đình
Kỵ thế mà cũng thuộc loại cũ rồi.
Đi vào văn học mà 40 tuổi mới vào là dại. Vào làm gì! Viết văn là phải
bắt đầu từ trẻ, có nhiệt tình, nhậy cảm. Người ta viết văn bằng những ấn tượng
những năm lên năm, lên bẩy, chứ không phải 30, 35 đâu.
Và cái đó không thay đổi được. Cái tạo nên tài năng, phong cách, sở
trường là hoàn cảnh sống từ tuổi lên năm, lên bẩy: cánh đồng ấy, bờ tre ấy, cái
ao ấy... Sau này lớn lên, thay đổi quan điểm, lập trường, chứ không thay đổi
phạm vi đề tài, cách viết, cách cảm xúc, cách nghĩ. Không nên bắt người ta thay
đổi. Bắt vô ích. Mỗi ca sĩ chỉ hát hay vài bài, Tân Nhân chỉ hát hay vài bài, các
bài khác cũng hát được nhưng không hay.”
Về vấn đề tính dân tộc của văn học, tôi rất tán thành ý kiến Hoài Thanh:
“Tính dân tộc chỉ cảm thấy thôi, rất khó định nghĩa hay phân tích cho rành
mạch”. Viết văn thì phải thể hiện tính dân tộc. Nhưng tính dân tộc là gì? Hoài
Thanh bình thơ Giang Nam viết về tình vợ chồng mà ông cho là có tính dân tộc:
Dây bầu sai trái bên đầu ngõ
Vẫn đợi anh về hái nấu canh
Đó là tính dân tộc đấy, rất Việt Nam! Người vợ nghèo Việt Nam chỉ mơ
ước thế thôi.
Nhớ chồng, thương chồng, em khóc. Nhưng lại đổ tại con:
“Nó khóc làm em cũng khóc theo”
Thực ra con không khóc, em cũng khóc.
Tình cảm của người Việt Nam thường tỏ bầy, kín đáo, lặng lẽ, không ồn
ào. Đó là cái tần ngần của Kim Trọng khi trở lại vườn Thuý:
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này những lối này năm xưa...
Người Tây thì khác: Le lac của Lamartine: Ôi, hồ! ầm ĩ cả lên.
Về việc phân biệt thơ hay thơ dở, tức là việc thẩm văn, Hoài Thanh
cũng quan niệm hết sức đơn giản, theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa. Ông nói:
“Phân biệt thơ hay thơ dở chỉ có đọc nhiều. Ăn phở mãi thì phân biệt được phở
ngon. Chứ phân chất, định nghĩa phở ngon là gì, vô ích. Nhưng phải đọc kỹ,
phải tinh. Nếu không, có khi mắc lừa. Phở có lẽ ít mắc lừa hơn.
Về điểm này, tôi thấy Hoài Thanh chỉ đúng một phần thôi. Vì thực tế có
người đọc rất nhiều mà thẩm văn vẫn kém. Quan trọng là phải sống sâu sắc với
những gì mình đọc, cũng như những gì mình thấy, mình nghe...Người sống hời
hợt thì đọc thiên kinh vạn quyển, đi khắp thế giới, sống đến trăm tuổi, cũng
chẳng có được năng lực thẩm văn tử tế. Theo tôi, Hoài Thanh sở dĩ thẩm văn
tốt, chủ yếu vì ông sống sâu sắc cuộc sống của mình, sống sâu sắc với mọi cảnh
vật quanh mình. Cứ đọc những đoạn bình thơ của ông mà xem.
Thí dụ, ông bình thơ Tố Hữu, bài Việt Nam, máu và hoa
“Ngày 29 – 1 – 1973, báo Nhân dân đăng bài Việt Nam máu và hoa của
Tố Hữu. Hôm ấy, hiệp định Pari vừa kí được hai hôm. Nhà thơ cảm thấy một
niềm vui lớn quá, tưởng chừng như không phải là chuyện thật mà là chuyện
trong mơ:
Khao khát trăm năm mãi đợi chờ,
Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ
Cả cái êm ả của bầu trời, cái bình yên của mặt đất cũng có cái gì như
là không thật:
Một trời êm ả xanh không tưởng,
Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ.
Có người băn khoăn: chuyện ta chiến thắng là chuyện tất nhiên, chuyện
ta dự kiến từ lâu, chính ta tự mình làm nên chiến thắng, tại sao gọi là chuyện
trong mơ? Nhưng tuần tự và đột biến, tất nhiên mà ta vẫn cứ ngạc nhiên, cuộc
sống xưa nay là thế và chính vì thế mà say người. Một cây hoa ta trồng ta biết
nó sẽ nở hoa, nhưng đến ngày nở hoa, ta lại không khỏi có chút ngạc nhiên.
Một đôi vợ chồng trẻ, một hôm nào đó cũng không ngờ mình đã làm cha, làm
mẹ. Một bông hồng nở, một đứa bé ra đời còn thế nữa là chuyện chiến thắng
hôm nay...”
Đấy, ông có dẫn sách vở gì đâu. Toàn nói chuyện kinh nghiệm sống
thông thường mà đem đến cho ông những rung cảm trước những vần thơ.
Ông nói đúng: Đọc thơ, nếu không có vốn sống thì cứ dửng dưng,
không có xúc cảm gì. ấy là thơ đã gieo vào những tâm hồn chưa có gì để đón
đợi nó.
Cảm nhận được thơ hay thơ dở rồi, lại còn phải biết diễn đạt sao cho
hấp dẫn nữa. ở đây, Hoài Thanh có hai tư cách thống nhất làm một: nhà phê
bình và thày giáo dạy văn.
Ông nói: “Cách viết, cách nói không nên cố định, mà tuỳ bài, tuỳ nội
dung mà quyết định hình thức. Có thể đi từ đại ý đến chi tiết hay ngược lại.
Điều quan trọng là làm sao luôn luôn đặt ra những vấn đề để giải quyết – cuộc
sống là như thế.
Và phải nói sao buộc người nghe phải chờ đợi.
Thí dụ, năm 1941, Tố Hữu ở trong tù viết bài Quyết hy sinh, đã vẽ được
hình ảnh người chiến sĩ cộng sản rất đẹp:
Các anh chị bước lên đài gươm máy
Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!
Song lúc đó anh mới 20 tuổi, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, nên
hình ảnh chưa sâu. Đến bài Ba mươi năm đời ta có Đảng ( 1960), hình ảnh
người chiến sĩ được vẽ sâu hơn: “Miếng cơm dành để người sau ấm lòng”.
Đúng hơn, sâu hơn. Đằng sau câu thơ lại có thấp thoáng hình ảnh anh Hoàng
Văn Thụ.
Thí dụ khác: Tháng Tám 1945, Tố Hữu làm bài Hồ Chí Minh. Hình ảnh
Bác rất đúng, rất đẹp:
Bao thất bại dẫu xát lòng cay đắng
Hồn vẫn tươi vui, thơm ngát tình đời.
Nhưng lúc đó, Tố Hữu chưa được gần Bác, nên có câu không đúng
“Tiếng người thét, mau lên gươm lắp súng”. Tiếng thét này không phải của
Bác. Sau này trong bài Sáng tháng năm, anh sửa lại đúng hơn:
Giọng của Người, không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước.
Về cách nói, có cách nói nhợt nhạt, có câu nói cứ trơn tuồn tuột. Có
cách nói làm cho người ta phải chú ý. Chữ dùng thì phải bình dị, gần gũi. Phải
học ngôn ngữ quần chúng, học ca dao, để nói cho đỡ khô khan.
Và phải tuỳ thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại có ưu thế và hạn chế
của nó, đáp ứng một khía cạnh nào đó của đời sống. Chẳng hạn, đánh giá Sống
như anh phải theo đặc trưng của thể ký. Đọc ký, người ta tin có thực. Cái hay
của ký, tác dụng của ký, một phần là ở chỗ người đọc tin là có thực. Nếu là tiểu
thuyết thì người ta đòi hỏi nhân vật phải được đào sâu vào tâm lý với những
diễn biến thầm kín và phức tạp. Nhưng là ký thì không ai đòi hỏi thế. Lê Anh
Xuân làm Trường ca Nguyễn Văn Trỗi. Anh tả chị Quyên đến thăm anh Trỗi ở
khám tử hình “Chấn song sắt cũng trổ cành đơm hoa”. Thơ tả thế được. Ký
không tả thế được.
*
Hoài Thanh vốn là một học sinh trường Bưởi. Ông cùng Tôn Quang
Phiệt tham gia đảng Tân Việt, bị nó bắt giam rồi trục xuất khỏi Hà Nội, tống
vào Vinh. Có một thằng Tây, chủ nhà máy gạch Vinh thấy ông nói được tiếng
Pháp, gọi cho làm thư ký.
Một buổi kia đi làm, xe đạp thủng săm, đến chậm 15 phút, nó tát tai và
đuổi. Ông tìm được một gia đình xin làm gia sư. Bùi Huy Tín ở nhà in Đắc Lập,
Huế, tình cờ gặp, đưa vào trong ấy làm thợ chữa morasse (1931). Đến năm
1933, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt thành lập trường Collège tư thục Thuận
Hoá. Ông được mời dạy. Ông dạy Việt văn và tiếng Pháp, vừa đi làm, vừa đọc
sách, viết văn từ ngày ấy.
Hồi làm thợ chữa morasse, Hoài Thanh đã viết phê bình. Rồi nổ ra cuộc
tranh luận với Hải Triều về quan điểm nghệ thuật. Hoài Thanh hàng ngày đi làm
phải cuốc bộ, guốc gỗ, vậy mà bị quy là nhà văn phú hào. Còn Hải Triều đi xe
nhà gọng đồng, nhà có 8 đầy tớ, thì là nhà văn vô sản. Hoài Thanh ngẫm nghĩ
thấy cũng buồn cười.
Nhà in Đắc Lập, nơi làm việc của Hoài Thanh rất gần hiệu sách Hương
Giang của Hải Triều. Họ rất dễ gặp nhau. Nhưng Hải Triều tránh không muốn
gặp Hoài Thanh, vì sợ gặp, nhỡ hoà giải với nhau thì mất đối tượng đấu tranh.
Đọc thơ, bình thơ quả là niềm say mê, một niềm vui, thậm chí là lẽ sống
của Hoài Thanh. Dường như lúc nào ông cũng băn khoăn day dứt về chuyện
văn chương.
Trước cách mạng, cãi nhau với Hải Triều cũng là chuyện say mê văn
chương. Sau cách mạng, phấn đấu về tư tưởng, nhưng vẫn luôn luôn trăn trở về
quan niệm văn chương thế nào là đúng, là sai.
Năm 1954, anh Thành Thế Thái Bình được cử vào tiếp quản Thủ đô.
Trước khi nhận nhiệm vụ này, anh có tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 với
Hoài Thanh ít ngày ở Đại Từ – Thái Nguyên. Anh nhận xét, Hoài Thanh ba
cùng rất nghiêm túc, thái độ với anh đội trưởng rất kính cẩn, một thưa anh, hai
báo cáo anh, tuy anh này rất trẻ, chỉ đáng tuổi con ông thôi. Thành Thế Thái
Bình lúc đó chỉ độ 20 tuổi, cũng được ông thưa gửi như thế. Ông không hề tỏ ra
là một nhà văn, không bao giờ nói chuyện văn chương. Nhưng những buổi tối
sáng trăng, thấy ông thường ngồi trầm ngâm, ở cái chõng ngoài sân, hút thuốc
lào, vừa chống cái điếu cày, vừa nhìn trăng, thỉnh thoảng thở dài. “ Yêu trăng
có phải là vị nghệ thuật không nhỉ, cũng có thể là vị nhân sinh chứ! Có nhất
thiết cứ phải trực tiếp viết về người nghèo khổ mới là vị nhân sinh? Như thơ Hồ
Xanh: “Nước mắt của anh em vô sản, là nguồn thơ chảy ra vô tận”? Tôi đoán
ông tự hỏi mình như thế khi ngắm trăng và thở dài. Tôi nghĩ thế vì liên hệ đến
đoạn Di bút của ông sau này viết về ý kiến Lê Duẩn nói với họa sĩ Huỳnh Văn
Gấm hồi hoạt động ở trong Nam: “Không nhất thiết bức tranh nào cũng trình
bày những hình ảnh công nông. Một bông hồng rung rinh dưới ánh mặt trời
trong sương sớm sao lại không được xem là nghệ thuật vị nhân sinh?”.
Trong những ngày cuối đời, ông ghi những ý nghĩ của mình vào một tập
giấy gọi là Di bút. Đọc tập Di bút này thấy những băn khoăn day dứt cuối đời
của ông chủ yếu cũng vẫn là chuyện văn chương, đặc biệt là chuyện hiểu thơ và
bình thơ.
*
Nhưng trong những ngày cuối cùng trước khi mất, theo anh Từ Sơn,
Hoài Thanh hình như có ngộ ra một cái gì đó có vẻ ngược chiều với những suy
nghĩ trước kia của ông.
Trong Di bút (bản đánh máy Từ Sơn cho tôi) tuy ông chủ yếu nói về
văn chương, nhưng cũng có nêu lên một vài thắc mắc về chế độ xã hội miền
Bắc. Chẳng hạn, ông nhận xét thái độ lao động của cán bộ ta không nghiêm túc
bằng những viên chức của các cơ quan dưới chính quyền nguỵ (gọi là viên chức
“lưu dung”). Thí dụ, những cô y tá, hộ lý của bệnh viện ta không phục vụ bệnh
nhân tốt như y tá, hộ lý của các bệnh viện ở Sài Gòn trước 1975 ở lại làm việc
với ta, hay những cô mậu dịch của ta thì rất hách dịch, cửa quyền. Còn luật lệ
giao thông của ta thì không nghiêm như luật lệ giao thông của Sài Gòn thời
nguỵ...Ông thuật lại câu chuyện của em ông là Nguyễn Đức Ninh là đảng uỷ
viên xã Nghĩa Mỹ huyện Nghĩa Đàn. Trong cải cách ruộng đất, khi anh bí thư
đảng uỷ bị bắt, bị quy là phản động mà Ninh không hề biết, anh rất phục đảng:
đảng tài giỏi quá!. Nhưng đến khi chính anh cũng bị bắt thì anh mới thấy, hoá ra
đảng cũng sai (Từ Sơn cho biết Nguyễn Đức Ninh bị kết án tử hình, sau hạ
xuống tù chung thân).
Ông thắc mắc cả về Lê Duẩn khi Duẩn nói Nguyễn Du không có chút
tình cảm gì với quần chúng. Ông thắc mắc cả về Hồ Chí Minh: trong 5 điều Bác
Hồ dạy “không có một điều nào nói về tình thương mẹ, thương cha. Tình
thương ấy mà không có hoặc có mà lệch lạc thì đâu có thể nói được là đã nên
người”. Hoặc là “vào khoảng năm 1952, tôi được nghe Bác nói trong một lớp
chỉnh huấn: “Bác có thể sai, Trung ương có thể sai... Nhưng đồng chí Mao
Trạch Đông, đồng chí Xitalin thì không thể sai”(...). ý kiến ấy khó có thể nói là
không sai.
Tuy thắc mắc đấy, nhưng qua cách diễn đạt, thấy ông vẫn phải rào đón
rất kỹ. Di bút chỉ viết cho con đọc thôi mà phải rào đón như thế có nghĩa là ông
chỉ phân vân thế thôi, chứ vẫn rất tin ở đảng, ở Lê Duẩn và cụ Hồ.
Về bài thơ của Xuân Sách viết về ông, Đặng Vương Hưng có viết trên
một số Văn nghệ công an rằng Xuân Sách có đến thăm Hoài Thanh khi ông
Hoài sắp mất. Xuân Sách cho biết, cuối cùng Hoài Thanh đã thú nhận Xuân
Sách viết về ông như thế là đúng. Thực ra, theo Từ Sơn, Đặng Vương Hưng đã
bịa ra chuyện ấy. Vì khi ốm nặng, Hoài Thanh ra Hà Nội, còn Xuân Sách vẫn ở
Vũng Tầu, không hề đến thăm. Theo Từ Sơn, chuyện thật chỉ là thế này: Hoài
Thanh nói với Từ Sơn: “Xuân Sách nó dùng Kiều để nói mình vì biết mình mê
Kiều. Nhưng câu thứ hai ác quá. Nên sửa như thế này cho đúng: “Nửa đời lại
phải vị người cấp trên” – thêm cho một chữ “phải”. Vậy là có thể hiểu,Hoài
Thanh quả có công nhận Xuân Sách nói đúng một phần về mình.
Khi Hoài Thanh mệt nặng, Từ Sơn có nói với Tố Hữu đến thăm.
Tố Hữu đến, Hoài Thanh quay mặt vào tường không tiếp. Tố Hữu về
rồi, ông mới quay ra. Ông nói với Từ Sơn: “Từ bài Chuyện thơ (Làm bí thư hoài
có bí ... thơ), coi như sự nghiệp của Tố Hữu đã kết thúc.
Tôi cho ông nói thế là đúng. Qua bài Chuyện thơ, Tố Hữu ngang nhiên
tuyên bố: “Ta là nhà thơ bí thư Đảng, nhà thơ lãnh tụ đây!”. Cụ Hồ làm thơ có
bao giờ tuyên bố thế đâu! Thậm chí còn coi những “bạn tù” nghiện ngập, bẩn
thỉu, ghẻ lở là tri âm tri kỷ nữa “Gẩy đàn trong ngục thấy tri âm” (Ghẻ)
Láng Hạ, 25 – 5 – 2007
<< Home
